Bài 2: Dân tộc Thủy – Nhiều bí ẩn cần giải mã

Dân tộc Thủy đã được Viện Dân tộc học kết hợp với Ủy ban Dân tộc và Đại học Tổng hợp tổ chức hội nghị chính thức xác nhận vào năm 1973.

Người mẹ trẻ bên con, cháu. ( Ảnh : Dương Đình Tường )Dân tộc Thủy từng được công nhận

Trước đó dân tộc Thủy vẫn bị coi là một phân nhánh của người Mông gọi là Mông nước (Mèo nước). Kể từ đó, tỉnh Tuyên Quang công nhận dân tộc Thủy, tuy chưa đưa vào danh sách 22 các dân tộc sinh sống trên địa bàn. Cho đến năm 2016, theo quy định mới thì không được công nhận nữa.

Trước đây, do dân số ít nên trong hội đồng Thủy vẫn diễn ra hôn nhân gia đình cận huyết giữa con cô-con cậu ( con của anh hoặc em trai với con của chị hoặc em gái ), con dì-con già ( con của hai chị em gái ruột ). Về sau, nhờ sự giao lưu, kết hôn với người Pà Thẻn, Dao, Kinh … mà dòng máu người Thủy được tươi mới hơn .Sinh sống trong một thung lũng nhỏ hẹp ở thôn Thượng Minh, xã Hồng Quang, huyện Lâm Bình cùng với nhiều dân tộc khác nhưng người Thủy vẫn giữ được nhiều truyền thống độc lạ. Về phục trang, phụ nữ có áo nhuộm chàm, cổ cao, cúc cài chéo, đầm xòe công sở, eo buộc thắt bằng một đoạn vải màu, trang trí thêm vòng cổ, vòng tay bằng bạc trắng .Trang phục truyền thống lịch sử của người Thủy. ( Ảnh : Dương Đình Tường )Về văn hóa truyền thống, họ có cả kho tàng những bài hát giao duyên, mộc mạc nhưng rất tình tứ kiểu như : “ Anh về đến quê em, nhìn cây có hoa. Anh muốn hái sợ người ta thấy. Rút tay về anh lại thấy xấu xa. Anh muốn dắt tay em qua cầu. Sợ cầu không chắc. Anh trải khăn làm cầu để dắt em qua ”. Những chuyện dài về chàng mồ côi tìm cha, người vợ tiên, người đàn ông gian ác, cuộc phiêu lưu của hai bạn bè …“ Với một số lượng rất ít nhưng người Thủy ở Việt Nam vẫn lưu giữ được những câu truyện lớn. Điều mà tất cả chúng ta thường dễ gặp hơn ở những tộc người đông dân, khi “ ký ức lớn ” theo giám sát Phần Trăm thường dễ lưu lại bởi bộ nhớ công cộng được cộng gộp vào trên tổng số dân. Chi tiết này lộ ra một lớp nghĩa, người Thủy Việt Nam tuy ít về dân số nhưng có lẽ rằng đã có một bề dày và chiều sâu văn hóa truyền thống .Thế nên cái sót lại trong ký