Nếu ngày mai bạn không nhìn thấy mặt trời…

Nếu ngày mai bạn không nhìn thấy mặt trời, mọi mơ ước sẽ chìm trong bóng tối, mọi cánh cửa cuộc đời đều khép lại, bạn sẽ làm gì?

Chắc hẳn bạn sẽ đau buồn, mếu máo, dằn vặt. Vui sao được khi “ giàu hai con mắt, khó hai bàn tay ” mà bạn lại không còn đôi mắt sáng. Chắc bạn sẽ trách trời cao, đất dày sao quá bất công. Bạn có quyền làm thế : cứ khóc cho thỏa thích, cứ đau buồn cho đến lúc không hề buồn hơn được nữa. Nhưng xin đừng mất đi niềm vui sống và niềm kỳ vọng. Biết đâu câu truyện của tôi hoàn toàn có thể làm cho bạn không khi nào mất niềm tin vào những điều kỳ diệu trên đời mặc dầu bạn ở trong bất kể một thực trạng khó khăn vất vả nào .

Tôi sinh ra với căn bệnh “thoái hóa sắc tố võng mạc”, căn bệnh rất hiếm, chỉ có 20 triệu người trên thế giới mắc phải và các chuyên gia nhãn khoa hàng đầu hiện còn bó tay. Căn bệnh này làm cho thị trường càng ngày càng hẹp. Theo thời gian, con mắt chỉ có độ mở 10 độ, rồi 5 độ, và khi nào nó về zero, thì bạn sẽ không nhìn thấy gì nữa. Thị lực cũng suy giảm rõ rệt và điều quan trọng nhất là nhìn thấy bệnh tiến triển mà đành bất lực để nó từ từ cướp đi khả năng nhận ánh sáng của đôi mắt. Không có thuốc đặc trị! Không có phẫu thuật nào có thể khắc phục được. Hãy ngồi chờ và đón nhận một cuộc sống trong bóng đêm hay sao? KHÔNG, tôi không chịu đầu hàng số phận.

Nếu ngày mai bạn không nhìn thấy mặt trời...
Hành trang của tôi : Chiếc gậy ba màu

