Câu hỏi và đáp án Kỹ năng làm việc nhóm – Tài liệu text
Câu hỏi và đáp án Kỹ năng làm việc nhóm
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (240 KB, 21 trang )
Bạn đang đọc: Câu hỏi và đáp án Kỹ năng làm việc nhóm – Tài liệu text
CÂU HỎI VÀ ĐÁP ÁN LÀM VIỆC NHÓM
1. Trình bày khái niệm về nhóm và vai trò của các cá nhân trong nhóm.
a.Khái niệm về nhóm
Trong xã hội loài người nhóm hình thành rất sớm. Từ thời tiền sử, con người muốn
tồn tại cần hình thành các nhóm. Nhóm để chống thú dữ, nhóm để cùng săn bắn,
xây dựng chỗ ở chống chọi với thiên nhiên…
Từ nhỏ chúng ta đã sống trong gia đình, nhóm bạn bè cùng xóm, cùng lớp học,
cùng lứa tuổi…cho đến khi trưởng thành học tập và làm việc chúng ta đã vô tình
hay có ý thức tham gia vào rất nhiều nhóm. Chỉ có điều chúng ta chưa tự hỏi vậy thì
ta sẽ hòa mình vào nhóm như thế nào để làm việc hiệu quả nhất.
Ngày nay, sống trong xã hội công nghiệp, mỗi cá nhân hoạt động trong một số
nhóm. Các tổ chức cũng tìm cách huy động tối đa khả năng làm việc và sáng tạo
của các nhóm trong tổ chức của họ. Các nhóm dự án được thành lập nhằm phát huy
tối đa năng lực cạnh tranh trong sản xuất, sáng tạo sản phẩm mới, mẫu mã mới.
Người ta coi các nhóm làm việc là nhân tố cơ bản làm nên vốn nhân lực trong một
tổ chức. Nghiên cứu về nhóm làm việc càng trở nên quan trọng và bức thiết.
Vậy nhóm là gì?
Nhóm là tập hợp nhiều người cùng có chung mục tiêu, thường xuyên tương tác
với nhau, mỗi thành viên có vai trò nhiệm vụ rõ ràng và có các quy tắc chung
chi phối lẫn nhau.
*Có thể chia ra thành nhóm chính thức và nhóm không chính thức.
– Nhóm chính thức là nhóm được hình thành xuất phát từ nhu cầu của một tổ chức,
trên cơ sở quyết định của tổ chức đó.
– Nhóm không chính thức là nhóm hình thành tự nhiên từ nhu cầu của mỗi thành
viên của nhóm.
Một trong những yếu tố quan trọng nhất của nhóm là phải có mục tiêu nhóm. Mục
tiêu chung (hay mục đích) của nhóm phải cụ thể, rõ ràng. Mục tiêu này phải được
các thành viên nhóm hiểu rõ và cùng cam kết thực hiện. Mục tiêu xuyên suốt quá
trình hoạt động của nhóm, nhưng cũng có thể điều chỉnh thay đổi để phù hợp môi
trường mà nhóm tồn tại. Tuy nhiên mục tiêu từng thành viên, mục tiêu của nhóm
phải phù hợp với mục tiêu của tổ chức.
Yếu tố thứ hai của một nhóm là các thành viên phải tương tác, liên hệ, giao tiếp với
nhau thường xuyên. Tiếp xúc và tương tác sẽ làm ảnh hưởng lẫn nhau giữa các
thành viên và tác động ảnh hưởng này làm nên động lực phát triển nhóm: có thể tích
cực hoặc tiêu cực.
1
Yếu tố thứ ba là các quy tắc nhóm. Nhóm phải xây dựng được quy tắc, quy định,
nội quy của nhóm để sao cho nhóm hoạt động hiệu quả. Đây là những quy tắc chính
thức. Trong nhóm còn có những quy tắc ngầm không công bố nhưng cũng có hiệu
lực không kém phần quan trọng.
Yếu tố cuối cùng là vai trò, trách nhiệm rõ ràng của các thành viên trong nhóm.
Nhóm chỉ hoạt động hiệu quả khi các thành viên được biết rõ nhiệm vụ, phù hợp
năng lực của mình, không chồng chéo, giẫm đạp lên nhau. Nhóm làm việc được
thành lập để giải quyết và thực hiện công việc nào đó có mục tiêu rõ ràng mà một
cá nhân không thể hoàn thành. Nếu những công việc đơn giản, có thể giải quyết bởi
1 cá nhân, không đòi hỏi phải phối hợp, không cần phối hợp nhiều kỹ năng thì
không cần thiết tới thành lập nhóm.
– Khái niệm làm việc nhóm: đối với sinh viên
+ Tập hợp một nhóm người (từ 3 thành viên trở lên, tối đa 10 thành viên)
+ Có cùng một nhiệm vụ, mục tiêu
+ Có sự hợp tác, mối quan hệ giữa các thành viên
vai trò của các cá nhân trong nhóm
Các thành viên nhóm thường có vai trò nhất định, được phân công hoặc nhận những
nhiệm vụ cụ thể. Nhóm chính thức có trưởng phó nhóm, thư ký, hậu cần…Nhóm
không chính thức cũng có thể có các vai trò đó.
Trưởng nhóm giữ vai trò người tổ chức, người thực hiện và người điều hành.
Trưởng nhóm phải lo bố trí các cuộc họp từ buổi gặp mặt đầu tiên đến khi nhóm tan
rã. Việc tổ chức cuộc họp bàn kế hoạch sao cho có sự tham gia bình đẳng giữa các
thành viên là kỹ năng cần có của trưởng nhóm. Lập kế hoạch và phân công công
việc cho các thành viên cũng là nghệ thuật của trưởng nhóm. Tất cả các giai đoạn
hoạt động của nhóm, người nhóm trưởng phải nắm vững và điều hành cho tốt. Các
kỹ năng điều hành hoạt động nhóm đã có rất nhiều sách viết và có những lớp tập
huấn kỹ càng. Nhưng quan trọng nhất là trưởng nhóm phải là người có các kỹ năng
truyền thông và thúc đẩy và càng có nhiều trải nghiệm càng tốt ( xem phần Kỹ năng
giao tiếp). Các kỹ năng này được xây dựng dựa trên nền tảng của 4 thái độ: cảm
thông, tôn trọng, quan tâm và tin tưởng vào tiềm năng nhóm. Tóm lại trưởng nhóm
phải là người có trách nhiệm với công việc của nhóm, với từng thành viên của
nhóm và với cả nhóm nói chung.
Ngoài ra khi đề cập đến vai trò thành viên còn lại trong nhóm người ta thường phân
các thành viên thành các “kiểu vai trò” hỗ trợ hay cản trở các hoạt động của nhóm.
Có ba loại vai trò như vậy.
Loại thứ nhất là các thành viên hỗ trợ cho viêc hoàn thành công việc như người
khởi xướng, người làm sáng tỏ, người thực hiện, người thông tin, người đóng góp.
2
Loại thứ hai là các thành viên củng cố nhóm như người khuyến khích, người giữ
cửa, người quan sát, người đề xuất và củng cố quy tắc, người đùa vui.
Nhóm thứ ba là nhóm những người tiêu cực như người gây hấn, người phu thuộc,
người thống trị, người đùa dai, người lè phè, người phá đám…
Hai nhóm đầu là nhóm tích cực. Khi có những hành vi tiêu cực cần đưa quy tắc,
quy chế của nhóm ra để các thành viên tự giác tuân theo.
2. Trình bày khái quát về đặc điểm tâm lý của nhóm. Nếu bạn bị ghép vào một
nhóm mà mình không thích thì nên ứng xử thế nào?
Khi số người liên kết thành một nhóm – nhóm có một sức sống riêng và chi phối
chính các nhóm viên đã lập ra nhóm. Ở đâu, lúc nào cũng có nhóm, nhưng không
có nhóm nào giống nhóm nào. Tuy nhiên sẽ có một số hiện tượng và diễn tiến mà
nhóm nào cũng có. Những diễn tiến này chi phối đời sống của nhóm và tác động
vào cá nhân. Người ta gọi là tiến trình nhóm hoặc tâm lý nhóm.
a. Một số hiện tượng tâm lý diễn ra trong nhóm:
– Nhóm trưởng của nhóm chính thức nhiều khi không được sự đồng tình ủng hộ của
các nhóm viên (không ưa, kèn cựa nhau…)
– Sự phân thành tiểu nhóm – giữa các tiểu nhóm không có sự thống nhất.
– Giữa các nhóm viên trong quá trình tương tác diễn ra sự hợp tác hay xung đột mâu
thuẫn là một hiện tượng tâm lý tất yếu trong nhóm cũng như trong cuộc sống.
– Như vậy vấn đề ở đây là giải quyết những mâu thuẫn trên để đưa nhóm tiến lên.
Người tác viên phải nắm được tâm lý nhóm. Biết dựa vào thủ lĩnh trong nhóm để
giải quyết những mâu thuẫn đó nhưng phải rất nghệ thuật, nghĩa là phải biết tác
động đúng lúc và khéo léo.
b. Sự tương đồng trong nhóm:
– Tương đồng là sự hòa hợp, phù hợp các thuộc tính tâm lý của các thành viên trong
nhóm. Nhờ đó đảm bảo cho việc thực hiện tốt các mục đích chung của nhóm. Sự
tương đồng ở mức độ cao làm cho nhóm đạt tới sự thống nhất cao trong hành động
– những nhóm có sự tương đồng cao gọi là nhóm đồng tính. Trái ngược với sự
tương đồng là sự không tương đồng gồm có các yếu tố sau:
+ Do không thống nhất về quan điểm, lối sống, niềm tin
+ Do khác biệt về tâm lý cá nhân
+ Do những quy định sai lầm của người lãnh đạo dẫn đến không tương đồng.
c. Sự ảnh hưởng lây lan tâm lý:
– Đây là hình thức tâm lý phổ biến diễn ra thường xuyên trong đời sống hàng ngày
của con người, nó diễn ra trong phạm vi rộng lớn. Hiện tượng lây lan tâm lý được
diễn ra trong sinh hoạt, trong hoạt động hàng ngày. Tâm lý các thành viên bao giờ
cũng ảnh hưởng lẫn nhau tạo ra hiện tượng tâm lý mới.
3
– Ví dụ: Trong nhóm có một người có chuyện buồn thì cả nhóm cùng buồn, không
khí không vui. Hoặc đua đòi về quần áo, đầu tóc… đó cũng là hiện tượng lây lan
tâm lý (chạy theo mốt).
– Cơ sở của sự lây lan: nó phụ thuộc vào các yếu tố sau:
+ Do sự bắt chước làm theo.
+ Do tính chất của quan hệ: càng thân cành gần thì tính lây lan càng mạnh, xa lạ thì
lây lan ít hơn.
d. Sự xung đột trong nhóm:
– Nguyên nhân dẫn đến xung đột:
+ Do mâu thuẩn giữa các thành viên trong nhóm: va chạm về quyền lợi vật chất
hoặc tinh thần. Xung đột thường xuyên xảy ra khi một thành viên cho rằng những
cái mình không đạt được là do nhóm hay do một cá nhân nào đó trong nhóm gây
nên.
+ Xung đột có thể sinh ra do nhân cách xấu: ích kỷ, tham lam, vụn vặt…
– Các xung đột thường gây ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của nhóm tạo nên
bầu không khí căng thẳng trong nhóm.
– Xung đột là điều kiện tất yếu trong nhóm, muốn giải quyết những xung đột đó vai
trò chính là người lãnh đạo. Bởi vậy lãnh đạo phải nắm được tâm lý nhóm, tâm lý
cá nhân, biết tác động đúng lúc đúng chỗ, tế nhị thì mới đưa nhóm tiến lên được.
e. Bầu không khí tâm lý trong nhóm:
– Quan sát hay tham gia vào trong một nhóm ta có cảm giác chung: có nhóm thì
sinh hoạt chân tình cởi mở, ít câu nệ hình thức; có nhóm chú ý đến hình thức bên
ngoài… điều đó có thể biểu hiện cho một ngấm ngầm hay một mục tiêu chưa đạt
được.
– Vậy bầu không khí tâm lý là sự kết tinh những yếu tố chi phối nhóm – phong cách
lãnh đạo nhóm – tiến trình phát triển nhóm.
– Bầu không khí ảnh hưởng đến quan hệ tâm lý và hiệu quả hoạt động. Cần phải xây
dựng bầu không khí nhóm làm sao để nhóm có bầu không khí thoải mái… Muốn
xây dựng bầu không khí nhóm tốt, ta cần các yếu tố sau:
+ Phải hòa hợp về xã hội tâm lý – cùng sở thích – cùng nhu cầu – cùng hứng thú.
+ Phải hòa hợp tâm sinh lý.
+ Cách xử sự công việc của người lãnh đạo – có sự công bằng hợp lý.
+ Điều kiện làm việc – điều kiện sinh hoạt phải đảm bảo.
+ Tăng cường sự sinh hoạt tập thể (vui chơi).
3. Trình bày các nguyên tắc làm việc nhóm?
– Các nguyên tắc làm việc nhóm:
+ Tôn trọng: lắng nghe ý kiến của các thành viên trong nhóm
+ Bình đẳng: mỗi người có quyền đưa ra ý tưởng, các ý tưởng đều có giá trị như
nhau
4
+ Chia sẻ: mỗi người có trách nhiệm chia sẻ ý tưởng với người khác
+ Trợ giúp: nếu một thành viên gặp khó khăn thì cả nhóm cùng hỗ trợ (tinh thần,
vật chất)
+ Chung sức: tinh thần đoàn kết, vượt qua khó khăn
– Đặc điểm nhóm làm việc hiệu quả:
+ Các yếu tố cần thiết để xây dựng nhóm làm việc: mục tiêu, năng lực, đóng góp và
hưởng lợi, môi trường khuyến khích
+ Tuân theo các nguyên tắc của nhóm đề ra
+ Tạo nên các giá trị của nhóm
-Để là một thành viên nhóm hiệu quả, hãy tuân thủ những nguyên tắc sau:
i. Hãy đúng giờ, điều đó giúp cho các thành viên khác trong nhóm làm việc không
phải mất thêm thời gian.
ii. Luôn đặt mục tiêu của cuộc thảo luận lên hàng đầu, tránh nói chuyện về những
chủ đề không liên quan, gây loãng chủ đề, thiếu tập trung.
iii. Hãy nghĩ mình là một phần của nhóm chứ không phải một cá nhân riêng lẻ.
Thảo luận với cả nhóm chứ không phải chỉ với người ngồi cạnh bạn. Hãy rõ ràng và
ngắn gọn. Luôn ý thức rằng bạn đang sử dụng thời gian của tất cả mọi người.
iv. Đừng ngắt lời người khác. Hãy lắng nghe và cố hiểu họ. Cũng đừng nghĩ về ý
kiến sắp trình bày của mình, hãy chú ý những gì người khác nói. Nếu có gì chưa rõ,
hãy hỏi lại khi họ kết thúc.
v. Hãy đoàn kết để đạt đến mục tiêu chung. Không ai có đầy đủ kiến thức về bất cứ
một vấn đề nào, chỉ có là họ đóng góp được nhiều hay ít mà thôi. Hãy thuyết phục
mọi người bằng lý lẽ và dẫn chứng, không phải bằng cảm xúc.
vi. Đừng chỉ trích. Đừng phản đối ngay ý kiến của người khác dù bạn có thấy nó
thiếu thực tế đến đâu. Cũng đừng gắn mỗi cá nhân với ý kiến của họ, chỉ thảo luận
về ý kiến thôi, đừng chỉ trích riêng ai cả.
vii. Hãy luôn tâm niệm rằng, kết quả cuối cùng thu nhận được phải là sự đồng lòng
của cả nhóm, kể cả những cá nhân có ý kiến bị bác bỏ. Việc này không thể nhanh
chóng đạt được mà phải cần có thời gian.
viii. Hãy cố gắng tôn trọng những thành viên khác và hướng tới mục tiêu chung.
4. Sự cần thiết phải làm việc theo nhóm?
– Lợi ích của làm việc nhóm:
+ Tập hợp nhiều ý tưởng
+ Phát huy trí tuệ tập thể
+ Tăng hiệu quả
+ Tạo dựng mối quan hệ
+ Tăng tính sáng tạo
Làm việc theo nhóm tạo điều kiện tăng năng suất và hiệu quả của công việc. Nhiều
nghiên cứu đã chứng minh rằng làm việc theo nhóm năng suất và hiệu quả của mỗi
cá nhân cao hơn hẳn năng suất và hiệu quả trung bình của mỗi cá nhân khi làm việc
riêng lẻ. Vì trong nhóm, khi làm việc các kỹ năng và kinh nghiệm bổ trợ lẫn nhau.
5
Làm việc theo nhóm có thể giảm được một số nhân sự, khâu trung gian nên linh
hoạt hơn. Vì linh hoạt nên tổ chức dễ thay đổi để đối phó với thay đổi của môi
trường, nắm bắt cơ hội và giảm thiểu nguy cơ.
Nhóm có thể tạo ra môi trường làm việc mà các kiến thức và kinh nghiệm của các
cá nhân bổ trợ cho nhau, các quyết định đưa ra toàn diện và phù hợp hơn.
Nhóm làm việc có đủ khả năng hoàn thành một dự án hoàn chỉnh trong khi mỗi cá
nhân chỉ có thể hoàn thành một phần việc. Nhóm có thể tận dụng những gì tốt nhất
của mỗi cá nhân trong công tác chuyên môn và cả ngoài chuyên môn. Các thành
viên tự rút ra những gí tốt nhất để học hỏi lẫn nhau, cải thiện thái độ và ứng xử của
mình.
Nhóm làm việc hiệu quả là nhóm hội tụ một số đặc điểm cơ bản như các thành viên
hiểu rõ lý do tồn tại của nhóm; các nguyên tắc và quy chế được thảo luận, đồng
thuận; thông tin trong nhóm thông đạt; các thành viên hỗ trợ nhau; có những quy
tắc kiểm tra, đánh giá, khen thưởng rõ ràng. Để có những đặc điểm trên nhóm phải
giữ giá trị căn bản của nhóm, lấy đó làm định hướng hoạt động của mình chứ không
phải là thi hành theo chỉ thị cấp trên. Các nhiệm vụ của cá nhân và nhóm được nêu
rõ bằng các mục tiêu (SMART). Nhóm phải phối hợp lẫn nhau, sáng tạo. Tuy nhiên
những đặc điểm trên không phải là có ngay mà phải hình thành xây dựng dần dần
trong các giai đoạn phát triển của nhóm.
Tác động tới sự làm việc hiệu quả của nhóm là các yêu tố bối cảnh, quy mô nhóm,
sự đa dạng của thành viên nhóm, các chuẩn mực nhóm, lãnh đạo…
5. Để tạo được thành công khi làm việc nhóm, cần chú ý các yếu tố nào?
1.Hội nhập thành viên mới vào nhóm. Khó khăn luôn xảy ra khi nhóm mới thành
lập hoặc có thêm thành viên mới nhập vào nhóm. Thành viên mới cũng phải tự
mình giải quyết vấn đề hội nhập. Các thành viên mới có thể thuộc một trong ba
dạng chính như người thích tranh cãi, người tốt bụng hoặc người có lý, ba dạng này
đều gây khó khăn cho quá trình hội nhập. Người thích tranh cãi hay phản ứng lại
mọi vấn đề, muốn khẳng định sự nổi trội của mình trong nhóm. Người tốt bụng thì
có thái độ phụ thuộc người khác, luôn muốn tìm phe nhóm để dựa, sợ hãi những
điều bất ngờ, nhu cầu an toàn cao. Người có lý thì lo lắng về nhu cầu cá nhân của
mình trong nhóm, bướng bỉnh khi hòa hợp nhu cầu cá nhân và định hướng của
nhóm.
2.Lãnh đạo nhóm liên quan đến nhiệm vụ và các mối quan hệ. Để đạt được năng
suất trong làm việc nhóm thì phải thỏa mãn hai nhu cầu: nhu cầu liên quan đến
nhiệm vụ và nhu cầu liên quan đến các mối quan hệ. Hai nhu cầu này toàn thể thành
viên nhóm và lãnh đạo nhóm phải cùng phấn đấu để thỏa mãn. Các công việc gồm
nêu ra tất cả các ý kiến, tìm kiếm thông tin, làm sáng tỏ các nhiệm vụ, làm rõ và
tóm tắt nội dung các cuộc họp nhóm, thảo luận nhóm, khuyến khích các thành viên,
6
dung hòa sự khác biệt, tăng cường giao tiếp, khuyến khích tham gia, tránh các thái
độ gây rối…
3.Vai trò trong nhóm và sự vận động. Trong nhóm làm việc các thành viên luôn có
một vai trò và muốn người khác cũng có vai trò rõ ràng. Nếu vai trò không rõ thì sẽ
dễ gây hiểu lầm, mất đoàn kết ảnh hưởng đến năng suất chung. Các thành viên cũng
mong muốn được biết người khác chờ đợi gì ở cá nhân đó. Không nen để vai trò
của người này quá nhiều (quá tải) và người khác thì quá ít. Xung đôt về vai trò có
thể xảy ra bời cá nhân với cá nhân, bởi cá nhân với tập thể, bởi chính cá nhân với
vai trò của anh ta.
4.Các chuẩn mực, quy định của nhóm. Đây là các quy chế, quy tắc mà nhóm tự đề
ra để các thành viên theo đó mà thực hiện. Các chuẩn mực của nhóm rất quan trọng,
nó cho phép các thành viên trong nhóm nhận các thông tin phản hồi tích cực. Các
chuẩn mực được xây dựng có sự tham gia, sao cho mục tiêu của nhóm được thực
hiện một cách tốt nhất.
5.Sự gắn kết trong nhóm. Sự gắn kết trong nhóm làm cho nhóm hoạt động hiệu quả
và bền vững. Các thành viên càng tự hào về mình được tham gia nhóm thì sự gắn
kết trong nhóm càng cao. Như vậy các thành viên cũng như trưởng nhóm phải làm
sao cho nhóm đáng tự hào về các công việc làm. Trưởng nhóm và các thành viên
cần phấn đấu để có sự gắn kết trong nhóm cao và sự tuân theo chuẩn mực của nhóm
cũng cao, để hình thành nhóm lý tưởng, có hiệu suất làm việc cao.
6. Giao tiếp là gì? Vẽ sơ đồ minh họa mô hình giao tiếp chi tiết.
Giao tiếp là gì? Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về giao tiếp, nhưng nhìn một
cách tổng thể, giao tiếp được hiểu là: – Quá trình trao đổi thông tin, niềm tin và cảm
xúc giữa Người với Người – Sự chuyển giao thông tin và sự hiểu biết – Suy nghĩ của
người này được chuyển đến người khác và hiểu rõ – Hành vi và thái độ được tiếp
nhận bởi người khác
Giao tiếp là một quá trình phức tạp và được cấu thành bởi rất nhiều những yếu tố
khác nhau như: người gửi, người nhận, thông điệp, kênh thông tin (có lời, không
7
lời), bối cảnh,…Tuy nhiên, có 3 yếu tố cơ bản cần phải được chú trọng trong quá
trình rèn luyện kỹ năng giao tiếp đó là:
Chủ thể và đối tượng tham gia quá trình giao tiếp (người gửi và người nhận):
Mỗi một cá nhân tham gia giao tiếp là một con người cụ thể, khác biệt về tính khí,
tính cách, nhu cầu, sở thích, niềm tin,…Chính vì điều này, trong giao tiếp rất dễ
xuất hiện hiện tượng hiểu sai nghe nhầm.
Thông điệp: Nội dung cần chuyển tải. Trong quá trình giao tiếp, thông điệp
không phải lúc nào cũng dễ hiểu và dễ nhận thấy mà nó còn có những “nội dung
ẩn” phía sau. Thông điệp có thể đơn thuần chỉ mang tính thông tin nhưng có nhiều
trường hợp đan xen với cảm xúc, mong đợi, nhu cầu, sở thích,…của các đối tượng
tham gia giao tiếp.
Kênh thông tin: Ngôn ngữ có lời hoặc không lời (cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt,
nụ cười,…)
Rèn luyện kỹ năng giao tiếp chính là rèn luyện những nội dung có liên quan đến 3
vấn đề quan trọng trên, cụ thể:
Đối với những cá nhân tham gia giao tiếp cần phải quan tâm đến:
+ Khám phá bản thân: Tôi là ai? Tôi khác gì so với người khác? Tôi có những ưu và
nhược điểm gì? Ước mơ của tôi là gì?,…
+ Xác định vị thế tâm lý
+ Phong cách ăn mặc
+ Tác phong
Đối với thông điệp chuyển tải:
+ Ngắn gọn
+ Chính xác
+ Rõ ràng
Đối với kênh thông tin:
+ Sử dụng ngôn ngữ có lời hiệu quả
+ Kỹ năng lắng nghe
+ Kỹ năng quan sát
+ Sử dụng ngôn ngữ không lời (cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, nụ cười,…)
Nâng cao vốn từ cá nhân bằng cách:
+ Đọc sách
+Chơi ô chữ
+ Ghi lại những từ, câu hay vào sổ tay
Tham gia các hoạt động do Đoàn – Hội tổ chức hoặc các hoạt động tập thể,
xã hội khác.
Tập quan sát và ghi nhận khi tiếp xúc với mọi người xung quanh: quan sát
tướng mạo, quan sát cách ăn mặc, quan sát tư thế ngồi,…
Tham gia các cuộc thi thuyết trình, hùng biện, người dẫn chương trình,….
8
7. Ngôn ngữ không lời trong quá trình giao tiếp có vai trò gì? Muốn sử dụng ngôn
ngữ không lời một cách hiệu quả nên làm thế nào?
Giá trị thật sự của giao tiếp không lời là cho thấy một cách sâu sắc thái độ, tư
tưởng, cảm xúc. Con người có khả năng đọc được những tín hiệu không lời theo
trực giác (cảm thụ), qua các giác quan. Trong một buổi họp, nếu có một thành viên
tham dự bổng ngồi ngả lưng vào ghế dựa và khoanh tay lại một cách đột ngột thì ta
có thể hiểu ngay là đã có chuyện rắc rối. Cử chỉ biểu đạt nhiều sắc thái khác nhau,
hàm chứa những ẩn ý về tâm lý. S. Freud có nói: “Không ai giữ được bí mật cả.
Nếu miệng không nói thì ngón tay, ngón chân cũng động đậy. “.Thường con người
thể hiện ngôn ngữ không lời một cách vô thức.
Việc đáp ứng hợp lý cho một số cách diễn đạt phi ngôn ngữ và cử chỉ thông dụng
có thể tạo điều kiện cho việc giao tiếp và giúp phát triển mối quan hệ với người
khác. Việc quan sát những hành vi không lời của người khác có thể cung cấp cho
chúng ta những thông tin quan trọng có liên quan đến những thông điệp của họ và
hiểu được những thông điệp này là một điều quan trọng của một sự giao tiếp tốt.
Các yếu tố của giao tiếp không lời bao gồm:
•Giao tiếp bằng mắt
•Ngôn ngữ thân thể
•Giao tiếp bằng ngôn ngữ cử chỉ
•Giọng nói và tốc độ nói
•Khoảng cách, sử dụng không gian
•Thời gian.
•Sự im lặng
•Trang phục
•Đụng chạm
Muốn sử dụng ngôn ngữ không lời một cách hiệu quả nên:
•Bắt tay: Dù bạn bắt tay với nam hay nữ, thì cái bắt tay của bạn phải thật chặt và
chắc để chứng tỏ bạn thật lòng. Đừng quên nhìn thẳng vào mắt người đối diện.
•Quần áo: Giày dép cũng rất quan trọng. Quần áo quá đẹp hay quá sờn cũ đều phản
tác dụng vì đa phần các cuộc gặp là xã giao nên chỉ cần ăn mặc đúng mực.
•Giao tiếp bằng mắt: Khi bạn gặp một người nào đó lần đầu tiên, hãy nhìn thẳng
vào mắt họ. Không nhìn chăm chăm mà hãy nhìn nhau bằng những “tia nhìn ấm
áp”, nếu không người đối diện sẽ nghĩ là bạn không quan tâm đến những gì họ nói.
•Trò chuyện: Thông thường trong lần gặp đầu tiên, người ta hay có khuynh hướng
hỏi thông tin về nhau, nhưng đừng biến buổi gặp thành một cuộc phỏng vấn. Nên
dùng những câu hỏi gợi cho người đối diện bày tỏ ý kiến của họ và đừng quên tỏ
dấu hiệu là bạn rất thích thú với những ý tưởng của người đối thoại.
•Mỉm cười: Nếu bạn bắt đầu với một nụ cười, những việc tiếp theo sau đó sẽ diễn ra
suôn sẻ. Hãy nhớ rằng những người khác cũng có thể nhút nhát như bạn, cũng mang
9
theo họ những lo lắng, bồn chồn giống như bạn. Một nụ cười báo rằng bạn cảm thấy
rất thoải mái và rất vui lòng trong cuộc gặp gỡ này.
Việc tạo ấn tượng tốt trong lần gặp đầu tiên là hoàn toàn nằm trong tầm tay bạn và
một khởi đầu tốt đẹp chắc chắn sẽ mang lại những điều tốt lành theo sau đó.
Tập trung chú ý vào những đầu mối có lợi nhất: Chúng ta nhận thông tin về cảm
xúc của người nói từ 6 nguồn:
•Những từ đặc trưng
•Âm thanh của giọng nói
•Tốc độ nhanh của câu nói
•Biểu hiện trên nét mặt
•Dáng điệu
•Cử chỉ
-Hiểu những thông tin không lời trong bối cảnh xảy ra.
•Không có cử chỉ nào tự nó có một ý nghĩa đặc trưng mà là một phần của một
khuôn mẫu (như một từ trong một đoạn văn).
•Mục đích để lắng nghe có hiệu quả là nhận những tín hiệu từ toàn thể người truyền
đạt.
•Ghi chú những điều không nhất quán nếu có giữa lời nói và cử chỉ.
-Nhận thức được những cảm nghĩ và phản ứng cơ thể của chính mình.
Những phản ứng của chúng ta khích lệ người khác nói ra được cảm nghĩ về tình
huống của họ.
8. Tại sao nói giao tiếp là quan trọng? Lấy ví dụ minh họa.
– Trong những nguyên nhân thất bại của làm việc nhóm, nguyên nhân thành viên
kém về kỹ năng giao tiếp và kỹ năng sống trong môi trường là nguyên nhân thứ 2
,chỉ sau nguyên nhân thành viên có sự khác biệt quá lớn về văn hóa, sắc tộc, vùng
miền
– Trong định nghĩa về làm việc nhóm, cũng có yếu tố về giao tiếp, nó yêu cầu, các
thàh viên trong nhóm phải giao tiếp một cách cởi mở và trung thực
– Trong các nhân tố tạo nên thành công khi làm việc nhóm, nhân tố Giao tiếp và
thương thuyết hiệu quả là nhân tố quan trọng nhất.
+ Trong giao tiếp, kiên nhẫn và lắng nghe là 2 điều quan trọng nhất
+ Cách thức mọi người trong nhóm trao đổi, tóm tắt, đánh giá ý tưởng, giải hòa
mâu thuẫn, dẫn dắt thảo luận giúp cho việc xây dựng mối quan hệ trong công
việc, và sẽ đem lại những hiệu quả nhất định trong thành công
+ Đàm phám giúp phát triển mối quạn hệ, tạo long tin và thích ứng với sự khác
biệt văn hóa. Trong đàm phán, có những dào cản về việc k chú ý lắng nghe, sợ
mất mặt, kiêu ngạo, sợ bị chê bai, trách nhiệm cá nhân
– Giao tiếp không chỉ trong một nhóm, mà còn phải suy trì sự giao tiếp với các cá
nhân quan trọng bên ngoài tổ chức, có những điều kiện để có thể giúp nhóm đạt
được thành công
10
9. Nguồn gốc của xung đột/mâu thuẫn trong nhóm là gì?
*Tổ chức,lãnh đạo:
– Mục đích không rõ ràng
-Thiếu phân công,kiểm tra
-Năng lực,tổ chức,chuyên môn kém…
*Công việc:
-Quan điểm về công việc
-Tính chất công việc
– Cách tiếp cận công việc
-Nguồn lực trong làm việc
*Cá nhân con người (Khó giải quyết nhất)
-Tính cách, Tuổi tác, giới tình
– Quan điểm, Văn hóa,xuất thân…
10.Vì sao phải chú ý lắng nghe? Muốn lắng nghe hiệu quả thì làm thế nào?
a.Vì sao phải chú ý lắng nghe?
-Hầu hết những rắc rối trong quan hệ giữa người với người xuất phát từ sự yếu kém
trong kĩ năng lắng nghe. Qua thời gian, chúng ta đã hình thành nên những thói quen
xấu khi nghe. Chẳng hạn, thay vì lắng nghe, chúng ta lại nghĩ về điều sắp nói hoặc
xao lãng khi người khác nói do mãi chú ý đến cử chỉ của họ hoặc những gì đang
diễn ra xung quanh. Trong đó thói quen xấu nhất là ngắt lời khi người khác chưa
nói xong. Chúng ta cứ ngỡ đã biết được điều họ định nói trong khi lại không biết
được điều họ thật sự muốn nói. Hoặc là, chúng ta chỉ “nghe đánh giá”, tức là đánh
giá người nói, bỏ ngoài tai những điều họ nói chỉ vì không thích điệu bộ, cử chỉ của
họ hay đơn giản là cho rằng những điều đó không đáng nghe. Hoặc là, chúng ta chỉ
nghe những gì mình thích.
Mục tiêu chính để lắng nghe là hiểu, học hỏi, thưởng thức, giúp đỡ và hỗ trợ.
b. Muốn lắng nghe hiệu quả thì làm thế nào?
-Chuẩn bị lắng nghe bằng cách tập trung sự chú ý vào người nói. Tránh xem TV,
nhìn ra cửa sổ hoặc xung quanh.
-Tạo sự giao tiếp bằng mắt bằng cách nhìn người nói. Nhìn thẳng người nói để hiểu
được những tín hiệu không lời. Nhìn người nói giúp họ biết rằng chúng ta đang thật
sự lắng nghe và vì thế mà truyền đạt tốt hơn. Đáp lại người nói bằng cách gật đầu,
hướng người về phía trước hay mỉm cười. Những dấu hiệu này cho thấy sự lắng
nghe một cách chăm chú.
-Tuyệt đối không nói chuyện riêng hay ngắt lời người nói. Một người nghe tốt phải
biết dành thời gian cho người khác bày tỏ ý kiến cá nhân. Khi muốn nói điều gì, hãy
đợi người nói dứt câu và dừng trong giây lát. Điểm dừng này cho phép chúng ta
11
xem xét lại những gì vừa trình bày cũng như người nói xem xét cách lắng nghe của
chúng ta
-Tránh phán xét hay kết luận. Hầu hết các lý do dẫn đến không lắng nghe là quá chú
trọng đến những kinh nghiệm bản thân và không chú ý đúng mức đến người khác.
Tránh làm một người nghe thụ động, thay vào đó, thử so sánh ý kiến của bản thân
và người nói khi lắng nghe. Cố gắng không át lời hoặc ngắt lời người nói. Đừng bỏ
ngoài tai hoặc xem nhẹ những điều được nói.
-Lắng nghe và tìm hiểu ẩn ý, chú ý vào nội dung được trình bày và cả những điều
không được thể hiện bằng cảm nhận qua giọng điệu, nét mặt hay điệu bộ của người
nói.
-Tự đặt câu hỏi, dùng nghi vấn từ ai, cái gì, ở đâu, tại sao, khi nào để hiểu rõ điều
người nói muốn truyền đạt hơn là chỉ lắng nghe quan điểm của họ. Hỏi lại nếu
không chắc về những điều được trình bày.
-Hiểu rõ bản thân, tự biết khi nào chúng ta mất tập trung. Để ý và vượt qua nó.
11.Hãy nêu các xu hướng và các bước giải quyết xung đột trong nhóm?
a. Xu hướng:
-Rút lui (rùa): Họ sẵn sàng hy sinh mục đích và mối quan hệ của mình để sống yên
thân. Họ tránh né xung đột.
-Áp đảo (cá mập): Họ tìm mọi cách để đạt mục đích với bất cứ giá nào (đe dọa, trấn
áp, đè bẹp…), họ không quan tâm đến nhu cầu người khác.
-Xoa dịu (gấu bông): Họ xem mối quan hệ là tối quan trọng vàquyền lợi của họ là
thứ yếu. Họ sẵn sàng hy sinh mục đích, quyền lợi miễn là người khác yêu thương
họ. Họ nghĩ rằng tránh mâu thuẫn để giữ hòa khí.
-Thỏa hiệp (chồn): Họ hy sinh một phần lợi ích để tìm giải pháp trung hòa nhằm đạt
đến mục đích chung. Họ cũng vận động đối phương cũng làm như họ. Hài hòa giữa
mối quan hệ và mục tiêu
-Hợp tác(cú): Họ coi mâu thuẫn là một vấn đề phải giải quyết,họ tìm giải pháp làm
giảm căng thẳng, họ không thỏa mãn cho đến khi đạt đến mục đích chung và giải
quyết được căng thẳng giữa đôi bên. Coi trọng mục đích và quan hệ
b. Các bước giải quyết xung đột trong nhóm:
Bước 1: Phân tích
-Mô tả mâu thuẫn như là một vấn đề chung cần giải quyết, không như là một cuộc
đấu tranh có kẻ thắng người thua.
-Xác định nội dung mâu thuẫn càng cụ thể, càng đặc thù càng tốt.
-Mô tả hành động hơn là ý đồ, không dán nhãn, tố cáo
Bước 2: Trao đổi
-Lắng nghe, làm sáng tỏ, đánh giá ý kiến của nhau.
-Uyển chuyển và sẵng sàng thay đổi quan điểm khi được thuyết phục.
-Tập trung vào nhu cầu, mục đích và phát hiện ra những khác biệt giữa đôi bên.
Bước 3: Hiểu hoàn cảnh
12
-Cố gắng tìm hiểu hoàn cảnh, bối cảnh của bên kia bằng cách đặt mình vào vịtrí,
hoàn cảnh của họ.
Bước 4: Thỏa thuận
-Tìm ra giải pháp khôn ngoan -> “Không có giải pháp tốt, chỉ có giải pháp tốt nhất”
12.Cho biết vai trò của người nhóm trưởng ?
-Trưởng nhóm giữ vai trò người tổ chức, người thực hiện và người điều
hành.
-Trưởng nhóm phải lo bố trí các cuộc họp từ buổi gặp mặt đầu tiên đến khi nhóm
tan rã. -Việc tổ chức cuộc họp bàn kế hoạch sao cho có sự tham gia bình đẳng giữa
các thành viên là kỹ năng cần có của trưởng nhóm.
-Lập kế hoạch và phân công công việc cho các thành viên ũng là nghệ thuật của
trưởng nhóm.
-Tất cả các giai đoạn hoạt động của nhóm, người nhóm trưởng phải nắm vững và
điều hành cho tốt. Trưởng nhóm phải là người có các kỹ năng truyền thông và
thúc đẩy và càng có nhiều trải nghiệm càng tốt. Các kỹ năng này được xây dựng
dựa trên nền tảng của 4 thái độ: cảm thông, tôn trọng, quan tâm và tin tưởng vào
tiềm năng nhóm.
-Tóm lại trưởng nhóm phải là người có trách nhiệm với công việc của nhóm, với
từng thành viên của nhóm và với cả nhóm nói chung.
13.Làm thế nào để tăng cường động lực làm việc nhóm?
-Cổ vũ sự hợp tác
– Nhóm cần gần gũi nhau lúc làm việc.
– Mọi người cần thoải mái khi làm việc với nhau.
– Những hành xử tiêu cực cần sớm được loại bỏ khi có cơ hội.
-Sự bất an là kẻ thù của việc điểu hành nhóm đạt đến thành công
-Cần giải quyết ngay những nguyên nhân chia rẽ tiềm ẩn.
*Có 3 yếu tố quan trọng để tăng cường động lực làm việc nhóm:
– Sự tôn trọng
-Chú ý đến thành tích
-Và đựơc thừa nhận
14.Để lãnh đạo nhóm, người nhóm trưởng cần làm những gì?
1.
Đảm bảo sự hợp tác trong nhóm
– Muốn có sự hợp tác, người lãnh đạo phải nêu rõ mục đích, mục tiêu của mỗi
công việc hoặc mỗi giai đoạn.
– Nhóm viên chỉ có thể xác định họ sẽ hợp tác cái gì, như thế nào nếu họ đã hiểu rõ
mục đích, mục tiêu.
2.
Sử dụng quyền của người lãnh đạo
Người lãnh đạo điều hành công việc của nhóm và có nhiệm vụ thực hiện
những công việc mà nhóm đã thảo luận và nhất trí. Người lãnh đạo không được ép
nhóm viên phải làm trái với lợi ích của nhóm. Tuy nhiên cũng có những trường hợp
13
người trưởng nhóm phải sử dụng quyền của mình để quyết định miễn là quyết định
đó không trái với lợi ích của nhóm.
Trong một số trường hợp chỉ có nhóm trưởng mới có quyền quyết định. Do
đó cần người lãnh đạo biết sử dụng đúng quyền của mình.
3. Phân công, giao việc, đôn đốc và kiểm tra
Người trưởng nhóm giống như người thuyền trưởng, có trách nhiệm phân
công mọi người cùng làm việc để lái con tàu cho đến đích.
o
Phân công vừa sức
o
Giao việc đúng khả năng
o
Đôn đốc công việc trôi chảy và kiểm tra xem kết quả công việc có đúng yêu
cầu đề ra hay không.
4.
Duy trì trật tự, kỷ luật
Mọi người có trách nhiệm tuân theo nội quy của nhóm. Nhóm trưởng tự mình
chấp hành đúng các nội quy ấy và yêu cầu mọi người tuân theo.
Các công việc cần được tiến hành cho khớp với kế hoạch nhằm đạt được
mục tiêu. Nhóm trưởng có quyền yêu cầu mọi người tôn trọng và làm đúng những
gì đã bàn bạc.
5.
Phát triển tinh thần tập thể (giữ lửa)
Khen thưởng đúng lúc đúng việc.
Phê phán đúng cách, đúng lúc, đúng nơi – trên nền tảng tinh thần tôn trọng lẫn
nhau.
Cần chú ý rằng, mỗi người trong nhóm đều có những đặc điểm riêng của cá
nhân họ. Họ chỉ hòa mình vào trong nhóm theo mục đích chung của nhóm chứ
không phải để trở thành người khác theo khuôn mẫu định sẵn.
15.Điều gì tạo nên một người nhóm trưởng thành công?
Trả lời :
Người lãnh đạo nhóm hoặc người trực tiếp chỉ huy nhóm luôn phải suy nghĩ ra
những phương cách để xây dựng nhóm làm việc sao cho đem lại kết quả tốt đẹp cho
mục tiêu chung của nhóm và cho từng cá nhân trong nhóm. