Chỉ số giá tiêu dùng, Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ tháng 6 năm 2021

Giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào tăng theo giá thế giới; giá điện, nước sinh hoạt tăng theo nhu cầu tiêu dùng là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2021 tăng 0,19% so với tháng trước, tăng 1,62% so với tháng 12/2020 và tăng 2,41% so với tháng 6/2020. Bình quân 6 tháng đầu năm 2021, CPI tăng 1,47% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng thấp nhất kể từ năm 2016[1]; lạm phát cơ bản 6 tháng tăng 0,87%.

I. TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG GIÁ CẢ THÁNG 6/2021

So với tháng trước, CPI tháng 6/2021 tăng 0,19 % ( khu vực thành thị tăng 0,22 % ; khu vực nông thôn tăng 0,15 % ). Trong 11 nhóm sản phẩm & hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính tháng Sáu có 8 nhóm tăng giá so với tháng trước, 2 nhóm giảm giá, riêng nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giữ giá không thay đổi .

Trong 8 nhóm hàng tăng giá, nhóm giao thông có mức tăng so với tháng trước cao nhất với 1,07% (làm CPI chung tăng 0,1 điểm phần trăm) do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá xăng, dầu vào ngày 12/5/2021; 11/6/2021 và 26/6/2021, trong đó giá xăng E5 tăng 1.340 đồng/lít so với tháng trước, giá xăng A95 tăng 1.380 đồng/lít, giá dầu diezen tăng 1.340 đồng/lít. Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,63% so với tháng trước (làm CPI chung tăng 0,12 điểm phần trăm), chủ yếu do các đợt nắng nóng trong tháng làm chỉ số giá điện, nước sinh hoạt lần lượt tăng 1% và tăng 0,26%, bên cạnh đó giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 1,26% theo giá nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào[2]; giá gas tăng 3,85% do giá gas trong nước điều chỉnh tăng 14.000 đồng/bình 12 kg sau khi giá gas thế giới tăng 42,5 USD/tấn (từ mức 485 USD/tấn lên mức 527,5 USD/tấn). Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,11% so với tháng trước chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng đồ uống giải khát trong mùa hè tăng cao. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,1% do giá các sản phẩm sử dụng nhiều vào dịp hè như tủ lạnh, máy điều hòa nhiệt độ, quạt điện tăng. Nhóm giáo dục tăng 0,03%, trong đó giá văn phòng phẩm tăng 0,2%. Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02% do giá thuốc các loại tăng 0,05%. Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,06%, tập trung ở nhóm đồ trang sức tăng 1,27%.

Trong 2 nhóm hàng giảm giá, nhóm hàng ăn và dịch vụ nhà hàng siêu thị tháng 6/2021 giảm 0,13 % so với tháng trước ( làm CPI chung giảm 0,04 điểm Xác Suất ) do giá lương thực, thực phẩm giảm khi nguồn cung dồi dào. Nhóm văn hóa truyền thống, vui chơi và du lịch chịu ảnh hưởng tác động của dịch Covid-19 giảm 0,08 % do du lịch trọn gói giảm 0,05 % ; giá cây, hoa cảnh giảm 2,91 % .
So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 6/2021 tăng 2,41 %. Trong 11 nhóm hàng chính có 8 nhóm tăng giá và 3 nhóm giảm giá. Nhóm giao thông vận tải tăng cao nhất 15,54 % so với tháng 6/2020, hầu hết do từ tháng 7/2020 đến nay giá xăng A95 tăng 5.940 đồng / lít ; giá xăng E5 tăng 5.510 đồng / lít và giá dầu diezen tăng 4.000 đồng / lít. Ở chiều ngược lại, trong nhóm hàng ăn và dịch vụ nhà hàng, nhóm thực phẩm tháng 6/2021 giảm 2,01 % do cùng thời gian này năm 2020, giá thịt lợn ở mức cao vì nguồn cung thiếu khi chịu tác động ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi. Nhóm bưu chính, viễn thông có chỉ số giá giảm 0,82 % do giá những loại điện thoại cảm ứng giảm .
So với tháng 12/2020, CPI tháng Sáu tăng 1,62 %, trong đó có 9 nhóm hàng tăng giá và 2 nhóm hàng giảm giá ( Nhóm bưu chính, viễn thông và nhóm văn hóa truyền thống, vui chơi và du lịch giảm lần lượt 0,54 % và 0,25 % ). Nhóm giao thông vận tải tháng 6/2021 tăng cao nhất với 9,14 % do giá xăng, dầu trong nước từ đầu năm đến nay đã kiểm soát và điều chỉnh 10 đợt làm cho giá xăng A95 tăng 4.440 đồng / lít ; giá xăng E5 tăng 4.250 đồng / lít và giá dầu diezen tăng 3.740 đồng / lít .

