Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân – Tài liệu text
Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (251.54 KB, 32 trang )
Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang
MỤC LỤC
DỰ KIẾN HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ ÁN 31
ĐỀ ÁN
Xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 – 2015
giai đoạn 2016 – 2020 huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh.
MỞ ĐẦU
I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG ĐỀ ÁN:
Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-
2020 là một nội dung, nhiệm vụ quan trọng để triển khai thực hiện Nghị quyết 02
của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa 15 về xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc
làm và tập trung xây dựng nông thôn mới; Nghị quyết 08 của Ban Chấp hành Đảng
bộ khóa 16 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn giai đoạn 2009 đến 2020. Đây là
nội dung tổng hợp có tính toàn diện bao gồm: kinh tế, xã hội, chính trị, an ninh
1
Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang
quốc phòng, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống vật chất, tinh thần của hơn 70 % dân
số đang sống ở nông thôn và phải triển khai thực hiện trong một thời gian dài.
Trong những năm qua được sự quan tâm của các cấp, các ngành cùng với sự
nỗ lực phấn đấu của Đảng, Chính quyền và nhân dân, huyện Nghi Xuân đã đạt
được những thành tựu trong phát triển kinh tế – văn hóa xã hội, thu nhập của người
dân đã được cải thiện, đời sống vật chất và tinh thần không ngừng được nâng cao,
kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội từng bước được củng cố; cơ cấu kinh tế và các hình
thức tổ chức sản xuất chuyển dịch theo chiều hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và
dịch vụ, nông thôn ổn định, an ninh trật tự được giữ vững.
Tuy vậy, khu vực nông thôn của huyện còn bộc lộ nhiều hạn chế: phát triển
thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội còn yếu kém; chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, cơ cấu lao động và đổi mới cách thức sản xuất nông nghiệp còn chậm, phổ
biến vẫn là sản xuất nhỏ lẽ, phân tán; năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiều
mặt hàng thấp; công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề phát triển chậm chưa thúc đẩy
mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động ở nông thôn. Môi trường
ngày càng ô nhiễm, năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai còn nhiều hạn chế; đời
sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn còn thấp; tỷ lệ hộ nghèo còn cao,
chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và những vùng thị tứ, thị trấn, giữa các địa
phương còn lớn;
Thực hiện Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính
phủ ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; Quyết định số 800/QĐ-TTg
ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc
gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 của Thủ tướng Chính phủ. Uỷ
ban nhân dân huyện xây dựng đề án xây dựng nông thôn mới Nghi Xuân giai đoạn
2011-2015, giai đoạn 2016-2020
II. CÁC CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN:
– Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 Hội nghị lần thứ VII Ban Chấp
hành Trung ương khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;
– Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 19/5/2009 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh
về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;
– Chương trình hành động số 852-CTr/TU ngày 10/11/2008 của Ban Chấp
hành Đảng bộ tỉnh về thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW;
– Quyết định số 2165/QĐ-UBND ngày 16/7/2009 của Uỷ ban nhân dân tỉnh
về triển khai thực hiện Nghị quyết 08;
– Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về
việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;
2
Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang
– Quyết định số 193/QĐ-TTg ngày 16/4/2010 phê duyệt Chương trình rà soát
quy hoạch xây dựng nông thôn mới;
– Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ về
việc phê duyệt đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020;
– Quyết định số 22/QĐ-TTg ngày 05/1/2010 của Thủ tướng Chính phê duyệt
đề án phát triển văn hoá nông thôn đến năm 2015 định hướng đến năm 2020;
– Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về
việc phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai
đoạn 2010-2020;
– Thông tư số 54/2009/TT-BNN-PTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
ban hành tại Quyết định 491/QĐ-TTg;
– Công văn số 4031/VPCP-KTN ngày 14/6/2010 về việc xây dựng Đề án xây
dựng nông thôn mới ở các tỉnh.
– Kế hoạch số: 314/KH-UBND ngày 29/11/2010 của UBND tỉnh Hà Tĩnh về
việc triển khai chương trinh mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM tháng 12 và năm
2011
– Căn cứ tình hình chung của huyện và tình hình thực tế của nông thôn huyện
nhà hiện nay.
Phần 1
THỰC TRẠNG NÔNG THÔN HUYỆN NGHI XUÂN
I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ DÂN SỐ.
1. Điều kiện tự nhiên:
1.1. Vị trí địa lý
Huyện Nghi Xuân là cửa ngõ phía Bắc của tỉnh Hà Tĩnh, cách thị xã Hà Tĩnh
56km và cách thị xã Hồng Lĩnh 15km về phía Bắc, cách thành phố Vinh(Nghệ An)
7 km về phía Nam, có Quốc lộ 1A đi qua với chiều dài khoảng hơn 10km.
huyện Nghi Xuân có vị trí địa lý như sau:
– Phía Bắc giáp thành phố Vinh tỉnh Nghệ An;
3
Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang
– Phía Nam giáp huyện Can Lộc và thị xã Hồng Lĩnh;
– Phía Đông giáp biển Đông;
– Phía Tây giáp huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghê An.
Toàn huyện có 19 đơn vị hành chính cấp xã và hai thị trấn với tổng diện tích
tự nhiên là 22.005,5 ha, chiếm 3,64% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Nghi Xuân có
bờ biển dài 32km, có đường quốc lộ 1A đi qua với chiều dài khoảng hơn 10km;
đường quốc lộ 8B nối từ Viên Chăn tới các tỉnh Nam Lào, có dòng sông Lam chảy
qua phía Tây Bắc huyện với chiều dài 28km.
Với vị trí địa lý như trên là điều kiện rất thuận lợi để Nghi Xuân phát triển
kinh tế – xã hội, mở rộng quan hệ thông thương, giao lưu văn hóa – xã hội với các
vùng lân cận đặc biệt là thành Phố Vinh của tỉnh Nghệ An.
Vai trò của Nghi Xuân đồi với tỉnh Hà Tĩnh có vị trí quan trọng hơn với các
lý do sau: Huyện có vai trò quan trọng trong việc tạo ra các mối liên kết về du lịch
(nhất là du lịch sinh thái), dịch vụ và văn hóa với các huyện khác và địa phương lân
cận (thành phố Vinh ); Huyện nghi Xuân là cửa ngõ của thành phố Hà Tĩnh, có
nguồn kinh tế biển phong phú, có cảnh quan du lịch đẹp và có vị trí quan trọng về
quốc phòng, an ninh; Huyện có cảng cá Xuân Hội là nơi có điều kiện thuận lợi
cung ứng các dịch vụ cho tàu thuyền đánh bắt hải sản và nơi gần nhất, đồng thời
cũng là nơi thuận tiện cho việc thu mua hải sản của ngư trường (cung cấp lương
thực, thực phẩm, nước ngọt, nước đá, ngư lưới cụ ) cũng như các nhu yếu phẩm
khác tại Nghi Xuân sẽ làm giảm thời gian đi lại, chi phí xăng dầu mà các tàu thuyền
phải về nhận tại Hà Tĩnh.
Có thể khẳng định vị trí địa lý là một trong những lợi thế nổi bật của huyện Nghi
Xuân, tạo thuận lợi để có những ngành kinh tế mạnh như ngành thủy sản, dịch vụ hậu
cần nghề cá và phát triển du lịch. Đây cũng là một trong những nơi có điều kiện thuận
lợi để hình thành “một khu vực cửa ngõ” giữa hai tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An.
1.2. Địa hình
ghi Xuân có địa hình đặc trưng của tỉnh Hà Tĩnh cũng như khu vực miền
trung (địa hình nghiêng từ Tây Nam sang Đông Bắc). Về cơ bản địa hình Nghi
Xuân được chia thành ba vùng đặc trưng:
– Vùng 1 : Là vùng có địa hình bằng phẳng, đất đai màu mỡ hơn cả tập trung
ơ các xã Xuân Lam, Xuân Hồng, Xuân Hoa, Xuân Liên, rất phù hợp với viêc phát
triển thâm canh trồng cây lương thực, hoa màu nên có thể phát triển các vùng
chuyên canh cây lương thực, cây hoa màu, đồng thời phát triển đàn gia súc, gia cầm
nâng cao hiệu quả kinh tế nông nghiệp toàn huyện.
– Vùng 2 : Vùng này chủ yếu là các núi đá với độ dốc lớn phía dưới chân núi
thuộc một số xã có địa hình trũng như Xuân Viên, Xuân Mỹ với địa hình đặc trưng
của vùng này có thể kết hợp phát triển lâm nghiệp trồng rừng chắn giá, chắn bão
cho khu vực dân cư và các khu vực sản xuất. Vùng chân núi có nhiều khe rạch,
mạch nước ngầm sử dụng để xây hồ đập phục vụ sản xuất nông nghiệp, trữ nước
ngọt đổ vào các ao hồ nuôi cá ở phía dưới, đây là cơ sở để phát triển hệ thống trang
4
Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang
trại, gia trại. Như vây song song với trồng rừng, xây đập phát triển hệ thống cảnh
quan đẹp, phát triển các trang trại sinh thái sẽ tạo ra vùng du lịch sinh thái, nghĩ
dưỡng ngoại ô (thu hút khách từ thành phố và các vung lân cận, đa dạng hóa các
sản phẩm du lich trong hệ thống tua du lịch văn hóa của Nghi Xuân)
– Vùng 3 : Đây là vùng ven biển là điều kiện thuận lợi để phát triển ngành
nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản đồng thời có thể khai thác để phát triển du lịch
nghỉ mát và các dịch vụ kèm theo. Tuy nhiên việc chuyển đổi các cánh đồng từ
trước tới nay trồng lúa kết hợp khai thác thủy sản truyền thống, cần có sự nghiên
cứu và quy hoạch hợp lý chuyển một phần sang nuôi thâm canh thủy sản có hiệu
quả kinh tế cao, phần còn lại vẫn giữ để canh tác, đảm bảo an sinh xã hội bền vững
về sinh thái môi trường.
1.3. Thời tiết, khí hậu. Nghi Xuân là một trong những nơi có khí hậu khắc
nghiệt của vùng Duyên Hải miền trung. Đây là vùng chịu ảnh hưởng của gió phơn
Tây Nam từ nước bạn Lào thổi sang. Vì vậy, mùa hè rất nóng, nắng nhiều và gay
gắt. Bên cạnh đó, là nơi có tần suất bão khá cao, bão kèm theo mưa lớn, gió lốc
gây ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân trong huyện. Với điều
kiện khí hậu khắc nghiệt nêu trên cộng với những diễn biến khi hậu thất thường do
biến đổi khí hậu gây nên.
1.4. Tài nguyên.
Diện tích tự nhiên 22.005,5 ha. Trong đó đất nông nghiệp 12.839,9 ha,
chiếm 58,3 % bao gồm đất trồng cây hàng năm 7.608,1 ha, đất nuôi trồng thủy sản
563,5 ha, đất lâm nghiệp 4.665,4 ha.
Tài nguyên khoáng sản trên địa bàn: Hiện nay có 14 mỏ khai thác đá, 5 mỏ
khai thác đất san lấp, tập trung ở các xã Xuân Lam, Xuân Hồng, Xuân Lĩnh; Xuân
Viên; Cổ Đạm; Xuân Liên và Cương Gián. 01 mỏ sét ở xã Cổ Đạm. Đây là lĩnh
vực giải quyết lao động, và nâng cao thu nhập đáng kể cho người dân.
2. Dân số và lao động: Toàn huyện có 92.607 nhân khẩu, trong đó số nhân
khẩu trong độ tuổi lao động 46.355 khẩu, chiếm 50%. Là nguồn nhân lực dồi dào
cho phát triển kinh tế huyện nhà.
Đánh giá chung:
Thuận lợi:
– Ở vị trí địa lý thuận lợi với nhiều di tích lịch sử, du lịch biễn là tiềm năng,
lợi thế tổng hợp để phát triển kinh tế xã hội, kêu gọi các nhà đầu tư, xúc tiến triển
khai các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội để xây dựng huyện ngày càng lớn mạnh.
– Với 32km đường biển có cảng biển Cửa Hội là lợi thế phát triển nuôi trồng,
đánh bắt thủy hải sản và các ngành chế biến thủy hải sản liên quan.
– Là một huyện có đa dạng về nguồn lực, tạo ra sự phong phú đa dạng trong
hoạt động kinh tế. Trong vận hội mới, cơ hội được đổi mới sản xuất theo hướng
5
Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang
vừa đảm bảo an ninh lương thực, mạnh dạn chuyển đổi các diện tích sản xuất nông
nghiệp kém hiệu quả sang công nghiệp, phát triển thương mại dịch vụ và các ngành
nghề khác, theo hướng tạo ra hàm lượng giá trị hàng hóa cao, phấn đấu trở thành
khu vực kinh tế có thu nhập khá, ổn định cho người dân.
– Có nguồn lao động dồi dào, kỹ năng sản xuất khá, có trình độ để tiếp nhận
nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất,
Khó khăn:
– Diện tích đất tự nhiên có gần 42% là đất phi nông nghiệp và đất đồi núi, địa
hình chia cắt, đất đai kém màu mở, manh mún đã ảnh hưởng không nhỏ đến sản
xuất nông nghiệp. Đất đai chủ yếu phù hợp với một số loại cây trồng có giá trị kinh
tế thấp, vì vậy việc chuyển đổi cây trồng, vật nuôi theo hàng hóa gặp khó khăn.
– Thời tiết khí hậu diễn biến khá phức tạp, thay đổi thất thường, hàng năm
phải gánh chịu nhiều trận lũ lụt, hạn hán và mưa bão gây ảnh hưởng đến năng suất,
sản lượng nông nghiệp. Hầu hết diện tích chỉ sản xuất được một vụ trong năm, sản
xuất chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro.
– Thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều, ô nhiễm môi trường đã làm phát sinh, phát
triển nhiều dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, thủy hải sản, diễn biến khá phức tạp
gây tâm lý lo lắng cho người sản xuất, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp.
– Tiềm năng phát triển kinh tế của huyện nhà chưa được khai thác một cách
có hiệu qủa, thiếu quy hoach, các chương trình đầu tư có tính chiến lược chưa đồng
bộ, còn chắp vá thiếu tính bền vững
II. THỰC TRẠNG KINH TẾ – XÃ HỘI
1. Quy hoạch và thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới.
Quy hoạch nông thôn thời gian qua chưa được chú trọng, hầu hết các xã chỉ
mới có quy hoạch sử dụng đất nhưng niên độ chỉ đến 2010; các loại quy hoạch theo
yêu cầu xây dựng nông thôn mới như: quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu
cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,
dịch vụ và quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế – xã hội – môi trường theo chuẩn
mới hầu hết đều chưa thực hiện. Theo số liệu điều tra, đến nay Nghi Xuân chưa có
xã nào thuộc khu vực nông thôn hoàn thành công tác quy hoạch theo tinh thần
Quyết định 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Xã Xuân Viên một trong các
xã điểm của tỉnh đang trong giai đoạn triển khai công tác xây dựng quy hoạch theo
chương trình xã điểm xây dựng nông thôn mới tỉnh, đang hoàn thiện để phê duyệt.
2. Hạ tầng kinh tế – xã hội
2.1. Hệ thống đường giao thông:
Mạng lưới giao thông nông thôn những năm gần đây tuy được phát triển mạnh,
theo tiêu chí nông thôn mới đến nay chưa có xã nào đạt tiêu chí về giao thông.
Toàn huyện có tổng chiều dài đường giao thông nông thôn và đường trục
chính nội đồng là 1.008 km, đã đạt chuẩn 175 km chiếm 17,4%, chưa đạt chuẩn
833km chiếm 82,6%, trong đó: tuyến đường trục xã có 129 km đã có 58 km đạt
6
Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang
chuẩn, chiếm 44,96%; tuyến đường liên thôn có 323 km, đã có 84 km đạt chuẩn
chiếm 26 %; tuyến đường ngõ xóm có 265 km đã đạt chuẩn 19 km chiếm 7,2%;
đường trục chính nội đồng có 291 km, đã có 14 km đạt chuẩn, chiếm 4,8%.
2.2. Hệ thống thủy lợi:
Toàn huyện có 14 hồ chứa lớn, nhỏ tổng dung tích 14,7 triệu m
3
; 5 trạm bơm
hàng năm chủ động tưới cho trên 40,1% diện tích canh tác (chủ yếu diện tích lúa).
Kênh mương do xã quản lý được kiên cố hóa là: 59,2 km trong tổng số 230,2
km, chiếm 25,7 %. So với tiêu chí nông thôn mới, hiện nay chưa có xã nào đạt tiêu
chí thủy lợi. Ngoài ra, huyện còn quản lý trên 17,3km đê biển và 15,9 km đê sông.
Công trình thủy lợi hồ chứa nước Xuân Hoa, đang được khai thác sử dụng có
hiệu quả, ngoài chức năng tưới, vừa khai thác nước sạch phục vụ sinh hoạt và sản
xuất, dịch vụ kinh doanh.
2.3 Điện nông thôn:
Toàn huyện có 315,4 km đường dây hạ thế trong khu vực nông thôn đã đạt
chuẩn 155 km chiếm 49,1%; Theo khao sát cho thấy 100% xã có điện lưới quốc
gia; 98,0% hộ gia đình dùng điện lưới quốc gia thường xuyên, an toàn, có 11,8% xã
đã đạt chuẩn về tiêu chí điện nông thôn.
2.4 Trường học:
Đến năm học 2009 – 2010 đã có 560/725 phòng học được xây dựng kiên cố
đạt chuẩn quốc gia chiếm 77,2%; tổng số phòng học còn thiếu 69 phòng, tương
đương 4.608m
2
; diện tích sân chơi bãi tập còn thiếu so với yêu cầu đạt chuẩn.
Có 29/52 trường học ở khu vực nông thôn đạt chuẩn quốc gia chiếm 55,8%.
Tỷ lệ các trường đạt chuẩn quốc gia chung của huyện: trường mầm non 42,9%; tiểu
học đạt chuẩn mức độ 1 là 91,5%, chuẩn mức độ 2 là 8,3%; THCS đạt chuẩn chiếm
25%. Riêng khu vực nông thôn: trường mầm non 35%; tiểu học đạt chuẩn mức độ
1 là 85%; THCS là 10%:
Số lượng các xã đạt chuẩn nông thôn mới tiêu chí trường học: có 3/17 xã,
chiếm 17,6%.
2.5. Cơ sở vật chất văn hóa
Toàn huyện có 07/17 xã có hội trường kiêm nhà văn hóa diện tích bình quân
300m
2
.
Nhà văn hóa thôn (hội quán) hiện nay có 183 nhà, diện tích bình quân
200m
2
; có 98/183 thôn có nhà văn hóa đạt chuẩn chiếm 50,8%; 02 thôn chưa có hội
quán chiếm 1,09%.
So với tiêu chí nông thôn mới hiện nay chưa có xã đạt yêu cầu tiêu chí cơ sở
vật chất văn hóa xã.
2.6. Chợ nông thôn:
7
Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang
Toàn huyện có 18 chợ, trong đó vùng nông thôn có 16 chợ; đã có 7 chợ
được xây dựng kiên cố, 02 chợ xây dựng bán kiên cố và 7 chợ tạm. Có 13 /17 xã có
chợ, trong đó chưa có xã nào có chợ đạt chuẩn.
2.7. Bưu điện:
Đã có 17/17 xã có điểm bưu chính viễn thông; 85/183 thôn có Internet đến
thôn chiếm tỷ lệ 46,4%. Theo yêu cầu của tiêu chí nông thôn mới về bưu điện, hiện
nay chưa có xã đạt chuẩn.
2.8. Nhà ở dân cư nông thôn
Tổng nhà ở nông thôn có 22.774 nhà, trong đó nhà tạm 520 nhà, chiếm
2,3%; số nhà đạt tiêu chuẩn của Bộ Xây dựng 17.803 nhà chiếm 78,2%, còn lại
4.451 nhà bán kiên cố. Kết quả điều tra tháng 10/2010, toàn huyện có 12/17 xã đạt
tiêu chí về nhà ở nông thôn.
3. Thực trạng kinh tế và tổ chức sản xuất
3.1. Thu nhập bình quân đầu người:
Năm 2010, thu nhập bình quân 1người/năm chung toàn huyện 10,077 triệu
đồng (trong đó bình quân chung của tỉnh là 11,0 triệu đồng). Số liệu điều tra tháng
10/2010 về tiêu chí thu nhập toàn huyện chỉ có 01 xã đạt tiêu chí, chiếm 5,9%; (xã
Cương Gián).
