H’Mông – Là gì Wiki
Template:Ethnic group
[[Tập tin:Longhorn Miao China.jpg|thumb|200 px|Khăn trùm đầu của người Miêu sống trong 12 làng gần huyện Chức Kim, tỉnh Quý Châu, Trung Quốc.]]
Người H’Mông (RPA: Hmoob/Moob; Template:IPA-hmn), là một nhóm dân tộc có địa bàn cư trú truyền thống là Trung Quốc và các nước lân cận thuộc tiểu vùng Đông Nam Á là Lào, Việt Nam, Thái Lan và Myanmar.
Người H’Mông nói tiếng H’Mông, một ngôn từ chính trong ngữ hệ H’Mông – Miền. Tiếng H’Mông vốn chưa có chữ viết, hiện dùng thông dụng là chữ Hmông Latin hóa ( RPA ) và một phần là chữ Pahawh Hmông, được lập từ năm 1953 [ 1 ] .Tại Nước Ta người H’Mông là một trong những dân tộc thiểu số có dân số đáng kể trong số 54 dân tộc tại Nước Ta [ 2 ]. Tên gọi dân tộc được ông Cư Hòa Vần nêu ra là ” Mông ” hoặc ” HMôngz ” [ 3 ] .
Tại Lào họ được gọi là người Mẹo hay Lào Sủng. Tại Thái Lan theo tiếng Thái là แม้ว Maew hay ม้ง H’Mông.
Bạn đang đọc: H’Mông – Là gì Wiki
Tại Trung Quốc, họ được gọi là Miêu (Chinese: 苗; pinyin: Miáo), và tên gọi này được dùng trong văn liệu quốc tế là Miao, như trong tiếng Anh Miao people. Người Miêu được chính phủ Trung Quốc công nhận là một trong 55 dân tộc thiểu số tại Trung Quốc. Người Miêu tạo thành nhóm dân tộc lớn thứ 5 tại Trung Quốc.
Người H’Mông được coi bao gồm các phân nhóm: H’Mông, Hmu, Hmao và Ghao Xong. Bên ngoài Trung Quốc thì chủ yếu thuộc phân nhóm H’Mông.
Nội Dung Chính
Danh pháp : Miêu và H’Mông
Thuật ngữ ” Miêu ” và ” H’Mông ” hiện thời đều được sử dụng để chỉ nhóm dân tộc thiểu số ở Trung Quốc. Họ sống đa phần ở miền nam Trung Quốc, trong những tỉnh Quý Châu, Hồ Nam, Vân Nam, Tứ Xuyên, Quảng Tây và Hồ Bắc. Theo tìm hiểu dân số năm 2000, số lượng người Miêu ở Trung Quốc khoảng chừng 9,6 triệu .
Ngoài phạm vi Trung Quốc họ còn sống ở Thái Lan, Lào (ở đó gọi là Lào Sủng), Việt Nam và Myanmar do di cư bắt đầu vào khoảng thế kỷ XVIII, cũng như tới Hoa Kỳ, Guyana thuộc Pháp, Pháp và Úc như là kết quả của các cuộc di cư gần đây sau khi kết thúc chiến tranh Việt Nam. Tất cả các nhóm này cộng lại xấp xỉ 8 triệu người nói tiếng H’Mông. Tại Việt Nam, có khoảng trên 1 triệu người H’Mông.
Tiếng H’Mông gồm có 3 phương ngữ, với 30-40 thổ ngữ hoàn toàn có thể hiểu lẫn nhau được, cùng với tiếng Bunu, thuộc về nhóm H’Mông trong ngữ hệ H’Mông – Miền ( hay hệ Miêu-Dao theo văn liệu Trung Quốc ) .Các nhà nghiên cứu phương Tây giải quyết và xử lý yếu tố thuật ngữ này không thống nhất. Những người tiên phong sử dụng tên gọi theo kiểu Trung Quốc trong một loạt những phiên âm : Miao, Meau, Meo, Mo, Miao-tse, Miao-tsze, Miao-tseu ( Miêu tộc ) v.v. Tuy nhiên, do ảnh hưởng tác động của người H’Mông ở Lào, những nhà nghiên cứu đương đại đồng ý thuật ngữ khác là ” H’Mông “. nhỏ | Người H’Mông Hoa trong quần áo truyền thống lịch sử tại chợ Bắc Hà, Nước TaBản thân người H’Mông thì sử dụng hàng loạt những tên tự gọi khác nhau. Tại Trung Quốc thường thì phân loại họ theo sắc tố hầu hết đặc trưng nhất của phụ nữ Miêu. Danh sách dưới đây liệt kê những tên tự gọi, tên gọi sắc tố và khu vực chính mà 4 nhóm chính của người Miêu sinh sống tại Trung Quốc :
Chỉ có nhóm thứ tư sử dụng thuật ngữ “H’Mông” (hay “Hmông”). Ngoài ra, chỉ có người Hmông (và một số Hmu) có người sinh sống ngoài phạm vi Trung Quốc. Những người Hmông phi Trung Quốc này cho rằng thuật ngữ “Hmông” không chỉ để nói tới nhóm thổ ngữ của họ, mà còn là để chỉ các nhóm khác sống tại Trung Quốc. Nói chung, họ cho rằng thuật ngữ “Miao” (hay “Miêu”) là một thuật ngữ xúc phạm và không nên sử dụng nó. Thay vì điều này thuật ngữ “Hmông” được sử dụng để chỉ mọi nhóm người thuộc dân tộc này. Tuy nhiên, điều này có thể là kết quả của sự nhầm lẫn biểu hiện và ý nghĩa của từ. Các nhà thám hiểm và xâm lược Trung Hoa đặt cho người Hmông tên gọi “Miao” (hay “Miêu”), sau đó trở thành “Meo” (Mèo) và “Man” (Mán). Thuật ngữ sau để chỉ những kẻ “man di, mọi rợ ở miền nam”. Từ “Miêu” cũng được sử dụng trong các ngôn ngữ khác của khu vực Đông Nam Á như tiếng Việt, Lào, Thái v.v. trong dạng “Meo” (tức là “Mèo”). Mặc dù rất nhiều người nói các thứ tiếng này (và cả người Trung Quốc) không nghi ngờ gì khi cho rằng “Miêu” là những kẻ man di[citation needed], nhưng điều này không có cách gì để chứng minh từ này có nghĩa như vậy. Có thể những người nói tiếng Việt, Lào, Thái đã lấy từ “miao” (miêu) từ tiếng Trung Hoa, nhưng đã bỏ mất ý nghĩa nguyên thủy của nó là “cây giống” và sử dụng nó chỉ để gọi những người mà họ cho là man rợ. Nó được phát âm với giọng sai trong tiếng Thái hay với giọng cao trong tiếng Hán Quảng Đông thì có ý nghĩa là “Mèo” (đây là khả năng của nguồn gốc tượng thanh). Trong cách dịch của người Việt các từ Hán-Việt thì “miêu” cũng là “mèo”. Điều này giải thích tại sao lại có sự phản đối quyết liệt như vậy chống lại thuật ngữ “miêu” trong các nhóm người H’Mông tại khu vực Đông Nam Á.