Tốc độ tăng CPI tháng Sáu từ năm 2017 đến năm 2021

Đơn vị tính : %

Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020 Năm 2021
CPI tháng 6 so với
tháng trước
-0,17 0,61 -0,09 0,66 0,19
CPI tháng 6 so với
cùng kỳ năm trước
2,54 4,67 2,16 3,17 2,41
CPI tháng 6 so với
tháng 12 năm trước
0,20 2,22 1,41 -0,59 1,62
CPI bình quân 6 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước 4,15 3,29 2,64 4,19 1,47

II. DIỄN BIẾN GIÁ TIÊU DÙNG THÁNG 6/2021 CỦA MỘT SỐ NHÓM HÀNG CHÍNH

1. Hàng ăn và dịch vụ ăn uống (-0,13%)

1.1. Lương thực (-0,28%)

Chỉ số giá nhóm lương thực tháng 6/2021 giảm 0,28 % so với tháng trước, hầu hết do giá gạo giảm 0,36 % ( gạo tẻ thường giảm 0,35 % ; gạo tẻ ngon giảm 0,4 % ; gạo nếp giảm 0,39 % ). Giá gạo trong nước giảm do những địa phương trên cả nước cơ bản đã thu hoạch xong lúa vụ đông xuân [ 3 ]. Trong tháng, giá gạo tẻ thường giao động từ 11.600 – 12.500 đồng / kg ; giá gạo Bắc Hương từ 17.600 – 18.500 đồng / kg ; giá gạo tẻ ngon Nàng Thơm chợ Đào từ 17.900 – 19.300 đồng / kg ; giá gạo nếp từ 24.700 – 34.800 đồng / kg. Bên cạnh đó, giá bột mỳ tháng Sáu giảm 0,01 % ; giá ngô giảm 1,79 % ; giá khoai giảm 2,09 % so với tháng trước .

1.2. Thực phẩm (-0,19%)

Chỉ số giá nhóm thực phẩm tháng 6/2021 giảm 0,19 % so với tháng trước, tập trung chuyên sâu ở một số ít mẫu sản phẩm sau :
– Giá thịt lợn giảm 2 % so với tháng trước ( làm CPI chung giảm 0,07 điểm Xác Suất ). Giá thịt lợn giảm do dịch Covid-19 diễn biến phức tạp tại nhiều địa phương, nhiều nhà hàng quán ăn, quán ăn, trường học phải đóng cửa làm cho mức tiêu thụ mặt hàng thịt lợn giảm trong khi nguồn cung thịt lợn tăng [ 4 ]. Theo đó, giá thịt quay, giò, chả tháng Sáu giảm 0,48 % so với tháng trước ; thịt chế biến khác giảm 0,01 % ; mỡ động vật hoang dã giảm 3,62 % .
– Giá thịt gà giảm 0,03 % so với tháng trước do nguồn cung dồi dào. Ước tính tổng số gia cầm của cả nước tính đến thời gian cuối tháng 6/2021 tăng 5,4 % so với cùng thời gian năm 2020 .
– Giá thủy hải sản tươi sống giảm 0,31 % so với tháng trước, trong đó cá giảm 0,02 % ; tôm giảm 0,92 % .
– Giá quả tươi và chế biến giảm 3 % so với tháng trước do nguồn cung tăng khi bước vào mùa thu hoạch, trong khi xuất khẩu trái cây gặp khó khăn vất vả do tác động ảnh hưởng của dịch Covid-19 và lượng khách du lịch giảm mạnh ảnh hưởng tác động tới tiêu thụ trái cây trải qua du lịch. Theo đó, giá chuối giảm 2,02 % so với tháng trước ; xoài giảm 6,75 % ; quả tươi khác giảm 3,93 % .
Riêng giá những loại rau tươi, khô và chế biến tăng 3,69 % do nhu yếu tiêu dùng tăng khi thời tiết nắng nóng lê dài và do dịch Covid-19 diễn biến phức tạp nên việc luân chuyển sản phẩm & hàng hóa khó khăn vất vả, nguồn rau về chợ giảm tại 1 số ít địa phương đã đẩy giá rau tăng so với tháng trước. Theo đó, giá rau bắp cải tăng 10,76 % so với tháng trước ; cà chua tăng 16,98 % ; đỗ quả tươi tăng 10,84 % ; rau dạng củ quả tăng 3,2 % ; rau tươi khác tăng 3,01 % …

1.3. Ăn uống ngoài gia đình (+0,07%)

Chỉ số giá nhóm nhà hàng ngoài mái ấm gia đình tháng 6/2021 tăng 0,07 % so với tháng trước, trong đó ăn ngoài mái ấm gia đình tăng 0,03 % ; uống ngoài mái ấm gia đình tăng 0,52 % do thời tiết nắng nóng nên nhu yếu mua đồ uống tăng cao ; món ăn nhanh mang đi giảm 0,07 % .

2. Đồ uống và thuốc lá (+0,11%)

Chỉ số giá nhóm đồ uống và thuốc lá tháng 6/2021 tăng 0,11 % so với tháng trước do thời tiết nắng nóng nên nhu yếu tiêu dùng những mẫu sản phẩm nước uống giải khát tăng, đơn cử : Giá nước khoáng và nước có ga tăng 0,07 % ; bia những loại tăng 0,03 % .

3. Nhà ở và vật liệu xây dựng (+0,63%)

Nhóm nhà tại và vật tư thiết kế xây dựng tháng 6/2021 tăng 0,63 % so với tháng trước hầu hết do những nguyên do sau :
– Giá điện hoạt động và sinh hoạt tăng 1 % so với tháng trước [ 5 ], giá nước hoạt động và sinh hoạt tăng 0,26 % do thời tiết nắng nóng nên nhu yếu sử dụng tăng .
– Giá dầu hỏa tăng 4,95 % so với tháng 5/2021 do ảnh hưởng tác động của đợt kiểm soát và điều chỉnh giá ngày 12/5/2021 ; 11/6/2021 và 26/6/2021 làm giá dầu hỏa tăng 1.230 đồng / lít so với tháng trước .
– Giá gas tăng 3,85 % so với tháng trước do từ ngày 01/6/2021, giá gas trong nước kiểm soát và điều chỉnh tăng 14.000 đồng / bình 12 kg sau khi giá gas quốc tế tăng 42,5 USD / tấn ( từ mức 485 USD / tấn lên mức 527,5 USD / tấn ) .
– Giá vật tư bảo trì nhà ở tăng 1,26 % so với tháng trước do giá thép, giá cát, giá xi-măng tăng khi giá nguyên vật liệu nguồn vào tăng cao. Giá dịch vụ sửa chữa thay thế nhà ở tăng 0,12 % do nhu yếu thay thế sửa chữa nhà tại một số ít địa phương tăng .

4. Thiết bị và đồ dùng gia đình (+0,1%)

Nhóm thiết bị và vật dụng mái ấm gia đình tháng 6/2021 tăng 0,1 % so với tháng trước, tập trung chuyên sâu đa phần ở những loại sản phẩm có nhu yếu tiêu dùng tăng cao vào mùa hè : Giá tủ lạnh tăng 0,18 % so với tháng trước ; quạt điện tăng 0,42 % ; máy điều hòa nhiệt độ tăng 0,29 % ; thay thế sửa chữa máy điều hòa tăng 0,7 % … Ở chiều ngược lại, bàn là điện giảm 0,64 % so với tháng trước ; máy đánh trứng, trộn đa năng giảm 0,31 % .

5. Thuốc và dịch vụ y tế (+0,02%)

Chỉ số giá thuốc và dịch vụ y tế tháng Sáu tăng nhẹ 0,02 % so với tháng trước, hầu hết do thời tiết nắng nóng, người dân dễ mắc bệnh hô hấp và cảm cúm nên nhu yếu mua những loại thuốc tăng cường hệ miễn dịch tăng, trong đó giá nhóm thuốc giảm đau, hạ sốt tăng 0,12 % so với tháng trước ; nhóm thuốc công dụng trên đường hô hấp tăng 0,04 % ; thuốc chống nhiễm, điều trị ký sinh trùng tăng 0,06 % ; thuốc chống dị ứng tăng 0,03 % .