3.2. Tỷ lệ hộ nghèo
Tỷ lệ hộ nghèo hàng năm giảm trung bình từ 2-2,5%; từ 25,6% năm 2006
giảm xuống còn 17,18% (theo tiêu chí mới) năm 2010. Hiện nay toàn huyện chưa
có xã nào đạt tiêu chí hộ nghèo (tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí <5%).
3.3. Cơ cấu lao động
Toàn huyện có 46.380 lao động, trong đó khu vực nông lâm thủy sản chiếm
64,6 % (tiêu chí NTM yêu cầu dưới 35%), về chất lượng lao động từng bước được
nâng lên, lao động tốt nghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông ngày càng
tăng. Số lao động được đào tạo nghề trong khu vực nông thôn tăng đều trong các
năm, từ 8 % năm 2006 đến năm 2010 đạt 9,3%; (tiêu chí NTM yêu cầu lao động
được đào tạo nghề là trên 35 %).
Kết quả điều tra cơ cấu lao động toàn huyện chưa có xã nào đạt tiêu chí
nông thôn mới.
3.4. Tổ chức sản xuất ở nông thôn
– Kinh tế trang trại: tính đến 31/12/2010 toàn huyện có 67 trang trại, tăng
1,95 lần so với năm 2006 (từ 35 trang trại lên 67 trang trại ); các loại hình của sản
xuất trang trại ngày càng đa dạng, trong đó phát triển nhanh nhất là trang trại chăn
nuôi, nuôi trồng thủy sản. Số lượng lao động thuê thường xuyên ở trang trại tăng,
bình quân 4,0 lao động/1 trang trại; vốn đầu tư cho trang trại từ 112 triệu đồng năm
2006 tăng lên 287 triệu đồng năm 2009, tăng 2,56 lần, giá trị hàng hóa và dịch vụ
bán ra bình quân 1 trang trại là 248 triệu đồng.
– Kinh tế hợp tác:
8
Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang
+ Tổ hợp tác: Toàn huyện có 12 tổ hợp tác, đều là các loại hình tổ hợp tác
đánh bắt xa bờ; tổ hợp tác quy mô còn nhỏ, nhưng cũng đã đáp ứng một phần nhu
cầu đòi hỏi thiết thực về các dịch vụ sản xuất của kinh tế hộ, đặc biệt là trong khai
thác thủy sản.
+ Về hợp tác xã nông nghiệp: Đến tháng 12 năm 2009, Nghi Xuân có 06 hợp
tác xã nông nghiệp; Theo kết quả phân loại năm 2009 100% HTX hoạt động có
hiệu quả. Trên thực tế hầu hết các HTX thực hiện tốt các dịch vụ phục vụ xã viên
nhưng chủ yếu là dịch vụ đầu vào, vận chuyển phân bón, hàng hóa và dịch vụ các
thông tin khoa học kỹ thuật, còn dịch vụ tiêu thụ sản phẩm cho bà con xã viên thì
chưa làm được.
– Căn cứ theo tiêu chí nông thôn mới đến nay toàn huyện 4/17 có xã đạt tiêu
chí về hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn.
4. Văn hóa, xã hội, môi trường
4.1. Giáo dục
Nghi Xuân là một trong các huyện được công nhận là huyện phổ cập giáo
dục trung học cơ sở vào loại sớm nhất. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở
được tiếp tục học (trung học phổ thông, bổ túc, dạy nghề) 91,9% (yêu cầu tiêu chí
từ 85% trở lên); tỷ lệ lao động được đào tạo nghề là 31% trong đó vùng nông thôn
9,3%
(yêu cầu tiêu chí >35%).
Kết quả điều tra về tiêu chí giáo dục toàn huyện có 8/17 xã đạt chiếm 47%.
Đối với tiêu chí giáo dục nhìn chung các xã đều đạt 2 tiểu tiêu chí đó là phổ cập
giáo dục trung học và tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở tiếp tục học (trung
học phổ thông, bổ túc, dạy nghề ); tỷ lệ lao động được đào tạo cơ bản các xã đều
chưa đạt.
4.2. Y tế cơ sở
Mạng lưới y tế cơ sở được đầu tư cơ bản về cơ sở hạ tầng và trang thiết bị,
nguồn nhân lực được quan tâm, hiện có 17/17 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế chiếm 100
% (yêu cầu tiêu chí là 100%). Có 17/17 trạm xá xã đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 1.
Toàn huyện có 17 bác sỹ công tác tại trạm y tế các xã, so với yêu huyện nhà
đã đạt tiêu chí tất cả các trạm Y tế xã đều có bác sỹ. Tỷ lệ người dân tham gia các
hình thức bảo hiểm y tế của toàn huyện là 51,9%, riêng khu vực nông thôn là
49,47% đây là một tỷ lệ khá cáo so với trung bình chung toàn tỉnh (tỉnh đạt 30%).
4.3 Về văn hóa
Năm 2010, toàn huyện có 94/183 thôn đạt danh hiệu thôn văn hóa chiếm
51,3%; có 16.913 hộ gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa chiếm 75,10%; có
3.475 hộ đạt danh hiệu gia đình thể thao, chiếm tỷ lệ 15,4%.
Xét theo tiêu chí nông thôn mới hiện nay toàn huyện có 6/17 xã đạt tiêu chí
văn hóa.
4.4. Môi trường nông thôn
9
Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang
Từ năm 2006-2010 đã có nhiều chương trinh hỗ trợ cho công tác cải thiện
nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn. Góp phần đưa tỷ lệ người dân được
sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh tăng từ 23,37% năm 2005 lên 75,9% năm
2010; tỷ lệ hộ gia đình có hố xí hợp vệ sinh từ 18,68% năm 2005 lên 38,85% năm
2010. có 01 hợp tác xã môi trường.
Nhìn chung cùng với sự phát triển kinh tế của xã hội thì môi trường nông
thôn đã bộc lộ nhiều dấu hiệu đáng lo ngại, các cơ sở sản xuất, các làng nghề ở
nông thôn, rác thải từ cộng đồng dân cư, vệ sinh nơi công cộng hầu như chưa được
quan tâm đúng mức, trong việc xử lý môi trường các làng nghề hầu như chưa có hệ
thống xử lý nước thải đảm bảo tiêu chuẩn, đặc biệt là các làng nghề nuôi trồng, chế
biến hải sản, chuồng trại chăn nuôi gia súc, rác thải được đẩy ra nơi công cộng chưa
có nơi xử lý. Đến nay, toàn huyện có 4 HTX môi trường, trong đó ở khu vực nông
thôn có 02 HTX (Xuân Liên và Cương Gián), có 03/17 xã khu vực nông thôn có tổ
thu gom (xã Xuân Hội, Xuân Trường, Xuân Đan), chưa có cở sở sản xuất kinh
doanh nào trên địa bàn khu vực nông thôn đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường.
Theo số liệu thống kê, hiện nay trên địa bàn huyện có trên 17 nghĩa trang
trong đó 05 nghĩa trang đã có kế hoạch sử dụng đất đến 2015 nhưng chưa được quy
hoạch chi tiết còn lại chưa được quy hoạch, bố trí rải rác, quy mô nhỏ. Đánh giá về
tiêu chí môi trường hiện nay toàn huyện chưa có xã nào đạt.
5. Hệ thống chính trị
5.1. Hệ thống tổ chức chính trị
– Hệ thống chính trị cơ sở: Toàn huyện có 19 tổ chức cơ sở đảng xã, phường,
thị trấn; trong đó có 17 đảng bộ xã, 02 đảng bộ thị trấn; có 315 chi bộ trực thuộc
đảng bộ cơ sở. Kết quả phân loại năm 2009 đối với các đảng bộ cơ sở: trong sạch
vững mạnh chiếm 94,47%, một đảng bộ cơ sở không đạt chiếm 5,26%(đảng bộ xã
Xuân Liên); đối với đảng viên: đủ tư cách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiếm
13,25%, đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ chiếm 67,56%, đủ tư cách hoàn thành
nhiệm vụ chiếm 18,85%, vi phạm tư cách chiếm 0,34%.
– Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể:
Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể đã góp phần tích cực vào
việc phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững ANCT, xây dựng Đảng và hệ thống chính
trị ngày càng vững mạnh; kết quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
cơ sở được thực hiện qua phân loại năm 2009 như sau:
+ Mặt trận tổ quốc: xuất sắc chiếm tỷ lệ 50,76%, khá 44,65%, trung bình
4,58%.
+ Đoàn Thanh niên: tổ chức đoàn vững mạnh: 63,16%, khá 31,57%, trung
bình 5,26%.
+ Hội phụ nữ: xuất sắc 73,68%, tốt 15,78%, khá 10,52%.
+ Hội nông dân: xuất sắc 78,95%, khá 21,10%.
+ Hội cựu chiến binh: xuất sắc 63,15%, khá 36,85%.
10
Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang
+ Liên đoàn lao động huyện: 100% vững mạnh xuất sắc.
Về tiêu chí hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh: các xã đạt tỷ lệ khá
cao 13/17 xã đạt chiếm 76,47%.
– Đội ngũ cán bộ, công chức xã: Toàn huyện có 314 cán bộ, công chức xã,
trong đó có trình độ đại học 52 người chiếm 16,56%, cao đẳng 02 người chiếm
0,63%; trung cấp 169 người chiếm 53,82%; sơ cấp 30 người chiếm 9,6%; số còn lại
chưa qua đào tạo 61 người chiếm 19,43%.
5.2. An ninh trật tự xã hội
An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở nông thôn được giữ vững, 100%
số xã vùng nông thôn đều có lực lượng dân quân tự vệ và lực lượng dự bị động
viên; tình trạng phạm tội và các tệ nạn xã hội cơ bản được kiềm chế; phong trào
quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc ngày càng có nhiều chuyển biến tích cực, giải
quyết kịp thời các mâu thuẫn nảy sinh từ cơ sở. hạn chế đơn thư khiếu nại vượt cấp.
Công tác thanh tra, hoạt động tư pháp khu vực nông thôn được quan tâm, giải quyết
kịp thời.
Theo số liệu điều tra tháng 7/2010, có 17/17 xã đạt tiêu chí an ninh trật tự xã
hội đạt tỷ lệ 100%.
III. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT VỀ THỰC TRẠNG NÔNG THÔN HIỆN NAY:
– Nghi Xuân là một huyện nghèo ven biển sản xuất nông nghiệp là chủ yếu,
nông thôn còn chậm phát triển.
– Là huyện có tiềm năng để chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang phát triển công
nghiệp, du lịch dịch vụ, song tập trung chủ yếu ở khu vực đô thị còn khu vực nông
thôn phát triển thiếu quy hoạch và tự phát; công tác quản lý nhà nước về quy hoạch
và thực hiện theo quy hoạch còn nhiều mặt hạn chế.
– Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội còn lạc hậu, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp – nông thôn. Mạng lưới giao thông tuy
đã phát triển rộng khắp song quy mô, cấp đường chưa đạt chuẩn; nhiều tuyến
đường đã bị xuống cấp nghiêm trọng, chất lượng thấp, không đảm bảo cho đi lại và
lưu thông hàng hóa; giao thông nội đồng chưa được quan tâm hiện chỉ có 4,5%
đường trục chính nội đồng đạt yêu cầu. Hệ thống thuỷ lợi chưa đáp ứng được yêu
cầu sản xuất và dân sinh, nhất là trong điều kiện hạn hán, lũ lụt; tỷ lệ kênh mương
được kiên cố hóa mới đạt 25,9%. Chất lượng lưới điện nông thôn chưa đảm bảo an
toàn khi vận hành, nhất là trong mùa mưa bão; chưa đủ trạm biến áp tại một số khu
vực, bán kính cấp điện còn xa, đường dây hạ thế kéo dài gây tổn thất điện năng, giá
thành bán điện đến hộ dân sử dụng còn cao, đặc biệt là tỷ lệ hộ dân mua điện tại gia
còn ở mực thấp. Tỷ lệ các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở có phòng học
bán kiên cố chưa cao; đặc biệt là hệ thống trường mầm non. Toàn huyện chưa có
xã nào có nhà văn hoá và khu thể thao xã đạt tiêu chuẩn theo quy định của Bộ Văn
hoá – Thể Thao – Du lịch; Chất lượng nhà văn hoá thôn đạt thấp, trang thiết bị còn
nghèo nàn. Chủ yếu các xã sử dụng hội trường kiêm nhà văn hóa xã,cơ sở vật chất,
11
Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang
sân bãi tập luyện, phòng đọc sách, các phòng chức năng khác chưa có, không đáp
ứng yêu cầu phát triển phong trào văn hóa, thể thao nông thôn. Mạng lưới chợ nông
thôn còn nhiều bất hợp lý, phân bố không đều, còn nhiều chợ cóc, chợ tạm, tụ điểm
buôn bán không đúng nơi quy định, thiếu hệ thống phòng chống cháy nổ, xử lý rác,
nước thải và kiểm soát an toàn dịch bệnh.
– Sản xuất nông nghiệp quy mô manh mún, nhỏ lẻ, lao động thủ công là chủ
yếu và chưa qua đào tạo; năng suất, chất lượng, hiệu quả chưa cao, sản xuất chưa
gắn với thị trường, khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hoá thấp; việc chuyển
giao, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật còn nhiều hạn chế. Nhiều tiến bộ kỹ thuật mới
cho năng suất, hiệu quả cao, song việc nhân rộng còn chậm; thu nhập bình quân
đầu người khu vực nông thôn so với thành thị có khoảng cách khá xa.
– Mức thụ hưởng về văn hoá, giáo dục, dịch vụ y tế của người dân nông thôn
còn thấp. Môi trường nhiều nơi ngày càng bị ô nhiễm, Phong trào xây dựng làng
văn hoá, gia đình văn hóa, xây dựng trường chuẩn, trạm y tế chuẩn tuy phát động
nhưng thiếu chiều sâu. (Tỷ lệ lao động qua đào tạo khu vực nông thôn dự kiến năm
2010 mới chỉ đạt 9,3%, yêu cầu tiêu chí là trên 35%). Số cán bộ y tế có trình độ đại
học tại tuyến xã cơ bản đáp ứng đủ.
– Đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn vẫn còn gặp nhiều khó
khăn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao 17,18%; khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và
nông thôn và giữa các vùng, miền ngày một tăng. Hiện tại còn trên 50% dân cư
nông thôn chưa có bảo hiểm y tế; hệ thống bảo hiểm sản xuất nông nghiệp chưa
được hình thành. Lao động nông thôn còn thiếu việc làm, vấn đề đào tạo nghề kết
quả còn hạn chế; nhiều gia đình có con em đi học nghề tại các trường trong và
ngoài tỉnh sau khi tốt nghiệp không có việc làm phù hợp.
– Hệ thống chính trị cơ sở ở nhiều nơi còn yếu; chất lượng đội ngũ cán bộ
công chức xã còn bất cập. Cán bộ cấp xã có trình độ chuyên môn nghiệp vụ chưa
chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội (trình độ đại học, cao đẳng chỉ đạt
17,2%, chưa được đào tạo chiếm 19,4%). Trong nông thôn, hoạt động của các tổ
chức Mặt trận, đoàn thể châmk được đổi mới, tỷ lệ tập hợp vào tổ chức đoàn thanh
niên nhiều nơi đạt tỷ lệ thấp dưới 52%, nếp sống văn hoá mới chậm hình thành, tệ
nạn xã hội (tình trạng nghiện ma tuý, tệ nạn cờ bạc, mại dâm ) có chiều hướng gia
tăng, một số hủ tục lạc hậu trong ma chay, cưới xin Bên cạnh đó, các loại tội
phạm như trộm cắp, cố ý gây thương tích và các tệ nạn xã hội đã len lỏi vào đời
sống nhiều vùng nông thôn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự xã hội.
* So với bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới ban hành tại Quyết định
491/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Nghi Xuân vẩn còn rất nhiều chỉ tiêu chưa
đạt yêu cầu; nhìn chung đa số các tiêu chí về văn hoá; giáo dục y tế; an ninh chính
trị, hệ thống tổ chức chính trị của các xã ở khu vực nông thôn đạt khá cao. Còn lại
các tiêu chí khác đặc biệt nhòm tiêu chí hạ tầng (giao thông; thuỷ lợi, cơ sở vật
chất ) và thu nhập, cơ cấu lao động, hộ nghèo còn ở mức thấp. Trong số 17 xã ở
12
Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang
vùng nông thôn, hiện nay có 5 xã đạt từ 6 – 7 tiêu chí, chiếm 29,4%; 9 xã đạt 4-5
tiêu chí chiếm 53%, số còn lại đạt 2-3 tiêu chí.
(Tổng hợp phần thực trạng có biểu kèm theo)
.
Phần thứ 2
QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP
I. QUAN ĐIỂM:
1. Xây dựng nông thôn mới là hệ thống các giải pháp nhằm tập trung cao cho
sản xuất trên cơ sở quy hoạch tổng thể từng xã, nhằm phát triển kinh tế- xã hội một
cách bền vững. Trong đó người dân đóng vai trò là chủ thể và được thực hiện trên
cơ sở vừa cải tạo vừa xây dựng, vừa kế thừa những giá trị văn hóa tốt đẹp trong
nông thôn hiện có, vừa hình thành những giá trị mới theo hướng văn minh, hiện đại
trên cơ sở các quy hoạch, kế hoạch, quy chuẩn để đảm bảo yêu cầu phát triển lâu
dài và bền vững. Trên cơ sở các quy hoạch được xây dựng phải chú trọng quy
13
Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang
hoạch vùng sản xuất, nhằm xác định cho được trong từng giai đoạn thì cơ cấu sản
xuất, ngành nghề sản xuất được bố trí hợp lý để giải quyết lao động và thu nhập cao
hơn cho người dân.
2. Nguồn lực xây dựng nông thôn mới phải được xã hội hóa, huy động đầu tư
của các thành phần kinh tế và đóng góp công sức của nhân dân, nhà nước chỉ đóng
vai trò hỗ trợ, kích cầu trên cơ sở lồng ghép các chương trình, dự án, có bổ sung dự
án hỗ trợ đối với các lĩnh vực cần thiết.
3. Xây dựng nông thôn mới là cuộc vận động xã hội sâu sắc và toàn diện là
quá trình phấn đấu lâu dài, liên tục theo định hướng của Đảng, Nhà nước và của cả
hệ thống chính trị, huy động người dân tích cực tham gia. Thực hiện theo phương
châm “dựa vào sức dân để lo cuộc sống cho dân” phát huy vai trò chủ động của
nhân dân, cộng đồng dân cư, đặc biệt là cộng đồng thôn xóm, làng bản; các hoạt
động cụ thể của thôn xóm, làng bản do chính người dân bàn bạc, quyết định.
II. MỤC TIÊU:
1. Mục tiêu chung:
Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội từng bước hiện
đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với
phát triển công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch;
xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng
cao; môi trường sinh thái xanh, sạch đẹp; an ninh trật tự được giữ vững, đời sống
vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao.
2. Mục tiêu cụ thể:
2.1 Giai đoạn: 2011 đến 2015:
– Tập trung chỉ đạo để Xã Xuân Viên đơn vị điểm hàn thành cơ bản các chỉ
tiêu về NTM vào năm 2013.
– Phấn đấu đến 2015 có 03 xã là: Cương gián; Xuân Hội và xã Xuân Lĩnh đạt
chuẩn 19 tiêu chí nông thôn mới;
– Đến 2015 có 09 xã là: Xuân Lam; Xuân Hồng; Xuân Thạn; Xuân Mỹ; Cổ
Đạm; Xuân Giang; Tiên Điền; Xuân Đan; Xuân Trường đạt từ 17 tiêu chí trở lên.
– Các xã còn lại 04 xã: Xuân Hải; Xuân Phổ; Xuân Yên; Xuân Liên; 14 tiêu
chí trở lên.
Về phát triển kinh tế xã hội: Hoàn thành một số chỉ tiêu phát triển kinh tế, xã
hội sau: tốc độ tăng trưởng nông nghiệp đạt 3,5%/năm; giá trị nông nghiệp chiếm
22% tổng GDP; tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp chiếm 47%; giá trị sản xuất
trên đơn vị diện tích đạt 65 triệu đồng/ha; lao động nông nghiệp còn 40% tổng lao
động xã hội; lao động nông thôn được đào tạo nghề chiếm 35%; 65% kênh mương
được cứng hóa; 70% đường giao thông nông thôn đạt chuẩn; 85% trường học đạt
chuẩn Quốc gia; 80% số xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế; hàng năm giảm tỷ lệ hộ
nghèo giảm 3-3,5%.
