 |
|
Bộ lạc Waikondo ở Papua New Guinea là một trong những bộ lạc truyền kiếp nhất trên thế giới. Các chiến binh của bộ lạc này thường sơn khung hình bằng màu đen . |
 |
|
Người Tuareg ( còn được gọi Twareg hay Touareg ; Amazigh : Imuhagh hay Itargiyen ) là một dân tộc mục đồng du cư Berber. Họ là những người đa phần ở nội địa Sahara của Bắc Phi. Dân tộc này được chia làm nhiều bộ tộc, mỗi bộ tộc có 1 vụ tộc trưởng. Ngoài ra, họ còn có chung 1 vị tộc trưởng tối cao . |
 |
|
Bộ lạc Masai là một nhóm dân tộc thuộc chủng tộc Nilotic bán du mục sinh sống ở Kenya và phía bắc Tanzania. Họ là một trong những dân tộc nổi tiếng ở châu Phi do phong tục, cách ăn mặc và nơi sống riêng không liên quan gì đến nhau . |
 |
|
Zulu là một trong những bộ tộc lớn tại Nam Phi với dân số khoảng 10 triệu người, sống chủ yếu ở tỉnh KwaZulu-Natal. Cũng có nhiều nhóm người Zulu sống tại Zimbabwe, Zambia và Mozambique.
|
 |
|
Thổ dân Kayapo sinh sống tại khu vực Amazon ở Brazil. Họ nổi tiếng bởi những chiếc mũ sặc sỡ nhiều sắc tố và hủ tục rạch môi dưới và chèn vào đó một cái đĩa bằng đất sét . |
 |
|
Bororo là 1 dân tộc thiểu số sống ở Bolivia và Brazil. Họ theo đạo Thiên chúa nhưng vẫn duy trì những niềm tin truyền thống cuội nguồn . |
 |
|
Yanomami là một bộ tộc sống tương đối cô lập ở Nam Mỹ. Họ sống trong những rừng nhiệt đới gió mùa Amazon ở vùng núi phía Bắc Brazil và miền Nam Venezuela. Những báo cáo giải trình gần đây cho thấy, bộ lạc Yanomami còn khoảng chừng gần 20 nghìn người, sống rải rác khắp cánh rừng nhiệt đới gió mùa Amazon ở Brazil và Venezuela . |
 |
|
Miêu là một nhóm dân tộc được Chính phủ Trung Quốc công nhận là một trong 55 dân tộc thiểu số tại Trung Quốc. Người Miêu bao gồm các phân nhóm: H’Mông, Hmu, Hmao và Ghao Xong. Người Miêu bên ngoài Trung Quốc chủ yếu thuộc phân nhóm H’Mông và được gọi là người Mèo (ở Việt Nam), người Mẹo (ở Lào); tiếng Thái: Maew hay Mông). Ngày nay, họ tạo thành nhóm dân tộc lớn thứ 5 tại Trung Quốc và cũng là một trong các dân tộc thiểu số có dân số đáng kể tại Việt Nam.
|
 |
|
Tại vùng chủ quyền lãnh thổ phía Bắc nước Australia, Arnhem Land, bộ tộc người Yolngu đã sinh sống ở đây từ gần 50.000 năm. Theo tài liệu khảo cổ học, đúng chuẩn người Yolngu đã xuất hiện ở nước Australia từ 49.800 năm về trước. Ban đầu họ cùng chung sống với hàng trăm tộc người khác nhau, với tổng số 250 loại ngôn từ thổ dân địa phương. Tuy nhiên, kể từ sau khi James Cook ( người châu Âu tiên phong đặt chân đến châu Úc ) tới đây năm 1770, những bộ tộc ở đây trải qua hơn 200 năm đen tối với thảm sát, bệnh tật, xâm lăng … |
 |
|
Các chiến binh của bộ tộc Rofiwa thường săm lên cơ thể hình của những loài động vật hoang dã . |
 |
|
Những chiến binh của bộ lạc Joite Sinaime thường đeo những chiếc nhẫn bằng gỗ rất lớn trên mũi . |
 |
|
Dân tộc Miao ở phía Tây tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc được biết tới vì trang phục của họ. Những bé gái từ khi nhỏ đã phải mang trên đầu những búi tóc nặng từ 2 đến 4kg.
|
 |
|
Bộ tộc Mansi là một bộ tộc thiểu số của Nga, tập trung chuyên sâu ở huyện tự trị Khanty Mansiysk, Serbia . |
 |
|
Người Nganasan sống ở vùng cực bắc nước Nga, những người có lối sống giống như người Eskimo, chỉ có khoảng chừng vài ngàn người, họ thuộc về bộ lạc Samioyed-Nenet sống ở bán đảo Taimyr, miền bắc Siberi. Họ là những người du mục có truyền thống cuội nguồn chuyên săn bắn, chăn nuôi tuần lộc, đánh bắt cá cá … |
 |
|
Người Nanai là một sắc tộc trong những dân tộc Tungus ở vùng Viễn Đông, theo dòng lịch sử vẻ vang từng sinh sống dọc theo vùng bờ sông Hắc Long Giang ( sông Amur ), sông Tùng Hoa ( Sunggari ) và sông Ussuri trên lưu vực Trung Amur. Tổ tiên của người Nanai có lẽ rằng là người Nữ Chân tại vùng xa nhất về phía bắc của Mãn Châu . |