Học sinh quan tâm nghiên cứu về lĩnh vực xã hội

Chiếm số lượng vượt trội

Theo thống kê của Sở GD-ĐT TP Hồ Chí Minh, trong 2 năm học gần đây, số lượng đề tài nghiên cứu khoa học thuộc nghành khoa học xã hội và hành vi có sự tiêu biểu vượt trội so với những nghành nghiên cứu khác trong cuộc thi nghiên cứu khoa học kỹ thuật. Chẳng hạn, năm học 2017 – 2018, Sở GD-ĐT nhận được khoảng chừng 680 đề tài nghiên cứu của học viên ( HS ) trung học cơ sở và trung học phổ thông ở 21 nghành nghề dịch vụ thì có gần 200 đề tài nghiên cứu những nội dung thuộc nghành nghề dịch vụ khoa học xã hội và hành vi .
Đến năm học 2018 – 2019, trong tổng số 597 đề tài nghiên cứu thì nghành khoa học xã hội và hành vi lại liên tục đứng vị trí số 1 với 217 đề tài, cách xa nghành nghề dịch vụ có số lượng đề tài đứng thứ 2 là khoa học kỹ thuật với 51 lựa chọn. Có những trường, tỷ suất đề tài về nghành nghề dịch vụ xã hội chiếm hơn 50 % tổng số đề tài thực thi. Chẳng hạn, Trường trung học phổ thông Trần Khai Nguyên ( Q. 5 ) có tổng số 25 đề tài thì 22 thuộc nghành nghề dịch vụ xã hội và hành vi. Trường trung học phổ thông Trần Văn Giàu ( Q. Bình Thạnh ) và những trường trung học cơ sở phần nhiều đều chọn nghành xã hội để nghiên cứu .
Học sinh quan tâm nghiên cứu về lĩnh vực xã hội - ảnh 1

tin liên quan

Thí sinh nào phù hợp với nhóm ngành kinh tế – ngân hàng – luật? (P.2)

Và tại vòng chung kết cuộc thi HS nghiên cứu khoa học kỹ thuật cấp TP, có 102 đề tài lọt vào vòng thi này thì khoa học xã hội và hành vi chiếm 1/5. Phát biểu tại cuộc thi, ông Nguyễn Văn Hiếu, Phó giám đốc Sở GD-ĐT, nhận xét cuộc thi đã kích thích sự sáng tạo trong HS, phát triển năng lực tự học, giúp HS bước đầu làm quen với nghiên cứu khoa học, rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn của cuộc sống. Các đề tài không chỉ gắn với lĩnh vực khoa học tự nhiên, ứng dụng công nghệ mới mà còn thể hiện tính nhân văn cao khi hướng tới tìm hiểu và giải quyết các vấn đề xã hội gần gũi lứa tuổi, gắn với thực tế đời sống HS.
Và tại vòng chung kết cuộc thi HS nghiên cứu khoa học kỹ thuật cấp TP, có 102 đề tài lọt vào vòng thi này thì khoa học xã hội và hành vi chiếm 1/5. Phát biểu tại cuộc thi, ông Nguyễn Văn Hiếu, Phó giám đốc Sở GD-ĐT, nhận xét cuộc thi đã kích thích sự phát minh sáng tạo trong HS, tăng trưởng năng lượng tự học, giúp HS trong bước đầu làm quen với nghiên cứu khoa học, rèn luyện năng lượng vận dụng kiến thức và kỹ năng đã học vào xử lý những yếu tố thực tiễn của đời sống. Các đề tài không chỉ gắn với nghành nghề dịch vụ khoa học tự nhiên, ứng dụng công nghệ tiên tiến mới mà còn bộc lộ tính nhân văn cao khi hướng tới tìm hiểu và khám phá và xử lý những yếu tố xã hội thân mật lứa tuổi, gắn với trong thực tiễn đời sống HS .

Gắn liền với cuộc sống, gần gũi với học sinh

Từ thực tế nói trên, ông Phạm Phương Bình, Hiệu phó Trường THPT Nguyễn Hữu Huân (Q.Thủ Đức), lý giải rằng nghiên cứu khoa học ở các lĩnh vực như hóa học, vật lý, y sinh học… đòi hỏi phải có tính mới. Để đạt được điều này, khi thực hiện HS cần có đủ điều kiện về phương tiện thực hành, thực nghiệm. Mà điều kiện này ở các trường phổ thông còn có hạn chế. Nhiều khi ban giám hiệu, giáo viên hướng dẫn phải tận dụng mối quan hệ với các trường ĐH để xin thực hành, thí nghiệm “nhờ”. Bên cạnh những hạn chế trong tìm tòi, nghiên cứu thì đối với lĩnh vực khoa học như hóa học, sinh học, y sinh học… khó có thể thực hiện theo kiểu “mày mò” và kết quả thành công ở lĩnh vực này không cao. Đồng thời, ở bậc phổ thông, kiến thức mới ở mức cơ bản chưa đi chuyên sâu nên cũng gặp hạn chế khi nghiên cứu.

Trong khi đó, nếu so sánh thì cho thấy tiến trình thực thi nghiên cứu đề tài khoa học xã hội và hành vi đơn thuần hơn, không yên cầu điều kiện kèm theo cơ sở vật chất có tính nâng cao. Hầu hết những đề tài đều sử dụng giải pháp khảo sát, tìm hiểu câu hỏi, thống kê tỷ suất, nhìn nhận và đưa ra giải pháp. Thêm vào đó, những đề tài ở nghành nghề dịch vụ này thường gắn liền với đời sống xã hội, thân thiện với HS, dễ nhận được sự đồng cảm, nguồn tài liệu nhiều, dễ tạo hiệu ứng .

Thành viên của ban tổ chức triển khai cuộc thi nghiên cứu khoa học kỹ thuật của Sở GD-ĐT cũng đánh giá và nhận định, quy trình tiến độ thực thi nghiên cứu đề tài khoa học xã hội và hành vi đơn thuần, dễ triển khai, HS nào cũng hoàn toàn có thể tham gia. Nhưng so với những nghành khác, ví dụ điển hình khi triển khai đề tài về mạng lưới hệ thống ứng dụng, robot và máy mưu trí … thì cần có kiến thức và kỹ năng nâng cao và sự đam mê nhất định để dành thời hạn, tận tâm theo đuổi .

Bà Hoàng Thị Diễm Trang, Hiệu trưởng Trường THCS-THPT Đinh Thiện Lý (Q.7), nói thêm so với lĩnh vực khác, lĩnh vực xã hội này không có yêu cầu nhiều về thiết bị, cơ sở vật chất, không cần quá nhiều sự hỗ trợ từ khoa học. Có những trường có thể có ý tưởng nhưng không có điều kiện về cơ sở vật chất, không có kinh phí nên sẽ có những rào cản khi muốn thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học ứng dụng, tự nhiên.

Khuynh hướng chọn nghề nghiệp

Trong khi đó, nhiều giáo viên cho biết những năm trước HS có thiên hướng chọn những ngành học có khối thi là những môn tự nhiên thì nay việc lựa chọn đã gần như có sự bão hòa. Hiện nay khá nhiều HS có xu thế nghề nghiệp về xã hội, tâm ý nên điều này cũng tác động ảnh hưởng đến việc lựa chọn đề tài nghiên cứu. Qua nhiều năm học, nhà trường theo dõi thì nhận thấy thưởng thức này giúp học trò có xu thế nghề nghiệp cho bản thân trong tương lai .
Theo bà Diễm Trang, dù lựa chọn nghành nghề dịch vụ tự nhiên, thực nghiệm hay xã hội thì việc nghiên cứu khoa học là thời cơ để HS tự trang bị và bổ trợ cho mình những kiến thức và kỹ năng thiết yếu. HS sẽ dữ thế chủ động trong việc học tập và nghiên cứu thay vì chờ đón giáo viên dạy. Còn về phía giáo viên, khi học trò nghiên cứu thì bản thân thầy cô cũng phải xem lại tài liệu, trau dồi giải pháp để hướng dẫn kịp thời khi HS gặp những yếu tố khúc mắc. Từ đó mỗi thầy cô cũng “ trưởng thành ” hơn .