2.2 Giai đoạn 2016 – 2020:
14
Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang
– Trong giai đoạn 2016 đến 2020 phấn đấu hoàn thành cơ bản xây dựng nông
thôn mới 13 xã còn lại, đưa tổng số xã đạt 17/17 xã chiếm tỷ lệ đạt 100% số xã đạt
chuẩn quốc gia về 19 tiêu chí nông thôn mới và hoàn thành một số chỉ tiêu phát
triển kinh tế, xã hội: tốc độ tăng trưởng nông, lâm, thuỷ sản đạt 3,5-4%/năm, cơ cấu
giá trị nông nghiệp trong GDP còn dưới 12%, tỷ trọng giá trị chăn nuôi chiếm trên
50%; giá trị trên đơn vị diện tích canh tác trên 80 triệu đồng/năm; đảm bảo vững
chắc an ninh lương thực. Phát triển nông nghiệp kết hợp với phát triển công nghiệp,
dịch vụ và ngành nghề nông thôn, nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn cao gấp
3,5 lần so với hiện nay, lao động nông nghiệp còn 30% tổng số lao động xã hội, tỷ
lệ lao động nông thôn được đào tạo nghề đạt 70%, giảm tỷ lệ hộ nghèo mỗi năm 3
-3,5%. Kiên cố hoá 100% kênh mương thuỷ lợi; tỷ lệ đường giao thông nông thôn
đạt chuẩn 80%. Cấp điện sinh hoạt đảm bảo cho 100% dân cư và các cơ sở công
nghiệp, dịch vụ; 100% số xã có trụ sở được xây dựng cao tầng đủ diện tích làm việc
cho cả hệ thống chính trị; 100% trường học đạt chuẩn quốc gia, số xã có bác sỹ đạt
100%; 90% số xã có trung tâm văn hoá thể thao đạt chuẩn, 100% số xã có điểm
bưu điện văn hoá và có nhà văn hoá đạt tiêu chuẩn ngành, đảm bảo cơ bản điều
kiện học tập, khám chữa bệnh, sinh hoạt văn hoá, thể dục thể thao ở hầu hết các
vùng nông thôn.
III. NỘI DUNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP
1. Quy hoạch xây dựng nông thôn mới.
1.1. Mục tiêu:
Năm 2011 phải tiến hành lập đề án và quy hoạch xây dựng nông thôn mới
trên 17/17 xã.
– Quý 1 năm 2011 hoàn thành đề án và quy hoạch xây dựng nông thôn mới
cho 01 xã Xuân Viên (xã điểm);
– Quý 2: Hoàn thành xong đề án và QH-NTM của 05 xã: Cương gián; Xuân
hội; Xuân lĩnh; Xuân Giang; Xuân Mỹ.
– Quý 3+4: Phải hoàn thành 11 xã còng lại: Tiền Điền; Xuân Hải; Xuân Phổ;
Xuân Đan; Xuân Trường; Xuân Yên; Xuân Thành; Xuân Liên; Xuân Lam; Xuân
Hồng; Cổ Đạm.
1.2. Nội dung: Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản
xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ; Quy
hoạch phát triển hạ tầng kinh tế – xã hội – môi trường, phát triển các khu dân cư
mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có trên địa bàn xã.
1.3. Giải pháp:
– Huyện chủ động mời đơn vị tư vấn là Viện ………………… Quy hoạch –
KS – TKXD đô thị và Nông thôn Hà Tĩnh lập quy hoạch NTM cho 17 xã trên địa bàn
toàn huyện. Trên cơ sở đề cương mẫu về nhiệm vụ quy hoạch, UBND huyện chỉ đạo
phòng Kinh tế và hạ tầng thống nhất với đơn vị tư vấn để UBND xã có văn bản trình
UBND huyện phê duyệt (xã là chủ đầu tư). Nhằm đẩy nhanh các thủ tục ban đầu.
15
Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang
– UBND huyện giao cho phòng Kinh tế và hạ tầng chủ trì phối hợp với
phòng NN&PTNT xây dựng quy trình, các bước từ huyện đến cơ sở về việc thực
hiện quy hoạch nông thôn mới (quy trình được thảo luận dân chủ đến tận các xã)
– UBND xã (chủ đầu tư của QH -XDNTM) phải hoàn toàn chủ động thực
hiện các bước thuộc quy trình đã được thảo luận dân chủ và ban hành. Phải tập
trung toàn bộ nhân lực, thông qua rộng rãi nhân dân để đóng góp ý kiến vào bản
quy hoạch, phải chú ý quy hoạch vùng sản xuất gắn với điều kiện tự nhiên, kinh tế
xã hội của địa phương và các vùng lân cận, xu hướng phát triển chung huyện.
– Thành viên Ban chỉ đạo XD-NTM của huyện được phân công từng địa bàn
phải chịu trách nhiệm về tiến độ và chất lượng quy hoạch. Phòng Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn cơ quan thường trực BCD, chịu trách nhiệm tổng hợp báo cáo
BCĐ về tiến độ và chất lượng QH-NNM của các xã cho Ban chỉ đạo huyện. Phòng
kinh tế và hạ tầng trên cơ sở các quy định của Bộ, Sở Xây dựng và các văn bản có
liên quan về quy hoạch XD – NTM tiến hành việc thẩm định và hướng dẫn các địa
phương việc phê duyệt đề cương nhiệm vụ và phê duyệt quy hoạch theo đúng quy
định hiện hành.
– Để các xã có quy hoạch gắn được với tổng thể phát triển của toàn huyện
trên các lĩnh vực giao thông; thủy lợi; trường học; y tế. UBND huyện quyết định
những quy hoạch định hướng, tổ chức mạng lưới bố trí hợp lý các mạng lưới hạ
tầng, cụ thể: Năm 2011 huyện phải xây dựng quy hoạch giao thông toàn huyện;
mạng lưới trường học; mạng lưới y tế cơ sở; Định hướng về thủy lợi; cấp nước;
thoát nước.
– Trên cơ sở quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội của huyện; định hướng rõ nét
về phát triển kinh tế trên địa bàn để các xã xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế
của mình phù hợp với tổng thể kinh tế của huyện.
1.4. Những vấn đề cần chú ý khi xây dựng Quy hoạch:
Yêu cầu các địa phương đi cùng với quy hoạch phải xây dựng Đề án nông
thôn mới và đề án phát triển sản xuất và nâng cao thu nhập cho người nông dân
nông thôn vì đề án và quy hoạch là hai vấn đề liên quan mật thiết với nhau. Xây
dựng đề án nhằm khái quát mục tiêu tiêu chí cần đạt được, quy hoạch chỉ là thể
hiện mục tiêu, định hướng phát triển của một phần đề án trên bản vẽ.
Quá trình xây dựng quy hoạch cần chú ý một số nội dung như sau:
Việc quy hoạch nông thôn mới phải đinh hướng theo các lợi thế vùng có điều
kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, hướng phát triển các ngành nghề chung như sau:
– Vùng 1 : Vùng sản xuất Nông nghiệp mà chủ yếu là trồng lúa nước gắn với
phát triển trang trại; du lịch sinh thái; dịch vụ bao gồm các xã ven chân núi Hồng
Lĩnh có nền đất thịt nặng, chủ động được nguồn nước tưới như: Xuân Lam, Xuân
Hồng, Xuân Viên, Xuân Lĩnh, Xuân Mỹ, Xuân Hoa, Xuân Liên.
– Vùng 2 : Vùng giữa bao gồm các xã: Xuân Giang; Tiên Điền; Xuân Yên;
Xuân Thành; Xuân Hải; chú trọng việc thóat nước chống úng, để chuyển đổi cây
16
Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang
trồng, cây công nghiệp như lạc, khoai và các cây trồng khác. cần đảm bảo hệ thống
hạ tầng thiết yếu quan trong như hệ thống giao thông đảm bảo tính liên kết giữa các
vùng, và theo hướng đô thị hoá (kết hợp với thị trấn Nghi Xuân) xây dựng vùng
trung tâm hành chính của huyện kết hợp thương mại – dịch vụ và du lịch. Xem xét
gắn du lịch biển của 2 xã Xuân yên -Xuân thành với các Khu di tích văn hóa như
Nguyễn Du -Nguyễn Công Trứ.
– Vùng 3: Vùng phát triển nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản. bao gồm các xã:
Xuân Hải, Xuân Phổ, Xuân Đan; Xuân Trường; Xuân Hội.
– Gắn quy hoạch vùng sản xuất của địa phương mình với vùng sản xuẩt liên
quan các xã xung quanh mình, nhất là sản xuất nông nghiệp. Tính liên hệ vùng
trong phát triển có ý nghĩa quan trọng.
– Chú trọng quy hoạch vùng sản xuất của địa phương mình, trên cơ sở nắm
chắc những tiềm năng, lợi thế của địa phương. Đây là vấn đề cốt lõi của của quy
hoạch xây dựng NTM, nếu không xác định đựơc cơ cấu nền sản xuất, thế mạnh của
từng ngành sản xuất, trên cơ sở đó mà chuyển dịch lao động, tăng năng suất lao
động trong nông nghiệp sau khi quy hoạch thì quy hoạch đó chưa đạt, vì cái gốc
của vấn đề là sản xuất phải phát triển.
– Cần quy hoạch các vùng đất có lợi thế bố trí đất ở, đất sản xuất kinh doanh để
đấu giá quyền sử dụng đất tạo nguồn vốn xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ XD – NTM.
1.5. Khái toán vốn đầu tư:
Nhiệm vụ quy hoạch NTM theo các quy định về xây dựng quy hoạch, tạm
tính mỗi xã 200 triệu đồng. Toàn huyện cần 17 x200 triệu đồng/xã = 3,4 tỷ đồng.
Chủ đầu tư của QH- NTM: Là UBND các xã
Nguồn quy hoạch ngân sách Tỉnh và huyện sẽ hộ trợ 100% trong năm 2011.
2. Phát triển hạ tầng kinh tế xã hội: Đường giao thông nông thôn; Thủy
lợi; trường học; Cơ sở vật chất văn hóa, điện nông thôn, chợ nông thôn, bưu
điện, nhà ở nông thôn (nhóm tiêu chí hạ tầng)
2.1. Mục tiêu:
Giai đoạn: 2011 đến 2015: Tập trung đầu tư hạ tầng cho phát triển sản xuất
như: Cải tạo đồng ruộng; hệ thống thủy lợi; hệ thống hạ tầng cho các vùng chuyên
canh các loại cây trồng; vùng chăn nuôi tập trung; vùng nuôi trồng thủy sản và các
khu tiểu thủ công nghiệp tập trung.
Hoàn thiện hệ thống hạ tầng kinh tế cho 03 xã đạt tiêu các tiêu chí (nhóm
tiêu chí hạ tầng (Xuân Viên; Xuân Hội; Cương Gián; Xuân Lĩnh)
Giai đoạn: 2016 -2020: có thêm 13 xã đưa tổng số xã đạt 17/17 xã.
2.2. Nội dung: Nâng cấp và xây dựng mới công trình hạ tầng đảm bảo chuẩn
tiêu chí nông thôn mới theo từng thời kỳ của các địa phương.
2.3. Giải pháp:
17
Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang
– Phòng Kinh tế và Hạ tầng chủ trì phối hợp với các phòng chức năng, tiến
hành hướng dẫn các địa phương xây dựng kế hoạch và các nội dung điều tra khảo
sát, đánh giá đúng thực trạng về kết cấu hạ tầng hiện có và xây dựng kế hoạch cụ
thể, thống nhất phân kỳ thực hiện xây mới và nâng cấp các công trình. Ưu tiên các
công trình thiết yếu; trên quan điểm ưu tiên nâng cấp các công trình hiện có, hạn
chế làm mới, đặc biệt cho các công trình phục vụ sản xuất, phục đời sống nhân dân,
sử dụng ngân sách một cách có hiện quả, tiết kiệm nhất, huy động tối đa nỗ lực của
nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng). Việc đầu tư nâng cấp, xây dựng mới nhóm
hạ tầng phải tuân thủ quy hoạch đã được phê duyệt.
– Để chủ động triển khai nâng cấp và xây dựng mới các công trình hạ tầng
đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng và trên cơ sở tiết kiệm:
Tổ chức thi công: Đối với các công trình nhỏ lẻ như (đường liên thôn, ngõ
xóm, đường nội đồng…) các địa phương chủ động huy động sức dân đóng góp
ngày công.
Việc đầu tư nâng cấp, xây mới các công trình phải được thông qua nhân
nhân, và các tổ chức đoàn thể đảm bảo nguyên tắc dân bàn, dân làm, dân kiểm tra
và dân được hưởng thụ.
Việc xây dựng nhà ở của dân, cần huy động nội lực của nhân dân và lồng
ghép các chương trình, chính sách về nhà ở của nhà nước. Các đoàn thể tham gia
giúp đỡ cho các hộ khó khăn và gia đình chính sách. Thiết kế một số mẫu nhà, xây
dựng mô hình để nhân dân tham quan, học tập, làm theo, đảm bảo tiêu chí nhà ở
nông thôn.
Tổ chức huy động các nguồn lực đầu tư cho việc xây dựng hạ tầng theo
nguyên tắc các công trình thiết yếu như trục giao thông liên xã, hệ thống kênh
chính thuỷ lợi; hệ thống điện; Bưu điện văn hoá xã, trường trung học cơ sở nhà
nước đầu tư 100%; công trình khác trên từng bước đầu tư xây dựng trên cơ sở huy
động các nguồn lực xã hội; đóng góp của nhân dân, nhà nước chỉ đóng vai trò trung
tâm khâu nối và hỗ trợ.
2.4. Khái toán vốn đầu tư: Tổng vốn: 1.551 tỷ trong đó: (chi tiết phụ lục số 4)
*Giai đoạn 2011-2015: 1.214,2 tỷ bao gồm:
– Xây dựng hệ thống giao thông: 637 tỷ
– Thuỷ lợi: 148,4 tỷ
– Điện: 160 tỷ.
– Trường học: 26,7 tỷ
– Cơ sở vật chất văn hoá: 59,8 tỷ.
– Chợ nông thôn: 21,5 tỷ.
– Bưu điện: 23 tỷ
– Nhà ở: 137,8 tỷ
18
Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang
*Giai đoạn 2016-2020: 337 tỷ bao gồm:
– Xây dựng hệ thống giao thông: 273 tỷ
– Thuỷ lợi: 64 tỷ
3. Phát triển kinh tế, giảm nghèo và an sinh xã hội (nhóm tiêu chí phát
triển kinh tế):
3.1. Mục tiêu:
– Giai đoạn 2011 – 2015 hoàn thành tiêu chí phát triển kinh tế ở 04 xã Xuân
Viên (hoàn thành 2013); Xuân Hội; Xuân Lĩnh, Cương Gián và duy trì nâng cao
thu nhập của xã Cương Gián (đã đạt). Các xã còn lại phấn đấu đến năm 2015 nâng
cao tiêu chí thu nhập bình quân lên 40-45 triệu đồng/người (chuẩn NTM gấp 1,4
lần bình quân thu nhập toàn tỉnh); cơ cấu lao động nông nghiệp chiếm tỷ lệ 45%
(chuẩn NTM 35%), tỷ lệ hộ nghèo xuông mức 12 % (Chuẩn NTM 5%) và đến năm
2020 phấn đấu có 17/17 số xã đạt nhóm tiêu chí phát triển kinh tế xã hội tương ứng
tỷ lệ 100% (có phụ lục kèm theo).
3.2. Nội dung: Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế; nâng cao tỷ trọng
Công nghịêp; thương mại dịch vụ, phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng sản
xuất hàng hoá có hiệu quả kinh tế cao cụ thể:
– Nông nghiệp: Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông
nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá.
– Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp: Khuyến khích, thu hút đầu tư của các các
doanh nghiệp vào địa bàn, ưu tiên các doanh nghiệp có sử dụng lao động lớn, du
nhập và hình thành các cụm làng nghề.
– Thương mại dịch vụ và du lịch: Đẩy mạnh và phát triển thương mại và dịch
vụ, khai thác hiệu quả tiềm năng về du lịch biển, du lịch nghỉ dưỡng sinh thái và du
lịch văn hoá tâm linh.
3.3 Giải pháp:
– Nông nghiệp: Tăng cường công tác chỉ đạo chuyển đổi đất nông nghiệp lần
2, quy hoạch các vùng sản xuất chuyên canh tập trung trên cả lĩnh vực trồng trọt,
chăn nuôi, thuỷ sản, đưa cơ giới hoá vào sản xuất nông nghiệp, nâng cao hiệu quả
công tác khuyến nông; đẩy nhanh thực hiện áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất
với mục tiêu nâng cao hiệu quả trên đơn vị diện tích, tạo ra nhiều sản phẩm hàng
hoá có giá trị kinh tế cao, đảm bảo phát triển nên nông nghiệp hiệu quả bền vững.
củng cố và xây dựng hồ đập; hệ thống kênh mương thuỷ lợi, xây dựng và nhân
rộng các mô hình đạt hiệu quả kinh tế cao.
– Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp: Tham mưu cho UBND tỉnh; các ban
ngành liên quan xây dựng cơ chế nhằm đẩy nhanh hoàn thiện hạ tầng khu công
nghiệp gia lách nhằm thu hút các doanh nghiệp đầu tư. Xây dựng cơ chế thu hút
đầu tư của huyện đối với các doanh nghiệp đầu tư sản xuất trên địa bàn nhằm hỗ trợ
và khuyến khích phát triển. Khuyến khích và có cho chế hỗ trợ các tổ chức cá nhân
19
Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang
du nhập các ngành nghề mới để hình thành các làng nghề, cụm làng nghề, quy
hoạch vùng tiểu thủ công nghiệp của các địa phương.
– Thương mại – dịch vụ: Khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân
phát triển các ngành nghề thương mại dịch vụ, gắn thương mại dịch vụ với du lịch,
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.
– Du lịch: Quy hoạch hạ tầng, gắn kết mạng lưới du lịch của huyện bao gồm,
Du lịch biển – Du lịch sinh thái nghỉ dưỡng – Du lịch văn hoá tâm linh trên địa bàn.
Xây dựng chiến lược thu hút và phát triển các thành phần kinh tế đầu tư phát triển
hạ tầng du lịch biển hệ thống nhà hành khách sạn cao cấp, du lịch sinh thái, khôi
phục và phát triển văn hoá tâm linh như khôi khôi phục Đền huyện, quy hoạch tôn
tạo các đình chùa miếu mạo như Đền Chợ Củi; Chùa Thanh Lương với mục tiêu
tạo ra các sản phẩm du lịch trọn gói thu hút khách lưu lại trên địa bàn huyện trong
thời gian dài hơn.
– Xây dựng nguồn nhân lực lao động: Thu hút doanh nghiệp xây dựng trung
tâm đào tạo nghề tại trên địa bàn huyện. Xây dựng cơ chế khuyến khích, hỗ trợ đào
tạo nghề cho lao động nông thôn nhằm xây dựng nguồn lực lao động có tay nghề
cao theo hai hướng đạo tạo lao động tại chổ hình thành làng nghề và sản xuất nông
nghiệp hàng hoá. phục vụ cho phát triển công nghiệp, xuất khẩu lao động.
3.4. Khái toán vốn đầu tư: Tổng vốn: 271,8 tỷ trong đó: (chi tiết phụ lục số 4)
*Giai đoạn 2011-2015: 135,9 tỷ bao gồm:
– Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: 81,4 tỷ
– Giảm nghèo an sinh xã hội: 54,5 tỷ
*Giai đoạn 2016-2020: 108,7 tỷ bao gồm:
– Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: 65,1 tỷ
– Giảm nghèo an sinh xã hội: 43,6 tỷ
*Giai đoạn 2021-2025: 27,2 tỷ bao gồm:
– Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: 16,3 tỷ
– Giảm nghèo an sinh xã hội: 10,9 tỷ
4. Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở
nông thôn.