ức chuyện kể tộc người, không phải là những mảnh vụn rời mà lại là những câu truyện lớn. Điều này, hẳn góp vào cái khác trong văn hóa truyền thống Thủy … khi phải cộng cư với rất nhiều tộc người láng giềng xung quanh, đơn cử là Dao, Pà Thẻn, Tày và Mông trong khoảng trống xã hội thung lũng Thượng Minh chật hẹp ”. Trang 160 sách Văn hóa truyền thống lịch sử người Thủy ở Tuyên Quang do Nguyễn Ngọc Thanh chủ biên có ghi những dòng đầy kinh ngạc, thú vị về dân tộc 100 người này như vậy .Một góc bản làng của người Thủy. ( Ảnh : Dương Đình Tường )Cũng trong khu công trình điều tra và nghiên cứu trên, những nhà khoa học đã đánh giá và nhận định : “ Người Thủy bị đau ốm vẫn tiếp tục mời thầy đến cúng. Người Thủy văn minh đã có xe máy, xem tivi, dùng di động, thậm chí còn xuống Thành Phố Hà Nội học …, nhưng cái văn minh chỉ như một lớp bụi mỏng mảnh, phủ ra hình thức bề ngoài mà nếu gạt lớp bụi ấy đi, niềm tin tâm linh lại sôi động. Tín ngưỡng vật linh, đa thần giáo, trong mỗi sự vật, lớn thì như khung trời, quả núi, dòng suối, bé thì như cái cây, hạt lúa đều tiềm ẩn một quốc tế thần ma, một năng lượng siêu nhiên. Trong đời sống, con người luôn va chạm với những thế lực siêu nhiên đó, nếu hành vi đúng thì được đền đáp xứng danh, nhà cửa ấm êm, ruộng đồng phong phú, luôn luôn khỏe mạnh còn hành vi xấu thì phải trả giá rất đắt ” .Chính vì ý niệm sợ thần, sợ ma này mà người Thủy có một cái “ phanh hãm ” vô hình dung nhưng rất vững chãi, trước mọi hành vi đều xem xét sự lợi và hại, không riêng gì cho mình, cho hội đồng mà còn cho cả môi trường tự nhiên sống xung quanh .Hòn đá thiêng chẳng người tiếp nốiBố anh Mùng Văn Chấn là ông Mùng Văn Lụ – một thầy cúng có tiếng nhưng tiếc là khi tôi trở lại đã mất được 3 năm, chưa kịp truyền hết bài cho hai người con trai để nối nghiệp : “ Một năm chỉ học cúng 15 tối từ đêm 30 Tết đến 15 tháng Giêng, bởi lúc đó mới thiêng. Không có sách vở gì, chỉ dựa theo trí nhớ, bố đọc trước, con đọc sau nên để thuộc được hết 12 bài cúng, người giỏi cũng phải mất 2-3 năm còn chúng tôi học 3-4 năm vẫn chưa xong ” .Cận cảnh hòn đá thiêng của bố anh Chấn truyền lại. ( Ảnh : Dương Đình Tường )

 

Mỗi khi có ai trong nhà ốm, người Thủy lại đến gặp thầy để bói trước rồi mới cúng. Theo ý niệm của họ có nhiều loại ma như ma nhà, ma rừng, ma suối, ma núi, ma khóc … nên phải hỏi hòn đá thiêng ( một hòn đá được lấy trong tự nhiên về, có lỗ để xỏ dây ). Thầy cầm cái dây lên hỏi hòn đá xem người kia bị ma nào bắt mất hồn và được đáp lại bằng cách rung nhẹ dây. Thầy mới hẹn là đến tối ma phải giúp cho người ta đỡ bệnh thì mới mổ gà, cúng cho mà ăn .Theo những tác giả của sách Văn hóa truyền thống cuội nguồn người Thủy, đồng bào nơi đây ý niệm mỗi người có 12 hồn, đủ đầy thì được khỏe mạnh còn khi thấy tai bị ù, mắt bị mờ, đầu bị choáng … thì đó là do 1 hồn nào đó đã thoát ra khỏi khung hình. Ngay cả phong tục ma chay của người Thủy cũng mang nét rất riêng và không hề trộn lẫn với những dân tộc khác qua việc xếp năm viên đá to phía đuôi mộ tạo ra hình một chiếc “ cửa ” để làm lối đi về cho linh hồn. Một thanh tre cuốn giấy đỏ cắm lên phía trên mộ để báo hiệu cho những ma cũ biết mà đến chơi với ma mới cho đỡ đơn độc .Đời sống của người Thủy còn nhiều khó khăn vất vả. ( Ảnh : Dương Đình Tường )Hòn đá thiêng của bố truyền lại cho anh Chấn giờ đang treo lăn lóc ở một góc nhà, chẳng khi nào còn được dùng nữa. Bởi thế, cả bản Thượng Minh hiện tại chỉ còn có mỗi một thầy cúng là ông Bàn Văn Kim người giữ cả kho tàng về lịch sử dân tộc, văn hóa truyền thống và phong tục tập quán của dân tộc Thủy, người thường kể cho con cháu nghe về cội nguồn và những đau thương trong cuộc thiên di đến đất Việt .Trước đây, ông từng mở lớp tại nhà để dạy tiếng Thủy, hát tiếng Thủy, cúng theo kiểu Thủy nhưng không duy trì được lâu bởi người học không mấy chú tâm. Ông bảo hồi xưa có giữ 3 hòm sách của người Thủy nhưng lửa ăn nhà đã ăn mất sách trong hòm, còn tuổi già cùng bệnh tật đã ăn hết cả trí nhớ lẫn những bài hát ở trong đầu .Thầy cúng duy nhất còn sót lại của người Thủy, ông Bàn Văn Kim. ( Ảnh : Dương Đình Tường )Năm nay đã 88 tuổi, ông gần như không đi đâu được nữa mà chỉ quẩn quanh trên giường, đôi tai đã không còn nghe rõ tiếng người, đôi tay đã tê mỏi không cầm nổi sợi dây buộc vào hòn đá thiêng để liên kết với những vị thần lẫn ma nữa. Một mai ông “ đi ” như một cây nghiến cổ thụ trên rừng ngã xuống sẽ để lại một khoảng trống bát ngát về văn hóa truyền thống cho tộc người Thủy .Đó là với lớp già còn lớp trẻ như Lý Thị Toàn, người đang giữ những bộ quần áo truyền thống cuội nguồn Thủy bảo rằng nếu mà không được công nhận là một dân tộc, phải chuyển sang dân tộc khác thì sẽ chẳng ai buồn mặc quần áo Thủy, nói và hát bằng tiếng Thủy nữa. Dân tộc 100 người của mình sẽ chẳng mấy chốc không còn lại một vết tích gì .Tương lai bất định của những đứa trẻ người Thủy. ( Ảnh : Dương Đình Tường )Câu nói nhức buốt đó, gợi cho tôi nhớ về Quyết định số 1270 ngày 27/7/2011 của Thủ tướng Chính Phủ về đề án “ Bảo tồn, tăng trưởng văn hóa truyền thống những dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020 ” với trách nhiệm trọng tâm là bảo tồn khẩn cấp văn hóa truyền thống những dân tộc thiểu số rất ít người ( có số dân dưới 10.000 người ) .Đằng này, một dân tộc có ít người nhất Việt Nam là dân tộc Thủy đang đứng trước bờ vực của sự biến mất vĩnh viễn khi những người già đang gần đất, xa trời, những người trẻ đang bị sáp nhập vào những dân tộc khác .

Có người nói với tôi rằng, đến mấy con hổ, con voi trong rừng còn được Nhà nước bảo tồn nữa là dân tộc Thủy, có đến hơn 100 nhân khẩu mà đành chịu sao? Làm sao để cho các cấp, các ngành cùng toàn thể dân Việt biết đến sự tồn tại của người Thủy – một trong những nhóm dân Bách Việt cổ và công nhận cho họ?

Chủ nhà người Thủy luôn là đàn ông, thường con út sẽ có nghĩa vụ và trách nhiệm sống chung với cha mẹ già để phụng dưỡng và được thừa kế gia tài .Người Thủy cũng có hai trường hợp đã tốt nghiệp ĐH là Lý Văn Toản ( Đại học Xây dựng ) và Lý Thị Hạnh ( Học viện Hành chính ). Một số khác đang đi học tầm trung, cao đẳng, ĐH .

Theo nongnghiep.vn