Tại Trung Quốc, tình hình lại khác hẳn vì hai nguyên nhân chính. Các nhóm người Miêu có các tên tự gọi khác hẳn và chỉ một số rất ít sử dụng từ “Hmông”. Những người còn lại thì không có ý kiến gì khi cho rằng “Hmông” là thích hợp hơn so với “Miêu” trong vai trò của tên gọi chung. Kể từ khi có phân loại chính thức các dân tộc thiểu số trong thập niên 1950 một số dân tộc thiểu số đã khiếu nại về từ ngữ được sử dụng ở Trung Quốc để gọi tên dân tộc họ và đã đề nghị chính quyền thay đổi cách sử dụng chính thức. Nhóm người Miêu ở Trung Quốc, theo bài báo năm 1992 trong Dự án bản tin Thái-Vân Nam [TYPN 1992], đã không có khiếu nại gì. Lý do thứ hai thuần túy là thực dụng: không có khả năng đưa từ “hmong” vào trong tiếng Trung do âm tiết của nó không tồn tại trong tiếng Trung. (Cũng giống như trong tiếng Anh là có rất ít người có khả năng phát âm các âm điếc giọng mũi). Tuy nhiên, trong tiếng Anh, không giống như tiếng Trung, người ta có khả năng viết được từ “Hmong”.
Người Hmông viết tên gọi của dân tộc mình theo chữ Hmông Latin hóa (RPA) là “Hmoob”. Cách viết hai nguyên âm chỉ ra rằng nó được phát âm giống như âm mũi, và một số phụ âm được sử dụng ở cuối của âm tiết để biểu thị giọng đọc. Vì thế từ America được viết giống như là Asmeslivkas trong RPA.
Thuật ngữ ” Hmông ” được ý kiến đề nghị như là tên gọi của những nhóm người Miêu nói thổ ngữ Hmông ở Trung Quốc và người H’Mông ngoài Trung Quốc. Việc sử dụng từ này thời nay đã được thiết lập vững chãi trong sách vở phương Tây. Nó dẫn đến nhiều người đã nhầm lẫn với thực trạng của những thuật ngữ hiện tại và không nhìn thấy mối tương quan giữa người Miêu và H’Mông .[ [ Tập tin : Hmong-Mien-en. svg | thumb | 300 px | Phân bố của ngữ hệ H’Mông – Miền ] ]
Ngôn ngữ
Tiếng H’Mông là một ngôn ngữ nằm trong ngữ hệ H’Mông-Miền (hay Miêu-Dao). Trên thực tế vấn đề phân loại theo quan hệ họ hàng của ngôn ngữ này đã từng có nhiều ý kiến khá khác nhau. Một số nhà ngôn ngữ học xếp tiếng H’Mông thuộc nhánh Miêu-Dao trong ngữ hệ Hán-Tạng[citation needed], trong đó phải kể đến các nhà khoa học Trung Quốc. Trong những ý kiến đáng chú ý ta còn phải kể đến Paul K. Benedict với quan điểm quy các ngôn ngữ trong khu vực thành 2 hệ cơ bản: Hán-Tạng và Nam Thái (Austro-Thai). Trong đó vị trí các ngôn ngữ H’Mông-Miền được định vị trong hệ Nam Thái.
Còn André G. Haudricourt[citation needed] từng bước đem so sánh cả hệ thống thanh điệu và cả lớp từ vựng cơ bản giữa các ngôn ngữ H’Mông-Miền với các ngôn ngữ của ngữ hệ Hán-Tạng và hệ Nam Á. Ông đã cho rằng “các ngôn ngữ Miao-Yao hình như tạo nên mối liên hệ giữa các ngôn ngữ Nam Á và các ngôn ngữ Tạng-Miến”. Đây cũng chính là cơ sở để một hướng các nhà ngôn ngữ sau này không xếp các ngôn ngữ H’Mông-Miền vào Nam Á hay Hán-Tạng mà là một họ ngôn ngữ độc lập vì những kiến giải của Haudricourt “không thuần tuý là sự so sánh từ vựng mà là sự phục nguyên, một thao tác thể hiện tính quy luật của những chuyển đổi âm thanh”. Kế thừa những nghiên cứu đi trước, Martha Ratliff đã đưa ra một bảng phân loại các ngôn ngữ H’Mông-Miền khá chi tiết trong đó tác giả đã định vị ngành H’Mông trắng (Mông Đơư) như sau:
- Ngữ hệ (language family): H’Mông-Miền (Hmong-Mien)
- Nhóm ngôn ngữ: H’Mông (Hmongic)
- Nhánh: thuộc các phương ngôn Tứ Xuyên – Quý Châu – Vân Nam, còn gọi là nhánh H’Mông phía Tây (West Hmongic branch)
- Tiểu nhánh: Tứ Xuyên – Quý Châu – Vân Nam
- Phương ngữ: H’Mông trắng (White Hmong)
Trong cuốn từ điển Bách khoa thư ngôn ngữ đã phân các ngôn ngữ H’Mông-Miền thành hai nhánh chính:
- H’Mông – gồm có: Dananshan Hmong, Hmong Đông, Hmong Bắc, Hmong Tây, Hmong Daw, Hmong Njua, Miao Đỏ, Pa Heng, Punu
- Miền (hay Dao) – gồm có: Ba Pai, Mien, Biao Mien, Iu mien, Mun, She
Tại đây H’Mông Leng ( H’Mông Lềnh ) được xác lập như một tên gọi khác của ngành H’Mông Njua ( H’Mông Xanh ) nằm trong nhánh H’Mông .
Chữ H’Mông
Template : Chính Hiện chưa xác lập rõ liệu một mạng lưới hệ thống chữ viết H’Mông trong lịch sử vẻ vang hay không. Theo thần thoại cổ xưa thì người H’Mông từng có chữ gọi là ” chữ Nam Man “, do người Hán gọi người H’Mông là người Nam Man. Trong đại chiến với người Hán, người H’Mông thua trận phải chạy về phía nam, dẫn đến sách và chữ đã bị thất lạc. [ 4 ]Vì thế đến thế kỷ 20 tiếng H’Mông được coi là chưa có chữ viết. Những nỗ lực lập ra bộ chữ để ghi tiếng H’Mông Open vào giữa thế kỷ XX .
Chữ Hmông Latin hóa
Tại Lào, nỗ lực lập ra bộ chữ Hmông Latin hóa RPA (viết tắt theo tiếng Anh: Romanized Popular Alphabet) được nhà truyền giáo Tin Lành G. Linwood Barney ở tỉnh Xiengkhuang bắt đầu vào năm 1951 [1]. Ông lập dựa trên thổ ngữ Hmông Lềnh (Mong Leng), với các cố vấn người H’Mông là Geu Yang và Tua Xiong. Ông tham khảo ý kiến với William A. Smalley [5], một nhà truyền giáo đã học tiếng Khmu tại tỉnh Luang Prabang vào thời điểm đó. Cùng lúc đó Yves Bertrais, một nhà truyền giáo Công giáo La Mã ở Kiu Katiam, Luang Prabang, đã tiến hành một dự án tương tự với Chong Yeng Yang và Chue Her Thao. Hai nhóm làm việc đã gặp nhau trong năm 1952 và hóa giải mọi sự khác biệt. Năm 1953 cho ra phiên bản RPA thống nhất.