4.1. Mục tiêu: Đến năm 2015 sắp xếp và hoàn thiện các hình thực tổ chức
sản xuất ở các xã theo hướng hoạt động có hiệu quả, đóng vai trò là tổ chức đảm
nhiệm chức năng khâu nối giữa người nông dân (đơn vị sản xuất) và thị trường
tiêu thụ sản phẩm nhằm nâng cao hiệu quả trong sản xuất.
4.2. Nội dung: Khuyến khích hình thành và sắp xếp lại các loại hình kinh tế:
kinh tế HTX, trang trại, gia trại, kinh tế hộ, phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở
nông thôn:
4.3. Giải pháp:
– Xây dựng cơ chế khuyến khích, hỗ trợ để nâng cao hoạt động của các hình
thức tổ chức kinh tế trên địa bàn huyện cụ thể:
20
Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang
+ Hỗ trợ lãi suất tín dụng vốn và phương thức tổ chức hoát động cho các
HTX hiện có để nâng cáo hiệu quả hoạt động. Đầu tư thành lập mới các HTX đáp
ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương.
+ Xây dựng và thực thi các chính sách, giải pháp hỗ trợ nâng cao hiệu quả
kinh tế trang trại, gia trại (chính sách cho thê đất, khuyến khích tích tụ ruộng đất để
hinh thành các trang trại, gia trại và các khu chăn nuôi tập trung tách khỏi khu
dân cư. hỗ trợ cơ sở hạ tầng, phòng chống dịch bệnh, đào tạo, xúc tiến thương
mại…). 4.4. Khái toán vốn đầu tư: Tổng vốn: 32 tỷ trong đó: (chi tiết
phụ lục số 4)
*Giai đoạn 2011-2015: 19,2 tỷ
*Giai đoạn 2016-2020: 12,8 tỷ
5. Văn hoá xã hội và môi trường
5.1, Giáo dục và đào tạo:
5.1.1. Mục tiêu: Đến năm 2013 phổ cập giáo dục phổ thông Trung học đạt
chuẩn cho 17/17 xã, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở được tiếp tục vào học
THPT, bổ túc, học nghề đạt trên 95%.
Đến năm 2015 nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 25 – 30%. Giai đoạn
2016 – 2020: Đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo ở các xã đạt từ 30 – 35%.
5.1.2. Nội dung: Duy trì và nâng cao kết quả phổ cập giáo dục THCS và hoàn
thành phổ cập giáo dục THPT, nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo ở các lĩnh vực
kinh tế xã hội.
5.1.3. Giải pháp:
– Nâng cao chất lượng các cơ sở giáo dục và đào tạo trên địa bàn huyện,
khuyến khích các đơn vị tổ chức đầu tư vào lĩnh vực giáo dục đào tạo, đẩy mạnh
phong trào xã hội hoá giáo dục và đào tạo.
– Đa dạng hoá các loại hình đạo tạo nghề như đào tạo nghề tập trung; đào tạo
nghề tại địa phương, tại hộ gia đình thông qua các trung tâm giáo dục cộng đồng
xã, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người dân được tham gia học tập.
– Xây dựng chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho người trong độ tuổi lao động
từ 18 – 25 ở khu vực nông thôn.
5.2. Phát triển y tế chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn
5.2.1. Mục tiêu: Phấn đấu đến năm 2015, 100% số xã đạt tiêu chí, cụ thể:
Củng cố nâng cấp 17 trạm xá đã đạt chuẩn để duy trì nâng cao mức chuẩn
trạm y tế giai đoạn II cho 04 xã điểm; tỷ lệ người dân nông thôn tham gia các hình
thức bảo hiểm y tế đạt trên 40%.
5.2.2. Nội dung:
– Duy trì và nâng cao mức độ đạt chuẩn của 17 trạm xá y tế cơ sở; Đầu tư hoàn
thành đạt chuẩn giai đoạn II cho các trạm xá xã điểm xây dựng nông thôn mới; vân
động người dân nông thôn tham gia các hình thức bảo hiểm y tế đạt trên 40%
5.2.3. Giải pháp:
21
Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang
– Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và trang thiết bị y tế cho các tram xá điểm
xây dựng nông thôn mới đảm bảo đạt chuẩn giai đoạn II vào năm 2013.
– Nâng cấp cơ sở vật chất và chất lượng khám chửa bệnh cho các trạm xá của
các xã còn lại, thực hiện tốt các nội dung theo quy định của Bộ Y tế về xây dựng
trạm xá xã đạt 10 chuẩn về y tế.
– Thực hiện chương trình tăng cường các bác sỷ về tuyến cơ sở phục vụ cho
việc khám chữa bệnh cho khu vực nông thôn được tốt hơn.
– Tăng cường công tác giáo dục truyền thông về sinh đẻ có kế hoạch, nâng
cao chất lượng dịch vụ kế hoạch hoá gia đình; nỗ lực thực hiện mục tiêu mỗi cặp
vợ chồng chỉ có 1-2 con, góp phần nâng cao chất lượng dân số nông thôn.
– Nâng cao chất lượng dịch vụ bảo hiểm y tế và tăng cường công tác truyền
thông để giúp người dân hiểu và tự giác tham gia các hình thức bảo hiểm y tế
(ngoài các đối tượng được nhà nước trợ cấp về bảo hiểm y tế).
– Tăng cường công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn toàn
huyện, đặc biệt quan tâm các nhà hàng và cơ sở chế biến thực phẩm.
5.3. Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin truyền thông nông thôn
5.3.1. Mục tiêu: Đến năm 2015 có 90% số xã đạt tiêu chí về văn hoá. phấn
đấu đến năm 2020 có 100% số xã đạt.
5.3.2. Nội dung: Xây dựng đời sống văn hoá ở vùng nông thôn huyện nhà
phong phú lành mạnh trên cơ sở giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp và hình
thành nếp sống vă minh nông thôn.
5.3.3. Giải pháp:.
– Khuyến khích làng xã xây dựng các quy ước (hương ước) làng, thực hiện nếp
sống văn minh; đẩy lùi các hủ tục và tệ nạn xã hội như.
+ Lành mạnh hoá việc cưới, việc tang, chống mê tín, dị đoan, giữ gìn vệ sinh
công cộng, bảo vệ môi trường, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Khuyến khích học
tập để vươn lên làm chủ cuộc sống, sống nhân ái đùm bọc nhau, giúp nhau giảm
nghèo, vươn lên làm giàu. Xây dựng hình mẫu người nông dân văn minh biết sản
xuất kinh doanh giỏi, sống có văn hoá, tích cực giúp đỡ cộng đồng.
– Bảo vệ và tôn tạo các di tích lịch sử, văn hoá; duy trì các lễ hội truyền thống
đặc sắc; Sưu tầm, phát hiện, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá vật thể và phi vật
thể của dân tộc trên địa bàn.
– Tổ chức thực hiện tốt cuộc vận động của Uỷ ban trung ương Mặt trận tổ quốc
Việt Nam về xây dựng đời sống văn hoá khu dân cư.
– Đào tạo nguồn nhân lực (cán bộ) phục vụ cho phát triển văn hoá – thể thao
trên địa bàn xã.
5.4. Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
5.4.1. Mục tiêu: Đảm bảo nước sinh hoạt sạch và hợp vệ sinh cho dân cư,
trường học, trạm y tế, công sở và các khu dịch vụ công cộng; thực hiện các yêu cầu
22
Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang
về bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái. Mục tiêu cụ thể phấn đấu đến năm 2015
có 100% số xã đạt tiêu chí.
5.4.2. Nội dung: Xây dựng môi trường nông thôn xanh sạch đẹp, dân cư vùng
nông thôn có nước sạch hợp vệ sinh môi trường sử dụng trong sinh hoạt.
5.4.3. Giải pháp:
– Đầu tư xây dựng các công trình trong điểm đủ đáp ứng nhu cầu nước cho người
dân ở khu vực nông thôn.
– Rà soát, hoàn thiện các chính sách thúc đẩy các thành phần kinh tế đầu tư
vào phát triển nước sạch nông thôn và khuyến khích người dân sử dụng nước sạch.
– Đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong thôn, xóm.
– Xây dựng Tổ hợp tác, Hợp tác xã vệ sinh môi trường để xử lý rác thải ở các địa
phương.
– Xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải ở các cụm liên xã đảm bảo vệ
sinh môi trường.
– Hỗ trợ xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh cho các hộ dân cư, nhà trẻ, mẫu giáo,
trường học, trạm y tế, trụ sở xã và các cơ sở công cộng khác trên các địa bàn.
– Chỉnh trang, cải tạo xây dựng nghĩa trang theo quy hoạch.
– Giảm thiểu ô nhiễm môi trường ở các làng nghề (đặc biệt là các làng nghề
chế biến thực phẩm).
– Tôn tạo, bảo vệ các ao, hồ sinh thái trong khu dân cư, phát triển cây xanh ở
các công trình công cộng.
– Tăng cường công tác thông tin – giáo dục – truyền thông để thay đổi hành vi
vệ sinh của người dân nông thôn.
– Xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ của nhà nước để thúc đẩy các hộ nông
thôn hoàn thiện các công trình vệ sinh gia đình và chuồng trại chăn nuôi hợp vệ
sinh; Xây dựng đầy đủ nhà vệ sinh cho các địa điểm công cộng thuộc xã phù hợp
với đặc thù từng vùng.
5.5 Khái toán vốn đầu tư: Tổng vốn: 132,2 tỷ trong đó: (chi tiết phụ lục số 4)
*Giai đoạn 2011-2015: 130,2 tỷ bao gồm:
– Giáo dục đào tạo: 3 tỷ
– Y tế: 13,9 tỷ
– Xây dựng đời sống văn hoá: 2,8 tỷ.
– Môi trường : 110,4 tỷ
*Giai đoạn 2016-2020: 2 tỷ bao gồm:
– Giáo dục đào tạo: 2 tỷ
6. Giữ vững an ninh trật tự xã hội nông thôn
6.1. Mục tiêu: Hiện nay cơ bản trên địa bàn Nghi Xuân các xã đều đạt yêu
cầu tiêu chí an ninh trật tự xã hội phấn đấu đến năm 2020 duy trì ổn định 100% số
xã đạt tiêu chí.
23
Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang
6.2. Nội dung: Đảm bảo an ninh trật tự ở nông thôn để nhân dân ổn định sản
xuất, có đời sống văn hoá tinh thần lành mạnh.
6.3. Giải pháp:
– Xây dựng nội quy, quy ước làng xóm về trật tự, an ninh; phòng chống các tệ
nạn xã hội và các hủ tục lạc hậu.
– Xây dựng quy chế, trách nhiệm cho từng cấp uỷ đảng, chính quyền, đoàn thể
để thực hiện tốt việc tiếp dân; giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và các mâu thuẫn
trong nội bộ nhân dân ngay từ cơ sở, không để đơn thư khiếu nại vượt cấp.
– Nâng cao chất lượng lực lượng an ninh xã, thôn, xóm đủ mạnh và có quy chế
phối hợp chặt chẽ để trấn áp kịp thời tội phạm, phát hiện và giải quyết nhanh các
mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân.
6.4. Khái toán vốn
Hỗ trợ công tác xây dựng nội quy, quy ước làng xóm về trật tự, an ninh; đào tạo
nâng cao chất lượng lực lượng an ninh xã, thôn, xóm; mỗi xã 50 triệu đồng 17, tổng
vốn hỗ trợ là 0,85 tỷ đồng
7. Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị –
xã hội trên địa bàn xã.
7.1. Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững
mạnh trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới. Hiện nay đã có 13/17 xã đạt tiêu
chí, mục tiêu đến năm 2015 có 100% số xã đạt.
7.2. Nội dung: Xây dựng cũng cố nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính
quyền, đoàn thể chính trị – xã hội ở tất cả các xã thực sự trong sạch vững mạnh, chất
lượng hoạt động hệ thống chính trị cơ sở ngày càng hiệu quả đảm ứng nhu cầu của
thời kỳ CNH – HĐH nông thôn.
7.3. Giải pháp:
– Khảo sát, phân loại cán bộ xã theo chuẩn do Bộ Nội vụ quy định để xây
dựng kế hoạch, thay thế, đào tạo đạt chuẩn. Đồng thời xây dựng kế hoạch bồi
dưỡng kiến thức cần thiết cho đội ngũ cán bộ giúp việc ở cấp thôn, xã.
– Xây dựng nội dung đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ xã phù hợp với
yêu cầu xây dựng nông thôn mới thời kỳ CNH – HĐH.
– Xây dựng chính sách khuyến khích cán bộ trẻ đã đào tạo đủ chuẩn về công tác
ở các xã vùng khó khăn để nhanh chóng chuẩn hoá đội ngũ cán bộ ở các vùng này.
– Rà soát, bổ sung chức năng, nhiệm vụ các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể
phù hợp với yêu cầu xây dựng nông thôn mới thời kỳ CNH – HĐH. Đồng thời, phân
công nhiệm vụ cụ thể cho từng tổ chức trong việc thực hiện Chương trình xây dựng
nông thôn mới ở xã.
– Bổ sung xây dựng quy chế hoạt động của các tổ chức, quy chế đánh giá kết
quả thực hiện nhiệm vụ gắn liền với chế độ khen thưởng, kỷ luật để tăng trách nhiệm
của từng cá nhân và tổ chức.
24
Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang
– Tiếp tục triển khai có hiệu quả cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh sâu rộng, quan tâm phát triển đảng viên ở cơ sở, cũng cố xây
dựng lực lượng trung đội nòng cốt để chủ động xử lý khi có tinh huống xẩy ra ngay
từ cơ sở.
7.4. Khái toán kinh phí: Tổng kinh phí giai đoạn 2011-2015: 3,6 tỷ đồng
* Giai đoạn 2011-2013: 1,9 tỷ đồng
– Đào tạo, bỗi dưỡng đội ngũ cán bộ cấp xã cho 4 xã chưa đạt chuẩn
4 xã x 0,15 tỷ đồng = 0,6 tỷ đồng
– Bồi dưỡng đội ngũ cán bộ xã để duy trì đạt chuẩn cho 13 xã còn lại
13 xã x 0,1 tỷ đồng = 1,3 tỷ đồng
* Giai đoạn 2014-2015: 1,7 tỷ đồng
– Bồi dưỡng đội ngũ cán bộ xã để duy trì đạt chuẩn cho 17 xã
17 xã x 0,1 tỷ đồng = 1,7 tỷ đồng
IV. VỐN VÀ NGUỒN VỐN
1. Tổng vốn: 1.994,8 tỷ đồng: (trung bình 117,34 tỷ đồng/xã), trong đó:
– Vốn thực hiện quy hoạch 3,4 tỷ đồng;
– Vốn xây dựng hạ tầng kinh tế – xã hội: 1.551 tỷ đồng
– Vốn phát triển kinh tế, các hình thức tổ chức sản xuất: 303,8 tỷ đồng
– Vốn phát triển văn hóa – xã hội – môi trường: 132,2 tỷ đồng
– Vốn xây dựng hệ thống chính trị: 4,45 tỷ đồng
2. Cơ cấu nguồn vốn:
Vốn ngân sách Trung ương và địa phương bao gồm (Hỗ trợ trực tiếp từ
chương trình xây dựng nông thôn mới; các chương trình MTQG và dự án hỗ trợ có
mục tiêu): 838 tỷ đồng, chiếm 41,8%
– Huy động đóng góp của nhân dân: 465,5 tỷ đồng, chiếm 23,3 %
– Vốn khác: 696,3 tỷ đồng, chiếm 34,9 %
25
ngày càng ô nhiễm, năng lượng thích ứng, đối phó với thiên tai còn nhiều hạn chế ; đờisống vật chất, ý thức của người dân nông thôn còn thấp ; tỷ suất hộ nghèo còn cao, chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và những vùng thị tứ, thị xã, giữa những địaphương còn lớn ; Thực hiện Quyết định số 491 / QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chínhphủ phát hành Bộ tiêu chuẩn vương quốc về nông thôn mới ; Quyết định số 800 / QĐ-TTgngày 04/6/2010 của Thủ tướng nhà nước phê duyệt Chương trình tiềm năng quốcgia về xây dựng nông thôn mới tiến trình 2010 – 2020 của Thủ tướng nhà nước. Uỷban nhân dân huyện xây dựng đề án xây dựng nông thôn mới Nghi Xuân giai đoạn2011-2015, quá trình năm nay – 2020II. CÁC CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN : – Nghị quyết số 26 – NQ / TW ngày 05/8/2008 Hội nghị lần thứ VII Ban Chấphành Trung ương khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ; – Nghị quyết số 08 – NQ / TU ngày 19/5/2009 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnhvề nông nghiệp, nông dân, nông thôn ; – Chương trình hành vi số 852 – CTr / TU ngày 10/11/2008 của Ban Chấphành Đảng bộ tỉnh về thực thi Nghị quyết số 26 – NQ / TW ; – Quyết định số 2165 / QĐ-UBND ngày 16/7/2009 của Uỷ ban nhân dân tỉnhvề tiến hành thực thi Nghị quyết 08 ; – Quyết định số 491 / QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng nhà nước vềviệc phát hành Bộ tiêu chuẩn vương quốc về nông thôn mới ; Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang – Quyết định số 193 / QĐ-TTg ngày 16/4/2010 phê duyệt Chương trình rà soátquy hoạch xây dựng nông thôn mới ; – Quyết định số 1956 / QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng nhà nước vềviệc phê duyệt đề án huấn luyện và đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 ; – Quyết định số 22 / QĐ-TTg ngày 05/1/2010 của Thủ tướng Chính phê duyệtđề án tăng trưởng văn hoá nông thôn đến năm năm ngoái xu thế đến năm 2020 ; – Quyết định số 800 / QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng nhà nước vềviệc phê duyệt Chương trình tiềm năng vương quốc về xây dựng nông thôn mới giaiđoạn 2010 – 2020 ; – Thông tư số 54/2009 / TT-BNN-PTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệpvà Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chuẩn vương quốc về nông thôn mớiban hành tại Quyết định 491 / QĐ-TTg ; – Công văn số 4031 / VPCP-KTN ngày 14/6/2010 về việc xây dựng Đề án xâydựng nông thôn mới ở những tỉnh. – Kế hoạch số : 314 / KH-UBND ngày 29/11/2010 của Ủy Ban Nhân Dân tỉnh thành phố Hà Tĩnh vềviệc tiến hành chương trinh tiềm năng Quốc gia xây dựng NTM tháng 12 và năm2011 – Căn cứ tình hình chung của huyện và tình hình trong thực tiễn của nông thôn huyệnnhà lúc bấy giờ. Phần 1TH ỰC TRẠNG NÔNG THÔN HUYỆN NGHI XUÂNI. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ DÂN SỐ. 1. Điều kiện tự nhiên : 1.1. Vị trí địa lýHuyện Nghi Xuân là cửa ngõ phía Bắc của tỉnh TP Hà Tĩnh, cách thị xã Hà Tĩnh56km và cách thị xã Hồng Lĩnh 15 km về phía Bắc, cách thành phố Vinh ( Nghệ An ) 7 km về phía Nam, có Quốc lộ 1A đi qua với chiều dài khoảng chừng hơn 10 km. huyện Nghi Xuân có vị trí địa lý như sau : – Phía Bắc giáp thành phố Vinh tỉnh Nghệ An ; Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang – Phía Nam giáp huyện Can Lộc và thị xã Hồng Lĩnh ; – Phía Đông giáp biển Đông ; – Phía Tây giáp huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghê An. Toàn huyện có 19 đơn vị chức năng hành chính cấp xã và hai thị xã với tổng diện tíchtự nhiên là 22.005,5 ha, chiếm 3,64 % tổng diện tích quy hoạnh tự nhiên của tỉnh Nghi Xuân cóbờ biển dài 32 km, có đường quốc lộ 1A đi qua với chiều dài khoảng chừng hơn 10 km ; đường quốc lộ 8B nối từ Viên Chăn tới những tỉnh Nam Lào, có dòng sông Lam chảyqua phía Tây Bắc huyện với chiều dài 28 km. Với vị trí địa lý như trên là điều kiện kèm theo rất thuận tiện để Nghi Xuân phát triểnkinh tế – xã hội, lan rộng ra quan hệ thông thương, giao lưu văn hóa – xã hội với cácvùng lân cận đặc biệt quan trọng là thành Phố Vinh của tỉnh Nghệ An. Vai trò của Nghi Xuân đồi với tỉnh thành phố Hà Tĩnh có vị trí quan trọng hơn với cáclý do sau : Huyện có vai trò quan trọng trong việc tạo ra những mối link về du lịch ( nhất là du lịch sinh thái xanh ), dịch vụ và văn hóa truyền thống với những huyện khác và địa phương lâncận ( thành phố Vinh ) ; Huyện nghi Xuân là cửa ngõ của thành phố thành phố Hà Tĩnh, cónguồn kinh tế tài chính biển đa dạng và phong phú, có cảnh sắc du lịch đẹp và có vị trí quan trọng vềquốc phòng, bảo mật an ninh ; Huyện có cảng cá Xuân Hội là nơi có điều kiện kèm theo thuận lợicung ứng những dịch vụ cho tàu thuyền đánh bắt cá món ăn hải sản và nơi gần nhất, đồng thờicũng là nơi thuận tiện cho việc thu mua món ăn hải sản của ngư trường thời vụ ( cung ứng lươngthực, thực phẩm, nước ngọt, nước đá, ngư lưới cụ ) cũng như những nhu yếu phẩmkhác tại Nghi Xuân sẽ làm giảm thời hạn đi lại, ngân sách xăng dầu mà những tàu thuyềnphải về nhận tại thành phố Hà Tĩnh. Có thể chứng minh và khẳng định vị trí địa lý là một trong những lợi thế điển hình nổi bật của huyện NghiXuân, tạo thuận tiện để có những ngành kinh tế tài chính mạnh như ngành thủy hải sản, dịch vụ hậucần nghề cá và tăng trưởng du lịch. Đây cũng là một trong những nơi có điều kiện kèm theo thuậnlợi để hình thành “ một khu vực cửa ngõ ” giữa hai tỉnh TP Hà Tĩnh và Nghệ An. 1.2. Địa hìnhghi Xuân có địa hình đặc trưng của tỉnh TP Hà Tĩnh cũng như khu vực miềntrung ( địa hình nghiêng từ Tây Nam sang Đông Bắc ). Về cơ bản địa hình NghiXuân được chia thành ba vùng đặc trưng : – Vùng 1 : Là vùng có địa hình phẳng phiu, đất đai phì nhiêu hơn cả tập trungơ những xã Xuân Lam, Xuân Hồng, Xuân Hoa, Xuân Liên, rất tương thích với viêc pháttriển thâm canh trồng cây lương thực, hoa màu nên hoàn toàn có thể tăng trưởng những vùngchuyên canh cây lương thực, cây hoa màu, đồng thời tăng trưởng đàn gia súc, gia cầmnâng cao hiệu suất cao kinh tế tài chính nông nghiệp toàn huyện. – Vùng 2 : Vùng này hầu hết là những núi đá với độ dốc lớn phía dưới chân núithuộc 1 số ít xã có địa hình trũng như Xuân Viên, Xuân Mỹ với địa hình đặc trưngcủa vùng này hoàn toàn có thể tích hợp tăng trưởng lâm nghiệp trồng rừng chắn giá, chắn bãocho khu vực dân cư và những khu vực sản xuất. Vùng chân núi có nhiều khe rạch, mạch nước ngầm sử dụng để xây hồ đập ship hàng sản xuất nông nghiệp, trữ nướcngọt đổ vào những ao hồ nuôi cá ở phía dưới, đây là cơ sở để tăng trưởng mạng lưới hệ thống trangĐề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trangtrại, gia trại. Như vây song song với trồng rừng, xây đập tăng trưởng mạng lưới hệ thống cảnhquan đẹp, tăng trưởng những trang trại sinh thái xanh sẽ tạo ra vùng du lịch sinh thái xanh, nghĩdưỡng ngoại ô ( lôi cuốn khách từ thành phố và những vung lân cận, đa dạng hóa cácsản phẩm du lich trong mạng lưới hệ thống tua du lịch văn hóa truyền thống của Nghi Xuân ) – Vùng 3 : Đây là vùng ven biển là điều kiện kèm theo thuận tiện để tăng trưởng ngànhnuôi trồng và đánh bắt cá thủy hải sản đồng thời hoàn toàn có thể khai thác để tăng trưởng du lịchnghỉ mát và những dịch vụ kèm theo. Tuy nhiên việc quy đổi những cánh đồng từtrước tới nay trồng lúa tích hợp khai thác thủy hải sản truyền thống cuội nguồn, cần có sự nghiêncứu và quy hoạch hài hòa và hợp lý chuyển một phần sang nuôi thâm canh thủy hải sản có hiệuquả kinh tế tài chính cao, phần còn lại vẫn giữ để canh tác, bảo vệ phúc lợi xã hội bền vữngvề sinh thái xanh thiên nhiên và môi trường. 1.3. Thời tiết, khí hậu. Nghi Xuân là một trong những nơi có khí hậu khắcnghiệt của vùng Duyên Hải miền trung. Đây là vùng chịu tác động ảnh hưởng của gió phơnTây Nam từ nước bạn Lào thổi sang. Vì vậy, mùa hè rất nóng, nắng nhiều và gaygắt. Bên cạnh đó, là nơi có tần suất bão khá cao, bão kèm theo mưa lớn, gió lốcgây ảnh hưởng tác động rất lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân trong huyện. Với điềukiện khí hậu khắc nghiệt nêu trên cộng với những diễn biến khi hậu thất thường dobiến đổi khí hậu gây nên. 1.4. Tài nguyên. Diện tích tự nhiên 22.005,5 ha. Trong đó đất nông nghiệp 12.839,9 ha, chiếm 58,3 % gồm có đất trồng cây hàng năm 7.608,1 ha, đất nuôi trồng thủy sản563, 5 ha, đất lâm nghiệp 4.665,4 ha. Tài nguyên tài nguyên trên địa phận : Hiện nay có 14 mỏ khai thác đá, 5 mỏkhai thác đất san lấp, tập trung chuyên sâu ở những xã Xuân Lam, Xuân Hồng, Xuân Lĩnh ; XuânViên ; Cổ Đạm ; Xuân Liên và Cương Gián. 01 mỏ sét ở xã Cổ Đạm. Đây là lĩnhvực xử lý lao động, và nâng cao thu nhập đáng kể cho người dân. 2. Dân số và lao động : Toàn huyện có 92.607 nhân khẩu, trong đó số nhânkhẩu trong độ tuổi lao động 46.355 khẩu, chiếm 50 %. Là nguồn nhân lực dồi dàocho tăng trưởng kinh tế tài chính huyện nhà. Đánh giá chung : Thuận lợi : – Ở vị trí địa lý thuận tiện với nhiều di tích lịch sử lịch sử dân tộc, du lịch biễn là tiềm năng, lợi thế tổng hợp để tăng trưởng kinh tế tài chính xã hội, lôi kéo những nhà đầu tư, triển khai triểnkhai những kế hoạch tăng trưởng kinh tế tài chính xã hội để xây dựng huyện ngày càng vững mạnh. – Với 32 km đường thủy có cảng biển Cửa Hội là lợi thế tăng trưởng nuôi trồng, đánh bắt cá thủy hải sản và những ngành chế biến thủy hải sản tương quan. – Là một huyện có phong phú về nguồn lực, tạo ra sự đa dạng chủng loại phong phú tronghoạt động kinh tế. Trong vận hội mới, thời cơ được thay đổi sản xuất theo hướngĐề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trangvừa bảo vệ bảo mật an ninh lương thực, mạnh dạn quy đổi những diện tích quy hoạnh sản xuất nôngnghiệp kém hiệu suất cao sang công nghiệp, tăng trưởng thương mại dịch vụ và những ngànhnghề khác, theo hướng tạo ra hàm lượng giá trị sản phẩm & hàng hóa cao, phấn đấu trở thànhkhu vực kinh tế tài chính có thu nhập khá, không thay đổi cho người dân. – Có nguồn lao động dồi dào, kỹ năng và kiến thức sản xuất khá, có trình độ để tiếp nhậnnhanh những văn minh khoa học kỹ thuật vào sản xuất, Khó khăn : – Diện tích đất tự nhiên có gần 42 % là đất phi nông nghiệp và đất đồi núi, địahình chia cắt, đất đai kém màu mở, manh mún đã tác động ảnh hưởng không nhỏ đến sảnxuất nông nghiệp. Đất đai đa phần tương thích với 1 số ít loại cây xanh có giá trị kinhtế thấp, vì thế việc quy đổi cây cối, vật nuôi theo sản phẩm & hàng hóa gặp khó khăn vất vả. – Thời tiết khí hậu diễn biến khá phức tạp, biến hóa thất thường, hàng nămphải gánh chịu nhiều trận lũ lụt, hạn hán và mưa và bão gây tác động ảnh hưởng đến hiệu suất, sản lượng nông nghiệp. Hầu hết diện tích quy hoạnh chỉ sản xuất được một vụ trong năm, sảnxuất tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro đáng tiếc. – Thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều, ô nhiễm thiên nhiên và môi trường đã làm phát sinh, pháttriển nhiều dịch bệnh trên cây xanh, vật nuôi, thủy hải sản, diễn biến khá phức tạpgây tâm ý lo ngại cho người sản xuất, nhất là trong nghành nghề dịch vụ nông nghiệp. – Tiềm năng tăng trưởng kinh tế tài chính của huyện nhà chưa được khai thác một cáchcó hiệu qủa, thiếu quy hoach, những chương trình góp vốn đầu tư có tính kế hoạch chưa đồngbộ, còn chắp vá thiếu tính bền vữngII. THỰC TRẠNG KINH TẾ – XÃ HỘI1. Quy hoạch và thực thi quy hoạch xây dựng nông thôn mới. Quy hoạch nông thôn thời hạn qua chưa được chú trọng, hầu hết những xã chỉmới có quy hoạch sử dụng đất nhưng niên độ chỉ đến 2010 ; những loại quy hoạch theoyêu cầu xây dựng nông thôn mới như : quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếucho tăng trưởng sản xuất nông nghiệp sản phẩm & hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và quy hoạch tăng trưởng hạ tầng kinh tế tài chính – xã hội – môi trường tự nhiên theo chuẩnmới hầu hết đều chưa thực thi. Theo số liệu tìm hiểu, đến nay Nghi Xuân chưa cóxã nào thuộc khu vực nông thôn triển khai xong công tác làm việc quy hoạch theo tinh thầnQuyết định 800 / QĐ-TTg của Thủ tướng nhà nước. Xã Xuân Viên một trong cácxã điểm của tỉnh đang trong quy trình tiến độ tiến hành công tác làm việc xây dựng quy hoạch theochương trình xã điểm xây dựng nông thôn mới tỉnh, đang hoàn thành xong để phê duyệt. 2. Hạ tầng kinh tế tài chính – xã hội2. 1. Hệ thống đường giao thông vận tải : Mạng lưới giao thông vận tải nông thôn những năm gần đây tuy được tăng trưởng mạnh, theo tiêu chuẩn nông thôn mới đến nay chưa có xã nào đạt tiêu chuẩn về giao thông vận tải. Toàn huyện có tổng chiều dài đường giao thông vận tải nông thôn và đường trụcchính nội đồng là 1.008 km, đã đạt chuẩn 175 km chiếm 17,4 %, chưa đạt chuẩn833km chiếm 82,6 %, trong đó : tuyến đường trục xã có 129 km đã có 58 km đạtĐề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trangchuẩn, chiếm 44,96 % ; tuyến đường liên thôn có 323 km, đã có 84 km đạt chuẩnchiếm 26 % ; tuyến đường ngõ xóm có 265 km đã đạt chuẩn 19 km chiếm 7,2 % ; đường trục chính nội đồng có 291 km, đã có 14 km đạt chuẩn, chiếm 4,8 %. 2.2. Hệ thống thủy lợi : Toàn huyện có 14 hồ chứa lớn, nhỏ tổng dung tích 14,7 triệu m ; 5 trạm bơmhàng năm dữ thế chủ động tưới cho trên 40,1 % diện tích quy hoạnh canh tác ( đa phần diện tích quy hoạnh lúa ). Kênh mương do xã quản trị được bền vững và kiên cố hóa là : 59,2 km trong tổng số 230,2 km, chiếm 25,7 %. So với tiêu chuẩn nông thôn mới, lúc bấy giờ chưa có xã nào đạt tiêuchí thủy lợi. Ngoài ra, huyện còn quản trị trên 17,3 km đê biển và 15,9 km đê sông. Công trình thủy lợi hồ chứa nước Xuân Hoa, đang được khai thác sử dụng cóhiệu quả, ngoài tính năng tưới, vừa khai thác nước sạch Giao hàng hoạt động và sinh hoạt và sảnxuất, dịch vụ kinh doanh thương mại. 2.3 Điện nông thôn : Toàn huyện có 315,4 km đường dây hạ thế trong khu vực nông thôn đã đạtchuẩn 155 km chiếm 49,1 % ; Theo khao sát cho thấy 100 % xã có điện lưới quốcgia ; 98,0 % hộ mái ấm gia đình dùng điện lưới vương quốc liên tục, bảo đảm an toàn, có 11,8 % xãđã đạt chuẩn về tiêu chuẩn điện nông thôn. 2.4 Trường học : Đến năm học 2009 – 2010 đã có 560 / 725 phòng học được xây dựng kiên cốđạt chuẩn vương quốc chiếm 77,2 % ; tổng số phòng học còn thiếu 69 phòng, tươngđương 4.608 m ; diện tích quy hoạnh sân chơi bãi tập còn thiếu so với nhu yếu đạt chuẩn. Có 29/52 trường học ở khu vực nông thôn đạt chuẩn vương quốc chiếm 55,8 %. Tỷ lệ những trường đạt chuẩn vương quốc chung của huyện : trường mần nin thiếu nhi 42,9 % ; tiểuhọc đạt chuẩn mức độ 1 là 91,5 %, chuẩn mức độ 2 là 8,3 % ; trung học cơ sở đạt chuẩn chiếm25 %. Riêng khu vực nông thôn : trường mần nin thiếu nhi 35 % ; tiểu học đạt chuẩn mức độ1 là 85 % ; trung học cơ sở là 10 % : Số lượng những xã đạt chuẩn nông thôn mới tiêu chuẩn trường học : có 3/17 xã, chiếm 17,6 %. 2.5. Cơ sở vật chất văn hóaToàn huyện có 07/17 xã có hội trường kiêm nhà văn hóa diện tích quy hoạnh bình quân300mNhà văn hóa truyền thống thôn ( hội quán ) lúc bấy giờ có 183 nhà, diện tích quy hoạnh bình quân200m ; có 98/183 thôn có nhà văn hóa đạt chuẩn chiếm 50,8 % ; 02 thôn chưa có hộiquán chiếm 1,09 %. So với tiêu chuẩn nông thôn mới lúc bấy giờ chưa có xã đạt nhu yếu tiêu chuẩn cơ sởvật chất văn hóa truyền thống xã. 2.6. Chợ nông thôn : Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân TrangToàn huyện có 18 chợ, trong đó vùng nông thôn có 16 chợ ; đã có 7 chợđược xây dựng bền vững và kiên cố, 02 chợ xây dựng bán bền vững và kiên cố và 7 chợ tạm. Có 13 / 17 xã cóchợ, trong đó chưa có xã nào có chợ đạt chuẩn. 2.7. Bưu điện : Đã có 17/17 xã có điểm bưu chính viễn thông ; 85/183 thôn có Internet đếnthôn chiếm tỷ suất 46,4 %. Theo nhu yếu của tiêu chuẩn nông thôn mới về bưu điện, hiệnnay chưa có xã đạt chuẩn. 2.8. Nhà ở dân cư nông thônTổng nhà ở nông thôn có 22.774 nhà, trong đó nhà tạm 520 nhà, chiếm2, 3 % ; số nhà đạt tiêu chuẩn của Bộ Xây dựng 17.803 nhà chiếm 78,2 %, còn lại4. 451 nhà bán vững chắc. Kết quả tìm hiểu tháng 10/2010, toàn huyện có 12/17 xã đạttiêu chí về nhà ở nông thôn. 3. Thực trạng kinh tế tài chính và tổ chức triển khai sản xuất3. 1. Thu nhập trung bình đầu người : Năm 2010, thu nhập trung bình 1 người / năm chung toàn huyện 10,077 triệuđồng ( trong đó trung bình chung của tỉnh là 11,0 triệu đồng ). Số liệu tìm hiểu tháng10 / 2010 về tiêu chuẩn thu nhập toàn huyện chỉ có 01 xã đạt tiêu chuẩn, chiếm 5,9 % ; ( xãCương Gián ). 3.2. Tỷ lệ hộ nghèoTỷ lệ hộ nghèo hàng năm giảm trung bình từ 2-2, 5 % ; từ 25,6 % năm 2006 giảm xuống còn 17,18 % ( theo tiêu chuẩn mới ) năm 2010. Hiện nay toàn huyện chưacó xã nào đạt tiêu chuẩn hộ nghèo ( tỷ suất hộ nghèo theo tiêu chuẩn < 5 % ). 3.3. Cơ cấu lao độngToàn huyện có 46.380 lao động, trong đó khu vực nông lâm thủy hải sản chiếm64, 6 % ( tiêu chuẩn NTM nhu yếu dưới 35 % ), về chất lượng lao động từng bước đượcnâng lên, lao động tốt nghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông ngày càngtăng. Số lao động được giảng dạy nghề trong khu vực nông thôn tăng đều trong cácnăm, từ 8 % năm 2006 đến năm 2010 đạt 9,3 % ; ( tiêu chuẩn NTM nhu yếu lao độngđược huấn luyện và đào tạo nghề là trên 35 % ). Kết quả tìm hiểu cơ cấu tổ chức lao động toàn huyện chưa có xã nào đạt tiêu chínông thôn mới. 3.4. Tổ chức sản xuất ở nông thôn - Kinh tế trang trại : tính đến 31/12/2010 toàn huyện có 67 trang trại, tăng1, 95 lần so với năm 2006 ( từ 35 trang trại lên 67 trang trại ) ; những mô hình của sảnxuất trang trại ngày càng phong phú, trong đó tăng trưởng nhanh nhất là trang trại chănnuôi, nuôi trồng thủy hải sản. Số lượng lao động thuê liên tục ở trang trại tăng, trung bình 4,0 lao động / 1 trang trại ; vốn góp vốn đầu tư cho trang trại từ 112 triệu đồng năm2006 tăng lên 287 triệu đồng năm 2009, tăng 2,56 lần, giá trị sản phẩm & hàng hóa và dịch vụbán ra trung bình 1 trang trại là 248 triệu đồng. - Kinh tế hợp tác : Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang + Tổ hợp tác : Toàn huyện có 12 tổ hợp tác, đều là những mô hình tổng hợp tácđánh bắt xa bờ ; tổ hợp tác quy mô còn nhỏ, nhưng cũng đã cung ứng một phần nhucầu yên cầu thiết thực về những dịch vụ sản xuất của kinh tế tài chính hộ, đặc biệt quan trọng là trong khaithác thủy hải sản. + Về hợp tác xã nông nghiệp : Đến tháng 12 năm 2009, Nghi Xuân có 06 hợptác xã nông nghiệp ; Theo hiệu quả phân loại năm 2009 100 % HTX hoạt động giải trí cóhiệu quả. Trên trong thực tiễn hầu hết những HTX triển khai tốt những dịch vụ Giao hàng xã viênnhưng đa phần là dịch vụ nguồn vào, luân chuyển phân bón, sản phẩm & hàng hóa và dịch vụ cácthông tin khoa học kỹ thuật, còn dịch vụ tiêu thụ loại sản phẩm cho bà con xã viên thìchưa làm được. - Căn cứ theo tiêu chuẩn nông thôn mới đến nay toàn huyện 4/17 có xã đạt tiêuchí về hình thức tổ chức triển khai sản xuất ở nông thôn. 4. Văn hóa, xã hội, môi trường4. 