Xuất khẩu lao động ngành ngư nghiệp sang Hàn Quốc: Cơ hội và thách thức

Chú thích ảnh
Lao động Việt Nam làm thủ tục nhập cảnh tại sân bay Incheon, Hàn Quốc. Ảnh minh họa: Mạnh Hùng/TTXVN

Tham dự hội thảo có đại diện Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc, Ban quản lý lao động Việt Nam tại Hàn Quốc, đại diện Hiệp hội Thủy sản Hàn Quốc, đại diện nhiều doanh nghiệp và Trung tâm hỗ trợ người nước ngoài tại Hàn Quốc.

Theo phóng viên báo chí TTXVN tại Seoul, hội thảo chiến lược tập trung chuyên sâu đàm đạo một số ít yếu tố trong công tác làm việc quản trị, tương hỗ lao động ngành ngư nghiệp cũng như yêu cầu những giải pháp nâng cao hiệu suất cao thực thi công tác làm việc này. Trưởng Ban quản trị lao động Nước Ta tại Hàn Quốc, bà Tạ Thị Thanh Thúy cho biết lao động trong nghành nghề dịch vụ ngư nghiệp lúc bấy giờ có hai hình thức là thuyền viên tàu cá gần bờ do những doanh nghiệp có giấy phép hoạt động giải trí dịch vụ đưa người lao động Nước Ta đáp ứng sang Hàn Quốc ( visa E-10 ) và lao động ngư nghiệp do Trung tâm lao động ngoài nước đáp ứng theo Chương trình EPS ( visa E-9 ). Hiện có 17 doanh nghiệp Nước Ta tham gia chương trình cung ứng thuyền viên cho tàu đánh bắt cá cá biển gần Hàn Quốc. Tổng số lao động visa E-10 đang thao tác tại Hàn Quốc là 8.602 người .

Lao động thuyền viên Việt Nam được chủ tàu Hàn Quốc đánh giá tốt về trình độ tay nghề và khả năng đi biển. Trong thời gian qua, dù chịu ảnh hưởng nặng nề từ dịch bệnh COVID-19 nhưng chỉ tiêu nhận thuyền viên Việt Nam đã tăng lên, từ 1.000 thuyền viên/năm giai đoạn trước năm 2018 lên 1.500 thuyền viên/năm như hiện nay. Tuy nhiên, các doanh nghiệp cũng cho rằng thị trường lao động thuyền viên biển gần Hàn Quốc đang có sự cạnh tranh mạnh mẽ từ thuyền viên các nước khác. Nhiều chủ tàu ưu tiên nhận thuyền viên các nước khác do ý thức kỷ luật của thuyền viên Việt Nam còn hạn chế, hay chuyển tàu. Bên cạnh đó, hạn chế về ngôn ngữ cũng là lý do gây bất đồng trong công việc, cuộc sống của những thuyền viên.

Tại hội thảo, các đại biểu cũng thẳng thắn chỉ ra tình trạng lao động ngư nghiệp bỏ hợp đồng ra ngoài làm bất hợp pháp là vấn đề cần được các bên giải quyết. Nguyên nhân chủ yếu được cho là do chênh lệnh thu nhập giữa lao động hợp đồng và lao động bất hợp pháp. Các chủ tàu Hàn Quốc chấp nhận trả mức lượng cao gấp 2 hoặc 3 lần để tìm kiếm lao động về làm việc. Bên cạnh đó, thuyền viên là nhóm công việc khá đặc thù do làm việc đơn lẻ, khó hỗ trợ khi xảy ra tranh chấp. Những vấn đề này khiến tỷ lệ thuyền viên yêu cầu chuyển tàu cao và khó giữ chân lao động khi hết hợp đồng.