6. Giao thông (+1,07%)

Chỉ số giá nhóm giao thông vận tải tháng 6/2021 tăng 1,07 % so với tháng trước làm CPI chung tăng 0,1 điểm Tỷ Lệ, hầu hết do giá xăng dầu trong nước tăng theo giá nguyên vật liệu quốc tế, đơn cử giá xăng tăng 3,45 %, dầu diezen tăng 4,71 % do ảnh hưởng tác động của đợt kiểm soát và điều chỉnh giá vào ngày 12/5/2021 ; 11/6/2021 và 26/6/2021. Ở chiều ngược lại, giá vận tải đường bộ hành khách bằng đường hàng không trong tháng giảm 17,47 % so với tháng trước do ảnh hưởng tác động của dịch Covid-19 nên người dân hạn chế đi lại .

7. Văn hóa, giải trí và du lịch (-0,08%)

Chỉ số giá nhóm văn hóa truyền thống, vui chơi và du lịch tháng Sáu giảm 0,08 % so với tháng trước, hầu hết do dịch Covid-19 diễn biến phức tạp tại nhiều địa phương nên người dân hạn chế đi du lịch, đặc biệt quan trọng du lịch theo tour làm cho giá dịch vụ du lịch trọn gói tháng 6/2021 giảm 0,05 % so với tháng trước. Bên cạnh đó, thời tiết thuận tiện, đang rộ mùa khiến giá hoa tươi giảm mạnh, đơn cử giá nhóm cây, hoa cảnh giảm 2,91 % so với tháng trước .

8. Hàng hóa và dịch vụ khác (+0,06%)

Chỉ số giá nhóm sản phẩm & hàng hóa và dịch vụ khác tháng 6/2021 tăng 0,06 % so với tháng trước, tập trung chuyên sâu hầu hết ở loại sản phẩm vật dụng cá thể như đồ trang sức đẹp tăng 1,27 % so với tháng trước do giá vàng trong nước tăng ; sản phẩm & hàng hóa chăm nom khung hình tăng 0,19 % .

9. Chỉ số giá vàng (+1,12%)

Giá vàng trong nước biến động trái chiều với giá vàng thế giới. Giá vàng thế giới giảm sau khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) đưa ra thông tin có khả năng điều chỉnh lãi suất sớm hơn trong năm 2023 thay vì tăng từ năm 2024. Tính đến ngày 25/6/2021, bình quân giá vàng thế giới ở mức 1.845,63 USD/ounce, giảm 0,67% so với tháng 5/2021. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 6/2021 tăng 1,12% so với tháng trước; tăng 0,23% so với tháng 12/2020 và tăng 12,37% so với cùng kỳ năm 2020; bình quân 6 tháng đầu năm 2021 tăng 18,06%.

10. Chỉ số giá đô la Mỹ (-0,3%)

Đồng đô la Mỹ trên thị trường quốc tế liên tục đà phục sinh sau khi FED phát đi tín hiệu sẽ sớm triển khai việc kiểm soát và điều chỉnh chủ trương tiền tệ thả lỏng. Tính đến ngày 25/6/2021, chỉ số đô la Mỹ trên thị trường quốc tế đạt mức 90,81 điểm, tăng 0,58 điểm so với tháng trước. Trong nước, lượng dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước Nước Ta bảo vệ phân phối nhu yếu của những doanh nghiệp nhập khẩu, giá đô la Mỹ trung bình trên thị trường tự do quanh mức 23.129 VND / USD. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 6/2021 giảm 0,3 % so với tháng trước ; giảm 0,32 % so với tháng 12/2020 và giảm 0,87 % so với cùng kỳ năm 2020 ; trung bình 6 tháng đầu năm 2021 giảm 0,85 % .

III. DIỄN BIẾN GIÁ TIÊU DÙNG QUÝ II NĂM 2021

Chỉ số giá tiêu dùng trung bình quý II năm 2021 tăng 2,67 % so với cùng kỳ năm 2020 .

1. Một số nguyên nhân làm tăng CPI trong quý II năm 2021

– Giá xăng, dầu trong nước tăng 51,37 % so với cùng kỳ năm trước, góp thêm phần làm CPI chung tăng 1,85 điểm Tỷ Lệ .
– Giá gas trong nước dịch chuyển theo giá gas quốc tế, giá gas quý II / 2021 tăng 26,18 % so với cùng kỳ năm trước làm CPI chung tăng 0,38 điểm Xác Suất .
– Giá dịch vụ giáo dục quý II tăng 4,44 % so với cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng tác động từ đợt tăng học phí năm học mới 2020 – 2021 theo lộ trình của Nghị định số 86/2015 / NĐ-CP ngày 02/10/2015 của nhà nước, góp thêm phần làm CPI chung tăng 0,24 điểm Xác Suất .
– Giá vật tư bảo trì nhà ở tăng 7,26 % so cùng kỳ năm trước ( làm CPI tăng 0,15 điểm Tỷ Lệ ) do giá thép tăng khi giá nguyên vật liệu nguồn vào sản xuất thép tăng cao .
– Chỉ số giá nhóm lương thực tăng 4,33 % so với cùng kỳ năm trước, trong đó giá gạo tăng 5,41 %, góp thêm phần làm CPI chung tăng 0,14 điểm Phần Trăm .

2. Một số nguyên nhân làm giảm CPI trong quý II năm 2021

Bên cạnh những nguyên do làm tăng CPI, có 1 số ít nguyên do làm giảm CPI quý II / 2021 so với cùng kỳ năm trước như sau :
– Giá thịt gà, thịt lợn và giá mỡ ăn quý II / 2021 lần lượt giảm 0,27 % ; 8,56 % ; và 15,75 % so với cùng kỳ năm trước do nguồn cung dồi dào .
– Do ảnh hưởng tác động của dịch Covid-19, nhu yếu đi lại, du lịch của dân cư giảm so với cùng kỳ năm trước làm cho giá vé máy bay quý II / 2021 giảm 9,12 % so với cùng kỳ năm trước ; giá du lịch trọn gói giảm 1,68 % .

IV. DIỄN BIẾN GIÁ TIÊU DÙNG 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2021

Chỉ số giá tiêu dùng trung bình 6 tháng đầu năm 2021 tăng 1,47 % so với cùng kỳ năm trước, mức tăng trung bình 6 tháng thấp nhất kể từ năm năm nay .

1. Một số nguyên nhân làm tăng CPI trong 6 tháng đầu năm 2021

– Trong 6 tháng đầu năm 2021, giá xăng dầu trong nước được kiểm soát và điều chỉnh 10 đợt làm cho giá xăng A95 tăng 4.440 đồng / lít ; giá xăng E5 tăng 4.250 đồng / lít và giá dầu diezen tăng 3.740 đồng / lít. So với cùng kỳ năm trước, giá xăng dầu trong nước trung bình 6 tháng đầu năm 2021 tăng 17,01 %, làm CPI chung tăng 0,61 điểm Phần Trăm .
– Giá gas trong nước dịch chuyển theo giá gas quốc tế. Trong 6 tháng đầu năm 2021, giá kinh doanh bán lẻ gas trong nước được kiểm soát và điều chỉnh tăng 4 đợt và giảm 2 đợt, trung bình 6 tháng giá gas tăng 16,51 % so với cùng kỳ năm trước, góp thêm phần làm CPI chung tăng 0,24 điểm Xác Suất .
– Giá dịch vụ giáo dục 6 tháng tăng 4,47 % so với cùng kỳ năm trước ( làm CPI chung tăng 0,24 điểm Tỷ Lệ ) do tác động ảnh hưởng từ đợt tăng học phí năm học mới 2020 – 2021 theo lộ trình của Nghị định số 86/2015 / NĐ-CP ngày 02/10/2015 của nhà nước .
– Giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu và nhu yếu tiêu dùng gạo nếp và gạo tẻ ngon trong dịp Tết Nguyên đán tăng cao làm cho giá gạo 6 tháng đầu năm 2021 tăng 6,97 % so với cùng kỳ năm trước ( làm CPI chung tăng 0,18 điểm Tỷ Lệ ) .
– Giá vật tư bảo trì nhà ở 6 tháng đầu năm nay tăng 5,03 % so với cùng kỳ năm trước do giá xi-măng, sắt, thép, cát tăng theo giá nguyên nhiên vật tư nguồn vào, góp thêm phần làm CPI chung tăng 0,1 điểm Xác Suất .

2. Một số nguyên nhân làm giảm CPI trong 6 tháng đầu năm 2021

Bên cạnh những nguyên do làm tăng CPI, có 1 số ít nguyên do làm giảm CPI 6 tháng đầu năm 2021 so với cùng kỳ năm trước như sau :
– Giá những loại sản phẩm thực phẩm 6 tháng đầu năm giảm 0,39 % so với cùng kỳ năm trước, làm CPI giảm 0,08 điểm Phần Trăm, trong đó giá thịt lợn giảm 4,15 %, giá thịt gà giảm 2,04 % .
– nhà nước tiến hành những gói tương hỗ cho người dân và người sản xuất gặp khó khăn vất vả do dịch Covid-19, trong đó gói tương hỗ của Tập đoàn Điện lực Nước Ta đã giảm giá điện, tiền điện cho người mua trong quý II ( khởi đầu giảm từ tháng 5/2020 ) và quý IV năm 2020 ( được triển khai vào tháng 1/2021 ). Theo đó, giá điện hoạt động và sinh hoạt trung bình 6 tháng đầu năm 2021 giảm 3,06 % so với cùng kỳ năm 2020, tác động ảnh hưởng làm CPI chung giảm 0,1 điểm Phần Trăm .
– Ảnh hưởng của dịch Covid-19 khiến người dân hạn chế đi lại, theo đó giá vé tàu hỏa 6 tháng đầu năm giảm 3,41 % so với cùng kỳ năm trước ; giá vé máy bay giảm 17,05 % ; giá du lịch trọn gói giảm 2,85 % .
– Trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, dưới sự chỉ huy sát sao của nhà nước, những ngành những cấp đã tích cực tiến hành triển khai những giải pháp đồng điệu để ngăn ngừa dịch bệnh và ổn định giá cả thị trường .

V. LẠM PHÁT CƠ BẢN

Lạm phát cơ bản [ 6 ] tháng 6/2021 tăng 0,07 % so với tháng trước, tăng 1,14 % so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 6 tháng đầu năm 2021 lạm phát kinh tế cơ bản tăng 0,87 % so với cùng kỳ năm 2020, thấp hơn mức CPI trung bình chung ( tăng 1,47 % ), điều này phản ánh dịch chuyển giá tiêu dùng đa phần do giá lương thực, giá xăng, dầu và giá gas tăng. Mức lạm phát kinh tế cơ bản tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2021 so với cùng kỳ năm trước đều là mức thấp nhất kể từ năm 2011 .

Lạm phát cơ bản tháng Sáu và 6 tháng đầu năm từ năm 2017 đến năm 2021

 

Đơn vị tính : %

Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020 Năm
2021
Lạm phát cơ bản tháng 6 so với tháng trước 0,10 0,11 0,16 0,07 0,07
Lạm phát cơ bản tháng 6 so với cùng kỳ năm trước 1,29 1,38 1,96 2,45 1,14
Lạm phát cơ bản 6 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước 1,52 1,35 1,87 2,81 0,87

 

[ 1 ] Tốc độ tăng CPI trung bình 6 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước những năm năm nay – 2021 lần lượt là : tăng 1,72 % ; tăng 4,15 % ; tăng 3,29 % ; tăng 2,64 % ; tăng 4,19 % ; tăng 1,47 % .
[ 2 ] Trong nhóm nguyên nhiên vật tư dùng cho thiết kế xây dựng, mẫu sản phẩm nguyên vật liệu từ gang, sắt, thép tháng 6/2021 tăng 3,78 % so với tháng trước và tăng 15,28 % so với tháng 6/2020, trung bình 6 tháng đầu năm 2021 tăng 9,61 % so với cùng kỳ năm trước. Tỷ trọng tiêu dùng của mẫu sản phẩm sắt thép chiếm 19,58 % trong tổng chi tiêu dùng của nhóm hàng vật tư bảo trì nhà ở và chiếm 0,4 % trong tổng chi tiêu dùng của dân cư, theo đó giá sắt thép tháng 6/2021 tăng so với tháng trước làm CPI chung tăng 0,017 điểm Tỷ Lệ .

[3] Năng suất gieo trồng lúa đông xuân năm nay đạt 68,3 tạ/ha, tăng 4% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng ước tính đạt 20,55 triệu tấn, tăng 3,4% .

[ 4 ] Ước tính tổng số lợn của cả nước tính đến thời gian cuối tháng 6/2021 tăng 11,6 % so với cùng thời gian năm 2020 .

[5] Chỉ số giá điện sinh hoạt tháng 6/2021 được tính dựa trên doanh thu và sản lượng điện tiêu dùng từ ngày
01-31/5/2021, do đó phản ánh biến động trễ một tháng so với các mặt hàng khác.

[ 6 ] CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống, nguồn năng lượng và loại sản phẩm do Nhà nước quản trị gồm có dịch vụ y tế và giáo dục .