1. Giáo dụcNghi Xuân là một trong những huyện được công nhận là huyện phổ cập giáodục trung học cơ sở vào loại sớm nhất. Tỷ lệ học viên tốt nghiệp trung học cơ sởđược liên tục học ( trung học phổ thông, bổ túc, dạy nghề ) 91,9 % ( yêu cầu tiêu chítừ 85 % trở lên ) ; tỷ suất lao động được huấn luyện và đào tạo nghề là 31 % trong đó vùng nông thôn9, 3 % ( nhu yếu tiêu chuẩn > 35 % ). Kết quả tìm hiểu về tiêu chuẩn giáo dục toàn huyện có 8/17 xã đạt chiếm 47 %. Đối với tiêu chuẩn giáo dục nhìn chung những xã đều đạt 2 tiểu tiêu chuẩn đó là phổ cậpgiáo dục trung học và tỷ suất học viên tốt nghiệp trung học cơ sở liên tục học ( trunghọc đại trà phổ thông, bổ túc, dạy nghề ) ; tỷ suất lao động được huấn luyện và đào tạo cơ bản những xã đềuchưa đạt. 4.2. Y tế cơ sởMạng lưới y tế cơ sở được góp vốn đầu tư cơ bản về hạ tầng và trang thiết bị, nguồn nhân lực được chăm sóc, hiện có 17/17 xã đạt chuẩn vương quốc về y tế chiếm 100 % ( nhu yếu tiêu chuẩn là 100 % ). Có 17/17 trạm xá xã đạt chuẩn vương quốc quy trình tiến độ 1. Toàn huyện có 17 bác sỹ công tác làm việc tại trạm y tế những xã, so với yêu huyện nhàđã đạt tiêu chuẩn toàn bộ những trạm Y tế xã đều có bác sỹ. Tỷ lệ người dân tham gia cáchình thức bảo hiểm y tế của toàn huyện là 51,9 %, riêng khu vực nông thôn là49, 47 % đây là một tỷ suất khá cáo so với trung bình chung toàn tỉnh ( tỉnh đạt 30 % ). 4.3 Về văn hóaNăm 2010, toàn huyện có 94/183 thôn đạt thương hiệu thôn văn hóa truyền thống chiếm51, 3 % ; có 16.913 hộ mái ấm gia đình đạt thương hiệu mái ấm gia đình văn hóa truyền thống chiếm 75,10 % ; có3. 475 hộ đạt thương hiệu mái ấm gia đình thể thao, chiếm tỷ suất 15,4 %. Xét theo tiêu chuẩn nông thôn mới lúc bấy giờ toàn huyện có 6/17 xã đạt tiêu chívăn hóa. 4.4. Môi trường nông thônĐề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân TrangTừ năm 2006 – 2010 đã có nhiều chương trinh tương hỗ cho công tác làm việc cải thiệnnước sạch và vệ sinh môi trường tự nhiên nông thôn. Góp phần đưa tỷ suất người dân đượcsử dụng nước hoạt động và sinh hoạt hợp vệ sinh tăng từ 23,37 % năm 2005 lên 75,9 % năm2010 ; tỷ suất hộ mái ấm gia đình có hố xí hợp vệ sinh từ 18,68 % năm 2005 lên 38,85 % năm2010. có 01 hợp tác xã thiên nhiên và môi trường. Nhìn chung cùng với sự tăng trưởng kinh tế tài chính của xã hội thì môi trường tự nhiên nôngthôn đã thể hiện nhiều tín hiệu đáng quan ngại, những cơ sở sản xuất, những làng nghề ởnông thôn, rác thải từ hội đồng dân cư, vệ sinh nơi công cộng hầu hết chưa đượcquan tâm đúng mức, trong việc giải quyết và xử lý thiên nhiên và môi trường những làng nghề phần nhiều chưa có hệthống giải quyết và xử lý nước thải bảo vệ tiêu chuẩn, đặc biệt quan trọng là những làng nghề nuôi trồng, chếbiến món ăn hải sản, chuồng trại chăn nuôi gia súc, rác thải được đẩy ra nơi công cộng chưacó nơi giải quyết và xử lý. Đến nay, toàn huyện có 4 HTX môi trường tự nhiên, trong đó ở khu vực nôngthôn có 02 HTX ( Xuân Liên và Cương Gián ), có 03/17 xã khu vực nông thôn có tổthu gom ( xã Xuân Hội, Xuân Trường, Xuân Đan ), chưa có cở sở sản xuất kinhdoanh nào trên địa phận khu vực nông thôn đạt tiêu chuẩn vệ sinh thiên nhiên và môi trường. Theo số liệu thống kê, lúc bấy giờ trên địa phận huyện có trên 17 nghĩa trangtrong đó 05 nghĩa trang đã có kế hoạch sử dụng đất đến năm ngoái nhưng chưa được quyhoạch cụ thể còn lại chưa được quy hoạch, sắp xếp rải rác, quy mô nhỏ. Đánh giá vềtiêu chí thiên nhiên và môi trường lúc bấy giờ toàn huyện chưa có xã nào đạt. 5. Hệ thống chính trị5. 1. Hệ thống tổ chức triển khai chính trị – Hệ thống chính trị cơ sở : Toàn huyện có 19 tổ chức triển khai cơ sở đảng xã, phường, thị xã ; trong đó có 17 đảng bộ xã, 02 đảng bộ thị xã ; có 315 chi bộ trực thuộcđảng bộ cơ sở. Kết quả phân loại năm 2009 so với những đảng bộ cơ sở : trong sạchvững mạnh chiếm 94,47 %, một đảng bộ cơ sở không đạt chiếm 5,26 % ( đảng bộ xãXuân Liên ) ; so với đảng viên : đủ tư cách triển khai xong xuất sắc trách nhiệm chiếm13, 25 %, đủ tư cách hoàn thành xong tốt trách nhiệm chiếm 67,56 %, đủ tư cách hoàn thànhnhiệm vụ chiếm 18,85 %, vi phạm tư cách chiếm 0,34 %. – Mặt trận tổ quốc và những đoàn thể : Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và những đoàn thể đã góp thêm phần tích cực vàoviệc tăng trưởng kinh tế-xã hội, giữ vững ANCT, xây dựng Đảng và mạng lưới hệ thống chínhtrị ngày càng vững mạnh ; hiệu quả hoạt động giải trí của Mặt trận Tổ quốc và những đoàn thểcơ sở được triển khai qua phân loại năm 2009 như sau : + Mặt trận tổ quốc : xuất sắc chiếm tỷ suất 50,76 %, khá 44,65 %, trung bình4, 58 %. + Đoàn Thanh niên : tổ chức triển khai đoàn vững mạnh : 63,16 %, khá 31,57 %, trungbình 5,26 %. + Hội phụ nữ : xuất sắc 73,68 %, tốt 15,78 %, khá 10,52 %. + Hội nông dân : xuất sắc 78,95 %, khá 21,10 %. + Hội cựu chiến binh : xuất sắc 63,15 %, khá 36,85 %. 10 Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang + Liên đoàn lao động huyện : 100 % vững mạnh xuất sắc. Về tiêu chuẩn mạng lưới hệ thống tổ chức triển khai chính trị xã hội vững mạnh : những xã đạt tỷ suất khácao 13/17 xã đạt chiếm 76,47 %. – Đội ngũ cán bộ, công chức xã : Toàn huyện có 314 cán bộ, công chức xã, trong đó có trình độ ĐH 52 người chiếm 16,56 %, cao đẳng 02 người chiếm0, 63 % ; tầm trung 169 người chiếm 53,82 % ; sơ cấp 30 người chiếm 9,6 % ; số còn lạichưa qua giảng dạy 61 người chiếm 19,43 %. 5.2. An ninh trật tự xã hộiAn ninh chính trị và trật tự bảo đảm an toàn xã hội ở nông thôn được giữ vững, 100 % số xã vùng nông thôn đều có lực lượng dân quân tự vệ và lực lượng dự bị độngviên ; thực trạng phạm tội và những tệ nạn xã hội cơ bản được kiềm chế ; phong tràoquần chúng bảo vệ bảo mật an ninh Tổ quốc ngày càng có nhiều chuyển biến tích cực, giảiquyết kịp thời những xích míc phát sinh từ cơ sở. hạn chế đơn thư khiếu nại vượt cấp. Công tác thanh tra, hoạt động giải trí tư pháp khu vực nông thôn được chăm sóc, giải quyếtkịp thời. Theo số liệu tìm hiểu tháng 7/2010, có 17/17 xã đạt tiêu chuẩn bảo mật an ninh trật tự xãhội đạt tỷ suất 100 %. III. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT VỀ THỰC TRẠNG NÔNG THÔN HIỆN NAY : – Nghi Xuân là một huyện nghèo ven biển sản xuất nông nghiệp là đa phần, nông thôn còn chậm tăng trưởng. – Là huyện có tiềm năng để vận động và di chuyển cơ cấu tổ chức kinh tế tài chính sang tăng trưởng côngnghiệp, du lịch dịch vụ, tuy nhiên tập trung chuyên sâu đa phần ở khu vực đô thị còn khu vực nôngthôn tăng trưởng thiếu quy hoạch và tự phát ; công tác làm việc quản trị nhà nước về quy hoạchvà thực thi theo quy hoạch còn nhiều mặt hạn chế. – Kết cấu hạ tầng kinh tế tài chính – xã hội còn lỗi thời, chưa cung ứng nhu yếu phát triểncông nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp – nông thôn. Mạng lưới giao thông vận tải tuyđã tăng trưởng rộng khắp tuy nhiên quy mô, cấp đường chưa đạt chuẩn ; nhiều tuyếnđường đã bị xuống cấp trầm trọng nghiêm trọng, chất lượng thấp, không bảo vệ cho đi lại vàlưu thông sản phẩm & hàng hóa ; giao thông vận tải nội đồng chưa được chăm sóc hiện chỉ có 4,5 % đường trục chính nội đồng đạt nhu yếu. Hệ thống thuỷ lợi chưa phân phối được yêucầu sản xuất và dân số, nhất là trong điều kiện kèm theo hạn hán, lũ lụt ; tỷ suất kênh mươngđược vững chắc hóa mới đạt 25,9 %. Chất lượng lưới điện nông thôn chưa bảo vệ antoàn khi quản lý và vận hành, nhất là trong mùa mưa và bão ; chưa đủ trạm biến áp tại một số ít khuvực, nửa đường kính cấp điện còn xa, đường dây hạ thế lê dài gây tổn thất điện năng, giáthành bán điện đến hộ dân sử dụng còn cao, đặc biệt quan trọng là tỷ suất hộ dân mua điện tại giacòn ở mực thấp. Tỷ lệ những trường mần nin thiếu nhi, tiểu học, trung học cơ sở có phòng họcbán vững chắc chưa cao ; đặc biệt quan trọng là mạng lưới hệ thống trường mần nin thiếu nhi. Toàn huyện chưa cóxã nào có nhà văn hoá và khu thể thao xã đạt tiêu chuẩn theo pháp luật của Bộ Vănhoá – Thể Thao – Du lịch ; Chất lượng nhà văn hoá thôn đạt thấp, trang thiết bị cònnghèo nàn. Chủ yếu những xã sử dụng hội trường kiêm nhà văn hóa xã, cơ sở vật chất, 11 Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trangsân bãi tập luyện, phòng đọc sách, những phòng công dụng khác chưa có, không đápứng nhu yếu tăng trưởng trào lưu văn hóa truyền thống, thể thao nông thôn. Mạng lưới chợ nôngthôn còn nhiều bất hài hòa và hợp lý, phân bổ không đều, còn nhiều chợ cóc, chợ tạm, tụ điểmbuôn bán không đúng nơi lao lý, thiếu mạng lưới hệ thống phòng chống cháy nổ, giải quyết và xử lý rác, nước thải và trấn áp bảo đảm an toàn dịch bệnh. – Sản xuất nông nghiệp quy mô manh mún, nhỏ lẻ, lao động bằng tay thủ công là chủyếu và chưa qua giảng dạy ; hiệu suất, chất lượng, hiệu suất cao chưa cao, sản xuất chưagắn với thị trường, năng lực cạnh tranh đối đầu của nông sản hàng hoá thấp ; việc chuyểngiao, ứng dụng những tân tiến kỹ thuật còn nhiều hạn chế. Nhiều tân tiến kỹ thuật mớicho hiệu suất, hiệu suất cao cao, tuy nhiên việc nhân rộng còn chậm ; thu nhập bình quânđầu người khu vực nông thôn so với thành thị có khoảng cách khá xa. – Mức thụ hưởng về văn hoá, giáo dục, dịch vụ y tế của người dân nông thôncòn thấp. Môi trường nhiều nơi ngày càng bị ô nhiễm, Phong trào xây dựng làngvăn hoá, mái ấm gia đình văn hóa truyền thống, xây dựng trường chuẩn, trạm y tế chuẩn tuy phát độngnhưng thiếu chiều sâu. ( Tỷ lệ lao động qua huấn luyện và đào tạo khu vực nông thôn dự kiến năm2010 mới chỉ đạt 9,3 %, nhu yếu tiêu chuẩn là trên 35 % ). Số cán bộ y tế có trình độ đạihọc tại tuyến xã cơ bản phân phối đủ. – Đời sống vật chất, ý thức của người dân nông thôn vẫn còn gặp nhiều khókhăn, tỷ suất hộ nghèo còn cao 17,18 % ; khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị vànông thôn và giữa những vùng, miền ngày một tăng. Hiện tại còn trên 50 % dân cưnông thôn chưa có bảo hiểm y tế ; mạng lưới hệ thống bảo hiểm sản xuất nông nghiệp chưađược hình thành. Lao động nông thôn còn thiếu việc làm, yếu tố huấn luyện và đào tạo nghề kếtquả còn hạn chế ; nhiều mái ấm gia đình có con trẻ đi học nghề tại những trường trong vàngoài tỉnh sau khi tốt nghiệp không có việc làm tương thích. – Hệ thống chính trị cơ sở ở nhiều nơi còn yếu ; chất lượng đội ngũ cán bộcông chức xã còn chưa ổn. Cán bộ cấp xã có trình độ trình độ nhiệm vụ chưachưa cung ứng nhu yếu tăng trưởng kinh tế tài chính xã hội ( trình độ ĐH, cao đẳng chỉ đạt17, 2 %, chưa được giảng dạy chiếm 19,4 % ). Trong nông thôn, hoạt động giải trí của những tổchức Mặt trận, đoàn thể châmk được thay đổi, tỷ suất tập hợp vào tổ chức triển khai đoàn thanhniên nhiều nơi đạt tỷ suất thấp dưới 52 %, nếp sống văn hoá mới chậm hình thành, tệnạn xã hội ( thực trạng nghiện ma tuý, tệ nạn cờ bạc, mại dâm ) có khunh hướng giatăng, một số ít hủ tục lỗi thời trong ma chay, cưới xin Bên cạnh đó, những loại tộiphạm như trộm cắp, cố ý gây thương tích và những tệ nạn xã hội đã len lỏi vào đờisống nhiều vùng nông thôn làm ảnh hưởng tác động đến tình hình bảo mật an ninh trật tự xã hội. * So với bộ tiêu chuẩn vương quốc về nông thôn mới phát hành tại Quyết định491 / QĐ-TTg của Thủ tướng nhà nước, Nghi Xuân vẩn còn rất nhiều chỉ tiêu chưađạt nhu yếu ; nhìn chung đa phần những tiêu chuẩn về văn hoá ; giáo dục y tế ; bảo mật an ninh chínhtrị, mạng lưới hệ thống tổ chức triển khai chính trị của những xã ở khu vực nông thôn đạt khá cao. Còn lạicác tiêu chuẩn khác đặc biệt quan trọng nhòm tiêu chuẩn hạ tầng ( giao thông vận tải ; thuỷ lợi, cơ sở vậtchất ) và thu nhập, cơ cấu tổ chức lao động, hộ nghèo còn ở mức thấp. Trong số 17 xã ở12Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trangvùng nông thôn, lúc bấy giờ có 5 xã đạt từ 6 – 7 tiêu chuẩn, chiếm 29,4 % ; 9 xã đạt 4-5 tiêu chuẩn chiếm 53 %, số còn lại đạt 2-3 tiêu chuẩn. ( Tổng hợp phần tình hình có biểu kèm theo ) Phần thứ 2QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ CÁC GIẢI PHÁPI. QUAN ĐIỂM : 1. Xây dựng nông thôn mới là mạng lưới hệ thống những giải pháp nhằm mục đích tập trung chuyên sâu cao chosản xuất trên cơ sở quy hoạch tổng thể và toàn diện từng xã, nhằm mục đích tăng trưởng kinh tế tài chính – xã hội mộtcách bền vững và kiên cố. Trong đó người dân đóng vai trò là chủ thể và được triển khai trêncơ sở vừa tái tạo vừa xây dựng, vừa thừa kế những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp trongnông thôn hiện có, vừa hình thành những giá trị mới theo hướng văn minh, hiện đạitrên cơ sở những quy hoạch, kế hoạch, quy chuẩn để bảo vệ nhu yếu tăng trưởng lâudài và vững chắc. Trên cơ sở những quy hoạch được xây dựng phải chú trọng quy13Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Tranghoạch vùng sản xuất, nhằm mục đích xác lập cho được trong từng quy trình tiến độ thì cơ cấu tổ chức sảnxuất, ngành nghề sản xuất được sắp xếp hài hòa và hợp lý để xử lý lao động và thu nhập caohơn cho người dân. 2. Nguồn lực xây dựng nông thôn mới phải được xã hội hóa, kêu gọi đầu tưcủa những thành phần kinh tế tài chính và góp phần công sức của con người của nhân dân, nhà nước chỉ đóngvai trò tương hỗ, kích thích trên cơ sở lồng ghép những chương trình, dự án Bất Động Sản, có bổ trợ dựán tương hỗ so với những nghành thiết yếu. 3. Xây dựng nông thôn mới là cuộc hoạt động xã hội thâm thúy và tổng lực làquá trình phấn đấu vĩnh viễn, liên tục theo khuynh hướng của Đảng, Nhà nước và của cảhệ thống chính trị, kêu gọi người dân tích cực tham gia. Thực hiện theo phươngchâm ” dựa vào sức dân để lo đời sống cho dân ” phát huy vai trò dữ thế chủ động củanhân dân, hội đồng dân cư, đặc biệt quan trọng là hội đồng thôn xóm, làng bản ; những hoạtđộng đơn cử của thôn xóm, làng bản do chính người dân tranh luận, quyết định hành động. II. MỤC TIÊU : 1. Mục tiêu chung : Xây dựng nông thôn mới có kiến trúc kinh tế tài chính – xã hội từng bước hiệnđại ; cơ cấu tổ chức kinh tế tài chính và những hình thức tổ chức triển khai sản xuất hài hòa và hợp lý, gắn nông nghiệp vớiphát triển công nghiệp, dịch vụ ; gắn tăng trưởng nông thôn với đô thị theo quy hoạch ; xã hội nông thôn dân chủ, không thay đổi, giàu truyền thống văn hoá dân tộc bản địa ; dân trí được nângcao ; môi trường sinh thái xanh, sạch sẽ và đẹp mắt ; bảo mật an ninh trật tự được giữ vững, đời sốngvật chất và niềm tin của dân cư được nâng cao. 2. Mục tiêu đơn cử : 2.1 Giai đoạn : 2011 đến năm ngoái : – Tập trung chỉ huy để Xã Xuân Viên đơn vị chức năng điểm hàn thành cơ bản những chỉtiêu về NTM vào năm 2013. – Phấn đấu đến năm ngoái có 03 xã là : Cương gián ; Xuân Hội và xã Xuân Lĩnh đạtchuẩn 19 tiêu chuẩn nông thôn mới ; – Đến năm ngoái có 09 xã là : Xuân Lam ; Xuân Hồng ; Xuân Thạn ; Xuân Mỹ ; CổĐạm ; Xuân Giang ; Tiên Điền ; Xuân Đan ; Xuân Trường đạt từ 17 tiêu chuẩn trở lên. – Các xã còn lại 04 xã : Xuân Hải ; Xuân Phổ ; Xuân Yên ; Xuân Liên ; 14 tiêuchí trở lên. Về tăng trưởng kinh tế tài chính xã hội : Hoàn thành một số ít chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế tài chính, xãhội sau : vận tốc tăng trưởng nông nghiệp đạt 3,5 % / năm ; giá trị nông nghiệp chiếm22 % tổng GDP ; tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp chiếm 47 % ; giá trị sản xuấttrên đơn vị chức năng diện tích quy hoạnh đạt 65 triệu đồng / ha ; lao động nông nghiệp còn 40 % tổng laođộng xã hội ; lao động nông thôn được đào tạo và giảng dạy nghề chiếm 35 % ; 65 % kênh mươngđược cứng hóa ; 70 % đường giao thông vận tải nông thôn đạt chuẩn ; 85 % trường học đạtchuẩn Quốc gia ; 80 % số xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế ; hàng năm giảm tỷ suất hộnghèo giảm 3-3, 5 %. 