Tiêng nói và chữ viết dân tộc Mường
I. Di sản văn hóa phi vật thể loại hình Tiếng nói chữ viết.
Tiếng nói, chữ viết, ngôn ngữ là công cụ tư duy và là phương tiện giao tiếp để thể hiện, lưu giữ, truyền bá tri thức về tự nhiên, xã hội, tư tưởng, tình cảm, thẩm mỹ của con người, phản ánh bản sắc của cá nhân và cộng đồng. Nó bao gồm các thể loại như ca dao tục ngữ, câu đố, truyện cổ tích, hát ru, truyền thuyết, sử thi, thơ, lời cầu cúng,… Theo cách chia của Việt Nam thì loại hình này của UNESCO được chia thành 2 loại hình khác gồm: Loại hình Tiếng nói, chữ viết và loại hình ngữ văn dân gian. Các loại hình này đóng vai trò quan trọng đảm bảo sức sống của di sản. Về bản chất, loại hình này không phải là di sản văn hóa phi vật thể mà nó là phương tiện truyền tải, thể hiện di sản văn hóa bằng hình thức truyền khẩu.
Ngôn ngữ có một vai trò rất quan trọng trong đời sống tộc người, nhất là trong việc giữ gìn và truyền tải các giá trị văn hóa. Các nhà dân tộc học và nhân học ở Việt Nam đã cho rằng ngôn ngữ là một trong 3 tiêu chí để xác dinh thành phần dân tộc. Tuy nhiên trong môi trường đa tộc người, ngôn ngữ tộc người chịu nhiều thách thức khi đặt trong tương quan với ngôn ngữ phổ thông và ngôn ngữ chủ thể của khu vực. Dưới tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và quan hệ dân tộc, việc giao lưu, tiếp xúc ngôn ngữ và sử dụng những ngôn ngữ có ưu thế trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội ngày càng trỏ nên phổ biến.
Ban đầu các dân tộc thiểu số duy trì tình trạng song ngữ, ra ngoài xã hội dùng ngôn ngữ dân tộc đa số hoặc đa số trong vùng làm ngôn ngữ giao tiếp. Ngôn ngữ mẹ đẻ chỉ sử dụng trong sinh hoạt gia đình. Quá trình phát triển kinh tế, giao lưu văn hóa giữa các dân tộc trong giai đoạn hiện nay đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến tiếng nói, chữ viết của các dân tộc. Bảo tồn di sản văn hóa dân tộc thiểu số thực chất là cần phải coi tiếng nói, chữ viết của mỗi dân tộc là di sản văn hóa cần được bảo tồn. Việc bảo tồn và phát huy tiếng nói, chữ viết các dân tộc thiểu số là cấp thiết để giữ gìn bản sắc văn hóa, thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Hiện nay đã có một số ngôn ngữ, chữ viết dân tộc thiểu số được sử dụng trên các phương tiện thông tin đại chúng từ trung ương tới các địa phương, như: Mường, Dao, H’Mông, E Đê… Công tác bảo tồn, phát huy tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số là một trong những chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước, được thực hiện nhất quán và đồng bộ từ trung ương đến địa phương. Chính nhờ thực hiện chủ trương đó mà trong nhiều năm qua, vốn tiếng nói và chữ viết của các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Phú Thọ được lưu giữ, bảo tồn và phát triển.
II. Di sản văn hóa phi vật thể loại hình Tiếng nói, chữ viết dân tộc Mường huyện Thanh Sơn.
Phú Thọ có hơn 20 dân tộc thiểu số, nhưng chỉ có 04 dân tộc thiểu số tụ cư sinh sống thành làng, bản tại 5 huyện: Đoan Hùng, Tân Sơn, Thanh Sơn, Thanh Thuỷ và Yên Lập; có bản sắc văn hoá, phong tục tập quán khá đậm nét và thực hành văn hóa truyền thống của dân tộc mình: Mường, Dao, Cao Lan và H’Mông. Bản sắc văn hóa nói chung, tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số nói riêng, góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng của nền văn hóa Việt Nam.
Hai dân tộc chiếm đa số là người Việt và người Mường có mối liên hệ rất mật thiết trong văn hoá truyền thống nói chung và ngôn ngữ nói riêng. Theo các nhà dân tộc học thì 2 dân tộc Việt – Mường có cùng một nguồn gốc tộc người từ thời cổ đại. Xa xưa, tộc người ấy gọi là Lạc Việt. Các cư dân từ phía Nam sông Dương Tử xuống gồm có nhiều tộc người hội với những tộc người bản địa gọi là Bách Việt. Các dân tộc ở Tây Bắc nước ta do Thục Phán đứng đầu gọi là Âu Việt. Liên minh của Bách Việt và Âu Việt gọi là nước Văn Lang mà đứng đầu là các vua Hùng, muôn dân trong nước đều được gọi là Lạc Việt.