Hiện nay chữ Hmông Latin hóa đã trở thành mạng lưới hệ thống phổ cập nhất để viết tiếng Hmông ở phương Tây, cũng như được sử dụng trong khu vực Khu vực Đông Nam Á và Trung Quốc, cùng với những mạng lưới hệ thống văn bản khác [ 1 ] .
[[Tập tin:Pahawh Hmong Unicode.PNG|thumb|180px|Chữ Pahawh Hmông trong bảng Unicode]]
Chữ Pahawh Hmông
[ [ Tập tin : Pahawh Hmong Unicode. PNG | thumb | 180 px | ] ]Năm 1959 thủ lĩnh niềm tin người H’Mông tại Lào là Yang Shong Lue ( RPA : Yaj Soob Lwj ; 1929 – 1971 ) lập ra bộ chữ Pahawh Hmông với hệ ký tự riêng ( không phải Latin ). Bộ chữ dựa nhiều vào thổ ngữ ngành H’Mông Đơư ( Hmông trắng ; Hmong Daw ; RPA : Hmoob Dawb ) và H’Mông Lềnh ( Hmông Xanh ; Hmong Leng ; RPA : Hmoob Leeg ). Bộ chữ Pahawh hiện có mã unicode là U + 16B00 – U + 16B8 F [ 6 ] .
Chữ Hmông tại Nước Ta
Tại Nước Ta năm 1961 giải pháp chữ H’Mông theo ký tự Latin đã được chính phủ nước nhà Nước Ta phê chuẩn. Bộ chữ được thiết kế xây dựng theo ngữ âm ngành H’Mông Lềnh Sa Pa – Tỉnh Lào Cai, có bổ trợ thêm 1 số ít âm vị của những ngành H’Mông khác, gồm 59 phụ âm, trong đó có 3 âm vị phụ âm của ngành H’Mông Đơư ( Mông Trắng, Hmong Daw ) và H’Mông Sua, 28 vần và 8 thanh .
Vào thập niên 1970, phong trào học chữ H’Mông phát triển khá mạnh ở hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam, nơi có nhiều người H’Mông sinh sống[citation needed]. Nhưng đến nay với nhiều nguyên nhân khác nhau mà tình hình học chữ H’Mông đã không còn phát triển như trước kia nữa.
Từ thập niên 2010 nhu cầu học chữ H’Mông tại Việt Nam xuất hiện trở lại, gồm có cả yêu cầu của người dân về bảo tồn văn hóa H’Mông phát biểu ra khi tiếp xúc cử tri, các hoạt động giảng dạy chữ H’Mông ở Đại học Thái Nguyên [7][8], hay dạy chữ H’Mông ở giáo phận Hưng Hóa [9]. Tuy nhiên chưa rõ bảng ký tự sử dụng.
Lịch sử
Lịch sử sơ kỳ của người H’Mông có thể lần theo dấu vết của các câu truyện truyền khẩu và các lễ nghi an táng của họ, và có lịch sử có lẽ từ cuối thời kỳ băng hà[citation needed].
Trong truyện truyền khẩu, truyền thuyết thần thoại của người H’Mông nói rằng họ đã đến từ những vùng đất cực kỳ lạnh lẽo, ở nơi đó bóng tối lê dài 6 tháng và ánh sáng cũng lê dài 6 tháng. Từ nơi này, họ đã đến Trung Quốc theo những chuyến đi săn. Một người thợ săn và con chó của ông đã theo đuổi con mồi trong một số ít ngày trong tuyết. Người thợ săn hết lương thực và phải quay về để sẵn sàng chuẩn bị liên tục đi săn mà không có con chó của mình. Khi người thợ săn mở màn lên đường trở lại thì con chó đã ở phía sau sống lưng ông. Người thợ săn hôn hít con chó của mình và phát hiện thấy có những hạt cây lạ dính trên lông của nó. Lúc đó, tuy người H’Mông cho rằng toàn thể quốc tế đã được thám hiểm hết, nhưng những hạt lạ đã dẫn dắt họ tới Trung Quốc .Nơi thứ hai trong đó miêu tả người H’Mông từ nơi nào đến diễn ra trong nghi thức an táng ” chỉ đường ” của họ. Trong nghi thức này, người đã chết được hướng dẫn cho về với tổ tiên. Người ta tin rằng người đã chết rời bỏ quốc tế này để trở về với cội nguồn của họ, là một nơi cực kỳ lạnh lẽo. Thời kỳ băng hà ở đầu cuối đã kết thúc cách đây khoảng chừng 10.000 năm và nó xảy ra cùng thời gian với sự sinh ra của người văn minh. Các điều kiện kèm theo được miêu tả trong truyện truyền khẩu và nghi thức an táng của người H’Mông chắc như đinh nói đến một quốc tế chỉ có toàn tuyết và băng giá, là những thứ thấy được cho đến khi kết thúc thời kỳ băng hà gần đây nhất .
Tiếp xúc với người Hán
Tại Trung Quốc, vương quốc Miêu đầu tiên được ghi chép có tên gọi là Cửu Lê và những người cai trị nó có tước hiệu là Chiyou (Xi Vưu trong tiếng Hoa) hay Txiv Yawg (trong tiếng H’Mông)[citation needed]. “Trí Zờ” có nghĩa là “ông-cha”, và là tước hiệu tương đương nhưng không ít quyền lực hơn hoàng đế. Các tổ tiên “Xi Vưu” được coi là dân tộc Liangzhu. Cửu Lê được cho là có quyền lực đối với 9 bộ tộc và 81 thị tộc.
Lịch sử theo thần thoại cổ xưa Trung Quốc
Theo thần thoại cổ xưa Trung Quốc, bộ tộc của Xi Vưu đã bị vượt mặt ở Trác Lộc ( 涿鹿, một địa điểm cổ trên ranh giới tỉnh Hà Bắc và Liêu Ninh thời nay ) bởi liên minh quân sự của Hoàng Đế và Viêm Đế, những thủ lĩnh của bộ tộc Hoa Hạ ( 華夏 ) khi họ tranh giành quyền làm chủ lưu vực sông Hoàng Hà. La bàn được cho là nguyên do quyết định hành động trong thắng lợi của người Hoa Hạ. Trận đánh này, được cho là diễn ra vào thế kỷ XXVI TCN, đã diễn ra dưới điều kiện kèm theo thời tiết mù sương và người Hoa Hạ đã hoàn toàn có thể thắng lợi tổ tiên của người H’Mông là nhờ có la bàn .
Sau thất bại, bộ tộc ban đầu của người H’Mông được chia ra thành hai nhóm bộ tộc nhỏ, là Miêu và Lê (黎). Người Miêu tiếp tục di chuyển về phía tây nam còn người Lê về phía đông nam giống như bộ tộc Hoa Hạ (ngày nay là người Hán) mở rộng xuống phía nam. Trong suốt chiều dài lịch sử Trung Hoa, họ được nói đến như những kẻ “man di” do sự chênh lệch ngày càng tăng trong văn hóa và kỹ thuật so với người Hán. Một bộ phận các bộ tộc này đã bị đồng hóa thành người Hán trong thời kỳ nhà Chu (1122 TCN-256 TCN).
Có một phiên bản khác của thời kỳ hậu-Cửu Lê, người dân của Cửu Lê chia thành 3 nhóm đi theo 3 hướng khác nhau. Người ta nói rằng Xi Vưu có ba con trai, và sau khi Cửu Lê thất thủ thì con trai cả của ông dẫn một số người về phía nam, con trai thứ dẫn một số người về phía bắc còn người con trai út ở lại Trác Lộc và đã bị đồng hóa theo văn hóa Hoa Hạ. Những người đi về phía nam thành lập ra nhà nước San-Miêu. Có lẽ vì sự phân chia thành nhiều nhóm nhỏ nên rất nhiều dân tộc ở Viễn Đông coi Xi Vưu là tổ tiên của mình, và vì thế nhiều câu hỏi được đặt ra về bộ tộc thực sự của Xi Vưu cũng giống như của người Miêu hay các dân tộc khác. Ví dụ, người Triều Tiên cũng cho Xi Vưu là tổ tiên của mình[citation needed]. Ngoài ra, theo chính sách hợp nhất các bộ tộc hiện nay của Trung Quốc, Xi Vưu được nhắc đến như là một trong những tổ tiên của người Trung Hoa cùng với các tổ tiên của người Hán là Hoàng Đế và Viêm Đế[citation needed].
Ghi chú
Có tài liệu[citation needed] cho rằng không phải là Viêm Đế (Thần Nông) mà là Đế Du Võng (cháu 6 đời của Viêm Đế mới lập liên minh với Hiên Viên (sau này là Hoàng Đế) để chống lại Xi Vưu). Cụ thể như sau:
Viêm Đế (Thần Nông)->??->Đế Minh->Đế Nghi->Đế Lai->Đế Du Võng, như vậy theo Lĩnh Nam chích quái thì Đế Du Võng là cháu gọi Lạc Long Quân là chú do Đế Minh còn sinh ra Lộc Tục và Lộc Tục sinh ra Lạc Long Quân.
Các thời kỳ nhà Tần / Hán
Thuật ngữ “Miêu” lần đầu tiên được sử dụng bởi người Hoa vào thời kỳ tiền Tần, tức là trước năm 221 TCN, để chỉ các nhóm bộ tộc không phải là người Hoa ở phương nam[citation needed]. Nó thông thường được sử dụng trong các tổ hợp như “nanmiao”, “miaomin”, “youmiao” và “sanmiao” (三苗 Sānmiáo). Vào thời kỳ đó, những bộ tộc này sống ở phía nam sông Trường Giang, nhưng sau đó đã bị người Hoa đẩy lui xa hơn nữa về phía nam. Do phần lớn lãnh thổ của sáu triều vua (Đông Ngô, Đông Tấn, tiền Tống, Tề, Lương, Trần) nằm ở phía nam sông này, việc khuất phục người Miêu đã là mối quan tâm chính để đảm bảo sự ổn định của các triều đại này. Với sự cướp bóc của Ngũ Hồ ở các khu vực phía bắc con sông này, nhiều người Hán đã di cư xuống phía nam càng tăng cường thêm việc đồng hóa người Miêu thành người Hán.
Thời nhà Đường
Vào thời kỳ nhà Đường, người Miêu đã không còn là bộ tộc người chính không phải gốc Hán, ngoại trừ tại khu vực tỉnh Vân Nam ngày nay, ở đó 6 chiếu (詔 có nghĩa là “vương quốc”) của người Miêu. Một số học giả[citation needed] cho rằng 6 chiếu là các nhóm người Di (Yi) hay người Bạch (Bai). Vương quốc nằm phía nam nhất là Mông Xá Chiếu (蒙舍詔) hay Nam Chiếu thống nhất cả sáu chiếu để thành lập quốc gia độc lập vào đầu thế kỷ VIII với sự hỗ trợ từ phía nhà Đường. Tước hiệu của người đứng đầu nhà nước này là Nam Chiếu Vương (南詔王), có nghĩa là Vua của Nam Chiếu. Lo ngại về sự đe dọa ngày càng tăng từ phía Thổ Phồn (ngày nay là Tây Tạng) đã thúc đẩy triều đình Trung Quốc thiết lập một quan hệ hữu nghị với cả hai nước này. Nhà Đường cũng triển khai một khu vực quân sự, là Kiến Nam tiết sứ (劍南節度 Jiànnán Jiédǔ) nằm ở khu vực ngày nay là phía nam tỉnh Tứ Xuyên và giáp biên giới với Nam Chiếu.
Template:Chính
thumb|250px|Cuộc di cư lịch sử của người Hmong.
Trong khoảng vài chục năm hòa bình đầu tiên ở thế kỷ VIII, Nam Chiếu thường xuyên cống nộp thông qua người đứng đầu quân sự trong khu vực quân sự này, Kiến Nam tiết độ sứ (劍南節度使 Jiànnán Jiédǔshǐ), tới triều đình của người Hán. Khi nhà Đường suy yếu trong thời gian giữa thế kỷ VIII, khu này đã có nhiều quyền tự do hơn. Họ đã yêu cầu các bộ tộc sống ở Nam Chiếu phát triển lực lượng quân sự để chống lại nhà Đường. Những người cai trị Nam Chiếu là những người nói tiếng trong nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến, nhưng dân chúng thì có thể có cả tổ tiên của dân tộc Hmông ngày nay[citation needed]. Các thủ lĩnh quân sự Trung Hoa có những sự hăm dọa và yêu sách quá đáng. Một ví dụ là sự từ chối yêu cầu cho ngủ một đêm với hoàng hậu, vợ duy nhất của vua Nam Chiếu[citation needed]. Tất cả những yêu sách quá đáng đó cũng như đồ cống nộp nặng nề đã làm nổ ra cuộc nổi loạn của người Nam Chiếu trong niên biểu Thiên Bảo (742-756) của Đường Huyền Tông (hay Đường Minh Hoàng). Trước khi hành quân chống lại thủ lĩnh khu quân sự, vua Nam Chiếu đã cho khắc lý do của việc nổi dậy vào đá. Bia đá này ngày nay vẫn còn và có thể nhìn thấy (khu vực?)[citation needed]. Nhà Đường lẽ ra có thể dễ dàng đánh bại quân Nam Chiếu nhưng sự tranh giành quyền lực trong các chỉ huy quân sự của khu này đã giúp cho quân Nam Chiếu tiến sâu vào lãnh thổ nhà Đường, gần như đã tới Thành Đô, thủ phủ của khu Kiến Nam. Việc bổ nhiệm các chức vụ cầm quyền bất tài cũng là một yếu tố. Nổi tiếng nhất là trường hợp của Dương Quốc Trung, anh trai của Dương Quý Phi (thiếp yêu của vua Đường). Mặc dù cuối cùng thì cuộc nổi loạn đã bị dẹp tan, nhưng nhà Đường cũng đã hoang phí những nguồn lực quý báu lẽ ra có thể sử dụng để bảo vệ biên giới phía bắc, điều đã dẫn tới cuộc nổi loạn của An Lộc Sơn gây ra nhiều thảm họa hơn.
Trong những năm sau đó, Nam Chiếu luôn có lợi thế trong quan hệ với nhà Đường và Thổ Phồn do cả hai nước này đều muốn liên minh với họ để cô lập quân địch của mình. Nam Chiếu đã tận dụng được thời cơ này và nhanh gọn tăng trưởng thành một thế lực ở khu vực đông nam châu Á. Trong thời kỳ đỉnh điểm của nó, những phần phía bắc của Nước Ta, Lào, xứ sở của những nụ cười thân thiện và Miến Điện, Quảng Tây và phần phía đông của Quảng Đông, tây-nam của Tứ Xuyên, Quý Châu và hàng loạt tỉnh Vân Nam ngày này đều nằm dưới sự trấn áp của họ. Thủ Đô và Đại La ( TP. Hà Nội ngày này ) đều bị cướp phá hai lần .
Nam Chiếu dưới ảnh hưởng của nhà Đường trong các thế kỷ VIII-IX đã dần dần chấp nhận văn hóa Trung Hoa cũng như trong thời gian đó đã xuất hiện mâu thuẫn nội bộ giữa các thị tộc đối địch. Cuối cùng họ Đoàn (段 duan4) đã thắng và thành lập Vương quốc Đại Lý. Trong thời nhà Đường và nhà Tống (960-1279) thuật ngữ “nam man” (南蠻 Nánmán, có nghĩa là “những kẻ man di phương nam không phải người Hán”) đã được sử dụng. Tuy nhiên, tên gọi “miêu” vẫn được dùng để miêu tả một số dân tộc ở phương nam trong các sách của Phàn Xước (Fan Chuo) về các bộ tộc miền nam là Manshu (tức Man thư – viết năm 862).
[ [ Tập tin : Raising an army.jpg | thumb | 300 px | Quân Thanh chiến đấu với quân nổi dậy người Miêu tại Hồ Nam năm 1795. ] ]
Trong thời nhà Minh và nhà Thanh (1368-1911) “miao” và “man” (mán) đã được sử dụng đồng thời, từ thứ hai có lẽ là để gọi dân tộc Dao (傜 Yáo). Nhà Nguyên, Minh và Thanh chưa bao giờ đồng hóa hay kiểm soát chặt chẽ được các bộ tộc thiểu số[citation needed]. Kết quả là chính sách “dùng người man quản lý người man” (yiyi zhiyi) đã được thực thi. Ngoài ra, bức tường bản sao của Vạn Lý Trường Thành ở miền nam đã được dựng lên để bảo vệ và phân chia người Hán với những kẻ “man rợ miền nam”[citation needed]. Về mặt chính trị và quân sự thì người Miêu vẫn tiếp tục là viên sỏi trong chiếc giày của đế chế Trung Hoa. Người Miêu đã có nhiều trận chiến chống lại người Hán. Người Hán đã sử dụng các biện pháp chính trị để lừa gạt người Miêu, họ tạo ra nhiều chức vụ với quyền lực thực sự cho người Miêu để lôi cuốn và đồng hóa người Miêu vào hệ thống chính quyền Trung Hoa. Trong thời nhà Minh và Thanh, các chức vụ chính thức như Kaitong (cai tổng) đã được tạo ra tại khu vực Đông Dương. Người Hmông có thể tham gia vào các chức vụ này cho đến những năm thập niên 1900, khi họ phải tham dự vào hệ thống chính trị thuộc địa của Pháp tại Đông Dương.
Dân số và địa phận cư trú
Người H’Mông sống chủ yếu ở Trung Quốc. Ngoài ra còn có khoảng 2.000.000 người H’Mông sống ở các nước khác[citation needed] như Việt Nam, Lào, Myanma cũng như các quốc gia khác. Có khoảng 124.000 người sống ở Thái Lan, ở đây họ là một trong số 6 dân tộc chính sinh sống trên núi.
Sau năm 1975 cộng đồng người H’Mông di cư sang sinh sống ở các nước như Mỹ, Pháp, Úc con số lên tới hàng 100.000 người (chủ yếu di cư từ Lào).
Xem thêm: Bình Phước: Sau 13 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Người Miêu ở Trung Quốc
- Lưu ý: Khu vực người Miêu ở tỉnh Tứ Xuyên đã trở thành một phần của thành phố trực thuộc trung ương Trùng Khánh mới thành lập năm 1997.
Trung Quốc có số lượng người Miêu phần đông hơn cả với hơn 7 triệu người ( số liệu thống kê 1990 ) phân bổ ở những tỉnh Quý Châu, Hồ Nam, Vân Nam, Tứ Xuyên, Quảng Tây, Hải Nam và Hồ Bắc. Trong 56 dân tộc ở Trung Quốc, dân tộc H’Mông ( Miêu ) chỉ đứng sau những dân tộc Hán, Choang, Mãn, Hồi .
Số liệu về người Miêu ở Trung Quốc như sau[citation needed]:
3.600.000 người Miêu, khoảng chừng 50% số người Miêu Trung Quốc sống tại Quý Châu vào năm 1990. Người Miêu Quý Châu và những người sống ở sáu tỉnh sau chiếm trên 98 % người Miêu Trung Quốc :
Trong những tỉnh trên, có 6 khu tự trị của người Miêu ( san sẻ một cách chính thức cùng với những dân tộc thiểu số khác ) :
- Khu tự trị Kiềm Đông Nam người Miêu và Đồng (黔东南 Qiándōngnán), Quý Châu
- Khu tự trị Kiềm Nam người Bố Y và Miêu (黔南 Qiánnán), Quý Châu
- Khu tự trị Kiềm Tây Nam người Bố Y và Miêu (黔西南 Qiánxīnán), Quý Châu
- Khu tự trị Tương Tây người Thổ Gia và Miêu (湘西 Xiāngxī), Hồ Nam
- Khu tự trị Văn Sơn người Choang và Miêu (文山 Wénshān), Vân Nam
- Khu tự trị Ân Thi người Thổ Gia và Miêu, Hồ Bắc
Ngoài ra còn có thêm 23 huyện tự trị của người Miêu :
- Hồ Nam: Ma Dương (麻阳 Máyáng), Tĩnh Châu (靖州 Jīngzhōu) và Thành Bộ (城步 Chéngbù)
- Quý Châu: Tùng Đào (松桃 Sōngtáo), Ấn Giang (印江 Yìnjiāng), Vụ Xuyên (务川 Wùchuān), Đạo Chân (道真 Dǎozhēn), Trấn Ninh (镇宁 Zhènníng), Tử Vân (紫云 Zǐyún), Quan Lĩnh (关岭 Guānlíng) và Uy Ninh (威宁 Wēiníng)
- Vân Nam: Bình Biên (屏边 Píngbiān), Kim Bình (金平 Jīnpíng) và Lộc Khuyến (禄劝 Lùquàn)
- Tứ Xuyên: Tú Sơn (秀山 Xiùshān), Dậu Dương (酉阳 Yǒuyáng), Kiềm Giang (黔江 Qiánjiāng) và Bành Thủy (彭水 Péngshuǐ)
- Quảng Tây: Dung Thủy (融水 Róngshuǐ), Long Thắng (龙胜 Lóngshēng) và Long Lâm (隆林 Lōnglín)
- Hải Nam: Quỳnh Trung (琼中 Qióngzhōng) và Bảo Đình (保亭 Bǎotíng)
Phần lớn người Miêu sinh sống trên những dãy núi hay ngọn đồi, ví dụ điển hình
- Núi Vũ Lăng (武陵 Wǔlíng) cạnh sông Tương Kiềm (湘黔川边的武陵山 Xiāngqián Chuān Biān Dí Wǔlíng Shān)
- Núi Miêu (苗岭 Miáo Líng), Kiềm Đông Nam
- Núi Nguyệt Lượng (月亮山 Yuèliàng Shān), Kiềm Đông Nam
- Đại Tiểu Ma Sơn (大小麻山 Dà Xiǎo Má Shān), Kiềm Nam
- Đại Miêu Sơn (大苗山 Dà Miáo Shān), Quảng Tây
- Núi Ô Mông cạnh sông Điền Kiềm (滇黔川边的乌蒙山 Tiánqián Chuān Biān Dí Wūmēng Shān)
Vài nghìn người Miêu đã rời bỏ quê nhà để chuyển sang sinh sống ở những thành phố lớn như Quảng Châu Trung Quốc hay Bắc Kinh .
Người H’Mông ở Lào
Trong năm 1960, nhiều người Hmông tại Lào được Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ ( CIA ) tuyển dụng như thể một phần của kế hoạch để chiến đấu và bảo vệ Lào chống lại Quân đội Bắc Việt [ 10 ] có số lượng đông và kỷ luật ngặt nghèo hơn so với những người cộng sản của trào lưu Pathet Lào tại nước này [ 11 ]. Trên trong thực tiễn, quân đội Hoàng gia Lào và quân của Pathet Lào chỉ tham gia có số lượng giới hạn trong những cuộc giao tranh. Phần lớn những đại chiến diễn ra giữa người Hmông có sự hậu thuẫn của CIA với Quân đội Bắc Việt. Một đội quân tương tự về số lượng người Hmông cũng đã được Pathet Lào tuyển dụng để chống lại chính quyền sở tại hoàng gia Lào và CIA. [ 12 ]
Tướng Vàng Pao là một thủ lĩnh người Hmông được CIA nâng đỡ để chỉ huy Quân khu II ở miền bắc (MR2) chống lại sự xâm nhập của Quân đội Bắc Việt. Chỉ huy sở của Vàng Pao nằm ở Long Chẹng, còn được biết trong tiếng Anh như là Lima Site 20 Alternate (LS 20A). Do các hoạt động quân sự tích cực ở đây, Long Chẹng đã trở thành thành phố lớn thứ hai tại Lào, với dân số lên tới 40.000 người[12] (trong đó có 20.000 người Hmông ?). Long Chẹng khi đó có thể coi như là một tiểu quốc gia do nó có hệ thống ngân hàng, sân bay, trường học, quân đội, viên chức riêng cũng như nhiều cơ sở hạ tầng và dịch vụ khác nữa. Trước khi kết thúc cuộc chiến bí mật, Long Chẹng nằm trong tầm kiểm soát của Vàng Pao.
nhỏ|Trong những năm 1990, rất nhiều người H’Mông hoa đã chuyển từ quần áo truyền thống sặc sỡ sang quần áo kiểu Âu hóa
Cuộc chiến bí mật đã diễn ra trùng với thời gian mà Mỹ chính thức tham gia vào chiến tranh Việt Nam. Cuối cùng khi Mỹ rút khỏi Việt Nam thì tướng Vàng Pao cũng di tản sang Thái Lan. Nhiều người đã hỗ trợ Mỹ trong cuộc chiến bí mật đã cảm thấy không an toàn trong môi trường mới[12].. Khoảng 300.000 người Hmông đã chạy sang Thái Lan, tạo ra các trại tị nạn. Đối với những người Hmông còn ở lại thì các cuộc chiến dữ dội vẫn còn tiếp diễn dưới sự chỉ huy của nhóm Chao Fa[lower-alpha 1]. Nhóm này có tham vọng lớn, bao gồm cả việc thiết lập một quốc gia có chủ quyền cho người Hmông. Tuy nhiên, do không có sự hỗ trợ về tài chính và quân đội, Chao Fa đã phải từ bỏ tham vọng của mình.
Trong những năm 1990, Liên Hiệp Quốc, với sự hỗ trợ từ phía chính quyền Clinton, bắt đầu công việc đưa người Hmông tị nạn trở lại Lào một cách bắt buộc. Quyết định này gây ra nhiều tranh cãi, do nhiều người Hmông nói rằng họ đã bị ngược đãi bởi chính quyền Lào khi họ trở về[citation needed]. Tuy nhiên, điều này cần kiểm chứng lại.
Việc đưa người Hmông tị nạn trở lại Lào đã bị chống đối ác liệt từ phía những người Mỹ bảo thủ và những người hoạt động nhân quyền. Năm 1995, tạp chí National Review có bài báo, ví dụ của Michael Johns cho rằng quyết định này là một sự “phản bội”[1].
Áp lực lên chính quyền sở tại Clinton đã làm biến hóa chủ trương hồi hương của họ, là một thắng lợi chính trị đáng kể của người Hmông, phần đông người Hmông tị nạn ở đầu cuối đã được định cư ở những nước khác, nhiều người trong số họ đã đến Mỹ. Cuộc định cư lớn sau cuối khoảng chừng 15.000 người Hmông từ trại Wat Tham Krabok diễn ra năm 2004 .
Một số người theo học thuyết sáng tạo tin rằng người Miautso (Hmông) là hậu duệ của các giáo trưởng trong kinh thánh, vì tên gọi của các vị vua của người Miautso theo dòng dõi nghe tương tự như tên của các vị chúa trong kinh thánh, và cũng theo đúng trật tự đó. Ví dụ: Se-teh = Seth, Lama = Lamech, Nuah = Noah, v.v.[citation needed]
Người H’Mông ở Nước Ta
nhỏ | phải | 200 px | Phụ nữ H’Mông ở Tả Phìn phải | nhỏ | 200 px | Người H’Mông
Trẻ em tộc người H’MôngNằm trong một vương quốc đa dân tộc, dân tộc H’Mông được coi là một thành viên quan trọng trong hội đồng những dân tộc ở Nước Ta [ 2 ]. Dân tộc H’Mông cư trú thường ở độ cao từ 800 đến 1500 m so với mực nước biển gồm hầu hết những tỉnh miền núi phía Bắc trong một địa phận khá to lớn, dọc theo biên giới Việt – Trung và Việt – Lào từ Lạng Sơn đến Nghệ An, trong đó tập trung chuyên sâu đa phần ở những tỉnh thuộc Đông và Tây bắc Nước Ta như : Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La … Do tập quán du mục nên 1 số ít người H’Mông trong những năm 1980, 1990 đã di dân vào tận Tây Nguyên, sống rải rác ở một số ít nơi thuộc Gia Lai và Kon Tum .Theo Tổng tìm hiểu dân số và nhà ở năm 2009, người H’Mông ở Nước Ta có dân số 1.068.189 người, đứng hàng thứ 6 trong bảng list những dân tộc ở Nước Ta, cư trú tại 62 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người H’Mông cư trú tập trung chuyên sâu tại những tỉnh : Hà Giang ( 231.464 người, chiếm 31,9 % dân số toàn tỉnh và 21,7 % tổng số người H’Mông tại Nước Ta ), Điện Biên ( 170.648 người, chiếm 34,8 % dân số toàn tỉnh và 16,0 % tổng số người H’Mông tại Nước Ta ), Sơn La ( 157.253 người, chiếm 14,6 % dân số toàn tỉnh và 14,7 % tổng số người H’Mông tại Nước Ta ), Lào Cai ( 146.147 người, chiếm 23,8 % dân số toàn tỉnh và 13,7 % tổng số người H’Mông tại Nước Ta ), Lai Châu ( 83.324 người ), Yên Bái ( 81.921 người ), Cao Bằng ( 51.373 người ), Nghệ An ( 28.992 người ), Đăk Lăk ( 22.760 người ), Đăk Nông ( 21.952 người ), Bắc Kạn ( 17.470 người ), Tuyên Quang ( 16.974 người ), Thanh Hóa ( 14.799 người ) [ 13 ] .Trên thực tiễn cho thấy những dân cư H’Mông ở Nước Ta vẫn có quan hệ với những dân cư đồng tộc ở những nước khác, đặc biệt quan trọng là những địa phận sát biên giới giữa Nước Ta với Trung Quốc và Lào. Một bộ phận đáng kể người Hmông vẫn còn theo những lối sống truyền thống cuội nguồn ở miền tây-bắc Nước Ta. Với sự ngày càng tăng của du lịch vào những khu vực này trong những năm 1990 đã ra mắt cho nhiều người H’Mông lối sống phương Tây, và phục trang truyền thống cuội nguồn của người H’Mông đang từ từ biến mất .
Các tài liệu khoa học[citation needed], cũng như các truyền thuyết đều cho biết rằng người H’Mông là tộc người di cư vào Việt Nam sớm nhất khoảng 300 năm và muộn nhất là 100 năm về trước. H’Mông là tên tự gọi có nghĩa là người (Môngz). Còn các dân tộc khác còn gọi dân tộc này với các tên Miêu, Mèo, Mẹo. Căn cứ vào đặc điểm về dân tộc học và ngôn ngữ học, người ta chia tộc H’Mông ra làm các ngành: H’Mông Trắng (Môngz Đơư), H’Mông Hoa (Môngz Lênhs), H’Mông Đỏ (Môngz Si), H’Mông Đen (Môngz Đuz), H’Mông Xanh (Môngz Dua), Na Miểu (Mèo nước). Trong đó, cũng có ý kiến cho rằng H’Mông Hoa và H’Mông Đỏ là một[citation needed].
Người H’Mông ở Mỹ
Template : Chính Tại Hoa Kỳ, nhiều người H’Mông là những người tị nạn từ Lào cũng như ra đi sau cuộc chiến tranh Nước Ta tới Mỹ. Bắt đầu vào năm 1976, những người H’Mông tị nạn tiên phong đã tới Mỹ, đa phần từ những trại tị nạn nằm trên đất Vương Quốc của nụ cười .Ngày nay, phần hầu hết của người H’Mông ở Mỹ ( khoảng chừng 270.000 ) sống ở California, Minnesota và Wisconsin. Fresno, Minneapolis – St. Paul, Madison và Milwaukee có tỷ lệ tập trung chuyên sâu cao của người Hmông .Điều tra dân số Mỹ năm 2000 cho thấy chỉ có 40 % người H’Mông trên 24 tuổi đã từng học trung học. Khoảng 7 % người Hmông có bằng cử nhân hoặc cao hơn. Tỷ lệ cao của thất học là do nhiều người Hmông đa phần có nguồn gốc là nông dân, họ ít có thời cơ tiếp thụ nền giáo dục tại Lào khi sinh sống trên núi đồi. Ngoài ra, khoảng chừng 40 % những mái ấm gia đình Hmông nằm dưới mức nghèo khó. Mặc dù họ vẫn là một trong số những dân tộc châu Á nghèo khó nhất tại Mỹ, rất nhiều trẻ nhỏ thế hệ hai đã chiếm những vị trí cao trong nhiều trường học khi so sánh với những nhóm thiểu số thu nhập thấp khác. Trẻ em Mỹ gốc Hmông sinh ra tại Mỹ thường thì có nhiều thời cơ tiếp thu giáo dục hơn so với cha mẹ của chúng và cho nên vì thế có nhiều thời cơ kinh tế tài chính hơn so với cha mẹ chúng hoàn toàn có thể có được ở Lào. Mặc dù người Hmông thường thì có khuynh hướng làm những việc làm có thu nhập thấp, nhiều người trong số họ là rất chuyên nghiệp .
Tại nhiều thành phố lớn ở đó người Mỹ gốc Hmông sống và làm việc thì các bất hòa đã diễn ra giữa người Hmông và các nhóm thiểu số khác. Người Hmông thông thường là mục tiêu của sự phân biệt chủng tộc, chủ yếu là do sự cạnh tranh trong công việc và bản chất của người Hmông như là những người phụ thuộc vào trợ cấp[citation needed]. Nhiều kẻ ngược đãi họ bào chữa cho hành động của mình là do người Hmông đã lấy mất công việc, trợ cấp và các dịch vụ khác của những người định cư lâu đời ở đó. [2]
Mặc dù nhiều mái ấm gia đình Hmông nói bằng ngôn từ không phải là tiếng Anh tại nhà họ, nhưng nhiều người Mỹ gốc Hmông đã nhanh gọn thích nghi với xã hội Mỹ và rất nhiều người trẻ tuổi đã đánh mất những truyền thống văn hóa truyền thống truyền thống lịch sử của mình rất nhanh. Vì điều này, hội đồng Hmông đã xây dựng hiệp hội và phương tiện đi lại thông tin riêng để cổ vũ người Hmông giữ gìn văn hóa truyền thống và ngôn từ của họ .