2.2 Giai đoạn năm nay – 2020 : 14 Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang – Trong tiến trình năm nay đến 2020 phấn đấu hoàn thành xong cơ bản xây dựng nôngthôn mới 13 xã còn lại, đưa tổng số xã đạt 17/17 xã chiếm tỷ suất đạt 100 % số xã đạtchuẩn vương quốc về 19 tiêu chuẩn nông thôn mới và hoàn thành xong một số ít chỉ tiêu pháttriển kinh tế tài chính, xã hội : vận tốc tăng trưởng nông, lâm, thuỷ sản đạt 3,5 – 4 % / năm, cơ cấugiá trị nông nghiệp trong GDP còn dưới 12 %, tỷ trọng giá trị chăn nuôi chiếm trên50 % ; giá trị trên đơn vị chức năng diện tích quy hoạnh canh tác trên 80 triệu đồng / năm ; bảo vệ vữngchắc bảo mật an ninh lương thực. Phát triển nông nghiệp tích hợp với tăng trưởng công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề nông thôn, nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn cao gấp3, 5 lần so với lúc bấy giờ, lao động nông nghiệp còn 30 % tổng số lao động xã hội, tỷlệ lao động nông thôn được đào tạo và giảng dạy nghề đạt 70 %, giảm tỷ suất hộ nghèo mỗi năm 3-3, 5 %. Kiên cố hoá 100 % kênh mương thuỷ lợi ; tỷ suất đường giao thông nông thônđạt chuẩn 80 %. Cấp điện hoạt động và sinh hoạt bảo vệ cho 100 % dân cư và những cơ sở côngnghiệp, dịch vụ ; 100 % số xã có trụ sở được xây dựng cao tầng liền kề đủ diện tích quy hoạnh làm việccho cả mạng lưới hệ thống chính trị ; 100 % trường học đạt chuẩn vương quốc, số xã có bác sỹ đạt100 % ; 90 % số xã có TT văn hoá thể thao đạt chuẩn, 100 % số xã có điểmbưu điện văn hoá và có nhà văn hoá đạt tiêu chuẩn ngành, bảo vệ cơ bản điềukiện học tập, khám chữa bệnh, hoạt động và sinh hoạt văn hoá, thể dục thể thao ở hầu hết cácvùng nông thôn. III. NỘI DUNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP1. Quy hoạch xây dựng nông thôn mới. 1.1. Mục tiêu : Năm 2011 phải triển khai lập đề án và quy hoạch xây dựng nông thôn mớitrên 17/17 xã. – Quý 1 năm 2011 triển khai xong đề án và quy hoạch xây dựng nông thôn mớicho 01 xã Xuân Viên ( xã điểm ) ; – Quý 2 : Hoàn thành xong đề án và QH-NTM của 05 xã : Cương gián ; Xuânhội ; Xuân lĩnh ; Xuân Giang ; Xuân Mỹ. – Quý 3 + 4 : Phải triển khai xong 11 xã còng lại : Tiền Điền ; Xuân Hải ; Xuân Phổ ; Xuân Đan ; Xuân Trường ; Xuân Yên ; Xuân Thành ; Xuân Liên ; Xuân Lam ; XuânHồng ; Cổ Đạm. 1.2. Nội dung : Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho tăng trưởng sảnxuất nông nghiệp sản phẩm & hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ; Quyhoạch tăng trưởng hạ tầng kinh tế tài chính – xã hội – thiên nhiên và môi trường, tăng trưởng những khu dân cưmới và chỉnh trang những khu dân cư hiện có trên địa phận xã. 1.3. Giải pháp : – Huyện dữ thế chủ động mời đơn vị chức năng tư vấn là Viện … … … … … … … Quy hoạch – KS – TKXD đô thị và Nông thôn thành phố Hà Tĩnh lập quy hoạch NTM cho 17 xã trên địa bàntoàn huyện. Trên cơ sở đề cương mẫu về trách nhiệm quy hoạch, Ủy Ban Nhân Dân huyện chỉ đạophòng Kinh tế và hạ tầng thống nhất với đơn vị chức năng tư vấn để Ủy Ban Nhân Dân xã có văn bản trìnhUBND huyện phê duyệt ( xã là chủ góp vốn đầu tư ). Nhằm đẩy nhanh những thủ tục khởi đầu. 15 Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang – Ủy Ban Nhân Dân huyện giao cho phòng Kinh tế và hạ tầng chủ trì phối hợp vớiphòng NN&PTNT xây dựng quy trình tiến độ, những bước từ huyện đến cơ sở về việc thựchiện quy hoạch nông thôn mới ( tiến trình được luận bàn dân chủ đến tận những xã ) – Ủy Ban Nhân Dân xã ( chủ góp vốn đầu tư của QH – XDNTM ) phải trọn vẹn dữ thế chủ động thựchiện những bước thuộc tiến trình đã được đàm đạo dân chủ và phát hành. Phải tậptrung hàng loạt nhân lực, trải qua thoáng rộng nhân dân để góp phần quan điểm vào bảnquy hoạch, phải quan tâm quy hoạch vùng sản xuất gắn với điều kiện kèm theo tự nhiên, kinh tếxã hội của địa phương và những vùng lân cận, khuynh hướng tăng trưởng chung huyện. – Thành viên Ban chỉ huy XD-NTM của huyện được phân công từng địa bànphải chịu nghĩa vụ và trách nhiệm về quá trình và chất lượng quy hoạch. Phòng Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn cơ quan thường trực BCD, chịu nghĩa vụ và trách nhiệm tổng hợp báo cáoBCĐ về tiến trình và chất lượng QH-NNM của những xã cho Ban chỉ huy huyện. Phòngkinh tế và hạ tầng trên cơ sở những pháp luật của Bộ, Sở Xây dựng và những văn bản cóliên quan về quy hoạch XD – NTM thực thi việc đánh giá và thẩm định và hướng dẫn những địaphương việc phê duyệt đề cương trách nhiệm và phê duyệt quy hoạch theo đúng quyđịnh hiện hành. – Để những xã có quy hoạch gắn được với toàn diện và tổng thể tăng trưởng của toàn huyệntrên những nghành nghề dịch vụ giao thông vận tải ; thủy lợi ; trường học ; y tế. UBND huyện quyết địnhnhững quy hoạch định hướng, tổ chức triển khai mạng lưới sắp xếp hài hòa và hợp lý những mạng lưới hạtầng, đơn cử : Năm 2011 huyện phải xây dựng quy hoạch giao thông vận tải toàn huyện ; mạng lưới trường học ; mạng lưới y tế cơ sở ; Định hướng về thủy lợi ; cấp nước ; thoát nước. – Trên cơ sở quy hoạch toàn diện và tổng thể kinh tế tài chính xã hội của huyện ; khuynh hướng rõ nétvề tăng trưởng kinh tế tài chính trên địa phận để những xã xây dựng quy hoạch tăng trưởng kinh tếcủa mình tương thích với tổng thể và toàn diện kinh tế tài chính của huyện. 1.4. Những yếu tố cần chú ý quan tâm khi xây dựng Quy hoạch : Yêu cầu những địa phương đi cùng với quy hoạch phải xây dựng Đề án nôngthôn mới và đề án tăng trưởng sản xuất và nâng cao thu nhập cho người nông dânnông thôn vì đề án và quy hoạch là hai yếu tố tương quan mật thiết với nhau. Xâydựng đề án nhằm mục đích khái quát tiềm năng tiêu chuẩn cần đạt được, quy hoạch chỉ là thểhiện tiềm năng, khuynh hướng tăng trưởng của một phần đề án trên bản vẽ. Quá trình xây dựng quy hoạch cần chú ý quan tâm một số ít nội dung như sau : Việc quy hoạch nông thôn mới phải đinh hướng theo những lợi thế vùng có điềukiện tự nhiên, kinh tế tài chính – xã hội, hướng tăng trưởng những ngành nghề chung như sau : – Vùng 1 : Vùng sản xuất Nông nghiệp mà đa phần là trồng lúa nước gắn vớiphát triển trang trại ; du lịch sinh thái xanh ; dịch vụ gồm có những xã ven chân núi HồngLĩnh có nền đất thịt nặng, dữ thế chủ động được nguồn nước tưới như : Xuân Lam, XuânHồng, Xuân Viên, Xuân Lĩnh, Xuân Mỹ, Xuân Hoa, Xuân Liên. – Vùng 2 : Vùng giữa gồm có những xã : Xuân Giang ; Tiên Điền ; Xuân Yên ; Xuân Thành ; Xuân Hải ; chú trọng việc thóat nước chống úng, để quy đổi cây16Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trangtrồng, cây công nghiệp như lạc, khoai và những cây xanh khác. cần bảo vệ hệ thốnghạ tầng thiết yếu quan trong như mạng lưới hệ thống giao thông vận tải bảo vệ tính link giữa cácvùng, và theo hướng đô thị hoá ( tích hợp với thị xã Nghi Xuân ) xây dựng vùngtrung tâm hành chính của huyện tích hợp thương mại – dịch vụ và du lịch. Xem xétgắn du lịch biển của 2 xã Xuân yên – Xuân thành với những Khu di tích lịch sử văn hóa truyền thống nhưNguyễn Du – Nguyễn Công Trứ. – Vùng 3 : Vùng tăng trưởng nuôi trồng và đánh bắt cá thuỷ sản. gồm có những xã : Xuân Hải, Xuân Phổ, Xuân Đan ; Xuân Trường ; Xuân Hội. – Gắn quy hoạch vùng sản xuất của địa phương mình với vùng sản xuẩt liênquan những xã xung quanh mình, nhất là sản xuất nông nghiệp. Tính liên hệ vùngtrong tăng trưởng có ý nghĩa quan trọng. – Chú trọng quy hoạch vùng sản xuất của địa phương mình, trên cơ sở nắmchắc những tiềm năng, lợi thế của địa phương. Đây là yếu tố cốt lõi của của quyhoạch xây dựng NTM, nếu không xác lập đựơc cơ cấu tổ chức nền sản xuất, thế mạnh củatừng ngành sản xuất, trên cơ sở đó mà vận động và di chuyển lao động, tăng hiệu suất laođộng trong nông nghiệp sau khi quy hoạch thì quy hoạch đó chưa đạt, vì cái gốccủa yếu tố là sản xuất phải tăng trưởng. – Cần quy hoạch những vùng đất có lợi thế sắp xếp đất ở, đất sản xuất kinh doanh thương mại đểđấu giá quyền sử dụng đất tạo nguồn vốn xây dựng hạ tầng Giao hàng XD – NTM. 1.5. Khái toán vốn góp vốn đầu tư : Nhiệm vụ quy hoạch NTM theo những pháp luật về xây dựng quy hoạch, tạmtính mỗi xã 200 triệu đồng. Toàn huyện cần 17 x200 triệu đồng / xã = 3,4 tỷ đồng. Chủ góp vốn đầu tư của QH – NTM : Là Ủy Ban Nhân Dân những xãNguồn quy hoạch ngân sách Tỉnh và huyện sẽ hộ trợ 100 % trong năm 2011.2. Phát triển hạ tầng kinh tế tài chính xã hội : Đường giao thông nông thôn ; Thủylợi ; trường học ; Cơ sở vật chất văn hóa truyền thống, điện nông thôn, chợ nông thôn, bưuđiện, nhà ở nông thôn ( nhóm tiêu chuẩn hạ tầng ) 2.1. Mục tiêu : Giai đoạn : 2011 đến năm ngoái : Tập trung góp vốn đầu tư hạ tầng cho tăng trưởng sản xuấtnhư : Cải tạo đồng ruộng ; mạng lưới hệ thống thủy lợi ; mạng lưới hệ thống hạ tầng cho những vùng chuyêncanh những loại cây cối ; vùng chăn nuôi tập trung chuyên sâu ; vùng nuôi trồng thủy hải sản và cáckhu tiểu thủ công nghiệp tập trung chuyên sâu. Hoàn thiện mạng lưới hệ thống hạ tầng kinh tế tài chính cho 03 xã đạt tiêu những tiêu chuẩn ( nhómtiêu chí hạ tầng ( Xuân Viên ; Xuân Hội ; Cương Gián ; Xuân Lĩnh ) Giai đoạn : năm nay – 2020 : có thêm 13 xã đưa tổng số xã đạt 17/17 xã. 2.2. Nội dung : Nâng cấp và xây dựng mới khu công trình hạ tầng bảo vệ chuẩntiêu chí nông thôn mới theo từng thời kỳ của những địa phương. 2.3. Giải pháp : 17 Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang – Phòng Kinh tế và Hạ tầng chủ trì phối hợp với những phòng công dụng, tiếnhành hướng dẫn những địa phương xây dựng kế hoạch và những nội dung tìm hiểu khảosát, nhìn nhận đúng tình hình về kiến trúc hiện có và xây dựng kế hoạch cụthể, thống nhất phân kỳ thực thi xây mới và tăng cấp những khu công trình. Ưu tiên cáccông trình thiết yếu ; trên quan điểm ưu tiên tăng cấp những khu công trình hiện có, hạnchế làm mới, đặc biệt quan trọng cho những khu công trình ship hàng sản xuất, phục đời sống nhân dân, sử dụng ngân sách một cách có hiện quả, tiết kiệm chi phí nhất, kêu gọi tối đa nỗ lực củanhân dân để xây dựng kiến trúc ). Việc góp vốn đầu tư tăng cấp, xây dựng mới nhómhạ tầng phải tuân thủ quy hoạch đã được phê duyệt. – Để dữ thế chủ động tiến hành tăng cấp và xây dựng mới những khu công trình hạ tầngđúng quá trình, bảo vệ chất lượng và trên cơ sở tiết kiệm chi phí : Tổ chức thiết kế : Đối với những khu công trình nhỏ lẻ như ( đường liên thôn, ngõxóm, đường nội đồng … ) những địa phương dữ thế chủ động kêu gọi sức dân đóng gópngày công. Việc góp vốn đầu tư tăng cấp, xây mới những khu công trình phải được trải qua nhânnhân, và những tổ chức triển khai đoàn thể bảo vệ nguyên tắc dân bàn, dân làm, dân kiểm travà dân được tận hưởng. Việc xây dựng nhà ở của dân, cần kêu gọi nội lực của nhân dân và lồngghép những chương trình, chủ trương về nhà ở của nhà nước. Các đoàn thể tham giagiúp đỡ cho những hộ khó khăn vất vả và mái ấm gia đình chủ trương. Thiết kế 1 số ít mẫu nhà, xâydựng quy mô để nhân dân thăm quan, học tập, làm theo, bảo vệ tiêu chuẩn nhà ởnông thôn. Tổ chức kêu gọi những nguồn lực góp vốn đầu tư cho việc xây dựng hạ tầng theonguyên tắc những khu công trình thiết yếu như trục giao thông vận tải liên xã, mạng lưới hệ thống kênhchính thuỷ lợi ; mạng lưới hệ thống điện ; Bưu điện văn hoá xã, trường trung học cơ sở nhànước góp vốn đầu tư 100 % ; khu công trình khác trên từng bước đầu tư xây dựng trên cơ sở huyđộng những nguồn lực xã hội ; góp phần của nhân dân, nhà nước chỉ đóng vai trò trungtâm khâu nối và tương hỗ. 2.4. Khái toán vốn góp vốn đầu tư : Tổng vốn : 1.551 tỷ trong đó : ( chi tiết phụ lục số 4 ) * Giai đoạn 2011 – năm ngoái : 1.214,2 tỷ gồm có : – Xây dựng mạng lưới hệ thống giao thông vận tải : 637 tỷ – Thuỷ lợi : 148,4 tỷ – Điện : 160 tỷ. – Trường học : 26,7 tỷ – Cơ sở vật chất văn hoá : 59,8 tỷ. – Chợ nông thôn : 21,5 tỷ. – Bưu điện : 23 tỷ – Nhà ở : 137,8 tỷ18Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang * Giai đoạn năm nay – 2020 : 337 tỷ gồm có : – Xây dựng mạng lưới hệ thống giao thông vận tải : 273 tỷ – Thuỷ lợi : 64 tỷ3. Phát triển kinh tế tài chính, giảm nghèo và phúc lợi xã hội ( nhóm tiêu chuẩn pháttriển kinh tế tài chính ) : 3.1. Mục tiêu : – Giai đoạn 2011 – năm ngoái hoàn thành xong tiêu chuẩn tăng trưởng kinh tế tài chính ở 04 xã XuânViên ( hoàn thành xong 2013 ) ; Xuân Hội ; Xuân Lĩnh, Cương Gián và duy trì nâng caothu nhập của xã Cương Gián ( đã đạt ). Các xã còn lại phấn đấu đến năm năm ngoái nângcao tiêu chuẩn thu nhập trung bình lên 40-45 triệu đồng / người ( chuẩn NTM gấp 1,4 lần trung bình thu nhập toàn tỉnh ) ; cơ cấu tổ chức lao động nông nghiệp chiếm tỷ suất 45 % ( chuẩn NTM 35 % ), tỷ suất hộ nghèo xuông mức 12 % ( Chuẩn NTM 5 % ) và đến năm2020 phấn đấu có 17/17 số xã đạt nhóm tiêu chuẩn tăng trưởng kinh tế tài chính xã hội tương ứngtỷ lệ 100 % ( có phụ lục kèm theo ). 