Do hoàn cảnh tự nhiên, các điều kiện sản xuất kinh tế và văn hoá là những nguyên nhân cơ bản cho sự hình thành các chủng tộc, cũng đồng thời là các nguyên nhân chia tách các tiểu chủng thành các nhóm tộc người riêng nhưng vẫn có nguồn gốc chung, đặc biệt về ngôn ngữ vẫn có chung một ngữ hệ (Ngữ hệ được hiểu là một nhóm ngôn ngữ được xác định bởi các đặc điểm giống nhau về ngữ pháp, hệ thống từ vựng cơ bản, thanh điệu và ngữ âm). Phân tích ngôn ngữ của 2 dân tộc Việt – Mường, chúng ta thấy chúng có một mối liên hệ rất chặt chẽ bởi cùng nguồn gốc. Ngôn ngữ của người Việt (Kinh) và người Mường cùng thuộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mường. Trong ngôn ngữ bạch thoại của các làng Việt ngày nay, người ta vẫn thường thấy người Việt sử dụng ngôn ngữ Mường để chỉ một người, một sự vật, hiện tượng nhưng đã mang ý nghĩa rộng hơn. Còn người Mường sử dụng ngôn ngữ Việt để bổ sung những nghĩa thiếu, để gọi tên những sự vật hiện tượng mới mà ngôn ngữ Mường không có. Ví dụ: Con, cái, máy, cách mạng…
Dân tộc Mường không có chữ viết riêng. Sự trộn lẫn dân cư Việt và Mường cũng làm cho ngôn ngữ trở nên phong phú hơn, ngoài những tiếng vay mượn, còn xuất hiện hiện tượng ghép 2 ngôn ngữ tạo ra các từ có ý biểu cảm rõ hơn, nhấn mạnh hơn và dễ nhớ hơn trong tiếng Việt. Ví dụ:
Tiếng Việt Bạn đang đọc: Tiêng nói và chữ viết dân tộc Mường | Tiếng Mường | Từ ghép |
| Tre | Pheo | Tre pheo |
| Xanh | Lè | Xanh lè |
| Lấm | Lem | Lấm lem |
| Mùa | Màng | Mùa màng Xem thêm: Người Sán Chay – Wikipedia tiếng Việt |
Ngoài ra trong ngôn từ bạch thoại ở một số ít vùng còn sử dụng những ngôn từ Việt cổ, những thổ ngữ địa phương như đừng là thang, mà là hang …. Nổi bật nhất trong những nơi sử dụng ngôn từ bạch thoại có sự sự độc lạ rõ nét so với ngôn từ đại trà phổ thông đó là Tứ Xã – Lâm Thao. Nơi đây vừa có ngôn từ trộn lẫn Việt – Mường, vừa có cổ ngữ, thổ ngữ được sử dụng hàng ngày. Hiện tượng đó được nhà nghiên cứu và điều tra văn hóa truyền thống dân gian Phú Thọ Nguyễn Hữu Nhàn gọi là hiện tượng kỳ lạ ” hòn đảo ngôn từ ” .
Do ngôn từ Việt và Mường cùng một hệ, nghĩa là cùng phát sinh từ ngôn từ gốc nên về cơ bản, 2 ngôn từ này có chung một ký hiệu và quy tắc phối hợp giống nhau, chúng chỉ khác nhau về phát âm và từ vựng. Ví dụ :
Tiếng Việt | Tiếng Mường |
| Mũi | Mui |
| Tay | Thay |
| Ăn | Ằn |
| Áo | Ảo |
Cái rổ | Cái rô Xem thêm: Bách Việt – Wikipedia tiếng Việt |
Cái nhà | Cái nha |
Từ những cơ sở trên với những phương pháp so sánh ngôn ngữ lịch sử Việt và Mường giúp chúng ta khẳng định chắc chắn hơn về nguồn gốc chung từ một tộc người Lạc Việt của 2 dân tộc Việt – Mường.