Văn hóa của người H’Mông tại Nước Ta
Ẩm thực
Mèn mén, chế biến từ ngô hạt đem xay nhỏ, phải xay bằng cối đá và xay hai lần mới nhỏ mịn và khi đồ mới ngon. Đêm bột ngô vẩy nước vào hòn đảo đều với nhiệt độ vừa phải, khi cầm nắm ngô bột không bị dính, cũng không bị bở ra là được. Tiếp đó cho vào chõ đồ lần 1, đến khi hơi bốc lên thơm thì đổ ra mẹt vẩy thêm một chút ít nước rồi hòn đảo đều cho tơi ra, sau đó lại cho vào chõ đồ lần 2 ; khi có mùi thơm lừng bốc lên, khi đó mèn mén đã chín, bưng ra chỗ cao ráo để ăn trong cả ngày .
- Tập tin : Phụ nữ H’Mông. jpg
Phụ nữ H’Mông đang bán hàng tại thị xã Sa Pa . - Tập tin : Can Cau market ( 6223927056 ). jpg
Chợ phiên của người Hmông tại Bắc Hà . - Tập tin : Hmong Girl in PhoCao HaGiang 2005. JPG
Thiếu nữ H’Mông xe sợi chuẩn bị sẵn sàng đồ cưới, xã Phố Cáo, Hà Giang .
Tục cưới hỏi
Template : Chính Theo tục bắt vợ của người H’Mông, sau ba ngày bắt được vợ, người con trai phải cùng cha mẹ đẻ đem lễ vật gồm thịt lợn, thịt gà, rượu sang nhà gái để tạ ơn và làm vía thành hôn đồng ý chấp thuận cho hai người lấy nhau. Sau khi làm vía, người con trai phải cùng vợ ngủ lại nhà gái một đêm rồi sáng mai mới được về sớm. Bắt được vợ rồi thì hai người hoàn toàn có thể về chung sống với nhau đến khi nào có điều kiện kèm theo kinh tế tài chính khá giả thì mới tổ chức triển khai đám cưới, thậm chí còn có những đôi ở với nhau có con rồi cưới cũng chẳng sao .Ngày nay thủ tục này có phần đổi khác, tân tiến hơn. Tại Nước Ta thì biến hóa giống với người Kinh. Nói chung người con gái tìm hiểu và khám phá kỹ hơn, tự do lựa chọn người bạn đời tri kỷ .
Đón Tết
Ăn tết, cúng tết, cúng tất niên cuối năm của họ không cầu kỳ. Ngoài tết riêng thì người H’Mông còn chuẩn bị sẵn sàng nhiều đồ ăn, thức uống đón Tết cùng người Kinh. Trong đó không hề thiếu món truyền thống cuội nguồn là thịt gác bếp, mèn mén, cải xanh, ớt nướng làm muối chấm trong bữa ăn .Người H’Mông ăn tết từ tháng chạp ( theo lịch của người H’Mông ). Theo tục lệ thì :
- Từ ngày 25 tháng chạp là thời điểm mọi người đem lễ đến “trả ơn” cho thầy thuốc, thầy dạy khèn, thầy cúng để tỏ lòng biết ơn. Vì ngày thường thầy cúng dành thời gian để cúng lễ cho người dân trong bản. Ngày tết thầy cúng sẽ ấn định một số ngày nghỉ ngơi và đây là dịp để người trong bản đến lạy trả ơn thầy cúng. Ngoài ra, người H’Mông nào khi sinh ra khó nuôi được đổi họ, cho làm con nuôi thì cũng nhân dịp tết để lạy trả hiếu cho cha mẹ nuôi.
- Ngày 30 tết, sau khi làm bánh giầy xong, người H’Mông “treo niêu”, không ăn uống một ngày. Đêm giao thừa mỗi nhà tự làm mâm lễ cúng tổ tiên đón giao thừa.
- Trong ngày mùng một tết, người H’Mông tuyệt đối không dùng nồi chảo đựng nước, ăn cơm không nấu món canh, không được chải đầu và giặt quần áo và không đi đâu hết trong ngày mùng một. Mùng hai, mùng ba mới được rủ nhau đi chơi. Nếu vi phạm, xong tết lúa cấy sẽ không mọc và cả năm sẽ bị ngập lụt, lũ quét. Người vợ sẽ được nghỉ ngơi, còn chồng phải vào bếp nấu ăn. Nấu ăn phải cẩn thận, không để cho lửa bén vào người.Sáng mùng một, mọi người được ngủ thẳng giấc mà không ai được đánh thức.
- Ngày mùng hai là ngày thực hiện nghi lễ “lạy tết”. Người con gái H’Mông khi lấy chồng được xem như đã “cắt linh hồn về với nhà chồng”, nên ngày tết là dịp để trả ơn cha mẹ đẻ. Trong ba năm đầu khi về nhà chồng, mỗi năm vào ngày mùng hai tết, người con gái sẽ được cha mẹ chồng đưa về để “lạy tết” cha mẹ ruột. Đêm 30 tháng 11 âm lịch là đêm giao thừa, từ mồng một đến mồng ba hoặc mồng năm tết là thăm hỏi, chúc tết họ hàng, người thân, sau đó vui chơi.
Lễ hội đầu năm của người H’Mông ngoài phần nghi lễ là những game show dân gian như đua ngựa, thi dệt lanh dệt vải, thổi múa khèn … thì còn thi nấu miến, thi hát hò những bài truyền thống lịch sử bằng tiếng H’Mông. Mỗi năm, một mái ấm gia đình trong bản sẽ được giao làm chủ lễ để tổ chức triển khai tiệc tùng đi dạo tết cho cả bản. Ngày 26 tháng chạp, chủ lễ sẽ đốn một cây mai to ( một loại tre ), chặt nhánh, chỉ chừa nhánh ở chín đốt trên ngọn rồi đem ra bãi đất chọn sẵn cắm xuống làm cây nêu báo hiệu cho mọi người biết nơi này sẽ diễn ra liên hoan đầu năm mới. [ 14 ] [ 15 ]
Người H’Mông có khét tiếng
Tại Nước Ta
Tại Lào
Chỉ dẫn
- ↑Chao Fa là tên tuổi hoàng gia trong tiếng Thái và Lào, tựa như ” Đức hoàng tử “, … Có vẻ như có sự nhầm lẫn .
Tham khảo
Tham chiếu
- Template:Chú thích sách
- [TYPN 1992] The section on nomenclature draws heavily on Thai-Yunnan Project Newsletter, Number 17, tháng 6 năm 1992, Department of Anthropology, Australian National University. Material from that newsletter may be freely reproduced with due acknowledgement.
- W.R. Geddes. Migrants of the Mountains: The Cultural Ecology of the Blue Miao (Hmong Njua) of Thailand. Oxford. The Clarendon Press. 1976.
- Khắc khoải tục bắt vợ trong đêm
Xem thêm
Liên kết ngoài
Template:Thể loại Commons
Template : Kiểm soát tính đồng điệu Template : ViTemplate : CEG Template : Các dân tộc Nước Ta Template : Các dân tộc Lào Template : Các dân tộc ThailandThể loại : Người H’Mông hải ngoại Thể loại : Nhóm sắc tộc ở Lào Thể loại : Nhóm sắc tộc ở Thailand Thể loại : Các dân tộc Nước Ta
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Nông Thôn