3.2. Nội dung : Thực hiện chuyển dời cơ cấu tổ chức kinh tế tài chính ; nâng cao tỷ trọngCông nghịêp ; thương mại dịch vụ, tăng trưởng sản xuất nông nghiệp theo hướng sảnxuất hàng hoá có hiệu suất cao kinh tế tài chính cao đơn cử : – Nông nghiệp : Thực hiện chuyển dời cơ cấu tổ chức kinh tế tài chính, cơ cấu tổ chức sản xuất nôngnghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá. – Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp : Khuyến khích, lôi cuốn góp vốn đầu tư của những cácdoanh nghiệp vào địa phận, ưu tiên những doanh nghiệp có sử dụng lao động lớn, dunhập và hình thành những cụm làng nghề. – Thương mại dịch vụ và du lịch : Đẩy mạnh và tăng trưởng thương mại và dịchvụ, khai thác hiệu suất cao tiềm năng về du lịch biển, du lịch nghỉ dưỡng sinh thái và dulịch văn hoá tâm linh. 3.3 Giải pháp : – Nông nghiệp : Tăng cường công tác làm việc chỉ huy quy đổi đất nông nghiệp lần2, quy hoạch những vùng sản xuất chuyên canh tập trung chuyên sâu trên cả nghành trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản, đưa cơ giới hoá vào sản xuất nông nghiệp, nâng cao hiệu quảcông tác khuyến nông ; đẩy nhanh triển khai vận dụng văn minh khoa học vào sản xuấtvới tiềm năng nâng cao hiệu suất cao trên đơn vị chức năng diện tích quy hoạnh, tạo ra nhiều loại sản phẩm hànghoá có giá trị kinh tế tài chính cao, bảo vệ tăng trưởng nên nông nghiệp hiệu suất cao vững chắc. củng cố và xây dựng hồ đập ; mạng lưới hệ thống kênh mương thuỷ lợi, xây dựng và nhânrộng những quy mô đạt hiệu suất cao kinh tế tài chính cao. – Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp : Tham mưu cho Ủy Ban Nhân Dân tỉnh ; những banngành tương quan xây dựng chính sách nhằm mục đích đẩy nhanh triển khai xong hạ tầng khu côngnghiệp gia lách nhằm mục đích lôi cuốn những doanh nghiệp góp vốn đầu tư. Xây dựng chính sách thu hútđầu tư của huyện so với những doanh nghiệp đầu tư sản xuất trên địa phận nhằm mục đích hỗ trợvà khuyến khích tăng trưởng. Khuyến khích và có cho chế tương hỗ những tổ chức triển khai cá nhân19Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trangdu nhập những ngành nghề mới để hình thành những làng nghề, cụm làng nghề, quyhoạch vùng tiểu thủ công nghiệp của những địa phương. – Thương mại – dịch vụ : Khuyến khích những doanh nghiệp, tổ chức triển khai, cá nhânphát triển những ngành nghề thương mại dịch vụ, gắn thương mại dịch vụ với du lịch, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. – Du lịch : Quy hoạch hạ tầng, kết nối mạng lưới du lịch của huyện gồm có, Du lịch biển – Du lịch sinh thái xanh nghỉ ngơi – Du lịch văn hoá tâm linh trên địa phận. Xây dựng kế hoạch lôi cuốn và tăng trưởng những thành phần kinh tế tài chính góp vốn đầu tư phát triểnhạ tầng du lịch biển mạng lưới hệ thống nhà hành khách sạn hạng sang, du lịch sinh thái xanh, khôiphục và tăng trưởng văn hoá tâm linh như khôi Phục hồi Đền huyện, quy hoạch tôntạo những đình chùa miếu mạo như Đền Chợ Củi ; Chùa Thanh Lương với mục tiêutạo ra những loại sản phẩm du lịch trọn gói lôi cuốn khách lưu lại trên địa phận huyện trongthời gian dài hơn. – Xây dựng nguồn nhân lực lao động : Thu hút doanh nghiệp xây dựng trungtâm huấn luyện và đào tạo nghề tại trên địa phận huyện. Xây dựng chính sách khuyến khích, tương hỗ đàotạo nghề cho lao động nông thôn nhằm mục đích xây dựng nguồn lực lao động có tay nghềcao theo hai hướng đạo tạo lao động tại chổ hình thành làng nghề và sản xuất nôngnghiệp hàng hoá. Giao hàng cho tăng trưởng công nghiệp, xuất khẩu lao động. 3.4. Khái toán vốn góp vốn đầu tư : Tổng vốn : 271,8 tỷ trong đó : ( chi tiết phụ lục số 4 ) * Giai đoạn 2011 – năm ngoái : 135,9 tỷ gồm có : – Chuyển dịch cơ cấu tổ chức kinh tế tài chính : 81,4 tỷ – Giảm nghèo phúc lợi xã hội : 54,5 tỷ * Giai đoạn năm nay – 2020 : 108,7 tỷ gồm có : – Chuyển dịch cơ cấu tổ chức kinh tế tài chính : 65,1 tỷ – Giảm nghèo phúc lợi xã hội : 43,6 tỷ * Giai đoạn 2021 – 2025 : 27,2 tỷ gồm có : – Chuyển dịch cơ cấu tổ chức kinh tế tài chính : 16,3 tỷ – Giảm nghèo phúc lợi xã hội : 10,9 tỷ4. Đổi mới và tăng trưởng những hình thức tổ chức triển khai sản xuất có hiệu suất cao ởnông thôn. 4.1. Mục tiêu : Đến năm năm ngoái sắp xếp và triển khai xong những hình thực tổ chứcsản xuất ở những xã theo hướng hoạt động giải trí có hiệu suất cao, đóng vai trò là tổ chức triển khai đảmnhiệm công dụng khâu nối giữa người nông dân ( đơn vị chức năng sản xuất ) và thị trườngtiêu thụ loại sản phẩm nhằm mục đích nâng cao hiệu suất cao trong sản xuất. 4.2. Nội dung : Khuyến khích hình thành và sắp xếp lại những mô hình kinh tế tài chính : kinh tế tài chính HTX, trang trại, gia trại, kinh tế tài chính hộ, tăng trưởng doanh nghiệp vừa và nhỏ ởnông thôn : 4.3. Giải pháp : – Xây dựng chính sách khuyến khích, tương hỗ để nâng cao hoạt động giải trí của những hìnhthức tổ chức triển khai kinh tế tài chính trên địa phận huyện đơn cử : 20 Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang + Hỗ trợ lãi suất vay tín dụng thanh toán vốn và phương pháp tổ chức triển khai hoát động cho cácHTX hiện có để nâng cáo hiệu suất cao hoạt động giải trí. Đầu tư xây dựng mới những HTX đápứng nhu yếu tăng trưởng kinh tế tài chính xã hội của từng địa phương. + Xây dựng và thực thi những chủ trương, giải pháp tương hỗ nâng cao hiệu quảkinh tế trang trại, gia trại ( chủ trương cho thê đất, khuyến khích tích tụ ruộng đất đểhinh thành những trang trại, gia trại và những khu chăn nuôi tập trung chuyên sâu tách khỏi khudân cư. tương hỗ hạ tầng, phòng chống dịch bệnh, đào tạo và giảng dạy, thực thi thươngmại … ). 4.4. Khái toán vốn góp vốn đầu tư : Tổng vốn : 32 tỷ trong đó : ( chi tiếtphụ lục số 4 ) * Giai đoạn 2011 – năm ngoái : 19,2 tỷ * Giai đoạn năm nay – 2020 : 12,8 tỷ5. Văn hoá xã hội và môi trường5. 1, Giáo dục và đào tạo và giảng dạy : 5.1.1. Mục tiêu : Đến năm 2013 phổ cập giáo dục phổ thông Trung học đạtchuẩn cho 17/17 xã, tỷ suất học viên tốt nghiệp trung học cơ sở được liên tục vào họcTHPT, bổ túc, học nghề đạt trên 95 %. Đến năm năm ngoái nâng cao tỷ suất lao động qua đào tạo và giảng dạy lên 25 – 30 %. Giai đoạn2016 – 2020 : Đưa tỷ suất lao động qua đào tạo và giảng dạy ở những xã đạt từ 30 – 35 %. 5.1.2. Nội dung : Duy trì và nâng cao hiệu quả phổ cập giáo dục trung học cơ sở và hoànthành phổ cập giáo dục trung học phổ thông, nâng cao tỷ suất lao động qua giảng dạy ở những lĩnh vựckinh tế xã hội. 5.1.3. Giải pháp : – Nâng cao chất lượng những cơ sở giáo dục và giảng dạy trên địa phận huyện, khuyến khích những đơn vị chức năng tổ chức triển khai góp vốn đầu tư vào nghành nghề dịch vụ giáo dục đào tạo và giảng dạy, đẩy mạnhphong trào xã hội hoá giáo dục và đào tạo và giảng dạy. – Đa dạng hoá những mô hình đạo tạo nghề như huấn luyện và đào tạo nghề tập trung chuyên sâu ; đào tạonghề tại địa phương, tại hộ mái ấm gia đình trải qua những TT giáo dục cộng đồngxã, tạo điều kiện kèm theo thuận tiện cho mọi người dân được tham gia học tập. – Xây dựng chủ trương tương hỗ huấn luyện và đào tạo nghề cho người trong độ tuổi lao độngtừ 18 – 25 ở khu vực nông thôn. 5.2. Phát triển y tế chăm nom sức khỏe thể chất dân cư nông thôn5. 2.1. Mục tiêu : Phấn đấu đến năm năm ngoái, 100 % số xã đạt tiêu chuẩn, đơn cử : Củng cố tăng cấp 17 trạm xá đã đạt chuẩn để duy trì nâng cao mức chuẩntrạm y tế quá trình II cho 04 xã điểm ; tỷ suất người dân nông thôn tham gia những hìnhthức bảo hiểm y tế đạt trên 40 %. 5.2.2. Nội dung : – Duy trì và nâng cao mức độ đạt chuẩn của 17 trạm xá y tế cơ sở ; Đầu tư hoànthành đạt chuẩn quy trình tiến độ II cho những trạm xá xã điểm xây dựng nông thôn mới ; vânđộng người dân nông thôn tham gia những hình thức bảo hiểm y tế đạt trên 40 % 5.2.3. Giải pháp : 21 Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang – Đầu tư xây dựng hạ tầng và trang thiết bị y tế cho những tram xá điểmxây dựng nông thôn mới bảo vệ đạt chuẩn quy trình tiến độ II vào năm 2013. – Nâng cấp cơ sở vật chất và chất lượng khám chửa bệnh cho những trạm xá củacác xã còn lại, thực thi tốt những nội dung theo pháp luật của Bộ Y tế về xây dựngtrạm xá xã đạt 10 chuẩn về y tế. – Thực hiện chương trình tăng cường những bác sỷ về tuyến cơ sở ship hàng choviệc khám chữa bệnh cho khu vực nông thôn được tốt hơn. – Tăng cường công tác làm việc giáo dục truyền thông online về sinh đẻ có kế hoạch, nângcao chất lượng dịch vụ kế hoạch hoá mái ấm gia đình ; nỗ lực thực thi tiềm năng mỗi cặpvợ chồng chỉ có 1-2 con, góp thêm phần nâng cao chất lượng dân số nông thôn. – Nâng cao chất lượng dịch vụ bảo hiểm y tế và tăng cường công tác làm việc truyềnthông để giúp người dân hiểu và tự giác tham gia những hình thức bảo hiểm y tế ( ngoài những đối tượng người tiêu dùng được nhà nước trợ cấp về bảo hiểm y tế ). – Tăng cường công tác làm việc kiểm tra vệ sinh bảo đảm an toàn thực phẩm trên địa phận toànhuyện, đặc biệt quan trọng chăm sóc những nhà hàng quán ăn và cơ sở chế biến thực phẩm. 5.3. Xây dựng đời sống văn hóa truyền thống, thông tin truyền thông nông thôn5. 3.1. Mục tiêu : Đến năm năm ngoái có 90 % số xã đạt tiêu chuẩn về văn hoá. phấnđấu đến năm 2020 có 100 % số xã đạt. 5.3.2. Nội dung : Xây dựng đời sống văn hoá ở vùng nông thôn huyện nhàphong phú lành mạnh trên cơ sở giữ gìn và phát huy truyền thống lịch sử tốt đẹp và hìnhthành nếp sống vă minh nông thôn. 5.3.3. Giải pháp :. – Khuyến khích làng xã xây dựng những quy ước ( hương ước ) làng, thực thi nếpsống văn minh ; đẩy lùi những hủ tục và tệ nạn xã hội như. + Lành mạnh hoá việc cưới, việc tang, chống mê tín dị đoan, dị đoan, giữ gìn vệ sinhcông cộng, bảo vệ môi trường tự nhiên, thực thi quy định dân chủ ở cơ sở. Khuyến khích họctập để vươn lên làm chủ đời sống, sống nhân ái đùm bọc nhau, giúp nhau giảmnghèo, vươn lên làm giàu. Xây dựng hình mẫu người nông dân văn minh biết sảnxuất kinh doanh thương mại giỏi, sống có văn hoá, tích cực giúp sức hội đồng. – Bảo vệ và tôn tạo những di tích lịch sử lịch sử dân tộc, văn hoá ; duy trì những liên hoan truyền thốngđặc sắc ; Sưu tầm, phát hiện, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá vật thể và phi vậtthể của dân tộc bản địa trên địa phận. – Tổ chức triển khai tốt cuộc hoạt động của Uỷ ban trung ương Mặt trận tổ quốcViệt Nam về xây dựng đời sống văn hoá khu dân cư. – Đào tạo nguồn nhân lực ( cán bộ ) ship hàng cho tăng trưởng văn hoá – thể thaotrên địa phận xã. 5.4. Nước sạch và vệ sinh thiên nhiên và môi trường nông thôn5. 4.1. Mục tiêu : Đảm bảo nước hoạt động và sinh hoạt sạch và hợp vệ sinh cho dân cư, trường học, trạm y tế, văn phòng và những khu dịch vụ công cộng ; triển khai những yêu cầu22Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trangvề bảo vệ và cải tổ môi trường sinh thái. Mục tiêu đơn cử phấn đấu đến năm năm ngoái có 100 % số xã đạt tiêu chuẩn. 5.4.2. Nội dung : Xây dựng thiên nhiên và môi trường nông thôn xanh sạch sẽ và đẹp mắt, dân cư vùngnông thôn có nước sạch hợp vệ sinh thiên nhiên và môi trường sử dụng trong hoạt động và sinh hoạt. 5.4.3. Giải pháp : – Đầu tư xây dựng những khu công trình trong điểm đủ phân phối nhu yếu nước cho ngườidân ở khu vực nông thôn. – Rà soát, triển khai xong những chủ trương thôi thúc những thành phần kinh tế tài chính đầu tưvào tăng trưởng nước sạch nông thôn và khuyến khích người dân sử dụng nước sạch. – Đầu tư xây dựng, tái tạo tăng cấp mạng lưới hệ thống tiêu thoát nước trong thôn, xóm. – Xây dựng Tổ hợp tác, Hợp tác xã vệ sinh môi trường tự nhiên để giải quyết và xử lý rác thải ở những địaphương. – Xây dựng những điểm thu gom, giải quyết và xử lý rác thải ở những cụm liên xã bảo vệ vệsinh môi trường tự nhiên. – Hỗ trợ xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh cho những hộ dân cư, nhà trẻ, mẫu giáo, trường học, trạm y tế, trụ sở xã và những cơ sở công cộng khác trên những địa phận. – Chỉnh trang, tái tạo xây dựng nghĩa trang theo quy hoạch. – Giảm thiểu ô nhiễm môi trường tự nhiên ở những làng nghề ( đặc biệt quan trọng là những làng nghềchế biến thực phẩm ). – Tôn tạo, bảo vệ những ao, hồ sinh thái xanh trong khu dân cư, tăng trưởng cây xanh ởcác khu công trình công cộng. – Tăng cường công tác làm việc thông tin – giáo dục – tiếp thị quảng cáo để đổi khác hành vivệ sinh của người dân nông thôn. – Xây dựng chính sách chủ trương tương hỗ của nhà nước để thôi thúc những hộ nôngthôn triển khai xong những khu công trình vệ sinh mái ấm gia đình và chuồng trại chăn nuôi hợp vệsinh ; Xây dựng vừa đủ Tolet cho những khu vực công cộng thuộc xã phù hợpvới đặc trưng từng vùng. 5.5 Khái toán vốn góp vốn đầu tư : Tổng vốn : 132,2 tỷ trong đó : ( chi tiết phụ lục số 4 ) * Giai đoạn 2011 – năm ngoái : 130,2 tỷ gồm có : – Giáo dục đào tạo giảng dạy : 3 tỷ – Y tế : 13,9 tỷ – Xây dựng đời sống văn hoá : 2,8 tỷ. – Môi trường : 110,4 tỷ * Giai đoạn năm nay – 2020 : 2 tỷ gồm có : – Giáo dục đào tạo huấn luyện và đào tạo : 2 tỷ6. Giữ vững bảo mật an ninh trật tự xã hội nông thôn6. 1. Mục tiêu : Hiện nay cơ bản trên địa phận Nghi Xuân những xã đều đạt yêucầu tiêu chuẩn bảo mật an ninh trật tự xã hội phấn đấu đến năm 2020 duy trì không thay đổi 100 % sốxã đạt tiêu chuẩn. 23 Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang6. 2. Nội dung : Đảm bảo bảo mật an ninh trật tự ở nông thôn để nhân dân không thay đổi sảnxuất, có đời sống văn hoá ý thức lành mạnh. 6.3. Giải pháp : – Xây dựng nội quy, quy ước làng xóm về trật tự, bảo mật an ninh ; phòng chống những tệnạn xã hội và những hủ tục lỗi thời. – Xây dựng quy định, nghĩa vụ và trách nhiệm cho từng cấp uỷ đảng, chính quyền sở tại, đoàn thểđể triển khai tốt việc tiếp dân ; xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo và những mâu thuẫntrong nội bộ nhân dân ngay từ cơ sở, không để đơn thư khiếu nại vượt cấp. – Nâng cao chất lượng lực lượng bảo mật an ninh xã, thôn, xóm đủ mạnh và có quy chếphối hợp ngặt nghèo để trấn áp kịp thời tội phạm, phát hiện và xử lý nhanh cácmâu thuẫn trong nội bộ nhân dân. 6.4. Khái toán vốnHỗ trợ công tác làm việc xây dựng nội quy, quy ước làng xóm về trật tự, bảo mật an ninh ; đào tạonâng cao chất lượng lực lượng bảo mật an ninh xã, thôn, xóm ; mỗi xã 50 triệu đồng 17, tổngvốn tương hỗ là 0,85 tỷ đồng7. Nâng cao chất lượng tổ chức triển khai Đảng, chính quyền sở tại, đoàn thể chính trị – xã hội trên địa phận xã. 7.1. Mục tiêu : Đạt nhu yếu tiêu chuẩn mạng lưới hệ thống tổ chức triển khai chính trị xã hội vữngmạnh trong Bộ tiêu chuẩn vương quốc nông thôn mới. Hiện nay đã có 13/17 xã đạt tiêuchí, tiềm năng đến năm năm ngoái có 100 % số xã đạt. 7.2. Nội dung : Xây dựng cũng cố nâng cao chất lượng tổ chức triển khai Đảng, chínhquyền, đoàn thể chính trị – xã hội ở toàn bộ những xã thực sự trong sáng vững mạnh, chấtlượng hoạt động giải trí mạng lưới hệ thống chính trị cơ sở ngày càng hiệu suất cao đảm ứng nhu yếu củathời kỳ CNH – HĐH nông thôn. 7.3. Giải pháp : – Khảo sát, phân loại cán bộ xã theo chuẩn do Bộ Nội vụ pháp luật để xâydựng kế hoạch, thay thế sửa chữa, đào tạo và giảng dạy đạt chuẩn. Đồng thời xây dựng kế hoạch bồidưỡng kỹ năng và kiến thức thiết yếu cho đội ngũ cán bộ giúp việc ở cấp thôn, xã. – Xây dựng nội dung giảng dạy, tu dưỡng kiến thức và kỹ năng cho cán bộ xã tương thích vớiyêu cầu xây dựng nông thôn mới thời kỳ CNH – HĐH. – Xây dựng chủ trương khuyến khích cán bộ trẻ đã đào tạo và giảng dạy đủ chuẩn về công tácở những xã vùng khó khăn vất vả để nhanh gọn chuẩn hoá đội ngũ cán bộ ở những vùng này. – Rà soát, bổ sung chức năng, trách nhiệm những tổ chức triển khai đảng, chính quyền sở tại, đoàn thểphù hợp với nhu yếu xây dựng nông thôn mới thời kỳ CNH – HĐH. Đồng thời, phâncông trách nhiệm đơn cử cho từng tổ chức triển khai trong việc thực thi Chương trình xây dựngnông thôn mới ở xã. – Bổ sung xây dựng quy định hoạt động giải trí của những tổ chức triển khai, quy định nhìn nhận kếtquả triển khai trách nhiệm gắn liền với chính sách khen thưởng, kỷ luật để tăng trách nhiệmcủa từng cá thể và tổ chức triển khai. 24 Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Nghi Xuân Trang – Tiếp tục tiến hành có hiệu suất cao cuộc hoạt động học tập và làm theo tấm gươngđạo đức Hồ Chí Minh sâu rộng, chăm sóc tăng trưởng đảng viên ở cơ sở, cũng cố xâydựng lực lượng trung đội nòng cốt để dữ thế chủ động giải quyết và xử lý khi có tinh huống xẩy ra ngaytừ cơ sở. 7.4. Khái toán kinh phí đầu tư : Tổng kinh phí đầu tư quy trình tiến độ 2011 – năm ngoái : 3,6 tỷ đồng * Giai đoạn 2011 – 2013 : 1,9 tỷ đồng – Đào tạo, bỗi dưỡng đội ngũ cán bộ cấp xã cho 4 xã chưa đạt chuẩn4 xã x 0,15 tỷ đồng = 0,6 tỷ đồng – Bồi dưỡng đội ngũ cán bộ xã để duy trì đạt chuẩn cho 13 xã còn lại13 xã x 0,1 tỷ đồng = 1,3 tỷ đồng * Giai đoạn năm trước – năm ngoái : 1,7 tỷ đồng – Bồi dưỡng đội ngũ cán bộ xã để duy trì đạt chuẩn cho 17 xã17 xã x 0,1 tỷ đồng = 1,7 tỷ đồngIV. VỐN VÀ NGUỒN VỐN1. Tổng vốn : 1.994,8 tỷ đồng : ( trung bình 117,34 tỷ đồng / xã ), trong đó : – Vốn thực thi quy hoạch 3,4 tỷ đồng ; – Vốn xây dựng hạ tầng kinh tế tài chính – xã hội : 1.551 tỷ đồng – Vốn tăng trưởng kinh tế tài chính, những hình thức tổ chức triển khai sản xuất : 303,8 tỷ đồng – Vốn tăng trưởng văn hóa truyền thống – xã hội – môi trường tự nhiên : 132,2 tỷ đồng – Vốn xây dựng mạng lưới hệ thống chính trị : 4,45 tỷ đồng2. Cơ cấu nguồn vốn : Vốn ngân sách Trung ương và địa phương gồm có ( Hỗ trợ trực tiếp từchương trình xây dựng nông thôn mới ; những chương trình MTQG và dự án Bất Động Sản tương hỗ cómục tiêu ) : 838 tỷ đồng, chiếm 41,8 % – Huy động góp phần của nhân dân : 465,5 tỷ đồng, chiếm 23,3 % – Vốn khác : 696,3 tỷ đồng, chiếm 34,9 % 25
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Nông Thôn