Khi còn nhỏ, tôi thường bị mẹ mắng là đoảng. Hễ mâm cơm để giữa nhà, thì 99 % tôi đá đổ, cả nhà sẽ nhịn ăn và nhất là khi có khách, cha mẹ chỉ có mà độn thổ vì có đứa con vô ý như tôi. Tôi càng cố gắng nỗ lực thì càng bị mắng mà không hiểu sao mình vô ý thế. Cứ đi từ chỗ tối ra chỗ sáng là tôi lóa mắt và không ít lần ngã bổ chửng khi bước từ rạp chiếu phim ra, khiến tôi vô cùng xấu hổ. Càng lớn, căn bệnh càng tăng trưởng, cho đến một ngày tôi cứ đâm vào những cành cây chắn ngang lối đi. Tôi đang từ từ bị mù mà không hề biết. Bác sỹ khuyên tôi hạn chế đọc sách và dùng máy tính. Trời ơi, tôi làm thế nào mà ngừng đọc được. Cuộc sống của tôi chỉ có ý nghĩa khi thao tác, mà việc làm yên cầu tìm tòi, đọc sách, điều tra và nghiên cứu và viết. Ngừng đọc nghĩa là chết. Bỏ ngoài tai lời khuyên bác sỹ, tôi vẫn lao vào học thi và giành được Học bổng Fulbright .Cuộc đời mở sang một chương mới khi tôi sang Boston học chương trình thạc sỹ về Hoa Kỳ học. Nước Mỹ đã làm tôi vững tin rằng mình “ tàn mà không phế ”. Nơi đây, người khuyết tật được pháp luật bảo vệ. Thái độ xã hội luôn cảm thông, khuyến khích họ phấn đấu để vẫn sống niềm hạnh phúc như bất kỳ một người lành lặn nào. Khi đi học, họ được tạo mọi điều kiện kèm theo để hoàn toàn có thể đạt tác dụng mong ước. Mọi đề cương môn học đều nêu rõ sinh viên nào cần trợ giúp đặc biệt quan trọng thì cho giáo sư biết, họ sẽ phong cách thiết kế chương trình, hoặc có những giải pháp thích hợp. Tôi rất như mong muốn được giáo sư và bè bạn cảm thông, trợ giúp. Họ phát riêng cho tôi những tập tài liệu chữ to, chỉ chỗ mua sách audio và những ứng dụng trợ giúp và tìm những bác sỹ nhãn khoa giỏi nhất quốc tế. Điều quan trọng hơn cả, họ động viên, khuyến khích tôi phấn đấu để thành công xuất sắc. Giáo sư Jean Humez, thày hướng dẫn của tôi, luôn nói : “ Em hoàn toàn có thể mất năng lực nhìn thấy ánh sáng, nhưng nhất định em phải trở thành một giáo sư giỏi, một nhà khoa học có ích, chỉ cần em nỗ lực và hãy học chữ nổi. ”Tôi nghe lời bà. Sau khi triển khai xong luận văn thạc sỹ, tôi liên tục theo học chương trình tiến sỹ. Một thử thách lớn. Chỉ đọc độ 30 phút là mắt tôi mệt rã rời, đau nhức đến tận óc, trong mắt như có kim châm. Tôi chỉ nhìn thấy lờ mờ trong khoảng cách 2 mét. Xa hơn nữa, toàn bộ lòa nhòa, chỉ còn những vệt tối và sáng kể cả khi đeo kính. Khi đọc sách, tôi dùng kính lúp, khi viết bài, tôi dùng phông chữ 20-25. Tôi dán mắt vào màn hình hiển thị với khoảng cách 20-25 cm. Mỗi khi làm bài xong, body toàn thân tôi tê dại vì ngồi trong một tư thế rất phiền phức. Cứ như thế, tôi đã từ từ hoàn thành xong những khóa học của chương trình tiến sỹ và đang viết luận án. Một cuộc chạy đua với số phận, không riêng gì để sở hữu những đỉnh điểm tri thức. Với tôi, đây là một cuộc chạy đua với Bóng Tối. Tôi muốn mình phải sẵn sàng chuẩn bị vào cuộc nếu ngày mai hắn đến .Cho đến giờ, tôi không còn nghĩ là mình kém suôn sẻ khi mắc phải căn bệnh này. Câu nói tôi yêu thích nhất của Karl Marx là : “ Không cái gì thuộc về con người được lạ lẫm với tôi. ” Vâng, thưởng thức của người mù không hề lạ lẫm với tôi. Không thể nói đó là thưởng thức mà tôi mong ước, nhưng nhờ nó, tôi biết yêu thương và cảm thông với con người hơn. Tôi biết trân trọng những điều bình dị mà hiển nhiên ta có : ánh nắng mặt trời. Ai sinh ra chẳng có đôi mắt và tất cả chúng ta thản nhiên tiếp đón ánh sáng mà không thấy đó là niềm hạnh phúc lớn lao, là niềm mơ ước không khi nào có được của những người khiếm thị. Chỉ khi nào thưởng thức được cảm xúc của người mù, tất cả chúng ta mới thấy quý từng giây từng phút được nhìn thấy ánh sáng .

Vì khiếm thị, tôi tìm đến cộng đồng của những người cùng cảnh ngộ. Tôi đến với các em trường Nguyễn Đình Chiểu, Hà Nội. Tôi tham gia “Hội Văn hóa Việt” ở Boston, tổ chức các hoạt động từ thiện gây quỹ để giúp Ban nhạc Hy vọng, ban nhạc của các em khiếm thị tại trường Nguyễn Đình Chiểu, do vợ chồng nghệ sỹ đàn piano Tôn Thất Triêm và ca sỹ Xuân Thanh đỡ đầu. Tôi có duyên may được gặp các em, những người sinh ra chưa từng được nhìn thấy ánh sáng. Tôi được thưởng thức một chương trình âm nhạc rất chuyên nghiệp do các em biểu diễn. Các em chăm chú nghe tôi kể chuyện nước Mỹ. Nhanh thoăn thoắt, các em dắt tôi đi thăm kí túc xá. Các em sử dụng máy tính thành thạo để học và cả viết báo. Nhiều em nói tiếng Anh rất khá. Nói chuyện về màu sắc, tôi hỏi các em thích màu gì. Một em nói: “Màu hồng.” Tôi nhận thấy em mặc áo hồng, trong tay là một chiếc ví cũng màu hồng. Còn một em khác mặc áo xanh và nói: “Em thích màu xanh cô ạ.” Các em đoán tôi mặc áo màu tối. Lạ chưa, tôi mặc áo màu đen. Tôi hỏi kinh nghiệm học chữ nổi, các em cười rất hồn nhiên: “Cô ơi, chữ nổi học dễ lắm, chứ không khó như học tiến sỹ đâu.”

