Các chính sách kinh tế phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam – Tài liệu text

Các chính sách kinh tế phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (357.03 KB, 48 trang )

LỜI MỞ ĐẦU

Trong chiến lược phát triển nền kinh tế quốc dân Việt Nam, nông nghiệp
và nông thôn là mối quan tâm thường xuyên trong chính sách của Chính phủ.
Trong các thời kỳ khác nhau, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP và cơ cấu đầu tư
của nền kinh tế có khác nhau, nhưng nông nghiệp luôn được xác định là chỗ dựa
vững chắc để giải quyết các vấn đề chung của xã hội như: an ninh lương thực
quốc gia, thu hẹp hoặc tiến tới xoá bỏ nghèo đói, cung cấp nguồn nhân lực, tạo
việc làm và thu hút lao động theo hướng “ly nông bất ly lương”, góp phần ổn
định xã hội, tạo tiền đề để thực hiện công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Ngày nay
khi thế giới bước sang thời hiện đại, Việt Nam với nhiều thành tựu khoa học và
công nghệ có hàm lượng kinh tế cao thúc đẩy nền kinh tế nhiều nước tăng
trưởng và chuyển động gia tốc. Việt Nam một quốc gia 76 triệu dân với 80%
dân cư sống ở nông thôn, tỷ lệ nghèo đói cao, nguồn vốn tích luỹ đầu tư thấp.
Vậy nên Việt Nam ngưỡng mộ và đón chờ công cuộc chuyển đổi từ lâu nay với
ý thức sẵn sàng tìm cơ hội để học tập và tham gia từng phần vào công cuộc cách
mạng mới này của nhân loại, trước hết tập trung vào phát triển nông nghiệp và
kinh tế xuất khẩu. Do vậy quá trình thực hiện công nghiệp hoá – hiện đại hoá, có
quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá nông nghiệp và kinh tế xuất khẩu.
Nội dung đề tài bao gồm:
Phần I – Cơ sở lý luận về các chính sách kinh tế
I – Vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế thị trường
1. Vai trò và các công cụ quản lý của Chính phủ
2. Vai trò của chính sách kinh tế phát triển nông nghiệp nông thôn.
II – Các chính sách kinh tế đã được áp dụng một số nước.
1. Các chính sách kinh tế đã được áp dụng một số nước.
2. Một số bài học kinh nghiệm
1

Phần II – Các chính sách kinh tế phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam

I – Đặc điểm nông nghiệp Việt Nam
II – Các chính sách kinh tế phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam
1. Chính sách ruộng đất
2. Chính sách khuyến khích phát triển
3. Các chính sách và chương trình đầu tư.
4. Chính sách KHCN, khuyến nông
5. Chính sách hỗ trợ đầu vào, đầu ra cho sản xuất.
6. Chính sách an toàn lương thực – một hành động cân bằng tinh tế.
Phần III- Đánh giá thực hiện chính sách, đường lối, giải pháp phát
triển nông nghiệp nông thôn trong tương lai.
I-/ Đánh giá việc thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp nông
thôn ở Việt Nam.
1-/ Thành tựu.
2-/ Hạn chế.
II-/ Đường lối phát triển nông nghiệp nông thôn ở Việt Nam.
III-/ Các giải pháp và chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn
trong tương lai.
1-/ Các chương trình phát triển nông nghiệpvà nông thôn
2-/ Các giải pháp chính sách chủ yếu.

PHẦN I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC CHÍNH SÁCH KINH TẾ
I-/

VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG:

2

1-/ Vai trò và các công cụ quản lý của Chính phủ:
1.1. Vai trò của Chính phủ:
Trong quản lý Nhà nước, quản lý Nhà nước về kinh tế giữ vị trí đặc biệt
quan trọng, bởi vì lịch sử phát triển kinh tế thế giới đã khẳng định rằng không
khi nào và không ở đâu có Nhà nước phi kinh tế, đứng bên trên hay bên ngoài
kinh tế. Các hoạt động của Nhà nước (người đại diện trực tiếp là Chính phủ) đều
hoặc là tác động thúc đẩy hoặc là kìm hãm sự vận động của nền kinh tế; mặt
khác bất cứ Nhà nước nào cũng đều có vai trò quản lý nền kinh tế quốc dân,
thông qua các công cụ quản lý và can thiệp bằng hệ thống thể chế, chính sách để
điều khiển nền kinh tế sao cho nền kinh tế tự thân vận động nhằm đạt tới mục
tiêu mong muốn và thúc đẩy quỹ đạo đã lựa chọn. Điều khác nhau cơ bản giữa
các quốc gia là Nhà nước quản lý nền kinh tế như thế nào, hình thức, mức độ
can thiệp, điều tiết ra sao và đến đâu là hợp lý và thoả mãn được các yêu cầu để
đạt tới các mục tiêu đã đặt ra.
Thực tiễn cũng đã chứng minh mỗi quốc gia phải căn cứ vào các điều kiện
cụ thể về kinh tế, chính trị xã hội, điều kiện cụ thể về các nguồn lực để lựa chọn
các giải pháp phát triển hữu hiệu nhất cho quốc gia của mình.
Học thuyết kinh tế hỗn hợp chủ trương phát triển kinh tế dựa vào cả vai trò
thị trường và Nhà nước. Theo Paul A.Samuelson thì cả thị trường và Chính phủ
đều quan trọng đối với phát triển kinh tế. Trong mối tương quan đó vai trò của
Chính phủ là:
a. Thiết lập một khung khổ luật pháp thống nhất để tạo môi trường chung
cho các lực lượng thị trường hoạt động.
b. Sửa chữa các khuyết tật của thị trường để đảm bảo cho nó hoạt động có
hiệu quả thông qua việc Chính phủ đề ra các chính sách kinh tế vĩ mô, xây dựng
các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội.

3

c. Đảm bảo sự công bằng trong xã hội, thông qua việc Chính phủ can thiệp
vào các quá trình phân bổ nguồn lực, phân phối thu nhập giữa các tầng lớp trong
xã hội.
d. Ổn định kinh tế vĩ mô: Nhiệm vụ của Chính phủ là ngăn ngừa và hạn chế
tình trạng lạm phát, thất nghiệp để đảm bảo những điều kiện cần thiết cho các
nhà kinh doanh hoạt động có hiệu quả. Chính phủ thực hiện các vai trò trên đây
thông qua việc kiểm soát, giám sát các khoản chi tiêu của Chính phủ, sử dụng
các công cụ về thuế,…
1.2. Các công cụ can thiệp của Chính phủ:
– Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội là một phương thức quản lý của Nhà
nước. Nó hoạt động có ý thức của Nhà nước trên cơ sở nhật thức khách quan
nhằm định hướng phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc dân cũng như xác định các
giải pháp lớn để thực hiện định hướng đó với hiệu quả kinh tế xã hội lớn nhất.
– Luật pháp: là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và
thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động nhằm
điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức, quản lý và hoạt
động sản xuất – kinh doanh giữa các doanh nghiệp với nhau và các cơ quan quản
lý Nhà nước.Bằng luật kinh tế, Nhà nước quy định cơ quan tài phán trong kinh
doanh, hình thành cơ chế giải quyết các tranh chấp – kinh doanh; Nhà nước quy
định điều kiện thủ tục phá sản của doanh nghiệp; Nhà nước điều chỉnh hành vi
kinh doanh, xác định hành vi nào là hành vi kinh doanh hợp pháp và hành vi nào
là hành vi kinh doanh phi pháp; Nhà nước xác định địa vị pháp lý cho các tổ
chức và đơn vị kinh tế. Trên cơ sở đó tạo lập cơ sở pháp lý cho hoạt động và
Nhà nước thực hiện sự quản lý của mình đối với hoạt động đó.
– Các chính sách kinh tế là một trong những công cụ chủ yếu để Nhà nước
thực hiện vai trò quản lý kinh tế trong các giai đoạn phát triển nhất định là tổng
thể các phương thức, biện pháp phương tiện nhất định được Nhà nước sử dụng

4

nhằm tác động đến cá nhân nhóm người, xã hội để đạt tới các mục tiêu bộ phận
trong quá trình thực hiện các định hướng mục tiêu phát triển của xã hội.
Một số chính sách kinh tế: Chính sách cơ cấu kinh tế; Chính sách tài chính;
Chính sách tiền tệ tín dụng; Chính sách về các chuyên ngành kinh tế; Chính sách
kinh tế đối ngoại; Chính sách dân số việc làm.
– Các đòn bẩy kinh tế: Những biện pháp làm tăng hiệu quả của ngành được
chú trọng. Ví dụ như: giảm thuế hàng xuất khẩu để khuyến khích xuất khẩu,
tăng thuế hàng hoá đặc biệt (thuốc lá, rượu, bia) để hạn chế tiêu dùng.
– Lực lượng kinh tế của Nhà nước: Đầu tư vào các doanh nghiệp Nhà nước
góp phần tạo nên các tế bào nền kinh tế để chi phối đến hoạt động các doanh
nghiệp khác, nó là doanh nghiệp hoạt động như bao doanh nghiệp khác nhưng có
sự hỗ trợ của Nhà nước, Chính phủ. Đầu tư công cộng: là bộ phận rất quan trọng
của hệ thống kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, tạo nền tảng cho các doanh
nghiệp quốc doanh và ngoài quốc doanh, cũng như hệ thống tổ chức, giáo dục, y
tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật,… có điều kiện phát triển thuận lợi.
2-/ Vai trò của chính sách kinh tế phát triển nông nghiệp nông thôn:
2.1. Vai trò chính sách kinh tế phát triển nông nghiệp nông thôn:
Chính sách là tư tưởng điển hình về các kiểu can thiệp của Nhà nước vào
kinh tế thị trường. Ví dụ: một người nghĩ về “Chính sách tín dụng” thì sẽ gợi lên
một sự tưởng tượng về sự can thiệp của Chính phủ trong việc cung cấp tín dụng
cho nông dân. Chính phủ làm việc đó nhằm thay thế và điều chỉnh cách thức
nông dân nhận tín dụng khi không có sự can thiệp của Nhà nước. Bức tranh phát
hoạ một khái niệm về các chính sách.
Chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp (chính sách nông nghiệp) là các
biện pháp tác động, can thiệp của Chính phủ vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp
nhằm đạt tớ mục tiêu đã lựa chọn hay là tổng thể các biện pháp kinh tế và phi
kinh tế có liên quan đến Nhà nước và các ngành có liên quan nhằm tác động vào
Nhà nước theo những mục tiêu cụ thể trong thời gian nhất định.
5

Trong hai thập kỷ qua, đường lối phát triển kinh tế của nước ta tập trung
chủ yếu vào nông nghiệp, phát triển nông nghiệp là nhiệm vụ hàng đầu, trong
khi đối tượng của các chính sách nông nghiệp là ngành nông nghiệp. Để thấy rõ
vai trò của chính sách kinh tế phát triển nông nghiệp, phân tích vai trò của nông
nghiệp với phát triển kinh tế là điều tất yếu, cần thiết. Vai trò đó thể hiện:
– Nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, đặc biệt các
nước đang phát triển. Bởi vì ở các nước này đa số người dân sống dựa vào nghề
nông. Để phát triển kinh tế nâng cao phúc lợi cho nhân dân Chính phủ cần có
chính sách tác động vào khu vực nông nghiệp nhằm nâng cao năng xuất cây
trồng và tạo nhiều việc làm nông thôn.
– Khu vực nông nghiệp cũng có thể là một nguồn cung cấp vốn cho phát
triển kinh tế, có ý nghĩa lớn là vốn tích luỹ ban đầu cho công nghiệp hoá.
– Dân số nông thôn ở các nước phát triển là thị trường quan trọng để tiêu
thụ sản phẩm công nghiệp như tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng.
– Ngành nông nghiệp góp phần cung cấp nguyên liệu đầu vào cho ngành
công nghiệp nhất là công nghiệp chế biến.
– Ngành nông nghiệp ở các nước đang phát triển chứa một lượng lao động
nhàn rỗi khác lớn, nhưng sẵn sàng đáp ứng cho ngành công nghiệp nếu cần thiết
và đồng thời cũng là nơi nâng đỡ khi công nghiệp sa sút.
* Chính sách nông nghiệp, một lĩnh vực phức tạp, hết sức rộng bao gồm:
Chính sách ruộng đất, chính sách đầu tư, chính sách tín dụng, chính sách thị
trường tiêu thụ nông sản phẩm, chính sách thuế nông nghiệp, chính sách khoa
học công nghiệp và khuyến nông, mở rộng các hình thức kinh tế hợp tác, đổi
mới chính sách xã hội nông thôn, chính sách đào tạo, sử dụng đội ngũ và đãi ngộ
cán bộ nông nghiệp nông thôn,…nhưng vai trò thể hiện ở ba hướng sau:
– Các chính sách có vai trò tác động trực tiếp vào nguồn sản xuất, làm thay
đổi quy mô cũng như phương hướng sản xuất kinh doanh trong những điều kiện
cụ thể và với thời gian nhất định. Các chính sách cụ thể: chính sách tỷ giá đầu

6

ra, chính sách tín dụng cho đầu vào, chính sách đầu tư phát triển, cơ sở hạ tầng
cần cho sản xuất, chính sách ruộng đất, chính sách khuyến nông, triển
khai.Người sản xuất thường rất nhạy cảm đối với các loại chính sách này do
chúng tác động trực tiếp và mạnh mẽ tới lợi ích vật chất của họ. Bởi vậy Chính
phủ thường phải rất cẩn thận khi sử dụng chúng trong ứng xử với nông dân,
nhằm đạt tới mục tiêu chung của xã hội.
– Các chính sách vĩ mô tác động trong phạm vi kinh tế nội địa, có tác động
điều chỉnh một hoạt động hoặc một tập hợp các hoạt động kinh tế nhất định bao
gồm các chính sách: chính sách thuế, chính sách trợ cấp, chính sách đầu tư giáo
dục, nếu kế hoạch, đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, đời sống nông
thôn.Các chính sách này có vai trò tác động gián tiếp đến người sản xuất nông
nghiệp, nhằm hiệu chỉnh các mối quan hệ giữa nông nghiệp với các khu vực
khác trong toàn nền kinh tế, giữa người sản xuất nông nghiệp với người tiêu
dùng nông sản trong xã hội.
– Các chính sách tác động hiệu chỉnh mối quan hệ kinh tế nội địa với kinh
tế quốc tế bao gồm: Chính sách thuế nhập khẩu nhằm hạn chế hoặc khuyến
khích nhập khẩu một loạt sản phẩm hoặc vật tư nào đó; Chính sách trợ cấp hoặc
đánh thuế xuất khẩu: điều tiết khối lượng sản phẩm xuất khẩu khi muốn khuyến
khích hoặc hạn chế xuất khẩu; Chính sách hạn ngạch nhập khẩu, thuế nhập
khẩu: hạn chế khối lượng sản phẩm nhập khẩu; Sử dụng hàng rào phi thuế quan,
bằng nhiều văn bản quy định ngặt nghèo về tổ chức y tế, chất lượng sản phẩm,
gây trở ngại cho nhập khẩu; Chính sách tỷ giá: để điều chỉnh quan hệ xuất nhập
khẩu giữa các nhóm hàng tham gia xuất nhập.
2.2. Tác dụng của một số chính sách cụ thể:
– Chính sách trợ cấp đầu vào cho sản xuất: Đó là: cung cấp với giá rẻ, thậm
chí trong một số trường hợp cho không các loại vật tư như: phân hoá học, thuốc
trừ sâu bệnh, hạt gống mới và nước tưới cây trồng giúp nông dân chủ động,

thuận lợi trong sản xuất đặc biệt là đối với những nông dân nghèo, gặp nhiều

7

khó khăn trong việc mua phân bón cho sản xuất, việc trợ cấp phân bón sẽ tạo
điều kiện hạ thấp chi phí cận biên của người sản xuất đồng thời làm tăng sản
lượng. Mức tăng của sản lượng tỷ lệ thuận lợ với mức gia tăng sử dụng phân
bón, như vậy hiệu quả của trợ cấp đầu vào không làm ảnh hưởng đến giá cả thị
trường nông sản nội địa vì nền kinh tế là mở cửa, giá nông sản chịu ảnh hưởng
mạnh mẽ bởi giá quốc tế. Người sản xuất được hưởng lợi từ chính sách trợ cấp
đầu vào một giá trị thu nhập bằng giá trị trợ cấp cộng với thặng dư được tạo ra
từ sản lượng gia tăng bổ sung thu được mà thị trường phải thanh toán cho người
sản xuất với giá nhất định. Trong trường hợp chính sách được áp dụng lâu dài,
lợi ích thu được sẽ khuyến khích nông dân sử dụng phân hoá học để thâm canh
sản xuất, và đến chừng mực nào đó nếu cắt giảm hoặc thôi trợ cấp nông dân vẫn
tiếp tục tăng sử dụng phân bón để tăng sản lượng, đây là kết quả rất tích cực của
chính sách hỗ trợ phân bón. Đặc biệt đối với nền kinh tế tiểu nông nghèo nàn,
chính sách hỗ trợ phân bón có ý nghĩa to lớn và tác động nhanh đến việc gia
tăng sản lượng giúp nông dân chuyển sang sản xuất hàng hoá, thích ứng với thị
trường.
– Chính sách trợ giá đầu ra:Chính phủ chi ra khoản trợ cấp biến đổi bằng
tổng giá trị cần bù đắp chênh lệch giữa giá đảm bảo được trợ cấp và giá thị
trường hạ thấp. Chính sách trợ giá đầu ra làm người sản xuất hoàn toàn yên tâm
vì dù trong hoàn cảnh nào họ vẫn bán được sản phẩm với giá đảm bảo mức thu
nhập, kích thích họ duy trì và phát triển sản xuất. Trái lại chính sách trợ giá đầu
ra gây thiệt hại cho ngân sách Chính phủ giá trị thiệt hại được tính bằng cách
đem chi phí đầu vào trừ đi phần thu lợi về ngoại tệ do không phải nhập khẩu sản
phẩm được trợ giá.
– Chính sách trợ cấp lương thực, thực phẩm cho người tiêu dùng: tác động

cơ bản của chính sách trợ cấp tiêu dùng là tăng khối lượng cầu nội địa, không
làm tăng cung (khu vực sản xuất). Người tiêu dùng được hưởng lợi từ chính
sách một giá trị thu nhập bằng mức trợ cấp theo đơn vị sản phẩm nhân với tổng

8

số đơn vị tiêu dùng, còn người sản xuất nông nghiệp không được hưởng lợi gì từ
chính sách nên không gia tăng sản xuất. Thực hiện chính sách này người chịu
thiệt hại là người đóng thuế. Do đó có thể nói rằng chính sách trợ cấp tiêu dùng
về lương thực, thực phẩm ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp.
II-/ CÁC CHÍNH SÁCH KINH TẾ ĐÃ ĐƯỢC ÁP DỤNG Ở MỘT SỐ NƯỚC:

1-/ Các chính sách kinh tế đã được áp dụng ở một số nước:
a-/ Chính sách ruộng đất:
Tổ chức sản xuất lấy hộ nông dân làm chủ thể sản xuất đã định hướng
chính sách ruộng đất nông nghiệp ở các nước là: ruộng đất phải được sử dụng,
chi phối theo quyền tự do phát triển sản xuất – kinh doanh của hộ nông dân nói
chung. Chính phủ các nước tạo điều kiện cho nông dân được quyền “sở hữu
tương đối” về đất đai canh tác bằng nhiều cách như: chia đất công, bán rẻ trả
dần, khai hoang đất mới,… nông dân được quyền mua – bán và luân chuyển
ruộng đất theo nhu cầu của cuộc sống và sản xuất, từ đó đất sản xuất được hình
thành giá cả rõ ràng, tạo nên thị trường ruộng đất nói riêng và đất đai nói chung
rất phổ biến ở Châu Á như: Thái Lan, Philippin, Malaysia,…
Chính sách ruộng đất kích thích sử dụng có hiệu quả ruộng đất, nhanh
chóng phát triển sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường, với giá trị gia tăng
cao, đảm bảo điều kiện để nông dân phát huy hết khả năng kinh doanh nông
nghiệp của từng hộ gia đình. Song mặt trái của quá trình mua – bán luân chuyển
tự do ruộng đất đã dẫn đến sự tích tụ không hợp lý ruộng đất vào tay một số tư
nhân không trực tiếp tham gia vào kinh doanh sản xuất nông nghiệp (chỉ thuần

tuý kinh doanh đất đai). Trả giá cho sự tích tụ này là có hàng triệu hộ nông dân
do bán đất canh tác để lấy tiền sinh sống trước mắt, dẫn tới rơi vào tình trạng
cùng quẫn không còn đất sản xuất trong khi các khu vực sản xuất công nghiệp
và dịch vụ chưa đủ sức thu nhận họ, dẫn đến tình hình xã hội nông thôn và toàn
xã hội nói chung thiếu ổn định như ở Philippin. Ở Thái Lan đang diễn ra tình
trạng nông dân nghèo phải bán ruộng đất tốt cho các khách sạn, các chủ doanh
9

nghiệp công nghiệp và du lịch, trở thành người lang thang đi kiếm sống ở thành
phố và tự di chuyển lên các vùng đất mới để khai thác tài nguyên. Điều đó gây
ra rất nhiều khó khăn cho Chính phủ và toàn xã hội, là mặt trái của chính sách tự
do hoá mua – bán ruộng đất ở nông thôn.
b-/ Chính sách tín dụng:
Các khoản tín dụng cần thiết cung cấp cho hộ nông dân được thực hiện qua
hệ thống tín dụng Nhà nước, các tổ chức kinh tế (hợp tác xã, trung tâm tín dụng
– kỹ thuật) và các tổ chức tự nguyện của nông dân trong nông thôn. Phần lớn
những khoản tín dụng này được thực hiện với lãi suất vay ưu đãi. Rất nhiều
nước và lãnh thổ đã và đang áp dụng chế độ cho nông dân vay vốn với lãi suất
ưu đãi (vài ba phần trăm một năm) như: Bănglađet, Thái Lan, Philippin,
Inđônêxia, Malaysia, Hàn Quốc, Đài Loan,…
Việc cung cấp tín dụng ưu đãi cho hộ nông dân, đặc biệt là các hộ nghèo,
thiếu vốn sản xuất hoàn toàn có ý nghĩa to lớn trong việc giúp họ vươn lên thoát
khỏi cảnh nghèo nàn. Nhờ hỗ trợ vốn, họ có thể khai thác được nhiều hơn các
nguồn tài nguyên và nguồn lực sẵn có trong gia đình. Có thể nói, chính sách tạo
vốn qua tín dụng ưu đãi là một chính sách có hiệu quả cả về mặt kinh tế và xã
hội. Đây chính là lý do mà nhiều Chính phủ đã theo đuổi chính sách này trong
chiến lược phát triển sản xuất nông nghiệp và quan hệ với nông dân, ngư dân và
những người sản xuất nhỏ (tiểu thủ công nghiệp) ở các vùng nông thôn rộng lớn
vốn còn nghèo nàn, lạc hậu.

c-/ Chính sách hỗ trợ phân bón, thuốc trừ sâu:
Chính sách hỗ trợ phân bón, thuốc trừ sâu giúp nông dân tăng năng suất
cây trồng và giảm thiểu sự tàn phá của dịch bệnh là một định hướng tích cực
trong chính sách chung đối với nông nghiệp và nông thôn.
Sự tài trợ giá cả phân bón và thuốc trừ sâu cho nông dân được nhiều Chính
phủ ở các nước Châu Á quan tâm, coi đây là vấn đề có tính chiến lược. Ở
Inđônêxia, trước năm 1984 Chính phủ chỉ đạo việc bán phân bón cho nông dân
10

thống nhất theo giá bằng 40% giá thành sản xuất phân bón. Nhà nước đã đầu tư
xây dựng các xí nghiệp công nghiệp sản xuất phân bón khá phát triển trong
nước. Ngoài ra, Chính phủ còn trợ cấp giá thuốc trừ sâu tới 60% giá sản xuất. Ở
Malaysia Nhà nước quyết định cho không các hộ nông dân nghèo 80 kg
Urê/năm, cấp không thuốc trừ sâu khi có sâu bệnh nặng. Ở Nhật Bản, Hàn Quốc,
chính sách ổn định giá cả và cung cấp thuận lợi phân bón và thuốc trừ sâu đã
kích thích nông dân thâm canh đồng ruộng đạt tới mức kỷ lục của thế giới.
d-/ Chính sách nghiên cứu triển khai nông nghiệp, nhằm giúp nông dân
các kiến thức sản xuất và tiếp cận thị trường nông sản trong và ngoài nước.
Trong số các nước đang phát triển, Thái Lan là một điển hình tốt về chính
sách này. Nhà nước chú trọng xây dựng các trạm trại nghiên cứu nông nghiệp.
Chính phủ đã chi cho công tác nghiên cứu triển khai nông nghiệp lớn hơn 1,7
lần so với công tác nghiên cứu và sử dụng quỹ này một cách tập trung có hiệu
quả vào các cây trồng phục vụ xuất khẩu có giá trị và có vị trí chiến lược đối với
nền kinh tế. Cục triển khai nông nghiệp Thái Lan (DOAE) là cơ quan khuyến
nông rất có hiệu quả của Nhà nước. Nhà nước thông qua hoạt động triển khai để
thực hiện chính sách đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp DOAE không chỉ triển
khai các kỹ thuật thông qua tham quan, đào tạo mà còn sản xuất một khối lượng
lớn các loại hạt giống mới cho nông dẩn trong hầu hết các vụ chính.Chính sách
nghiên cứu và triển khai nông nghiệp ở Thái Lan có tác động lâu dài đến sự thay

đổi về năng suất nông nghiệp. Một trong những kinh nghiệm hay của Thái Lan
là Chính phủn đã lôi kéo, thu hút được đông đảo tư nhân tham gia vào các
chương trình khuyến nông nhằm đào tạo ra các mô hình trồng trọt hỗn hợp, canh
tác đa dạng.
e-/ Chính sách hỗ trợ đầu ra của sản xuất
Chính sách tác dụng bảo trợ sản xuất cho nông dân qua việc mua và ổn
định giá đầu ra các mặt hàng quan trọng nhằm giảm thua thiệt cho nông dân khi
giá trị thị trường hạ dưới chi phí sản xuất. Điển hình trong sử dụng chính sách

11

này là Inđônêxia, Nhật Bản, Trung Quốc. Thái Lan đã cấp nửa tỷ bạt (tương
đương 20 triệu USD) để thực hiện chính sách này. Chính phủ Trung Quốc thực
hiện ký hợp đồng mua ổn định lúa gạo cho nông dân, tăng giá thóc mua vào,
khuyến khích nông dân bán lúa gạo cho Nhà nước.
f-/

Chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho kinh tế nông thôn

Xây dưng cơ sở hạ tầng hiện đại, gồm có: công trình tưới, tiêu, đường xá,
điện, phương tiện giao thông; Nhập khẩu các kỹ thuật nhất định từ nước ngoài
và tăng cường khả năng nghiên cứu triển khai trong nước; Phát triển nguồn nhân
lực; Phát triển và bảo vệ các nguồn tài nguyên và môi trường; Động viên tiết
kiệm từ nông sản dư thừa và chuyển chúng đến nơi cần thiết; Giảm thất nghiệp và
đói nghèo; Chăm sóc sức khoẻ, dinh dưỡng cho dân cư; Đổi mới các thể chế và tổ
chức như hợp tác xã nông dân, ngân hàng, hiệp hội.
Như vậy, chức năng lớn nhất mà Chính phủ phải đảm nhận là đầu tư xây
dựng cơ sở hạ tầng cho nông thôn. Gánh nặng về phát triển cơ sở hạ tầng chỉ có
thể giảm nhẹ khi khu vực tư nhân ở nông thôn phát triển mạnh mẽ đủ sức để hỗ

trợ Chính phủ một phần trong việc thoả mãn nhu cầu chung về phát triển cơ sở
hạ tầng.
2-/ Một số bài học kinh nghiệm
Một là, kinh tế nông nghiệp và nông thôn là một bộ phận quan trọng của
mọi hệ thống kinh tế, nó chứa đựng nhiều yếu tố khó khăn, kém phát triển,
người nghèo đông so với khu vực khác vì vậy chính sách kinh tế của Chính phủ
phải thể hiện: coi trọng phát triển sản xuất, tạo cơ sở đảm bảo nguồn lương thực
cho chính dân cư nông thôn và toàn xã hội, trên cơ sở đó phát triển toàn nền
kinh tế – sự nâng đỡ ưu đãi cần thiết, đặc biệt trong giai đoạn đầu phát triển kinh
tế đất nước, khi nông nghiệp nông thôn còn yếu kém và trong hoàn cảnh lạc hậu,
trợ giúp nông dân nghèo ở nông thôn được xem là tư tưởng chung trong chính
sách đối với nông nghiệp và nông thôn.

12

Hai là, cùng với khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp, chính sách
phải hướng vào tái tạo các nguồn lực đầu vào và bảo vệ môi trường sinh thái bảo
đảm sự phát triển lâu bền. Đó là sự tiến bộ và tích cực của chính sách kinh tế
trong các điều kiện khác nhau.
Ba là, sự lựa chọn chính sách phù hợp cho từng giai đoạn phát triển, đối
với từng khu vực nông thôn khác nhau đóng vai trò quyết định sự thành công
của quá trình vận hành, không chính sách nào có thể tác động trực tiếp với các
chính sách tác động gián tiếp là một yêu cầu rất quan trọng.
Bốn là, cải cách và đổi mới chính sách kinh tế đối với nông nghiệp, nông
thôn là quá trình liên tục, không có khuôn mẫu định sẵn cho bất kỳ một hệ thống
hay một kiểu hệ thống cụ thể nào: Kinh tế nông thôn chỉ có thể phát triển thành
công trong kinh tế thị trường khi các thể chế kinh tế đối với nông thôn hoạt động
đồng bộ, có mục tiêu tác động cùng chiều và hiệu ứng cao.
Năm là, tất cả các chính sách mà chính phủ áp dụng đều rất cần thiết. Song

các chính sách chủ yếu tập trung hỗ trợ đầu vào, hỗ trợ vào chính sách giá cả, thị
trường, chính sách đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, chính sách bảo trợ sản xuất
nông nghiệp, giảm nhẹ điều tiết thu nhập từ nông dân. Sự khác nhau chỉ là ở sự
lựa chọn về liều lượng thời gian và sự phối hợp giữa các chính sách.

13

PHẦN II

CÁC CHÍNH SÁCH KINH TẾ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
NÔNG THÔN VIỆT NAM
I-/

ĐẶC ĐIỂM NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

– Nông nghiệp là ngành có lịch sử phát triển lâu đời, các hoạt động nông
nghiệp đã có từ hàng nghìn năm nay kể từ khi con người từ bỏ nghề săn bắn và
hái lượm. Do lịch sử lâu đời nên dù khoa học kỹ thuật phát triển với nhiều máy
móc hiện đại, người nông dân vẫn áp dụng các kỹ thuật truyền thống để canh
tác, trồng trọt.
– Nông nghiệp là ngành tạo ra sản phẩm thiết yếu nhất của con người,
lương thực là sản phẩm chỉ có ngành công nghiệp sản xuất ra, con người có thể
sống không cần sắt thép, than, điện nhưng không thể thiếu lương thực. Do đó
nước nào cũng phải sản xuất hoặc nhập khẩu lương thực.
– Hoạt động sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên. Thời
tiết, gần nước, độ màu mỡ cấu tạo thể nhưỡng của đất đai mỗi nơi một khác nên
việc lựa chọn cơ cấu cây trồng, vật nuôi, và cả kỹ thuật canh tác cũng khác nhau.
– Tỷ trọng lao động và sản phẩm nông nghiệp trong nền kinh tế có xu
hướng giảm. Việt Nam lao động nông thôn chiếm 75% tạo ra sản phẩm chiếm

30 – 60%. Sự biến động này chịu sự tác động của quy luật tiêu dùng sản phẩm và
quy luật người lao động.
II-/ CÁC CHÍNH SÁCH KINH TẾ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN
VIỆT NAM

1-/ Chính sách ruộng đất
Ruộng đất là mối quan tâm hàng đầu của người nông dân. Sự phát triển
nông nghiệp nông thôn của đất nước, trước hết phụ thuộc vào mối quan hệ của
nông dân với ruộng đất và việc sử dụng có hiệu quả ruộng đất của họ trong

14

phạm vi cả nước. Vì vậy giải quyết mối quan hệ ruộng đất có ý nghĩa cực kỳ
quan trọng cho sự phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá.
Chính sách đầu tiên phải kể đến là việc bảo đảm quyền sử dụng đất cho
người nông dân. Sự gắn bó những người tiểu nông đối với mảnh đất của mình là
rất sâu sắc. Nó gắn chặt với suy nghĩ của người nông dân về quyền tự do không
bị áp bức và khả năng cải thiện đời sống cho gia đình. Do đó nếu bị tước đoạt
mảnh đất của mình, họ sẽ có nguy cơ bị bần cùng hoá. Chính vì vậy cải cách
ruộng đất thường được coi là điều kiện cần đầu tiên để phát triển nông nghiệp ở
nước đang phát triển.
Cải tiến quản lý đất đai, đảm bảo quyền sử dụng đất lâu dài một điều kiện
tiên quyết quan trọng để cải thiện các ưu tiên, ưu đãi đối với người dân đầu tư
cải tạo đất. Trong khuôn khổ cải cách ruộng đất gần đây, đất đai được phân bổ
cho các cá nhân, sẽ được đăng ký không chính thức tại các đơn vị địa chính cấp
xã. Việc đăng ký này sẽ được xác nhận thông qua cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất nông nghiệp (Sổ đỏ). “Đất nông nghiệp” là đất được xếp vào hạng có
thể phù hợp cho nông nghiệp, chủ yếu là do lịch sử sử dụng đất từ trước, đã
được chứng kiến các tiến bộ hợp lý xét về tốc độ phân đất và việc cấp giấy

chứng nhận sử dụng đất. Tuy nhiên đã có nhiều lo ngại về vấn đề liệu “quyền
canh tác trên đất” đã đủ cung cấp các động lực, đủ để cho người dân đầu tư cải
tạo đất dài hạn. Các đánh giá ban đầu cho thấy, điều này chưa phải là hạn chế
nghiêm trọng so với những tác động của việc thả nổi môi trường thị trường đất
đai như trường hợp của Thái Lan (ví dụ như đầu tư vào canh tác cây lâu năm tại
các khu vực đất đồi không cần phải có giấy chứng nhận). Tuy nhiên, điều này
không hề có nghĩa là việc cấp chính thức giấy chứng nhận sử dụng đất lại có thể
đi chậm lại. Một khoảng trống quan trọng hơn nữa có liên quan tới việc cấp đất
và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với “đất rừng”, mặc dù phù hợp
với nông nghiệp, theo đó việc cấp lần sau các chứng nhận sử dụng đất và các tác
động được, mất về môi trường sẽ gặp phải.

15

Cùng với cải cách ruộng đất, việc xác định hình thức sở hữu và sử dụng
đất đai là cơ sở hình thành phương thức tổ chức sản xuất và phân phối sản phẩm
nông nghiệp. Vì vậy giải quyết tốt quan hệ sở hữu, sử dụng ruộng đất hợp quy
luật, hợp lòng người là chiếc chìa khoá tập thể các biện pháp nhằm giải quyết
những vấn đề kinh tế xã hội đối với nông dân – nông nghiệp – nông thôn.
Nhà nước giao đất cho hộ gia đình có quyền tự do kinh doanh trên đất của
mình nhưng sở hữu chỉ là khái niệm tương đối. Quyền sở hữu ruộng đất thuộc
về Nhà nước, do Nhà nước quản lý theo luật pháp. Điều đó là hợp lý, nhưng cần
có sự phân biệt giữa các loại đất, các vùng khác nhau về mức độ sở hữu. Đất
rừng, sông, biển, thềm lục địa, những vùng có tài nguyên quý hiếm trong lòng
đất, đất canh tác được hình thành trong nhiều năm nay, đất chuyên dùng… phải
hoàn toàn do Nhà nước sở hữu. Điều đó sẽ có lợi cho việc quản lý và khai thác
các tiềm năng của đất. Còn đất hoang, đồi núi trọc… hiện tại vô chủ, không có
người quản lý và sử dụng, Nhà nước không có vốn đầu tư khai phá… thì chấp
nhận hình thức đồng sở hữu giữa Nhà nước và nhân dân. Quyền sở hữu tối cao

của Nhà nước được thể hiện thông qua các luật liên quan đến đất đai như thuế
đất, luật đầu tư, chính sách điều tiết vĩ mô (quy hoạch, phân vùng, đầu tư vốn,
xác định phương hướng sản xuất). Nhà nước không tham gia quản lý cụ thể từng
khu đất, loại đất, không điều hoà đất giữa các tổ chức, tập thể hoặc cá nhân đã
đầu tư khai phá các loại đất này. Các tổ chức và cá nhân nói trên không chỉ có
quyền sử dụng mà còn có quyền mua, bán, chuyển, nhượng đất đai do họ khai
phá theo quy hoạch và định hướng chung của Nhà nước. Đó là hình thức “bán
sở hữu” đối với ruộng đất do họ khai phá, một hình thức chiếm hữu cá thể có
điều kiện, còn quyền sở hữu tối cao vẫn thuộc về Nhà nước.
Thời hạn quyền sở hữu ruộng đất, Nhà nước giao ruộng đất cho nông dân
sử dụng là lâu dài. Nghị quyết 10 quy định thời gian giao khoán là 15 năm, sản
lượng khoán ổn định 5 năm, những các hợp tác xã, các địa phương lại thực hiện
sai nguyên tắc làm cho nông dân không yên tâm đầu tư vào ruộng khoán, không

16

muốn nhận đất đấu thầu. Kết quả điều tra xã hội học năm 1990 cho thấy 59,47%
nông dân không muốn đấu thầu, 3,8% muốn trả ruộng khoán, 25,92% cho rằng
khoán ruộng đất chưa hợp lý, chỉ có 43,64% muốn tiếp tục củng cố hợp tác xã…
còn ở Nam Bộ thực hiện khoán “nguyên canh” khó phân biệt quyền sở hữu và
quyền sử dụng ruộng đất.
Dự báo mức tăng dân số ở Việt Nam cao (1,7%) ruộng đất canh tác nông
nghiệp thì có hạn chế đã gây nên một mâu thuẫn cần giải quyết để phát triển
nông nghiệp và nông thôn Việt Nam. Trong hoàn cảnh thiếu đất canh tác nông
nghiệp, chính sách và các ưu tiên, ưu đãi đối với việc sử dụng đất có tác động
không chỉ đối với vấn đề môi trường và sự xuống cấp của các nguồn tài nguyên
thiên nhiên, nhưng đồng thời cũng sẽ có tác động tới đa dạng hoá canh tác. Ví
dụ, việc mở rộng canh tác trồng cao su trên đất bazan, ở cao nguyên đất bằng
hay ở các thung lũng đồi đất cao ở các tỉnh Tây Nguyên như Dak Lak có thể

không phải bỏ ra nhiều chi phí vào đầu những năm 80 nhưng bây giờ sẽ là mọt
vấn đề cần xem xét. Do nhu cầu tăng cao đối với các sản phẩm chăn nuôi và yêu
cầu tập trung các nguồn thức ăn cho lợn, gia cầm, bò sữa, và nuôi tôm, thì nhu
cầu trồng ngô và các hạt có dầu khác (để sản xuất các thức ăn protein) đã được
mở rộng canh tác nhanh chóng. Việc mở rộng hơn nữa trồng cao su tại các khu
vực đất tương đối mầu mỡ và bằng phẳng này có thể sẽ ngăn cản việc mở rộng
canh tác của các loại cây hàng năm có giá trị kinh tế, bởi vì, một khi đã đi vào
canh tác một loại cây này thì rất tốn kém để chuyển sang canh tác loại cây kia.
Ngoài ra, nếu như tất cả các vùng đất dốc dành cho việc canh tác các cây hàng
năm có giá trị kinh tế, thì việc mở rộng diện tích canh tác cây lâu năm trước đó
ở các diện tích đất bằng phẳng có thể có tác động tiêu cực đối với môi trường
cũng như nội dung kinh tế. Chính vì vậy, cần phải quan tâm công tác kế hoạch
trước khi đầu tư vào cây lâu năm, trong đó có xem xét tới các chi phí của việc sử
dụng các diện tích đất đó. Tương tự như vậy, đối với trường hợp mở rộng diện
tích trồng cà phê ở Tây Nguyên thì lợi nhuận của đầu tư lại phụ thuộc hoàn toàn
vào tính sẵn có các nguồn nước tưới ngầm, tác động của môi trường; ví dụ: việc
17

cạn kiệt nguồn nước ở Dak Lak đã chứng minh rằng yêu cầu cần phải có các
biện pháp thiết thực để hạn chế tình hình này.
Một lo ngại khác ít khi được nhắc đến có liên quan tới các diện tích đất
nông nghiệp tiềm năng đặc biệt ở các vùng đất cao, đó là chính sách phân đất và
cấp quyền nắm giữ đất cho các nông dân, dựa trên “hiệu quả phát triển” của họ
trong việc sử dụng đất. Điều này đã dẫn tới tình trạng các hộ nông dân giầu có
lại được giao nhiều diện tích đất mà trước kia là đất trống, đồi núi trọc. Điều này
không chỉ mở rộng hơn khoảng cách thu nhập giữa cộng đồng, thực hiện chính
sách này còn có thể gây ra các tổn thất hiệu quả tiềm năng trong việc phát triển
đất. Xét tới diện tích ban đầu phân bổ dựa trên khả năng đầu tư hiện có của từng
cá nhân (nghĩa là: hiệu quả phát triển) chứ không phải là khả năng tiềm tàng của

các hộ gia đình có thể đóng góp vào khả năng mở rộng sản xuất nhờ có một hỗ
trợ tài chính và các hỗ trợ khác ở mức độ tối thiểu. Chính vì vậy, sẽ có sự đánh
đổi giữa các kết quả ngắn hạn và cơ hội sử dụng tốt hơn nữa nguồn nhân lực
hiện có về mặt trung hạn. Sự đánh đổi này, cùng việc đảm bảo ổn định xã hội về
mặt trung hạn đến dài hạn, là vấn đề cần phải đối mặt ngay.
2-/ Chính sách khuyến khích phát triển.
Phát triển nông nghiệp từ năm 1988 rất đa dạng nhờ các chính sách phát
triển của Chính phủ trong công cuộc đổi mới hoặc chính sách cải cách bao gồm
các biện pháp, chính sách kinh tế vĩ mô và kinh tế ngành. Trong số các chính
sách chống lạm phát, ổn định nền kinh tế vĩ mô, những chính sách sau đặc biệt
quan trọng: (a) hướng đồng Việt Nam gần hơn với tỷ lệ trao đổi thị trường; (b)
duy trì mức lãi suất trên mức lạm phát; và (c) giảm bao cấp cho các xí nghiệp
quốc doanh. Đổi mới cũng bao gồm tự do hoá giá, thị trường và các hoạt động
thương mại. Vào những năm đầu thập kỷ 1990, việc công bố các luật để tăng
cường lĩnh vực thương mại bao gồm Luật Ngân hàng mới và các luật kinh
doanh/doanh nghiệp (sửa đổi luật liên doanh).

18

Các biện pháp cụ thể trong lĩnh vực nông nghiệp bao gồm: (a) chuyển dịch
từ canh tác tập thể, kế hoạch hoá tập trung sang chế độ canh tác cá nhân/gia
đình; (b) tăng việc giao đất hợp tác xã/Nhà nước cho cá nhân sử dụng với các
quyền của người sử dụng đất; (c) tăng cường quản lý và tự chủ về tài chính đối
với các doanh nghiệp Nhà nước (bao gồm các nông trường quốc doanh và hợp
tác xã); và (d) xoá bỏ các hạn chế về lưu thông lương thực liên tỉnh. Những thay
đổi này đã tạo ra các điều kiện thúc đẩy doanh nghiệp hoá và “thị trường hoá”
nền kinh tế nông thôn. Các cửa hàng tư nhân phát triển rất nhanh ở nông thôn đã
không chỉ phục vụ người tiêu dùng và các yêu cầu đầu vào cho sản xuất của các
cộng đồng làng nhỏ mà còn cung cấp một phần nhỏ các nhu cầu của họ về vốn

và phục vụ như “cơ sở khuyến nông/thị trường” cho các chủ bán lẻ các mặt hàng
có nhu cầu thị trường cao. Tình hình này tạo ra các tiền đề để đa dạng cơ cấu
cây trồng hàng năm theo các yêu cầu thị trường.
3-/ Các chính sách và chương trình đầu tư.
Rất nhiều các hoạt động cải cách trong lĩnh vực nông nghiệp vào cuối
những năm 80 tới đầu những năm 90 là kết quả các đầu tư được thực hiện cuối
những năm 70 tới giữa những năm 80. Từ năm 1976 – 1986, khai hoang đất và
tái định cư đã giúp tăng diện tích trồng trọt gần 20%. Diện tích trồng cây lương
thực đã tăng đến đỉnh cao vào năm 1980 và sau đó đã giảm từ từ, điều đó chỉ ra
Việt Nam đã đạt tới giới hạn đất có thể khai thác cho nông nghiệp. Tổng đầu tư
cố định trong nông, lâm nghiệp đã tăng đáng kể vào cuối những năm 70 và giữa
những năm 80. Đầu tư vào các công trình thuỷ lợi, năng lượng và giao thông,
chủ yếu thông qua thương mại với CMEA và các hiệp định đầu tư với USSR.
Các nước CMEA cũng tài trợ mở rộng rồng các cây thân cứng (chè, cà phê, hạt
điều và cao su) và ngành dệt mà trước đây do các nông trường quốc doanh quản
lý, nhưng hiện nay đặc biệt với cao su đang chủ yếu được các công ty bao cấp
(tài sản hoặc các nhà máy) cho các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN). Sau khi
giảm dần nhịp độ đầu tư từ cuối những năm 80, nông nghiệp đã tăng đáng kể từ

19

những năm 90. Các xí nghiệp Nhà nước đã tăng khoản đầu tư của họ cho cao su
từ 21 triệu đồng năm 1990 lên 102 tỷ đồng năm 1994 và cho cà phê từ 3 triệu
năm 1990 lên 16 triệu năm 1994. Trong cùng thời gian này, đầu tư vào thuỷ lợi
đã tăng từ 244 lên 1.240 tỷ đồng; đầu tư Nhà nước trong chăn nuôi cũng tăng từ
17 lên 106 tỷ đồng.
Đầu tư vào thuỷ lợi để phát triển trồng lúa sẽ cấp nước cho 3 triệu ha trong
số 4,2 triệu ha đất canh tác hiện nay. Do hệ thống không hoàn thiện, thiếu xót về
quy hoạch và thiết kế, thiếu nước và vận hành kém, chỉ có 2 triệu ha đất hiện

nay thực sự được tưới. Mặc dù thực tế này, đầu tư vào thuỷ lợi giữa những năm
91 – 95 đã đem lại 0,5 triệu ha đất mới cho trồng lúa (xem Kế hoạch – Đầu tư
công cộng của Việt Nam) phần lớn là do cải tạo đất chua phèn vùng đất ướt
đồng bằng sông Cửu Long. Với mức độ tương đương 125.000 ha/năm và giả sử
tăng năng suất 2 tấn/ha, vùng đất mới khai thác cho trồng lúa ở đồng bằng sông
Cửu Long đã góp phần làm tăng sản lượng thêm 250.000 tấn/năm. Tăng năng
lực tưới, tự do hoá thị trường trong môi trường kinh tế vĩ mô bền vững, đảm bảo
an toàn hơn về quyền sử dụng đất và tăng khả năng tín dụng (sẽ thảo luận ở
phần dưới), đã cho phép nông dân đáp lại được các thay đổi về giá bằng cách
tăng đầu tư vào các kỹ thuật công nghệ hiện đại phục vụ cho sản xuất nông
nghiệp.
Bảng – Tăng trưởng sản xuất lúa hàng năm và sử dụng vật liệu đầu vào
Mức tăng trưởng trung bình năm (%)

1980 – 1987

Sản lượng lúa
Phân bón
Chi phí của Chính phủ vào thuỷ lợi
Các loại giống mới
Máy kéo
Bơm

4,2
17,3
Chưa có số liệu
4,9
– 1,0
Chưa có số liệu

1987 – 1994
4,8
12,0
136,8
11,2
27,9
25,9

Trung bình từ năm 1987 (1986 – 1988) đến năm 1994 (1993 – 1995), mức
tăng trưởng năm của mỗi đơn vị máy kéo (đơn vị có công suất nhỏ hơn) và bơm
20

là 28% và 26%. Mặc dù tỷ lệ sử dụng giảm sau năm 1987, tổng lượng phân bón
sử dụng (khoảng 80% số phân bón được sử dụng cho sản xuất lúa) vẫn rất đa
dạng. Diện tích trồng các loại giống mới được tăng gấp đôi. Do tính chất đầu tư
và lựa chọn công nghệ sản xuất, cơ cấu sản xuất lúa đã thay đổi, đặc biệt là ở
đồng bằng sông Cửu Long. Ở vùng này, 44% diện tích trồng lúa năm 1995 được
sử dụng cho vụ hè (vào thời gian này các giống lúa hiện đại phát huy tác dụng
cao nhất) so với 26% trong năm 1985. Ngược lại, cơ cấu mùa vụ sản xuất lúa
vẫn không thay đổi ở vùng núi và đồng bằng, trung du Bắc Bộ và ở Tây
Nguyên.
Ngân sách giành cho chương trình tái định cư (do tính chất liên quan với
việc thành lập các nông trường quốc doanh) rất quan trọng khi đầu tư vào nâng
cao khả năng sản xuất của các cây công nghiệp (đặc biệt là các cây thân cứng từ
giữa những năm 70 cho đến cuối năm 1980). Các năm 1976 – 1990, có 3,9 triệu
người được tái định cư theo những chương trình khác nhau, quan trọng nhất là
chương trình “định cư có tổ chức” bắt đầu từ năm 1977 do Bộ Lao động Thương
binh và Xã hội thực hiện để khuyến khích thành lập các “vùng kinh tế mới”
nhằm định cư lâu dài. Các hợp tác xã và nông trường quốc doanh được hỗ trợ về

tài chính để đầu tư vào xây dựng các công trình hạ tầng cơ sở và các dịch vụ sản
xuất. Chương trình này cùng với “Chương trình Định canh Định cư” của Chính
phủ đã tạo ra cơ hội cho các nhóm dân tộc thiểu số định cư lâu dài ở một nơi và
một phần hỗ trợ tài chính cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp. Đầu tiên,
Chính phủ xác định những khu vực mật độ dân cư thấp có tiềm năng đất nông
nghiệp (chủ yếu là các cao nguyên vùng Tây Nguyên) và nhằm vào các khu vực
“quá đông người” (cả ở miền núi và vùng đồng bằng) để khuyến khích tái định
cư tự nguyện. Sự khác nhau giữa hai chương trình là Chương trình Định canh Định cư có sự tham gia di dân của nhiều tỉnh khác nhau (di dân trọn gói). Ảnh
hưởng chung của các chương trình này là đã hoà trộn với nhau. Mặc dù rừng đã
bị tàn phá để trồng cây công nghiệp (chè, cà phê, hạt tiêu, dâu tằm) và một số cây
lương thực khác (lúa, rau), thực tế việc trồng các cây công nghiệp trong chương trình
21

định cư ở cao nguyên vùng Tây Nguyên là rất hợp lý về điều kiện đất phát triển nông
nghiệp và đã cải thiện được mức sống cho người dân mới định cư. Các nông trường
quốc doanh được thành lập trong chương trình tái định cư sẽ chịu trách nhiệm cung
cấp các dịch vụ hỗ trợ (kỹ thuật, xã hội và tài chính).
Sau năm 1991, khi khái niệm nông trường quốc doanh không còn được ưa
thích nữa, hai chương trình đóng vai trò chủ chốt trong việc cung cấp vốn cho
nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên là:
– Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam cho vay vốn (chủ yếu là vốn hoạt
động) dùng vốn đầu tư tổ chức cho các hộ nông dân vay (khoảng 35% số người
làm nghề nông và cũng tỷ lệ tương tự cho số người nghèo ở nông thôn), số tiền tín
dụng này đã phát triển từ con số không ở năm 1990 khi mới thành lập. Đến nay
Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam đã cho vay lên tới 100 triệu USD một năm.
– Nghị định 327, Chương trình “phủ xanh đất trống đồi núi trọc” là nguồn
tín dụng đầu tư cho từng hộ nông dân để mở rộng trồng cây công nghiệp loại
thân cứng (cà phê, cao su, chè, cây ăn quả) và các loại cây rừng phát triển nhanh
để làm bột giấy và giấy. Nó cũng đã cung cấp vốn cho các hoạt động thí điểm

trong công tác bảo vệ rừng liên quan tới các thoả thuận chung với các cộng đồng
sống ở vùng đệm, loại vốn này bao gồm vốn cho các công trình hạ tầng cơ sở xã
hội quan trọng (cấp nước di động, lớp học, trạm y tế, bưu điện). Phân bổ vốn
hàng năm từ ngân sách Chính phủ là khoảng 55,60 triệu USD.
4-/ Chính sách hỗ trợ nghiên cứu và khuyến nông
Cần ưu tiên giới thiệu về chuyển giao công nghệ thích hợp để có thể khai
thác tốt nhất hoặc khai hoang các vùng đồi trọc, đặc biệt là vùng cao nguyên.
Đối với loại vụ thu hoạch hàng năm có giá trị kinh tế, các vùng canh tác này
hiện có rất nhiều kinh nghiệm trong việc chuyển giao công nghệ (ví dụ như công
nghệ trồng ngô lai, bông, trồng dâu nuôi tằm) bởi việc ra quyết định thay vụ
mùa này bằng vụ mùa khác là hết sức cần thiết. Các trung tâm khuyến nông
“mới” cần cộng tác với các cơ quan và trường đại học liên quan để gắn liền quá
22

trình nghiên cứu với khuyến nông, đóng vai trò cơ quan điều phối cung cấp đầu
vào hoặc tiếp thị (với khu vực tư nhân) và cung cấp tín dụng (với Ngân hàng
Nông nghiệp), để bảo đảm quá trình chuyển giao công nghệ thực hiện thành
công.
Đối với cây ăn quả hàng hoá, công nghệ áp dụng không chỉ là đầu vào mà
còn bao gồm vốn đầu tư vào đồng ruộng và một chế độ nuôi trồng đúng đắn
(thông thường là chế độ phân bón định kỳ, làm cỏ và các biện pháp chăm sóc đất
trồng khác), hiện đang là vấn đề đòi hỏi sự giám sát chặt chẽ và nhiều dịch vụ
hỗ trợ kỹ thuật. Do đó, cần tăng cường hỗ trợ khuyến nông đối với người nông
dân ở những nơi doanh nghiệp Nhà nước không cung cấp các dịch vụ tương tự.
Vấn đề đang cần giải quyết là sự hỗ trợ về kỹ thuật và tín dụng như vậy sẽ được
cung cấp như thế nào, theo các điều kiện nào. Rõ ràng vấn đề chúng ta sẽ gặp
phải là việc hỗ trợ tối thiểu cho nông dân trong thời kỳ chưa thu hoạch. Với
những yêu cầu như vậy, áp dụng phương thức “trung tâm khuyến nông” có lẽ
không thích hợp. Đối với các biện pháp bảo vệ đất hay các công nghệ nông lâm, kết hợp với bảo vệ rừng đầu nguồn, cần có sự đầu tư nhất định (mặc dù có

thể không lớn như đối với đất thu hoạch cây lâu năm). Hầu hết những thay đổi
quan trọng cần tiến hành không chỉ ở từng họ nông dân mà cả ở cấp xã, bởi
nhiều khi vấn đề này liên quan tới việc sử dụng các nguồn lực chung.
Chúng ta có công nghệ đã được cải thiện để sử dụng tốt hơn các vùng đất
trồng vấn đề còn tồn tại hiện nay là điều chỉnh công nghệ này cho thích hợp với
các điều kiện hiện tại cũng như những hạn chế, khó khăn người nông dân đang
gặp phải. Trên cơ sở các nghiên cứu, cần lưu ý tới một số điều kiện tiên quyết
cho việc chuyển giao công nghệ có hiệu quả:
Thứ nhất, các công nghệ có khả năng áp dụng tốt nhất cần thích ứng với
những điều kiện canh tác của các hộ nông dân và phải đủ khả năng tăng thu
nhập của người nông dân. Ngoài ra, thay đổi cây trồng có thể phù hợp với một

23

số vùng nhưng không thể áp dụng ở các nơi khác do thị trưoừng nơi đó hấp thụ
các loại nông sản này còn hạn chế.
Thứ hai, đối với canh tác thương mại và bảo vệ đất bằng các biện pháp
nông lâm, có thể xem xét áp dụng một số công nghệ đã dược sử dụng nhiều và
có hiệu quả tại địa phương. Đối với canh tác thương mại, là lĩnh vực đã đúc kết
nhiều kinh nghiệm thường có vấn đề cần cân nhắc giữa thay đổi để thích ứng
với nhu cầu của người nông dân (vụ mùa thu hoạch trong năm) hay phục hồi
hoặc bắt đầu cách canh tác mới (trồng cây lâu năm). Đối với xử lý đất bằng biện
pháp nông – lâm, cần chú trọng hơn vào khả năng áp dụng các biện pháp hiện có
(quế và cây ăn quả), đang cần triển khai rộng hay những biện pháp mới tại một
số vùng như bảo vệ đất bằng phương pháp trồng cỏ. Phương án bảo vệ đất bằng
cách trồng cỏ là biện pháp các hộ nhỏ để thực hiện với chi phí thấp. Phương
pháp này cũng tạo thêm nguồn thu nhập bằng cách bán hạt giống cỏ, thức ăn gia
súc và cành khô làm chất đốt, giúp người nông dân có thêm nhận thức về giá trị
của việc bảo vệ đất.

Vì những lý do trên, cần xác định rõ những điều kiện để việc chuyển giao,
ứng dụng các công nghệ được hiệu quả.
Vì vậy, cần tập trung nghiên cứu để (a) phát triển những công nghệ thích
hợp dưới dạng các thử nghiệm được quản lý chặt chẽ, ứng dụng tại các vùng thật
điển hình ở nhiều địa phương, để từ đó đánh giá xác định các phương pháp thích
hợp, các thực tiễn xác lập và quản lý; (b) chương trình giới thiệu, thử nghiệm
công nghệ ngay trên đồng ruộng, dựa trên phương thức tối ưu khi ứng dụng
công nghệ được chuyển giao (kết hợp với (a)). Sự tham gia của người nông dân
vào việc xác định mục tiêu và đưa ra các công nghệ cũng như việc định hướng
lại cách hỗ trợ khuyến nông và đào tạo cán bộ khuyến nông là những yếu tố hết
sức quan trọng. Quan trọng hơn nữa là việc áp dụng ngay những thành công đã
có trong việc chuyển giao công nghệ tại địa phương để có tác động nhanh hơn.
Ở một số vùng được lựa chọn, có thể xem xét thành lập các nhóm chuyển giao

24

công nghệ bao gồm các nông dân tại địa phương, các cán bộ khuyến nông có
hiểu biết, những nông dân già có kinh nghiệm, các nhà nghiên cứu và đại diện
các tổ chức phi Chính phủ làm việc tại địa phương. Khi tiến hành hỗ trợ kỹ
thuật, có thể đề xuất ứng dụng công nghệ ngay trên đồng ruộng vì điều này phù
hợp với thực tiễn hệ thống canh tác còn hạn chế, đồng thời đem lại lợi ích cho
người nông dân. Trong trường hợp bảo vệ đất rừng/ rừng đầu nguồn, các khu đồi
được xác định đúng, thậm chí có thể dùng làm mô hình điểm và trở thành một
nội dung của quá trình khuyến nông. Có thể đưa đoàn đại biểu các nông dân từ
một xã tới thăm xã có mô hình điểm để tìm hiểu các điều kiện ứng dụng công
nghệ.
5-/ Chính sách hỗ trợ đầu vào, đầu ra cho sản xuất
5.1-/ Chính sách tín dụng
Bên cạnh việc cung cấp dịch vụ, cơ sở hạ tầng và đảm bảo quyền nắm giữ

sử dụng đất loại hình Chính phủ có tác động quan trọng đối với sự tăng trưởng
nông nghiệp là tín dụng. Về nội dung tín dụng, kết quả hoạt động đáng kể của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã được nêu trên ở mục chính sách đầu tư.
Chính sách mới về tạo vốn cho sản xuất khẳng định: “thực hiện cho vay
trực tiếp đến hộ cho vay trực tiếp đến hộ sản xuất, đảm bảo nguyên tắc có hiệu
quả kinh tế xã hội, không phân biệt thành phần kinh tế ưu tiên cho vay để thực
hiện các dự án do Chính phủ quy định, chú trọng cho vay đối với hộ nghèo, các
hộ vùng núi cao, hải đảo, vùng xa, vùng kinh tế mới. Cụ thể là:
– Việc cấp vốn cho sản xuất, bất kể loại hình nào cũng chuyển hẳn sang hình
thức tín dụng thương mại dưới nhiều kênh khác nhau, xoá bỏ dần chế độ cho vay
lãi suất ưu đãi đối với doanh nghiệp Nhà nước và thực hiện lãi suất dương.
– Đối tượng cho vay được mở rộng tới hộ nông dân với tư cách là những
đơn vị tự chủ sản xuất kinh doanh hàng hoá trong nông thôn. Nếu trong giai
đoạn 1981 – 1987 đối tượng cho vay chủ yếu là các doanh nghiệp nông nghiệp

25

I – Đặc điểm nông nghiệp Việt NamII – Các chính sách kinh tế tài chính tăng trưởng nông nghiệp nông thôn Việt Nam1. Chính sách ruộng đất2. Chính sách khuyến khích phát triển3. Các chính sách và chương trình góp vốn đầu tư. 4. Chính sách KHCN, khuyến nông5. Chính sách tương hỗ nguồn vào, đầu ra cho sản xuất. 6. Chính sách bảo đảm an toàn lương thực – một hành vi cân đối tinh xảo. Phần III – Đánh giá thực thi chính sách, đường lối, giải pháp pháttriển nông nghiệp nông thôn trong tương lai. I – / Đánh giá việc thực thi chính sách tăng trưởng nông nghiệp nôngthôn ở Việt Nam. 1 – / Thành tựu. 2 – / Hạn chế. II – / Đường lối tăng trưởng nông nghiệp nông thôn ở Việt Nam. III – / Các giải pháp và chính sách tăng trưởng nông nghiệp nông thôntrong tương lai. 1 – / Các chương trình tăng trưởng nông nghiệpvà nông thôn2 – / Các giải pháp chính sách đa phần. PHẦN ICƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC CHÍNH SÁCH KINH TẾI – / VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG : 1 – / Vai trò và những công cụ quản trị của nhà nước : 1.1. Vai trò của nhà nước : Trong quản trị Nhà nước, quản trị Nhà nước về kinh tế tài chính giữ vị trí đặc biệtquan trọng, do tại lịch sử vẻ vang tăng trưởng kinh tế tài chính quốc tế đã chứng minh và khẳng định rằng khôngkhi nào và không ở đâu có Nhà nước phi kinh tế, đứng bên trên hay bên ngoàikinh tế. Các hoạt động giải trí của Nhà nước ( người đại diện thay mặt trực tiếp là nhà nước ) đềuhoặc là tác động ảnh hưởng thôi thúc hoặc là ngưng trệ sự hoạt động của nền kinh tế tài chính ; mặtkhác bất kể Nhà nước nào cũng đều có vai trò quản trị nền kinh tế tài chính quốc dân, trải qua những công cụ quản trị và can thiệp bằng mạng lưới hệ thống thể chế, chính sách đểđiều khiển nền kinh tế tài chính sao cho nền kinh tế tài chính tự thân hoạt động nhằm mục đích đạt tới mụctiêu mong ước và thôi thúc quỹ đạo đã lựa chọn. Điều khác nhau cơ bản giữacác vương quốc là Nhà nước quản trị nền kinh tế tài chính như thế nào, hình thức, mức độcan thiệp, điều tiết thế nào và đến đâu là hài hòa và hợp lý và thoả mãn được những nhu yếu đểđạt tới những tiềm năng đã đặt ra. Thực tiễn cũng đã chứng tỏ mỗi vương quốc phải địa thế căn cứ vào những điều kiệncụ thể về kinh tế tài chính, chính trị xã hội, điều kiện kèm theo đơn cử về những nguồn lực để lựa chọncác giải pháp tăng trưởng hữu hiệu nhất cho vương quốc của mình. Học thuyết kinh tế tài chính hỗn hợp chủ trương tăng trưởng kinh tế tài chính dựa vào cả vai tròthị trường và Nhà nước. Theo Paul A.Samuelson thì cả thị trường và Chính phủđều quan trọng so với tăng trưởng kinh tế tài chính. Trong mối đối sánh tương quan đó vai trò củaChính phủ là : a. Thiết lập một khung khổ lao lý thống nhất để tạo môi trường tự nhiên chungcho những lực lượng thị trường hoạt động giải trí. b. Sửa chữa những khuyết tật của thị trường để bảo vệ cho nó hoạt động giải trí cóhiệu quả trải qua việc nhà nước đề ra những chính sách kinh tế tài chính vĩ mô, xây dựngcác chương trình, kế hoạch tăng trưởng kinh tế tài chính – xã hội. c. Đảm bảo sự công minh trong xã hội, trải qua việc nhà nước can thiệpvào những quy trình phân chia nguồn lực, phân phối thu nhập giữa những những tầng lớp trongxã hội. d. Ổn định kinh tế tài chính vĩ mô : Nhiệm vụ của nhà nước là ngăn ngừa và hạn chếtình trạng lạm phát kinh tế, thất nghiệp để bảo vệ những điều kiện kèm theo thiết yếu cho cácnhà kinh doanh thương mại hoạt động giải trí có hiệu suất cao. nhà nước thực thi những vai trò trên đâythông qua việc trấn áp, giám sát những khoản tiêu tốn của nhà nước, sử dụngcác công cụ về thuế, … 1.2. Các công cụ can thiệp của nhà nước : – Kế hoạch tăng trưởng kinh tế tài chính xã hội là một phương pháp quản trị của Nhànước. Nó hoạt động giải trí có ý thức của Nhà nước trên cơ sở nhật thức khách quannhằm khuynh hướng tăng trưởng hàng loạt nền kinh tế tài chính quốc dân cũng như xác lập cácgiải pháp lớn để thực thi xu thế đó với hiệu suất cao kinh tế tài chính xã hội lớn nhất. – Luật pháp : là toàn diện và tổng thể những quy phạm pháp luật do Nhà nước phát hành vàthừa nhận, bộc lộ ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động nhằmđiều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong quy trình tổ chức triển khai, quản trị và hoạtđộng sản xuất – kinh doanh thương mại giữa những doanh nghiệp với nhau và những cơ quan quảnlý Nhà nước. Bằng luật kinh tế tài chính, Nhà nước lao lý cơ quan tài phán trong kinhdoanh, hình thành chính sách xử lý những tranh chấp – kinh doanh thương mại ; Nhà nước quyđịnh điều kiện kèm theo thủ tục phá sản của doanh nghiệp ; Nhà nước kiểm soát và điều chỉnh hành vikinh doanh, xác lập hành vi nào là hành vi kinh doanh thương mại hợp pháp và hành vi nàolà hành vi kinh doanh thương mại phạm pháp ; Nhà nước xác lập vị thế pháp lý cho những tổchức và đơn vị chức năng kinh tế tài chính. Trên cơ sở đó tạo lập cơ sở pháp lý cho hoạt động giải trí vàNhà nước thực thi sự quản trị của mình so với hoạt động giải trí đó. – Các chính sách kinh tế tài chính là một trong những công cụ hầu hết để Nhà nướcthực hiện vai trò quản trị kinh tế tài chính trong những quá trình tăng trưởng nhất định là tổngthể những phương pháp, giải pháp phương tiện đi lại nhất định được Nhà nước sử dụngnhằm ảnh hưởng tác động đến cá thể nhóm người, xã hội để đạt tới những tiềm năng bộ phậntrong quy trình thực thi những khuynh hướng tiềm năng tăng trưởng của xã hội. Một số chính sách kinh tế tài chính : Chính sách cơ cấu tổ chức kinh tế tài chính ; Chính sách kinh tế tài chính ; Chính sách tiền tệ tín dụng thanh toán ; Chính sách về những chuyên ngành kinh tế tài chính ; Chính sáchkinh tế đối ngoại ; Chính sách dân số việc làm. – Các đòn kích bẩy kinh tế tài chính : Những giải pháp làm tăng hiệu suất cao của ngành đượcchú trọng. Ví dụ như : giảm thuế hàng xuất khẩu để khuyến khích xuất khẩu, tăng thuế hàng hoá đặc biệt quan trọng ( thuốc lá, rượu, bia ) để hạn chế tiêu dùng. – Lực lượng kinh tế tài chính của Nhà nước : Đầu tư vào những doanh nghiệp Nhà nướcgóp phần tạo nên những tế bào nền kinh tế tài chính để chi phối đến hoạt động giải trí những doanhnghiệp khác, nó là doanh nghiệp hoạt động giải trí như bao doanh nghiệp khác nhưng cósự tương hỗ của Nhà nước, nhà nước. Đầu tư công cộng : là bộ phận rất quan trọngcủa mạng lưới hệ thống kế hoạch tăng trưởng kinh tế tài chính xã hội, tạo nền tảng cho những doanhnghiệp quốc doanh và ngoài quốc doanh, cũng như mạng lưới hệ thống tổ chức triển khai, giáo dục, ytế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, … có điều kiện kèm theo tăng trưởng thuận tiện. 2 – / Vai trò của chính sách kinh tế tài chính tăng trưởng nông nghiệp nông thôn : 2.1. Vai trò chính sách kinh tế tài chính tăng trưởng nông nghiệp nông thôn : Chính sách là tư tưởng nổi bật về những kiểu can thiệp của Nhà nước vàokinh tế thị trường. Ví dụ : một người nghĩ về “ Chính sách tín dụng thanh toán ” thì sẽ gợi lênmột sự tưởng tượng về sự can thiệp của nhà nước trong việc phân phối tín dụngcho nông dân. nhà nước thao tác đó nhằm mục đích sửa chữa thay thế và kiểm soát và điều chỉnh cách thứcnông dân nhận tín dụng thanh toán khi không có sự can thiệp của Nhà nước. Bức tranh pháthoạ một khái niệm về những chính sách. Chính sách tăng trưởng kinh tế tài chính nông nghiệp ( chính sách nông nghiệp ) là cácbiện pháp ảnh hưởng tác động, can thiệp của nhà nước vào nghành nghề dịch vụ sản xuất nông nghiệpnhằm đạt tớ tiềm năng đã lựa chọn hay là tổng thể và toàn diện những giải pháp kinh tế tài chính và phikinh tế có tương quan đến Nhà nước và những ngành có tương quan nhằm mục đích ảnh hưởng tác động vàoNhà nước theo những tiềm năng đơn cử trong thời hạn nhất định. Trong hai thập kỷ qua, đường lối tăng trưởng kinh tế tài chính của nước ta tập trungchủ yếu vào nông nghiệp, tăng trưởng nông nghiệp là trách nhiệm số 1, trongkhi đối tượng người dùng của những chính sách nông nghiệp là ngành nông nghiệp. Để thấy rõvai trò của chính sách kinh tế tài chính tăng trưởng nông nghiệp, nghiên cứu và phân tích vai trò của nôngnghiệp với tăng trưởng kinh tế tài chính là điều tất yếu, thiết yếu. Vai trò đó biểu lộ : – Nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế tài chính, đặc biệt quan trọng cácnước đang tăng trưởng. Bởi vì ở những nước này hầu hết người dân sống dựa vào nghềnông. Để tăng trưởng kinh tế tài chính nâng cao phúc lợi cho nhân dân nhà nước cần cóchính sách ảnh hưởng tác động vào khu vực nông nghiệp nhằm mục đích nâng cao năng xuất câytrồng và tạo nhiều việc làm nông thôn. – Khu vực nông nghiệp cũng hoàn toàn có thể là một nguồn cung ứng vốn cho pháttriển kinh tế tài chính, có ý nghĩa lớn là vốn tích luỹ bắt đầu cho công nghiệp hoá. – Dân số nông thôn ở những nước tăng trưởng là thị trường quan trọng để tiêuthụ mẫu sản phẩm công nghiệp như tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng. – Ngành nông nghiệp góp thêm phần cung ứng nguyên vật liệu nguồn vào cho ngànhcông nghiệp nhất là công nghiệp chế biến. – Ngành nông nghiệp ở những nước đang tăng trưởng chứa một lượng lao độngnhàn rỗi khác lớn, nhưng chuẩn bị sẵn sàng phân phối cho ngành công nghiệp nếu cần thiếtvà đồng thời cũng là nơi nâng đỡ khi công nghiệp sa sút. * Chính sách nông nghiệp, một nghành phức tạp, rất là rộng gồm có : Chính sách ruộng đất, chính sách góp vốn đầu tư, chính sách tín dụng thanh toán, chính sách thịtrường tiêu thụ nông sản phẩm, chính sách thuế nông nghiệp, chính sách khoahọc công nghiệp và khuyến nông, lan rộng ra những hình thức kinh tế tài chính hợp tác, đổimới chính sách xã hội nông thôn, chính sách giảng dạy, sử dụng đội ngũ và đãi ngộcán bộ nông nghiệp nông thôn, … nhưng vai trò bộc lộ ở ba hướng sau : – Các chính sách có vai trò tác động ảnh hưởng trực tiếp vào nguồn sản xuất, làm thayđổi quy mô cũng như phương hướng sản xuất kinh doanh thương mại trong những điều kiệncụ thể và với thời hạn nhất định. Các chính sách đơn cử : chính sách tỷ giá đầura, chính sách tín dụng thanh toán cho nguồn vào, chính sách góp vốn đầu tư tăng trưởng, cơ sở hạ tầngcần cho sản xuất, chính sách ruộng đất, chính sách khuyến nông, triểnkhai. Người sản xuất thường rất nhạy cảm so với những loại chính sách này dochúng ảnh hưởng tác động trực tiếp và can đảm và mạnh mẽ tới quyền lợi vật chất của họ. Bởi vậy Chínhphủ thường phải rất cẩn trọng khi sử dụng chúng trong ứng xử với nông dân, nhằm mục đích đạt tới tiềm năng chung của xã hội. – Các chính sách vĩ mô tác động ảnh hưởng trong khoanh vùng phạm vi kinh tế tài chính trong nước, có tác độngđiều chỉnh một hoạt động giải trí hoặc một tập hợp những hoạt động giải trí kinh tế tài chính nhất định baogồm những chính sách : chính sách thuế, chính sách trợ cấp, chính sách góp vốn đầu tư giáodục, nếu kế hoạch, góp vốn đầu tư hạ tầng Giao hàng sản xuất, đời sống nôngthôn. Các chính sách này có vai trò tác động ảnh hưởng gián tiếp đến người sản xuất nôngnghiệp, nhằm mục đích hiệu chỉnh những mối quan hệ giữa nông nghiệp với những khu vựckhác trong toàn nền kinh tế tài chính, giữa người sản xuất nông nghiệp với người tiêudùng nông sản trong xã hội. – Các chính sách tác động ảnh hưởng hiệu chỉnh mối quan hệ kinh tế tài chính trong nước với kinhtế quốc tế gồm có : Chính sách thuế nhập khẩu nhằm mục đích hạn chế hoặc khuyếnkhích nhập khẩu một loạt mẫu sản phẩm hoặc vật tư nào đó ; Chính sách trợ cấp hoặcđánh thuế xuất khẩu : điều tiết khối lượng mẫu sản phẩm xuất khẩu khi muốn khuyếnkhích hoặc hạn chế xuất khẩu ; Chính sách hạn ngạch nhập khẩu, thuế nhậpkhẩu : hạn chế khối lượng loại sản phẩm nhập khẩu ; Sử dụng hàng rào phi thuế quan, bằng nhiều văn bản lao lý ngặt nghèo về tổ chức triển khai y tế, chất lượng loại sản phẩm, gây trở ngại cho nhập khẩu ; Chính sách tỷ giá : để kiểm soát và điều chỉnh quan hệ xuất nhậpkhẩu giữa những nhóm hàng tham gia xuất nhập. 2.2. Tác dụng của 1 số ít chính sách đơn cử : – Chính sách trợ cấp nguồn vào cho sản xuất : Đó là : cung ứng với giá rẻ, thậmchí trong 1 số ít trường hợp cho không những loại vật tư như : phân hoá học, thuốctrừ sâu bệnh, hạt gống mới và nước tưới cây xanh giúp nông dân dữ thế chủ động, thuận tiện trong sản xuất đặc biệt quan trọng là so với những nông dân nghèo, gặp nhiềukhó khăn trong việc mua phân bón cho sản xuất, việc trợ cấp phân bón sẽ tạođiều kiện hạ thấp ngân sách cận biên của người sản xuất đồng thời làm tăng sảnlượng. Mức tăng của sản lượng tỷ suất thuận lợ với mức ngày càng tăng sử dụng phânbón, như vậy hiệu suất cao của trợ cấp nguồn vào không làm tác động ảnh hưởng đến Ngân sách chi tiêu thịtrường nông sản trong nước vì nền kinh tế tài chính là Open, giá nông sản chịu ảnh hưởngmạnh mẽ bởi giá quốc tế. Người sản xuất được hưởng lợi từ chính sách trợ cấpđầu vào một giá trị thu nhập bằng giá trị trợ cấp cộng với thặng dư được tạo ratừ sản lượng ngày càng tăng bổ trợ thu được mà thị trường phải thanh toán giao dịch cho ngườisản xuất với giá nhất định. Trong trường hợp chính sách được vận dụng lâu dài hơn, quyền lợi thu được sẽ khuyến khích nông dân sử dụng phân hoá học để thâm canhsản xuất, và đến chừng mực nào đó nếu cắt giảm hoặc thôi trợ cấp nông dân vẫntiếp tục tăng sử dụng phân bón để tăng sản lượng, đây là tác dụng rất tích cực củachính sách tương hỗ phân bón. Đặc biệt so với nền kinh tế tài chính tiểu nông nghèo nàn, chính sách tương hỗ phân bón có ý nghĩa to lớn và tác động ảnh hưởng nhanh đến việc giatăng sản lượng giúp nông dân chuyển sang sản xuất hàng hoá, thích ứng với thịtrường. – Chính sách trợ giá đầu ra : nhà nước chi ra khoản trợ cấp đổi khác bằngtổng giá trị cần bù đắp chênh lệch giữa giá bảo vệ được trợ cấp và giá thịtrường hạ thấp. Chính sách trợ giá đầu ra làm người sản xuất trọn vẹn yên tâmvì dù trong thực trạng nào họ vẫn bán được loại sản phẩm với giá bảo vệ mức thunhập, kích thích họ duy trì và tăng trưởng sản xuất. Trái lại chính sách trợ giá đầura gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước giá trị thiệt hại được tính bằng cáchđem ngân sách đầu vào trừ đi phần thu lợi về ngoại tệ do không phải nhập khẩu sảnphẩm được trợ giá. – Chính sách trợ cấp lương thực, thực phẩm cho người tiêu dùng : tác độngcơ bản của chính sách trợ cấp tiêu dùng là tăng khối lượng cầu trong nước, khônglàm tăng cung ( khu vực sản xuất ). Người tiêu dùng được hưởng lợi từ chínhsách một giá trị thu nhập bằng mức trợ cấp theo đơn vị chức năng loại sản phẩm nhân với tổngsố đơn vị chức năng tiêu dùng, còn người sản xuất nông nghiệp không được hưởng lợi gì từchính sách nên không ngày càng tăng sản xuất. Thực hiện chính sách này người chịuthiệt hại là người đóng thuế. Do đó hoàn toàn có thể nói rằng chính sách trợ cấp tiêu dùngvề lương thực, thực phẩm ảnh hưởng tác động xấu đi đến sản xuất nông nghiệp. II – / CÁC CHÍNH SÁCH KINH TẾ ĐÃ ĐƯỢC ÁP DỤNG Ở MỘT SỐ NƯỚC : 1 – / Các chính sách kinh tế tài chính đã được vận dụng ở một số ít nước : a – / Chính sách ruộng đất : Tổ chức sản xuất lấy hộ nông dân làm chủ thể sản xuất đã định hướngchính sách ruộng đất nông nghiệp ở những nước là : ruộng đất phải được sử dụng, chi phối theo quyền tự do tăng trưởng sản xuất – kinh doanh thương mại của hộ nông dân nóichung. nhà nước những nước tạo điều kiện kèm theo cho nông dân được quyền “ sở hữutương đối ” về đất đai canh tác bằng nhiều cách như : chia đất công, bán rẻ trảdần, khai hoang đất mới, … nông dân được quyền mua – bán và luân chuyểnruộng đất theo nhu yếu của đời sống và sản xuất, từ đó đất sản xuất được hìnhthành giá thành rõ ràng, tạo nên thị trường ruộng đất nói riêng và đất đai nói chungrất thông dụng ở Châu Á Thái Bình Dương như : Xứ sở nụ cười Thái Lan, Philippin, Malaysia, … Chính sách ruộng đất kích thích sử dụng có hiệu suất cao ruộng đất, nhanhchóng tăng trưởng sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường, với giá trị gia tăngcao, bảo vệ điều kiện kèm theo để nông dân phát huy hết năng lực kinh doanh thương mại nôngnghiệp của từng hộ mái ấm gia đình. Song mặt trái của quy trình mua – bán luân chuyểntự do ruộng đất đã dẫn đến sự tích tụ không hài hòa và hợp lý ruộng đất vào tay 1 số ít tưnhân không trực tiếp tham gia vào kinh doanh thương mại sản xuất nông nghiệp ( chỉ thuầntuý kinh doanh thương mại đất đai ). Trả giá cho sự tích tụ này là có hàng triệu hộ nông dândo bán đất canh tác để lấy tiền sinh sống trước mắt, dẫn tới rơi vào tình trạngcùng quẫn không còn đất sản xuất trong khi những khu vực sản xuất công nghiệpvà dịch vụ chưa đủ sức thu nhận họ, dẫn đến tình hình xã hội nông thôn và toànxã hội nói chung thiếu không thay đổi như ở Philippin. Ở Xứ sở nụ cười Thái Lan đang diễn ra tìnhtrạng nông dân nghèo phải bán ruộng đất tốt cho những khách sạn, những chủ doanhnghiệp công nghiệp và du lịch, trở thành người long dong đi kiếm sống ở thànhphố và tự vận động và di chuyển lên những vùng đất mới để khai thác tài nguyên. Điều đó gâyra rất nhiều khó khăn vất vả cho nhà nước và toàn xã hội, là mặt trái của chính sách tựdo hoá mua – bán ruộng đất ở nông thôn. b – / Chính sách tín dụng thanh toán : Các khoản tín dụng thanh toán thiết yếu cung ứng cho hộ nông dân được thực thi quahệ thống tín dụng thanh toán Nhà nước, những tổ chức triển khai kinh tế tài chính ( hợp tác xã, TT tín dụng thanh toán – kỹ thuật ) và những tổ chức triển khai tự nguyện của nông dân trong nông thôn. Phần lớnnhững khoản tín dụng thanh toán này được triển khai với lãi suất vay vay tặng thêm. Rất nhiềunước và chủ quyền lãnh thổ đã và đang vận dụng chính sách cho nông dân vay vốn với lãi suấtưu đãi ( vài ba Phần Trăm một năm ) như : Bănglađet, Đất nước xinh đẹp Thái Lan, Philippin, Inđônêxia, Malaysia, Nước Hàn, Đài Loan, … Việc phân phối tín dụng thanh toán tặng thêm cho hộ nông dân, đặc biệt quan trọng là những hộ nghèo, thiếu vốn sản xuất trọn vẹn có ý nghĩa to lớn trong việc giúp họ vươn lên thoátkhỏi cảnh nghèo nàn. Nhờ tương hỗ vốn, họ hoàn toàn có thể khai thác được nhiều hơn cácnguồn tài nguyên và nguồn lực sẵn có trong mái ấm gia đình. Có thể nói, chính sách tạovốn qua tín dụng thanh toán tặng thêm là một chính sách có hiệu suất cao cả về mặt kinh tế tài chính và xãhội. Đây chính là nguyên do mà nhiều nhà nước đã theo đuổi chính sách này trongchiến lược tăng trưởng sản xuất nông nghiệp và quan hệ với nông dân, ngư dân vànhững người sản xuất nhỏ ( tiểu thủ công nghiệp ) ở những vùng nông thôn rộng lớnvốn còn nghèo nàn, lỗi thời. c – / Chính sách tương hỗ phân bón, thuốc trừ sâu : Chính sách tương hỗ phân bón, thuốc trừ sâu giúp nông dân tăng năng suấtcây trồng và giảm thiểu sự tàn phá của dịch bệnh là một xu thế tích cựctrong chính sách chung so với nông nghiệp và nông thôn. Sự hỗ trợ vốn giá thành phân bón và thuốc trừ sâu cho nông dân được nhiều Chínhphủ ở những nước Châu Á Thái Bình Dương chăm sóc, coi đây là yếu tố có tính kế hoạch. ỞInđônêxia, trước năm 1984 nhà nước chỉ huy việc bán phân bón cho nông dân10thống nhất theo giá bằng 40 % giá tiền sản xuất phân bón. Nhà nước đã đầu tưxây dựng những nhà máy sản xuất công nghiệp sản xuất phân bón khá tăng trưởng trongnước. Ngoài ra, nhà nước còn trợ cấp giá thuốc trừ sâu tới 60 % giá sản xuất. ỞMalaysia Nhà nước quyết định hành động cho không những hộ nông dân nghèo 80 kgUrê / năm, cấp không thuốc trừ sâu khi có sâu bệnh nặng. Ở Nhật Bản, Nước Hàn, chính sách không thay đổi Ngân sách chi tiêu và cung ứng thuận tiện phân bón và thuốc trừ sâu đãkích thích nông dân thâm canh đồng ruộng đạt tới mức kỷ lục của quốc tế. d – / Chính sách điều tra và nghiên cứu tiến hành nông nghiệp, nhằm mục đích giúp nông dâncác kỹ năng và kiến thức sản xuất và tiếp cận thị trường nông sản trong và ngoài nước. Trong số những nước đang tăng trưởng, Vương Quốc của nụ cười là một nổi bật tốt về chínhsách này. Nhà nước chú trọng kiến thiết xây dựng những trạm trại nghiên cứu và điều tra nông nghiệp. nhà nước đã chi cho công tác làm việc điều tra và nghiên cứu tiến hành nông nghiệp lớn hơn 1,7 lần so với công tác làm việc nghiên cứu và điều tra và sử dụng quỹ này một cách tập trung chuyên sâu có hiệuquả vào những cây xanh Giao hàng xuất khẩu có giá trị và có vị trí kế hoạch đối vớinền kinh tế tài chính. Cục tiến hành nông nghiệp Đất nước xinh đẹp Thái Lan ( DOAE ) là cơ quan khuyếnnông rất có hiệu suất cao của Nhà nước. Nhà nước trải qua hoạt động giải trí tiến hành đểthực hiện chính sách đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp DOAE không chỉ triểnkhai những kỹ thuật trải qua thăm quan, huấn luyện và đào tạo mà còn sản xuất một khối lượnglớn những loại hạt giống mới cho nông dẩn trong hầu hết những vụ chính. Chính sáchnghiên cứu và tiến hành nông nghiệp ở Đất nước xinh đẹp Thái Lan có ảnh hưởng tác động vĩnh viễn đến sự thayđổi về hiệu suất nông nghiệp. Một trong những kinh nghiệm tay nghề hay của Thái Lanlà Chính phủn đã lôi kéo, lôi cuốn được phần đông tư nhân tham gia vào cácchương trình khuyến nông nhằm mục đích giảng dạy ra những quy mô trồng trọt hỗn hợp, canhtác phong phú. e – / Chính sách tương hỗ đầu ra của sản xuấtChính sách công dụng bảo trợ sản xuất cho nông dân qua việc mua và ổnđịnh giá đầu ra những mẫu sản phẩm quan trọng nhằm mục đích giảm thua thiệt cho nông dân khigiá trị thị trường hạ dưới chi phí sản xuất. Điển hình trong sử dụng chính sách11này là Inđônêxia, Nhật Bản, Trung Quốc. Thailand đã cấp nửa tỷ bạt ( tươngđương 20 triệu USD ) để thực thi chính sách này. nhà nước Trung Quốc thựchiện ký hợp đồng mua không thay đổi lúa gạo cho nông dân, tăng giá thóc mua vào, khuyến khích nông dân bán lúa gạo cho Nhà nước. f – / Chính sách góp vốn đầu tư thiết kế xây dựng hạ tầng cho kinh tế tài chính nông thônXây dưng hạ tầng văn minh, gồm có : khu công trình tưới, tiêu, đường xá, điện, phương tiện đi lại giao thông vận tải ; Nhập khẩu những kỹ thuật nhất định từ nước ngoàivà tăng cường năng lực nghiên cứu và điều tra tiến hành trong nước ; Phát triển nguồn nhânlực ; Phát triển và bảo vệ những nguồn tài nguyên và môi trường tự nhiên ; Động viên tiếtkiệm từ nông sản dư thừa và chuyển chúng đến nơi thiết yếu ; Giảm thất nghiệp vàđói nghèo ; Chăm sóc sức khoẻ, dinh dưỡng cho dân cư ; Đổi mới những thể chế và tổchức như hợp tác xã nông dân, ngân hàng nhà nước, hiệp hội. Như vậy, công dụng lớn nhất mà nhà nước phải đảm nhiệm là góp vốn đầu tư xâydựng hạ tầng cho nông thôn. Gánh nặng về tăng trưởng hạ tầng chỉ cóthể giảm nhẹ khi khu vực tư nhân ở nông thôn tăng trưởng can đảm và mạnh mẽ đủ sức để hỗtrợ nhà nước một phần trong việc thoả mãn nhu yếu chung về tăng trưởng cơ sởhạ tầng. 2 – / Một số bài học kinh nghiệm kinh nghiệmMột là, kinh tế tài chính nông nghiệp và nông thôn là một bộ phận quan trọng củamọi mạng lưới hệ thống kinh tế tài chính, nó tiềm ẩn nhiều yếu tố khó khăn vất vả, kém tăng trưởng, người nghèo đông so với khu vực khác thế cho nên chính sách kinh tế tài chính của Chính phủphải biểu lộ : coi trọng tăng trưởng sản xuất, tạo cơ sở bảo vệ nguồn lương thựccho chính dân cư nông thôn và toàn xã hội, trên cơ sở đó tăng trưởng toàn nềnkinh tế – sự nâng đỡ tặng thêm thiết yếu, đặc biệt quan trọng trong tiến trình đầu tăng trưởng kinhtế quốc gia, khi nông nghiệp nông thôn còn yếu kém và trong thực trạng lỗi thời, trợ giúp nông dân nghèo ở nông thôn được xem là tư tưởng chung trong chínhsách so với nông nghiệp và nông thôn. 12H ai là, cùng với khuyến khích tăng trưởng sản xuất nông nghiệp, chính sáchphải hướng vào tái tạo những nguồn lực nguồn vào và bảo vệ môi trường sinh thái bảođảm sự tăng trưởng lâu bền. Đó là sự tân tiến và tích cực của chính sách kinh tếtrong những điều kiện kèm theo khác nhau. Ba là, sự lựa chọn chính sách tương thích cho từng quy trình tiến độ tăng trưởng, đốivới từng khu vực nông thôn khác nhau đóng vai trò quyết định hành động sự thành côngcủa quy trình quản lý và vận hành, không chính sách nào hoàn toàn có thể ảnh hưởng tác động trực tiếp với cácchính sách ảnh hưởng tác động gián tiếp là một nhu yếu rất quan trọng. Bốn là, cải cách và thay đổi chính sách kinh tế tài chính so với nông nghiệp, nôngthôn là quy trình liên tục, không có khuôn mẫu định sẵn cho bất kể một hệ thốnghay một kiểu mạng lưới hệ thống đơn cử nào : Kinh tế nông thôn chỉ hoàn toàn có thể tăng trưởng thànhcông trong kinh tế thị trường khi những thể chế kinh tế tài chính so với nông thôn hoạt độngđồng bộ, có tiềm năng tác động ảnh hưởng cùng chiều và hiệu ứng cao. Năm là, tổng thể những chính sách mà chính phủ nước nhà vận dụng đều rất thiết yếu. Songcác chính sách hầu hết tập trung chuyên sâu tương hỗ nguồn vào, tương hỗ vào chính sách giá thành, thịtrường, chính sách góp vốn đầu tư tăng trưởng hạ tầng, chính sách bảo trợ sản xuấtnông nghiệp, giảm nhẹ điều tiết thu nhập từ nông dân. Sự khác nhau chỉ là ở sựlựa chọn về liều lượng thời hạn và sự phối hợp giữa những chính sách. 13PH ẦN IICÁC CHÍNH SÁCH KINH TẾ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆPNÔNG THÔN VIỆT NAMI – / ĐẶC ĐIỂM NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM – Nông nghiệp là ngành có lịch sử dân tộc tăng trưởng truyền kiếp, những hoạt động giải trí nôngnghiệp đã có từ hàng nghìn năm nay kể từ khi con người từ bỏ nghề săn bắn vàhái lượm. Do lịch sử dân tộc truyền kiếp nên dù khoa học kỹ thuật tăng trưởng với nhiều máymóc văn minh, người nông dân vẫn vận dụng những kỹ thuật truyền thống cuội nguồn để canhtác, trồng trọt. – Nông nghiệp là ngành tạo ra loại sản phẩm thiết yếu nhất của con người, lương thực là loại sản phẩm chỉ có ngành công nghiệp sản xuất ra, con người có thểsống không cần sắt thép, than, điện nhưng không hề thiếu lương thực. Do đónước nào cũng phải sản xuất hoặc nhập khẩu lương thực. – Hoạt động sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào nhiều vào vạn vật thiên nhiên. Thờitiết, gần nước, độ phì nhiêu cấu trúc thể nhưỡng của đất đai mỗi nơi một khác nênviệc lựa chọn cơ cấu tổ chức cây xanh, vật nuôi, và cả kỹ thuật canh tác cũng khác nhau. – Tỷ trọng lao động và loại sản phẩm nông nghiệp trong nền kinh tế tài chính có xuhướng giảm. Việt Nam lao động nông thôn chiếm 75 % tạo ra mẫu sản phẩm chiếm30 – 60 %. Sự biến động này chịu sự ảnh hưởng tác động của quy luật tiêu dùng mẫu sản phẩm vàquy luật người lao động. II – / CÁC CHÍNH SÁCH KINH TẾ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔNVIỆT NAM1 – / Chính sách ruộng đấtRuộng đất là mối chăm sóc số 1 của người nông dân. Sự phát triểnnông nghiệp nông thôn của quốc gia, trước hết nhờ vào vào mối quan hệ củanông dân với ruộng đất và việc sử dụng có hiệu suất cao ruộng đất của họ trong14phạm vi cả nước. Vì vậy xử lý mối quan hệ ruộng đất có ý nghĩa cực kỳquan trọng cho sự tăng trưởng nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá. Chính sách tiên phong phải kể đến là việc bảo vệ quyền sử dụng đất chongười nông dân. Sự gắn bó những người tiểu nông so với mảnh đất của mình làrất thâm thúy. Nó gắn chặt với tâm lý của người nông dân về quyền tự do khôngbị áp bức và năng lực cải tổ đời sống cho mái ấm gia đình. Do đó nếu bị tước đoạtmảnh đất của mình, họ sẽ có rủi ro tiềm ẩn bị bần cùng hoá. Chính thế cho nên cải cáchruộng đất thường được coi là điều kiện kèm theo cần tiên phong để tăng trưởng nông nghiệp ởnước đang tăng trưởng. Cải tiến quản trị đất đai, bảo vệ quyền sử dụng đất vĩnh viễn một điều kiệntiên quyết quan trọng để cải tổ những ưu tiên, khuyến mại so với người dân đầu tưcải tạo đất. Trong khuôn khổ cải cách ruộng đất gần đây, đất đai được phân bổcho những cá thể, sẽ được ĐK không chính thức tại những đơn vị chức năng địa chính cấpxã. Việc ĐK này sẽ được xác nhận trải qua cấp giấy ghi nhận quyền sửdụng đất nông nghiệp ( Sổ đỏ ). “ Đất nông nghiệp ” là đất được xếp vào hạng cóthể tương thích cho nông nghiệp, đa phần là do lịch sử vẻ vang sử dụng đất từ trước, đãđược tận mắt chứng kiến những tân tiến hài hòa và hợp lý xét về vận tốc phân đất và việc cấp giấychứng nhận sử dụng đất. Tuy nhiên đã có nhiều quan ngại về yếu tố liệu “ quyềncanh tác trên đất ” đã đủ phân phối những động lực, đủ để cho người dân góp vốn đầu tư cảitạo đất dài hạn. Các nhìn nhận khởi đầu cho thấy, điều này chưa phải là hạn chếnghiêm trọng so với những tác động ảnh hưởng của việc thả nổi thiên nhiên và môi trường thị trường đấtđai như trường hợp của Vương Quốc của nụ cười ( ví dụ như góp vốn đầu tư vào canh tác cây nhiều năm tạicác khu vực đất đồi không cần phải có giấy ghi nhận ). Tuy nhiên, điều nàykhông hề có nghĩa là việc cấp chính thức giấy ghi nhận sử dụng đất lại có thểđi chậm lại. Một khoảng trống quan trọng hơn nữa có tương quan tới việc cấp đấtvà cấp giấy ghi nhận quyền sử dụng đất so với “ đất rừng ”, mặc dầu phù hợpvới nông nghiệp, theo đó việc cấp lần sau những ghi nhận sử dụng đất và những tácđộng được, mất về môi trường tự nhiên sẽ gặp phải. 15C ùng với cải cách ruộng đất, việc xác lập hình thức chiếm hữu và sử dụngđất đai là cơ sở hình thành phương pháp tổ chức triển khai sản xuất và phân phối sản phẩmnông nghiệp. Vì vậy xử lý tốt quan hệ chiếm hữu, sử dụng ruộng đất hợp quyluật, hợp lòng người là chiếc chìa khoá tập thể những giải pháp nhằm mục đích giải quyếtnhững yếu tố kinh tế tài chính xã hội so với nông dân – nông nghiệp – nông thôn. Nhà nước giao đất cho hộ mái ấm gia đình có quyền tự do kinh doanh thương mại trên đất củamình nhưng chiếm hữu chỉ là khái niệm tương đối. Quyền sở hữu ruộng đất thuộcvề Nhà nước, do Nhà nước quản trị theo pháp luật. Điều đó là hài hòa và hợp lý, nhưng cầncó sự phân biệt giữa những loại đất, những vùng khác nhau về mức độ chiếm hữu. Đấtrừng, sông, biển, thềm lục địa, những vùng có tài nguyên quý và hiếm trong lòngđất, đất canh tác được hình thành trong nhiều năm nay, đất chuyên dùng … phảihoàn toàn do Nhà nước chiếm hữu. Điều đó sẽ có lợi cho việc quản trị và khai tháccác tiềm năng của đất. Còn đất hoang, đồi núi trọc … hiện tại vô chủ, không cóngười quản trị và sử dụng, Nhà nước không có vốn góp vốn đầu tư tìm hiểu và khám phá … thì chấpnhận hình thức đồng sở hữu giữa Nhà nước và nhân dân. Quyền sở hữu tối caocủa Nhà nước được bộc lộ trải qua những luật tương quan đến đất đai như thuếđất, luật góp vốn đầu tư, chính sách điều tiết vĩ mô ( quy hoạch, phân vùng, góp vốn đầu tư vốn, xác lập phương hướng sản xuất ). Nhà nước không tham gia quản trị đơn cử từngkhu đất, loại đất, không điều hoà đất giữa những tổ chức triển khai, tập thể hoặc cá thể đãđầu tư khám phá những loại đất này. Các tổ chức triển khai và cá thể nói trên không chỉ cóquyền sử dụng mà còn có quyền mua, bán, chuyển, nhượng đất đai do họ khaiphá theo quy hoạch và khuynh hướng chung của Nhà nước. Đó là hình thức “ bánsở hữu ” so với ruộng đất do họ khám phá, một hình thức chiếm hữu thành viên cóđiều kiện, còn quyền sở hữu tối cao vẫn thuộc về Nhà nước. Thời hạn quyền sở hữu ruộng đất, Nhà nước giao ruộng đất cho nông dânsử dụng là lâu dài hơn. Nghị quyết 10 lao lý thời hạn giao khoán là 15 năm, sảnlượng khoán không thay đổi 5 năm, những những hợp tác xã, những địa phương lại thực hiệnsai nguyên tắc làm cho nông dân không yên tâm góp vốn đầu tư vào ruộng khoán, không16muốn nhận đất đấu thầu. Kết quả tìm hiểu xã hội học năm 1990 cho thấy 59,47 % nông dân không muốn đấu thầu, 3,8 % muốn trả ruộng khoán, 25,92 % cho rằngkhoán ruộng đất chưa hài hòa và hợp lý, chỉ có 43,64 % muốn liên tục củng cố hợp tác xã … còn ở Nam Bộ triển khai khoán “ nguyên canh ” khó phân biệt quyền sở hữu vàquyền sử dụng ruộng đất. Dự báo mức tăng dân số ở Việt Nam cao ( 1,7 % ) ruộng đất canh tác nôngnghiệp thì có hạn chế đã gây nên một xích míc cần xử lý để phát triểnnông nghiệp và nông thôn Việt Nam. Trong thực trạng thiếu đất canh tác nôngnghiệp, chính sách và những ưu tiên, khuyến mại so với việc sử dụng đất có tác độngkhông chỉ so với yếu tố thiên nhiên và môi trường và sự xuống cấp trầm trọng của những nguồn tài nguyênthiên nhiên, nhưng đồng thời cũng sẽ có ảnh hưởng tác động tới đa dạng hoá canh tác. Vídụ, việc lan rộng ra canh tác trồng cao su đặc trên đất bazan, ở cao nguyên đất bằnghay ở những thung lũng đồi đất cao ở những tỉnh Tây Nguyên như Dak Lak có thểkhông phải bỏ ra nhiều ngân sách vào đầu những năm 80 nhưng giờ đây sẽ là mọtvấn đề cần xem xét. Do nhu yếu tăng cao so với những loại sản phẩm chăn nuôi và yêucầu tập trung chuyên sâu những nguồn thức ăn cho lợn, gia cầm, bò sữa, và nuôi tôm, thì nhucầu trồng ngô và những hạt có dầu khác ( để sản xuất những thức ăn protein ) đã đượcmở rộng canh tác nhanh gọn. Việc lan rộng ra hơn nữa trồng cao su đặc tại những khuvực đất tương đối mầu mỡ và phẳng phiu này hoàn toàn có thể sẽ ngăn cản việc mở rộngcanh tác của những loại cây hàng năm có giá trị kinh tế tài chính, chính bới, một khi đã đi vàocanh tác một loại cây này thì rất tốn kém để chuyển sang canh tác loại cây kia. Ngoài ra, nếu như toàn bộ những vùng đất dốc dành cho việc canh tác những cây hàngnăm có giá trị kinh tế tài chính, thì việc lan rộng ra diện tích quy hoạnh canh tác cây nhiều năm trước đóở những diện tích quy hoạnh đất phẳng phiu hoàn toàn có thể có ảnh hưởng tác động xấu đi so với môi trườngcũng như nội dung kinh tế tài chính. Chính vì thế, cần phải chăm sóc công tác làm việc kế hoạchtrước khi góp vốn đầu tư vào cây nhiều năm, trong đó có xem xét tới những ngân sách của việc sửdụng những diện tích quy hoạnh đất đó. Tương tự như vậy, so với trường hợp lan rộng ra diệntích trồng cafe ở Tây Nguyên thì doanh thu của góp vốn đầu tư lại phụ thuộc vào hoàn toànvào tính sẵn có những nguồn nước tưới ngầm, tác động ảnh hưởng của thiên nhiên và môi trường ; ví dụ : việc17cạn kiệt nguồn nước ở Dak Lak đã chứng tỏ rằng nhu yếu cần phải có cácbiện pháp thiết thực để hạn chế tình hình này. Một lo lắng khác ít khi được nhắc đến có tương quan tới những diện tích quy hoạnh đấtnông nghiệp tiềm năng đặc biệt quan trọng ở những vùng đất cao, đó là chính sách phân đất vàcấp quyền nắm giữ đất cho những nông dân, dựa trên “ hiệu suất cao tăng trưởng ” của họtrong việc sử dụng đất. Điều này đã dẫn tới thực trạng những hộ nông dân giầu cólại được giao nhiều diện tích quy hoạnh đất mà trước kia là đất trống, đồi núi trọc. Điều nàykhông chỉ lan rộng ra hơn khoảng cách thu nhập giữa hội đồng, thực thi chínhsách này còn hoàn toàn có thể gây ra những tổn thất hiệu suất cao tiềm năng trong việc phát triểnđất. Xét tới diện tích quy hoạnh khởi đầu phân chia dựa trên năng lực góp vốn đầu tư hiện có của từngcá nhân ( nghĩa là : hiệu suất cao tăng trưởng ) chứ không phải là năng lực tiềm tàng củacác hộ mái ấm gia đình hoàn toàn có thể góp phần vào năng lực lan rộng ra sản xuất nhờ có một hỗtrợ kinh tế tài chính và những tương hỗ khác ở mức độ tối thiểu. Chính thế cho nên, sẽ có sự đánhđổi giữa những hiệu quả thời gian ngắn và thời cơ sử dụng tốt hơn nữa nguồn nhân lựchiện có về mặt trung hạn. Sự đánh đổi này, cùng việc bảo vệ không thay đổi xã hội vềmặt trung hạn đến dài hạn, là yếu tố cần phải đương đầu ngay. 2 – / Chính sách khuyến khích tăng trưởng. Phát triển nông nghiệp từ năm 1988 rất phong phú nhờ những chính sách pháttriển của nhà nước trong công cuộc thay đổi hoặc chính sách cải cách bao gồmcác giải pháp, chính sách kinh tế tài chính vĩ mô và kinh tế tài chính ngành. Trong số những chínhsách chống lạm phát kinh tế, không thay đổi nền kinh tế tài chính vĩ mô, những chính sách sau đặc biệtquan trọng : ( a ) hướng đồng Việt Nam gần hơn với tỷ suất trao đổi thị trường ; ( b ) duy trì mức lãi suất vay trên mức lạm phát kinh tế ; và ( c ) giảm bao cấp cho những xí nghiệpquốc doanh. Đổi mới cũng gồm có tự do hoá giá, thị trường và những hoạt độngthương mại. Vào những năm đầu thập kỷ 1990, việc công bố những luật để tăngcường nghành nghề dịch vụ thương mại gồm có Luật Ngân hàng mới và những luật kinhdoanh / doanh nghiệp ( sửa đổi luật liên kết kinh doanh ). 18C ác giải pháp đơn cử trong nghành nghề dịch vụ nông nghiệp gồm có : ( a ) chuyển dịchtừ canh tác tập thể, kế hoạch hoá tập trung chuyên sâu sang chính sách canh tác cá thể / giađình ; ( b ) tăng việc giao đất hợp tác xã / Nhà nước cho cá thể sử dụng với cácquyền của người sử dụng đất ; ( c ) tăng cường quản trị và tự chủ về kinh tế tài chính đốivới những doanh nghiệp Nhà nước ( gồm có những nông trường quốc doanh và hợptác xã ) ; và ( d ) xoá bỏ những hạn chế về lưu thông lương thực liên tỉnh. Những thayđổi này đã tạo ra những điều kiện kèm theo thôi thúc doanh nghiệp hoá và “ thị trường hoá ” nền kinh tế tài chính nông thôn. Các shop tư nhân tăng trưởng rất nhanh ở nông thôn đãkhông chỉ ship hàng người tiêu dùng và những nhu yếu nguồn vào cho sản xuất của cáccộng đồng làng nhỏ mà còn cung ứng một phần nhỏ những nhu yếu của họ về vốnvà Giao hàng như “ cơ sở khuyến nông / thị trường ” cho những chủ kinh doanh nhỏ những mặt hàngcó nhu yếu thị trường cao. Tình hình này tạo ra những tiền đề để phong phú cơ cấucây trồng hàng năm theo những nhu yếu thị trường. 3 – / Các chính sách và chương trình góp vốn đầu tư. Rất nhiều những hoạt động giải trí cải cách trong nghành nghề dịch vụ nông nghiệp vào cuốinhững năm 80 tới đầu những năm 90 là hiệu quả những góp vốn đầu tư được thực thi cuốinhững năm 70 tới giữa những năm 80. Từ năm 1976 – 1986, khai hoang đất vàtái định cư đã giúp tăng diện tích quy hoạnh trồng trọt gần 20 %. Diện tích trồng cây lươngthực đã tăng đến đỉnh điểm vào năm 1980 và sau đó đã giảm từ từ, điều đó chỉ raViệt Nam đã đạt tới số lượng giới hạn đất hoàn toàn có thể khai thác cho nông nghiệp. Tổng đầu tưcố định trong nông, lâm nghiệp đã tăng đáng kể vào cuối những năm 70 và giữanhững năm 80. Đầu tư vào những khu công trình thuỷ lợi, nguồn năng lượng và giao thông vận tải, hầu hết trải qua thương mại với CMEA và những hiệp định góp vốn đầu tư với USSR.Các nước CMEA cũng hỗ trợ vốn lan rộng ra rồng những cây thân cứng ( chè, cafe, hạtđiều và cao su đặc ) và ngành dệt mà trước đây do những nông trường quốc doanh quảnlý, nhưng lúc bấy giờ đặc biệt quan trọng với cao su đặc đang hầu hết được những công ty bao cấp ( gia tài hoặc những nhà máy sản xuất ) cho những doanh nghiệp Nhà nước ( DNNN ). Sau khigiảm dần nhịp độ góp vốn đầu tư từ cuối những năm 80, nông nghiệp đã tăng đáng kể từ19những năm 90. Các nhà máy sản xuất Nhà nước đã tăng khoản góp vốn đầu tư của họ cho cao sutừ 21 triệu đồng năm 1990 lên 102 tỷ đồng năm 1994 và cho cafe từ 3 triệunăm 1990 lên 16 triệu năm 1994. Trong cùng thời hạn này, góp vốn đầu tư vào thuỷ lợiđã tăng từ 244 lên 1.240 tỷ đồng ; góp vốn đầu tư Nhà nước trong chăn nuôi cũng tăng từ17 lên 106 tỷ đồng. Đầu tư vào thuỷ lợi để tăng trưởng trồng lúa sẽ cấp nước cho 3 triệu ha trongsố 4,2 triệu ha đất canh tác lúc bấy giờ. Do mạng lưới hệ thống không hoàn thành xong, thiếu xót vềquy hoạch và phong cách thiết kế, thiếu nước và quản lý và vận hành kém, chỉ có 2 triệu ha đất hiệnnay thực sự được tưới. Mặc dù thực tiễn này, góp vốn đầu tư vào thuỷ lợi giữa những năm91 – 95 đã đem lại 0,5 triệu ha đất mới cho trồng lúa ( xem Kế hoạch – Đầu tưcông cộng của Việt Nam ) phần nhiều là do tái tạo đất chua phèn vùng đất ướtđồng bằng sông Cửu Long. Với mức độ tương tự 125.000 ha / năm và giả sửtăng hiệu suất 2 tấn / ha, vùng đất mới khai thác cho trồng lúa ở đồng bằng sôngCửu Long đã góp thêm phần làm tăng sản lượng thêm 250.000 tấn / năm. Tăng nănglực tưới, tự do hoá thị trường trong thiên nhiên và môi trường kinh tế tài chính vĩ mô bền vững và kiên cố, đảm bảoan toàn hơn về quyền sử dụng đất và tăng năng lực tín dụng thanh toán ( sẽ đàm đạo ởphần dưới ), đã được cho phép nông dân đáp lại được những biến hóa về giá bằng cáchtăng góp vốn đầu tư vào những kỹ thuật công nghệ tiên tiến tân tiến Giao hàng cho sản xuất nôngnghiệp. Bảng – Tăng trưởng sản xuất lúa hàng năm và sử dụng vật tư đầu vàoMức tăng trưởng trung bình năm ( % ) 1980 – 1987S ản lượng lúaPhân bónChi phí của nhà nước vào thuỷ lợiCác loại giống mớiMáy kéoBơm4, 217,3 Chưa có số liệu4, 9 – 1,0 Chưa có số liệu1987 – 19944,812,0136,811,227,925,9 Trung bình từ năm 1987 ( 1986 – 1988 ) đến năm 1994 ( 1993 – 1995 ), mứctăng trưởng năm của mỗi đơn vị chức năng máy kéo ( đơn vị chức năng có hiệu suất nhỏ hơn ) và bơm20là 28 % và 26 %. Mặc dù tỷ suất sử dụng giảm sau năm 1987, tổng lượng phân bónsử dụng ( khoảng chừng 80 % số phân bón được sử dụng cho sản xuất lúa ) vẫn rất đadạng. Diện tích trồng những loại giống mới được tăng gấp đôi. Do đặc thù đầu tưvà lựa chọn công nghệ tiên tiến sản xuất, cơ cấu tổ chức sản xuất lúa đã đổi khác, đặc biệt quan trọng là ởđồng bằng sông Cửu Long. Ở vùng này, 44 % diện tích quy hoạnh trồng lúa năm 1995 đượcsử dụng cho vụ hè ( vào thời hạn này những giống lúa văn minh phát huy tác dụngcao nhất ) so với 26 % trong năm 1985. Ngược lại, cơ cấu tổ chức mùa vụ sản xuất lúavẫn không biến hóa ở vùng núi và đồng bằng, trung du Bắc Bộ và ở TâyNguyên. Chi tiêu giành cho chương trình tái định cư ( do đặc thù tương quan vớiviệc xây dựng những nông trường quốc doanh ) rất quan trọng khi góp vốn đầu tư vào nângcao năng lực sản xuất của những cây công nghiệp ( đặc biệt quan trọng là những cây thân cứng từgiữa những năm 70 cho đến cuối năm 1980 ). Các năm 1976 – 1990, có 3,9 triệungười được tái định cư theo những chương trình khác nhau, quan trọng nhất làchương trình “ định cư có tổ chức triển khai ” mở màn từ năm 1977 do Bộ Lao động Thươngbinh và Xã hội triển khai để khuyến khích xây dựng những “ vùng kinh tế tài chính mới ” nhằm mục đích định cư lâu bền hơn. Các hợp tác xã và nông trường quốc doanh được tương hỗ vềtài chính để góp vốn đầu tư vào thiết kế xây dựng những khu công trình hạ tầng cơ sở và những dịch vụ sảnxuất. Chương trình này cùng với “ Chương trình Định canh Định cư ” của Chínhphủ đã tạo ra thời cơ cho những nhóm dân tộc thiểu số định cư vĩnh viễn ở một nơi vàmột phần tương hỗ kinh tế tài chính cho những hoạt động giải trí sản xuất nông nghiệp. Đầu tiên, nhà nước xác lập những khu vực tỷ lệ dân cư thấp có tiềm năng đất nôngnghiệp ( hầu hết là những cao nguyên vùng Tây Nguyên ) và nhằm mục đích vào những khu vực “ quá đông người ” ( cả ở miền núi và vùng đồng bằng ) để khuyến khích tái địnhcư tự nguyện. Sự khác nhau giữa hai chương trình là Chương trình Định canh Định cư có sự tham gia di dân của nhiều tỉnh khác nhau ( di dân trọn gói ). Ảnhhưởng chung của những chương trình này là đã hoà trộn với nhau. Mặc dù rừng đãbị tàn phá để trồng cây công nghiệp ( chè, cafe, hạt tiêu, dâu tằm ) và 1 số ít câylương thực khác ( lúa, rau ), thực tiễn việc trồng những cây công nghiệp trong chương trình21định cư ở cao nguyên vùng Tây Nguyên là rất hài hòa và hợp lý về điều kiện kèm theo đất tăng trưởng nôngnghiệp và đã cải tổ được mức sống cho người dân mới định cư. Các nông trườngquốc doanh được xây dựng trong chương trình tái định cư sẽ chịu nghĩa vụ và trách nhiệm cungcấp những dịch vụ tương hỗ ( kỹ thuật, xã hội và kinh tế tài chính ). Sau năm 1991, khi khái niệm nông trường quốc doanh không còn được ưathích nữa, hai chương trình đóng vai trò chủ chốt trong việc phân phối vốn chonông nghiệp và quản trị tài nguyên vạn vật thiên nhiên là : – Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam cho vay vốn ( đa phần là vốn hoạtđộng ) dùng vốn góp vốn đầu tư tổ chức triển khai cho những hộ nông dân vay ( khoảng chừng 35 % số ngườilàm nghề nông và cũng tỷ suất tương tự như cho số người nghèo ở nông thôn ), số tiền tíndụng này đã tăng trưởng từ số lượng không ở năm 1990 khi mới xây dựng. Đến nayNgân hàng nông nghiệp Việt Nam đã cho vay lên tới 100 triệu USD một năm. – Nghị định 327, Chương trình “ phủ xanh đất trống đồi núi trọc ” là nguồntín dụng góp vốn đầu tư cho từng hộ nông dân để lan rộng ra trồng cây công nghiệp loạithân cứng ( cafe, cao su đặc, chè, cây ăn quả ) và những loại cây rừng tăng trưởng nhanhđể làm bột giấy và giấy. Nó cũng đã phân phối vốn cho những hoạt động giải trí thí điểmtrong công tác làm việc bảo vệ rừng tương quan tới những thoả thuận chung với những cộng đồngsống ở vùng đệm, loại vốn này gồm có vốn cho những khu công trình hạ tầng cơ sở xãhội quan trọng ( cấp nước di động, lớp học, trạm y tế, bưu điện ). Phân bổ vốnhàng năm từ ngân sách nhà nước là khoảng chừng 55,60 triệu USD. 4 – / Chính sách tương hỗ nghiên cứu và điều tra và khuyến nôngCần ưu tiên ra mắt về chuyển giao công nghệ tiên tiến thích hợp để hoàn toàn có thể khaithác tốt nhất hoặc khai hoang những vùng đồi trọc, đặc biệt quan trọng là vùng cao nguyên. Đối với loại vụ thu hoạch hàng năm có giá trị kinh tế tài chính, những vùng canh tác nàyhiện có rất nhiều kinh nghiệm tay nghề trong việc chuyển giao công nghệ tiên tiến ( ví dụ như côngnghệ trồng ngô lai, bông, trồng dâu nuôi tằm ) bởi việc ra quyết định hành động thay vụmùa này bằng vụ mùa khác là rất là thiết yếu. Các TT khuyến nông “ mới ” cần cộng tác với những cơ quan và trường ĐH tương quan để gắn liền quá22trình nghiên cứu và điều tra với khuyến nông, đóng vai trò cơ quan điều phối phân phối đầuvào hoặc tiếp thị ( với khu vực tư nhân ) và cung ứng tín dụng thanh toán ( với Ngân hàngNông nghiệp ), để bảo vệ quy trình chuyển giao công nghệ tiên tiến triển khai thànhcông. Đối với cây ăn quả hàng hoá, công nghệ tiên tiến vận dụng không chỉ là nguồn vào màcòn gồm có vốn góp vốn đầu tư vào đồng ruộng và một chính sách nuôi trồng đúng đắn ( thường thì là chính sách phân bón định kỳ, làm cỏ và những giải pháp chăm nom đấttrồng khác ), hiện đang là yếu tố yên cầu sự giám sát ngặt nghèo và nhiều dịch vụhỗ trợ kỹ thuật. Do đó, cần tăng cường tương hỗ khuyến nông so với người nôngdân ở những nơi doanh nghiệp Nhà nước không cung ứng những dịch vụ tương tự như. Vấn đề đang cần xử lý là sự tương hỗ về kỹ thuật và tín dụng thanh toán như vậy sẽ đượccung cấp như thế nào, theo những điều kiện kèm theo nào. Rõ ràng yếu tố tất cả chúng ta sẽ gặpphải là việc tương hỗ tối thiểu cho nông dân trong thời kỳ chưa thu hoạch. Vớinhững nhu yếu như vậy, vận dụng phương pháp “ TT khuyến nông ” có lẽkhông thích hợp. Đối với những giải pháp bảo vệ đất hay những công nghệ tiên tiến nông lâm, tích hợp với bảo vệ rừng đầu nguồn, cần có sự góp vốn đầu tư nhất định ( mặc dầu cóthể không lớn như so với đất thu hoạch cây nhiều năm ). Hầu hết những thay đổiquan trọng cần triển khai không chỉ ở từng họ nông dân mà cả ở cấp xã, bởinhiều khi yếu tố này tương quan tới việc sử dụng những nguồn lực chung. Chúng ta có công nghệ tiên tiến đã được cải tổ để sử dụng tốt hơn những vùng đấttrồng yếu tố còn sống sót lúc bấy giờ là kiểm soát và điều chỉnh công nghệ tiên tiến này cho thích hợp vớicác điều kiện kèm theo hiện tại cũng như những hạn chế, khó khăn vất vả người nông dân đanggặp phải. Trên cơ sở những nghiên cứu và điều tra, cần quan tâm tới một số ít điều kiện kèm theo tiên quyếtcho việc chuyển giao công nghệ tiên tiến có hiệu suất cao : Thứ nhất, những công nghệ tiên tiến có năng lực vận dụng tốt nhất cần thích ứng vớinhững điều kiện kèm theo canh tác của những hộ nông dân và phải đủ năng lực tăng thunhập của người nông dân. Ngoài ra, đổi khác cây xanh hoàn toàn có thể tương thích với một23số vùng nhưng không hề vận dụng ở những nơi khác do thị trưoừng nơi đó hấp thụcác loại nông sản này còn hạn chế. Thứ hai, so với canh tác thương mại và bảo vệ đất bằng những biện phápnông lâm, hoàn toàn có thể xem xét vận dụng một số ít công nghệ tiên tiến đã dược sử dụng nhiều vàcó hiệu suất cao tại địa phương. Đối với canh tác thương mại, là nghành nghề dịch vụ đã đúc kếtnhiều kinh nghiệm tay nghề thường có yếu tố cần xem xét giữa biến hóa để thích ứngvới nhu yếu của người nông dân ( vụ mùa thu hoạch trong năm ) hay phục hồihoặc khởi đầu cách canh tác mới ( trồng cây nhiều năm ). Đối với giải quyết và xử lý đất bằng biệnpháp nông – lâm, cần chú trọng hơn vào năng lực vận dụng những giải pháp hiện có ( quế và cây ăn quả ), đang cần tiến hành rộng hay những giải pháp mới tại mộtsố vùng như bảo vệ đất bằng giải pháp trồng cỏ. Phương án bảo vệ đất bằngcách trồng cỏ là giải pháp những hộ nhỏ để triển khai với ngân sách thấp. Phươngpháp này cũng tạo thêm nguồn thu nhập bằng cách bán hạt giống cỏ, thức ăn giasúc và cành khô làm chất đốt, giúp người nông dân có thêm nhận thức về giá trịcủa việc bảo vệ đất. Vì những nguyên do trên, cần xác lập rõ những điều kiện kèm theo để việc chuyển giao, ứng dụng những công nghệ tiên tiến được hiệu suất cao. Vì vậy, cần tập trung chuyên sâu nghiên cứu và điều tra để ( a ) tăng trưởng những công nghệ tiên tiến thíchhợp dưới dạng những thử nghiệm được quản trị ngặt nghèo, ứng dụng tại những vùng thậtđiển hình ở nhiều địa phương, để từ đó nhìn nhận xác lập những giải pháp thíchhợp, những thực tiễn xác lập và quản trị ; ( b ) chương trình trình làng, thử nghiệmcông nghệ ngay trên đồng ruộng, dựa trên phương pháp tối ưu khi ứng dụngcông nghệ được chuyển giao ( tích hợp với ( a ) ). Sự tham gia của người nông dânvào việc xác lập tiềm năng và đưa ra những công nghệ tiên tiến cũng như việc định hướnglại cách tương hỗ khuyến nông và giảng dạy cán bộ khuyến nông là những yếu tố hếtsức quan trọng. Quan trọng hơn nữa là việc vận dụng ngay những thành công xuất sắc đãcó trong việc chuyển giao công nghệ tiên tiến tại địa phương để có ảnh hưởng tác động nhanh hơn. Ở 1 số ít vùng được lựa chọn, hoàn toàn có thể xem xét xây dựng những nhóm chuyển giao24công nghệ gồm có những nông dân tại địa phương, những cán bộ khuyến nông cóhiểu biết, những nông dân già có kinh nghiệm tay nghề, những nhà nghiên cứu và đại diệncác tổ chức triển khai phi nhà nước thao tác tại địa phương. Khi triển khai tương hỗ kỹthuật, hoàn toàn có thể đề xuất kiến nghị ứng dụng công nghệ tiên tiến ngay trên đồng ruộng vì điều này phùhợp với thực tiễn mạng lưới hệ thống canh tác còn hạn chế, đồng thời đem lại quyền lợi chongười nông dân. Trong trường hợp bảo vệ đất rừng / rừng đầu nguồn, những khu đồiđược xác lập đúng, thậm chí còn hoàn toàn có thể dùng làm quy mô điểm và trở thành mộtnội dung của quy trình khuyến nông. Có thể đưa đoàn đại biểu những nông dân từmột xã tới thăm xã có quy mô điểm để tìm hiểu và khám phá những điều kiện kèm theo ứng dụng côngnghệ. 5 – / Chính sách tương hỗ nguồn vào, đầu ra cho sản xuất5. 1 – / Chính sách tín dụngBên cạnh việc cung ứng dịch vụ, hạ tầng và bảo vệ quyền nắm giữsử dụng đất mô hình nhà nước có ảnh hưởng tác động quan trọng so với sự tăng trưởngnông nghiệp là tín dụng thanh toán. Về nội dung tín dụng thanh toán, tác dụng hoạt động giải trí đáng kể củaNgân hàng Nhà nước Việt Nam đã được nêu trên ở mục chính sách góp vốn đầu tư. Chính sách mới về tạo vốn cho sản xuất khẳng định chắc chắn : “ thực thi cho vaytrực tiếp đến hộ cho vay trực tiếp đến hộ sản xuất, bảo vệ nguyên tắc có hiệuquả kinh tế tài chính xã hội, không phân biệt thành phần kinh tế tài chính ưu tiên cho vay để thựchiện những dự án Bất Động Sản do nhà nước pháp luật, chú trọng cho vay so với hộ nghèo, cáchộ vùng núi cao, hải đảo, vùng xa, vùng kinh tế tài chính mới. Cụ thể là : – Việc cấp vốn cho sản xuất, bất kể mô hình nào cũng chuyển hẳn sang hìnhthức tín dụng thanh toán thương mại dưới nhiều kênh khác nhau, xoá bỏ dần chính sách cho vaylãi suất khuyễn mãi thêm so với doanh nghiệp Nhà nước và triển khai lãi suất vay dương. – Đối tượng cho vay được lan rộng ra tới hộ nông dân với tư cách là nhữngđơn vị tự chủ sản xuất kinh doanh thương mại hàng hoá trong nông thôn. Nếu trong giaiđoạn 1981 – 1987 đối tượng người tiêu dùng cho vay đa phần là những doanh nghiệp nông nghiệp25