Dân tộc Mường không có chữ viết riêng, điều này khiến cho văn hóa tộc người Mường dễ dàng bị tác động bởi ngôn ngữ của tộc người chủ thể – người Kinh sống bên cạnh. Không chỉ ở người Mường, khi nói đến mức độ biến đổi của ngôn ngữ tộc người, các nhà nghiên cứu đã khẳng định trong thực tế của Việt Nam, từ sau Cách mạng Tháng Tám đến nay, ngôn ngữ của các dân tộc phát triển và biến đổi theo nhiều chiều hướng khác nhau. Mặc dù Đảng và Nhà nước luôn có những chính sách khuyến khích phát triển và bảo tồn ngôn ngữ dân tộc nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau, ngôn ngữ dân tộc Mường cũng như một số ngôn ngữ của các dân tộc các dân tộc thiểu số ngày càng bị mai một, bị thay thế. Qua quá trình nghiên cứu thực tế tại một số nơi có người Mường sinh sống ở huyện Thanh Sơn nói riêng, tỉnh Phú Thọ nói chung cho thấy: Nhiều thanh, thiếu niên người Mường ở khu vực thị trấn không nói được tiếng dân tộc mình, thậm chí trong gia đình chủ yếu giao tiếp với nhau bằng tiếng phổ thông (tiếng Kinh). Hiện nay, phần lớn trong các gia đình người Mường, đặc biệt là những gia đình người Mường kết hôn với người Kình thì phần đa trong gia đỉnh chủ yếu sử dụng tiếng Kinh. Họ dạy cho trẻ nhỏ biết tiếng phổ thông sớm để khi đến trường chúng khỏi bỡ ngỡ. Đồng thời, ở trường học, các thầy cô chủ yếu dạy học và giao tiếp bằng tiếng Kinh. Có những gia đình có điều kiện, sống ở thành phố, họ còn cho con cái học tiếng Anh ngay từ nhỏ, vì thế nhiều đứa trẻ chỉ biết tiếng phổ thông và tiếng Anh, tiếng Mường chỉ biết đôi chút gọi là… Có thể thấy rằng, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, dễ dàng nhận thấy xu hướng quan trọng trong sử dụng ngôn ngữ ở môi trường gia đình và cộng đồng các tộc người là song ngữ (tiếng Kinh – tiếng Mường). Trong thực tế, khi sử dụng ngôn ngữ lại có 2 mức độ. Mức độ thấp là ngôn ngữ dân tộc, có vay mượn từ của người Kinh để diễn giải nhũng gì mà bản ngữ không thực hiện dược, mức độ cao hơn là sử đụng hẳn tiếng Kinh để trao đổi.. Lứa tuổi thanh niên chư¬a ý thức đầy đủ về giá trị bản sắc văn hóa dân tộc của mình nên dễ tiếp thu văn hóa bên ngoài không có sự chọn lọc, có biểu hiện xu hướng vọng ngoại, quay lưng lại với những sinh hoạt văn hóa dân tộc. Số người thiểu số từ 40 tuổi trở xuống biết nói, biết viết, biết đọc tiếng mẹ đẻ đang ngày càng giảm nhiều do nhiều thanh, thiếu niên không thích học tiếng dân tộc mình. Hiện trong cộng đồng vẫn còn những người Mường biết về tiếng nói, sử dụng tiếng nói dân tộc mình trong sinh hoạt văn hóa truyền thống. Bên cạnh đó, nhà nước đã có những chính sách cụ thể bảo tồn tiếng nói của người Mường trên các kênh truyền thông, tiếng nói được viết theo ký tự Latin. Vì vậy, tiếng Mường có khả năng phục hồi, nhưng có tồn tại lâu dài hay không phụ thuộc vào sự am hiểu và ý thức về bảo tồn văn hóa truyền thống của cộng đồng người Mường.
Chưa có những chính sách, biện pháp hữu hiệu trong việc dạy và học chữ, học tiếng đối với học sinh các dân tộc thiểu số, đây chính là vấn đề cực kỳ quan trọng, then chốt trong việc bảo tồn và phát triển văn hóa của mỗi dân tộc. Vì vậy, cần đặc biệt chú trọng những vấn đề sau:
Đưa thêm vào chương trình giáo dục phổ thông những kiến thức về văn hóa dân tộc Mường cũng như của đồng bào dân tộc thiểu số, khôi phục việc dạy chữ dân tộc. Tăng thêm thời lượng cho các chương trình giới thiệu vốn văn hóa và các buổi phát thanh tiếng dân tộc thiểu số của Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh.
Đưa văn hóa dân tộc thiểu số vào các hoạt động ngoại khóa tại các trường học trên địa bàn các xã vùng dân tộc thiểu số. Cùng với các chương trình dạy học nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc thiểu số, các cơ sở giáo dục phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên của các huyện có đồng bào dân tộc thiểu số chú trọng dạy tiếng dân tộc Mường.
Khuyến khích sử dụng ngôn ngữ của dân tộc Mường trong sinh hoạt và trong các hoạt động văn hóa, văn nghệ của địa phương, tuyên truyền vận động, tổ chức các cuộc thi, giao lưu văn hóa dân tộc thiểu số trong huyện, trong tỉnh. Có chính sách bảo tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số trên địa bàn thông qua các hình thức truyền dạy các bài hát, làn điệu dân ca, các trò chơi dân gian./.
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Nông Thôn