Nếu ngày mai bạn không nhìn thấy mặt trời...
Tác giả trò chuyện với Thu Hương ( cô bé áo hồng ) và Hương Sen ( cô bé áo xanh ) tại trường Nguyễn Đình Chiểu

Nụ cười hồn nhiên trên khuôn mặt trẻ thơ với những con mắt mờ đục cứ đọng mãi trong tôi khiến tôi thấy mình có lỗi nếu cứ than thân trách phận rằng mình thiếu suôn sẻ. Chính những em đã dắt tôi bước qua nỗi sợ và làm tôi yêu đời sống hơn. Tôi mang nợ với những em, những người cõng nhau, dìu nhau đến lớp với chiếc gậy tre trong khi tôi có đủ mọi thứ, từ chiếc gậy ba màu, phản quang, hoàn toàn có thể gập lại, bỏ túi, và hễ ai nhìn thấy, họ sẽ giúp tôi, đến những trợ giúp ở trường ĐH những em chưa khi nào dám mơ tới. Tôi lao vào tìm kiếm mọi năng lực giúp những em. Tôi hoạt động bạn hữu ở Mỹ góp phần tài lộc, sức lực lao động, mua gậy và những ứng dụng chuyên được dùng cho người khiếm thị, rồi tìm cách chuyển về Nước Ta. Nhiều người Mỹ viết thư trao đổi với những em và giúp những em học tiếng Anh qua mạng. Các em từ từ thấy tương lai không còn bó hẹp với nghề vót tăm hoặc mat-xa, như xã hội thường nghĩ những em chỉ làm được thế. Có em vào ĐH, có em dạy tiếng Anh cho chính những bạn khiếm thị. Các em gọi tôi là “ cô ” vì tôi là cô giáo, nhưng chính những em mới là thày của tôi. Chính những em đã mang điều kì diệu là niềm vui sống đến với tôi, và chính nước Mỹ : thày cô, bè bạn, bác sỹ, đã làm cho niềm vui sống ấy lan tỏa đến bao người, không riêng gì những người khiếm thị .

Nếu ngày mai bạn không nhìn thấy mặt trời...

Câu nói của V. I. Lenin : “ Học, học nữa, học mãi ” cùng với triết lý học suốt đời trở thành thần dược cho tôi. Một khi còn học được và được học, tôi thấy mình đang sống và niềm hạnh phúc. Tôi gặp bác sỹ Eliot Berson, chuyên viên số 1 quốc tế về căn bệnh này khi tôi vừa viết xong luận văn thạc sỹ. Không khỏi kinh ngạc khi biết tôi hoàn toàn có thể làm được điều đó khi căn bệnh đang tiến triển, ông mỉm cười : “ Hãy làm những gì bạn đang làm, chẳng gì hoàn toàn có thể phá hỏng thêm đôi mắt của bạn ”. Đó là liều thuốc an thần lớn nhất mà tôi từng có trong đời .

Tôi sẽ làm gì khi ngày mai không còn nhìn thấy ánh nắng mặt trời? Tôi sẽ nghe theo lời khuyên của bác sỹ Berson là tiếp tục công việc tôi đang làm: học, dạy học, viết báo, viết văn và giúp đỡ các em khiếm thị thiếu may mắn hơn tôi. Tôi luôn ý thức được một ngày nào đó Bóng Tối sẽ đến gần và tôi sẽ nói với hắn: “Ta đã chờ mi, ta chẳng ưa gì mi, nhưng số phận bắt ta phải đi cùng mi, mi có thể cướp đi ánh sáng của ta, nhưng mi đừng hòng làm ta gục ngã, ta luôn sẵn sàng đón nhận bất cứ điều gì mi thách thức ta, và mi đừng hy vọng cướp đi niềm vui sống trong ta”. Ánh sáng sẽ đến từ tình yêu thương của gia đình và bè bạn, từ sự cảm thông chia sẻ của cộng đồng. Ánh sáng sẽ đến từ tri thức, kinh nghiệm, từ những gì tôi đã cóp nhặt, chắt chiu, nâng niu trong nhiều năm qua và sẽ còn tiếp tục gom góp để thấy mình luôn có ích cho đời. Hành trình Hà Nội-Boston của tôi là hành trình đi tìm ánh sáng, gìn giữ và chia sẻ ánh sáng với những ai cần đến nó.

Medford, tháng 7/2013

Tác giả: Nguyễn Thị Minh Phương, Nghiên cứu sinh ngành Quản trị Giáo dục Đại học, Đại học Massachusetts,
Boston. Chị cũng là giảng viên bộ môn Tiếng Việt, Khoa Ngôn ngữ Hiện
đại, Đại học Massachusetts, Boston.

Bài đoạt giải Nhất cuộc thi ” Hành trình nước Mỹ do của Hội Thanh niên – Sinh viên Nước Ta tại Hoa Kỳ tổ chức triển khai