Người Xơ Đăng – Wikipedia tiếng Việt

Xơ Đăng
Khu vực có số dân đáng kể
Việt Nam: 212.277 @2019 [1]
Ngôn ngữ
Xơ Đăng, Việt
Tôn giáo
Vật linh, Công giáo
Sắc tộc có liên quan
Mon-Khmer

Người Xơ Đăng hay Xê Đăng, còn có tên gọi khác là Sedang, Xơ Đeng, Ca Dong, Cà Dong, Tơ-dra, Hđang, Mơ-nâm, Hà Lăng, Ka Râng, Bri La Teng, Con Lan, là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam [2].

Tiếng Xơ Đăng là ngôn từ thuộc Nhóm ngôn từ Môn-Khmer của ngữ hệ Nam Á .

Dân số và địa phận cư trú[sửa|sửa mã nguồn]

Người Xơ Đăng cư trú tập trung chuyên sâu ở tỉnh Kon Tum, một số ít ít ở miền núi của tỉnh Tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Quảng Nam. Người Xơ Đăng có quan hệ thân mật với người Giẻ Triêng, người Co, người Hrê và người Ba Na .

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Xơ Đăng ở Việt Nam có dân số 169.501 người, có mặt tại 41 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố.[3] Người Xơ Đăng cư trú tập trung tại tỉnh
Kon Tum (104.759 người, chiếm 24,4% dân số toàn tỉnh và 61,8% tổng số người Xơ Đăng tại Việt Nam),
Quảng Nam (37.900 người, chiếm 22,4% tổng số người Xơ Đăng tại Việt Nam),
Quảng Ngãi (17.713 người),
Đắk Lắk (8.041 người),
Gia Lai (705 người)[4]…

Người Hà Lăng[sửa|sửa mã nguồn]

Người Hà Lăng hay Selang là một nhánh của dân tộc Sê Đăng, dân số khoảng 20,000 người, ngôn ngữ là tiếng Hà Lăng. Họ cư trú chính ở huyện Tu Mơ Rông và huyện Đăk Glei, Kon Tum.

Người Mơ Nâm[sửa|sửa mã nguồn]

Người Mơ Nâm nói tiếng Mơ Nâm, là một nhánh của dân tộc Sê Đăng, họ đa phần cư trú tại huyện miền núi Kon Plong, tỉnh Kon Tum .

Người Ca Dong[sửa|sửa mã nguồn]

Người Ca Dong nói tiếng Ca Dong, sinh sống truyền kiếp tại vùng chân núi Ngọc Lĩnh ở hai huyện Nam và Bắc Trà My thuộc tỉnh Quảng Nam .. Ngoài ra, người Ca Dong còn sinh sống tại những xã tại những huyện Sa Thầy, Ngọc Hồi và huyện Kon Plông tỉnh Kon Tum .

Người Xơ Drá[sửa|sửa mã nguồn]

Người Xơ Drá hay X’drá nói tiếng Xơ Drá, sinh sống ở Kon Tum lúc bấy giờ có khoảng chừng 17,424 người, sống tập trung chuyên sâu ở những xã Đăk Ui, Ngọc Réo ( huyện Đăk Hà ) và Đăk Kôi, Đăk Tờ Lùng ( huyện Kon Rẫy ) .

Đặc điểm kinh tế tài chính[sửa|sửa mã nguồn]

Người Xơ Đăng làm rẫy là chính. Nhóm Mơ-nâm làm ruộng nước nhưng không cày bừa mà lại dùng sức trâu, sức người để giẫm nát đất. Họ chăn nuôi gia súc, gia cầm, săn bắn, hái lượm, đánh bắt cá cá, đan lát, dệt, rèn. Nhóm Tơ-dra có nghề rèn từ quặng sắt rất tăng trưởng và nổi tiếng .

Tổ chức hội đồng[sửa|sửa mã nguồn]

Mỗi làng Xơ Đăng có nhà rông, có bãi mộ chôn người chết … Nhà cửa của dân làng quây quần bên nhau, mọi người gắn bó giúp sức nhau. Ông ” già làng ” được trọng nể nhất, là người quản lý và điều hành mọi hoạt động và sinh hoạt chung trong làng và đại diện thay mặt của dân làng .

Hôn nhân mái ấm gia đình[sửa|sửa mã nguồn]

Tên của người Xơ Đăng không có họ kèm theo, nhưng có từ chỉ định giới tính : nam là A, nữ là Y ( ví dụ như là A Nhong, Y Hên ). Trai gái lớn lên, sau khi đã cưa răng theo phong tục ( ngày này ít người còn theo phong tục này ), được tìm hiểu và khám phá, yêu nhau. Lễ cưới xin đơn thuần. Sau lễ cưới, đôi vợ chồng ở luân chuyển với từng mái ấm gia đình mỗi bên ít năm, rất ít trường hợp ở hẳn một bên .

Trong số các lễ cúng, lễ hội truyền thống của người Xơ Đăng, lễ đâm trâu được tổ chức long trọng nhất, đông vui nhất. Người Xơ Đăng thích hát múa, tấu chiêng cồng, chơi đàn, kể chuyện cổ. Đàn ông không chỉ có tinh thần thượng võ, mà còn tài nghệ trong kiến trúc, điêu khắc và hội họa, tạo nên những sản phẩm tiêu biểu, đó là ngôi nhà rông và cây nêu trong lễ đâm trâu.

Mỗi làng người Xơ Đăng đều có nhà rông, nóc và mái được tạo dáng như cánh buồm lớn hoặc lưỡi rìu khổng lồ ngửa lên trời. Có hình chim chèo bẻo hay hình sừng thú chót vót ở hai đầu đốc. Nhà rông được dân làng tạo dựng nên trọn vẹn bằng thảo mộc có sẵn ở địa phương. Kỹ thuật thiết kế xây dựng chỉ là lắp ghép và chằng buộc, không hề dùng đến đinh sắt, dây thép … Nhà rông thực sự là khu công trình kiến trúc, một mẫu sản phẩm văn hóa truyền thống, là trụ sở và câu lạc bộ trong làng của người Xơ Đăng .Người Xơ Đăng có sự đối xử bình đẳng giữa nam và nữ, không phân biệt giữa con riêng và con chung, con đẻ và con nuôi, con của mình và con của đồng đội họ. Quan hệ làng bản khá đoàn kết, có tục kết nghĩa với người cùng tuổi hoặc cùng tên. Con cháu cùng họ không được phép kết hôn với nhau [ 5 ] .
Tấm choàng của phụ nữ Xơ Đăng được dệt từ những sợi bông với nhiều sắc tố khác nhau, trong đó màu đen là chủ thể .Xơ Đăng là 1 trong 47 dân tộc sinh sống ở vùng đất Tây Nguyên với truyền thống lịch sử văn hóa truyền thống rực rỡ, trong đó có những nét đẹp trên phục trang. Nghề dệt thổ cẩm truyền thống cuội nguồn, đồng bào Xơ Đăng đã có từ truyền kiếp, góp thêm phần lưu giữ những nét đặc trưng nhất trên phục trang của dân tộc Xơ Đăng .Trong 5 nhóm địa phương thì ngoài nhóm đồng bào Ca Dong thì những nhóm chính của dân tộc Xơ Đăng như Xơ Teng, Tơ Đrá, Mơ Nâm, Hà Lăng, đều có nghề dệt thổ cẩm truyền thống cuội nguồn. Khung cửi của đồng bào Xơ Đăng nói chung cũng giống như khung dệt của đồng bào Ba Na hay Gia Rai. Họ đa phần dệt vải khổ hẹp từ 30 – 40 cm, nhưng cũng có khi dệt khổ vải rộng tới 80 cm. Nhờ nghề dệt, đồng bào dân tộc Xơ Đăng vẫn giữ được những mô hình phục trang với những nét đặc trưng theo từng nhóm địa phương. Các dân tộc khác ở Tây Nguyên thường có màu đen và màu chàm nhưng phục trang của đồng bào Xơ Đăng là màu chàm. Nhà điều tra và nghiên cứu văn hóa truyền thống dân tộc Tây Nguyên, bà Lương Thanh Sơn, cho biết : Kiểu phục trang của đồng bào Xơ Đăng khá giống với phục trang của những dân tộc ở khu vực Tây Nguyên : ” Cũng như những dân tộc khác ở Tây Nguyên, phục trang của đồng bào Xơ Đăng thường có màu đen và màu chàm. Hoa văn trên phục trang hầu hết được trang trí xung quanh áo, váy ” .Trang phục đậm chất Tây Nguyên của dân tộc Xơ Đăng là những loại khố, áo của đàn ông ; áo chui đầu tay áo được khoét sát nách và váy quấn của phụ nữ, khăn đội đầu, tấm choàng, tấm địu trẻ nhỏ. Trang phục truyền thống lịch sử của đồng bào Xơ Đăng thì phái mạnh đóng khố, cởi trần. Khố là một tấm vải dài, khổ hẹp luồn qua háng, quấn quanh thắt lưng, thả mành mành hai đầu buông dài trước và sau đến gần cổ chân. Trong những tiệc tùng, phục trang của người đàn ông quấn thêm một tấm vải quấn chéo trên ngực, nhìn như một chiến binh đang ra trận. Nhà điều tra và nghiên cứu văn hóa truyền thống những dân tộc Tây Nguyên, bà Linh Nga Nie KĐăm, cho biết : ” Mỗi dân tộc ở Tây nguyên có nét riêng về phục trang và có đặc trưng riêng. Dân tộc của người Jalai, Chu ru thì tay dài, váy dào, hoa văn chỉ ở gấu áo, trên ngực .. Người Xơ Đăng lại mặc váy cộc, áo cộc. Hoa văn rậm rạp hơn ” .Một bộ phục trang truyền thống lịch sử của phụ nữ Xơ Đăng gồm có : áo, váy và tấm choàng ( khăn vai ). Áo là kiểu áo chui đầu, không có tay. Tấm choàng hay còn gọi là khăn vai của phụ nữ Xơ Đăng được dệt từ những sợi bông với nhiều sắc tố khác nhau, đa phần là màu đen. Bà Y Mon, xã Đak Ang, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum, cho biết : ” Trang phục thời xưa của dân tộc Xơ Đăng là áo trắng, váy đen và có một dây buộc ở bụng. Thường thì giờ đây chúng tôi mua vải dệt về tự may phục trang ” .

Các thiếu nữ Xơ Đăng đến tuổi trưởng thành thường dùng tấm choàng khoác qua người như một dấu hiệu cho những chàng trai biết mình chưa xây dựng gia đình để có thể trò chuyện, tìm hiểu. Khi về nhà chồng, người con gái đem theo tấm choàng và giữ gìn như một vật kỷ niệm quý giá của thời con gái. Tấm choàng của phụ nữ Xơ Đăng được dệt từ những sợi bông với nhiều màu sắc khác nhau, trong đó màu đen là chủ thể. Để có tấm choàng, họ dệt tấm vải với kích thước cần dùng sau đó ghép 2 tấm lại. Trên mặt phải của tấm choàng được trang trí hoa văn hình quả trám xen kẽ với các dải màu đen, trắng, đỏ. Phụ nữ Xơ Đăng cũng thích đeo đồ trang sức bằng cườm đá nhiều màu sắc ở thắt lưng, cổ tay, cổ chân, đeo vòng đồng, vòng bạc trên cổ và khuyên tai.

Dù đời sống có nhiều thay đổi, đời sống tăng trưởng, người Xơ Đăng có nhiều lựa chọn để may, mặc những bộ phục trang khác. Tuy nhiên trong những dịp liên hoan, đồng bào Xơ Đăng vẫn khoác trên mình những bộ phục trang truyền thống lịch sử, để giữ gìn nét văn hóa truyền thống và truyền thống của dân tộc mình .

Người Xơ Đăng có khét tiếng[sửa|sửa mã nguồn]