Khu vực miền núi phía Bắc: Tập trung nâng cao đời sống đồng bào dân tộc thiểu số

Vùng trung du du và miền núi phía Bắc gồm 14 tỉnh, chiếm 1/3 diện tích quy hoạnh của cả nước là nơi sinh sống của hơn 13 triệu người. Trong đó, có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, ví dụ, vùng Đông Bắc là nơi cư trú của người Tày, Dao, Mường, Nùng … ; vùng Tây Bắc là nơi cư trú của người Thái, Mông, Dao …

Khu vực miền núi phía Bắc: Tập trung nâng cao đời sống đồng bào dân tộc thiểu số
Cần hỗ trợ người dân các tỉnh miền núi các mô hình phát triển sinh kế để vươn lên thoát nghèo

Năm 2020, quy mô tổng sản phẩm trên địa bàn đạt 689,2 nghìn tỷ đồng, tăng 1,71 lần so với năm năm ngoái. Tuy nhiên, nhìn chung quy mô GRDP của vùng tương đối nhỏ, khoảng cách giữa vùng với những vùng khác trong cả nước, đã có tín hiệu ngày càng xa. GRDP trung bình đầu người của vùng ở mức thấp so với cả nước, năm 2020 đạt 54,2 triệu đồng. Bên cạnh đó, tỷ suất hộ nghèo của vùng cao nhất cả nước chiếm tới 17 % ; tỷ lệ doanh nghiệp đạt 2,7 doanh nghiệp / 1.000 dân trong độ tuổi lao động, là tỷ lệ thấp nhất so với những vùng khác trên cả nước. Có tới 5 tỉnh trong khu vực đứng trong nhóm 10 địa phương có chỉ số PCI thấp nhất cả nước. Tỷ lệ lao động đã qua huấn luyện và đào tạo, có bằng cấp chứng từ cũng ở mức thấp.

Bà Triệu Thị Huyền, Đại biểu Quốc hội tỉnh Yên Bái, Ủy viên Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội nhận định, thời gian qua cùng với cả nước, các tỉnh khu vực miền núi phía Bắc, trong đó có Yên Bái đã có nhiều nỗ lực trong phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt, thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế.

“ Tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo vẫn nằm trong nhóm cao nhất của cả nước. Một bộ phận những hộ đã thoát nghèo, nhưng ở những nơi tiếp tục chịu tác động ảnh hưởng của thiên tai vẫn có rủi ro tiềm ẩn cao tái nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn ở mức cao và thu nhập trung bình đầu người thấp ” – bà Triệu Thị Huyền nêu Nguyên nhân đa phần dẫn đến tình hình trên, là do khu vực miền núi phía Bắc có địa hình đồi núi chia cắt mạnh lại liên tục chịu ảnh hưởng tác động của thiên tai. Hơn nữa, hạ tầng kinh tế tài chính – xã hội thiếu đồng nhất, giao thông vận tải đi lại khó khăn vất vả, diện tích quy hoạnh đất canh tác hạn chế, người dân còn thiếu tư liệu sản xuất. Trình độ dân trí chưa đồng đều, chất lượng nhân lực thấp.

Ở một số nơi đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn tập quán canh tác lạc hậu, thiếu kiến thức về khoa học, kỹ thuật. Một số thể chế, chính sách phát triển kinh tế – xã hội liên quan đến khu vực này vẫn còn bất cập, thiếu đồng bộ, nguồn lực đầu tư hạn hẹp, chưa đáp ứng được yêu cầu.

Theo đó, bà Triệu Thị Huyền đề nghị, nhà nước, những bộ, ngành cần khẩn trương phát hành những văn bản hướng dẫn, pháp luật đơn cử về nội dung, đối tượng người dùng, nguyên tắc tương hỗ, những tiêu chuẩn, định mức, kế hoạch phân chia nguồn lực để những địa phương dữ thế chủ động trong việc tiến hành thực thi Chương trình tiềm năng quốc gia giảm nghèo bền vững và kiên cố quá trình 2021 – 2025 cùng với hai chương trình tiềm năng vương quốc còn lại ( chương trình kiến thiết xây dựng nông thôn mới và chương trình tăng trưởng kinh tế tài chính – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi ) theo hướng lồng ghép, tích hợp cả 3 chương trình nhằm mục đích kêu gọi, sử dụng hiệu suất cao những nguồn lực theo những tiềm năng và nhu yếu đã đề ra.

“Trong việc thiết kế chính sách giảm nghèo cần cân đối hợp lý giữa các chính sách hỗ trợ có điều kiện và hỗ trợ cho không, giữa hỗ trợ trực tiếp và hỗ trợ gián tiếp. Mở rộng đối tượng thụ hưởng chính sách đối với hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo nhằm đảm bảo thoát nghèo bền vững” – bà Triệu Thị Huyền nói.

Nêu dẫn chứng đơn cử, bà Triệu Thị Huyền cho rằng, khu vực miền núi phía Bắc là nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống và là địa phận có tỷ suất bao trùm rừng cao hơn nhiều so với trung bình chung của cả nước. Với nhiều khu bảo tồn vạn vật thiên nhiên, rừng đặc dụng, rừng tự nhiên nhưng tỷ suất hộ nghèo ở đây cũng cao nhất cả nước. Lý do là thu nhập của một bộ phận người dân nơi đây đa phần từ nhận khoán bảo vệ rừng, trong khi đó chủ trương khoán bảo vệ rừng pháp luật tại Nghị định số 75/2015 / NĐ-CP của nhà nước có định mức khoán là 400.000 đồng / 1 ha / 1 năm, hạn mức khoán tối đa là 30 ha / hộ / năm. Với mức khoán này thu nhập trung bình của một hộ 4 người sẽ rơi vào khoảng chừng từ 250.000 – 500.000 đồng / người / tháng còn thấp hơn so với mức chuẩn nghèo thu nhập quá trình 2021 – 2025. Vì vậy, nhà nước cần chăm sóc khẩn trương thanh tra rà soát, kiểm soát và điều chỉnh chủ trương khoán bảo vệ rừng tại Nghị định số 75/2015 / NĐ-CP cho tương thích với tình hình thực tiễn, đồng thời sửa đổi, bổ trợ chủ trương cho thuê dịch vụ môi trường tự nhiên rừng theo hướng thông thoáng hơn, giúp người dân thuận tiện tiếp cận để tăng trưởng kinh tế tài chính dưới tán rừng tự nhiên, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ. Qua đó, để đồng bào yên tâm phấn đấu thoát nghèo và hoàn toàn có thể vươn lên làm giàu từ rừng .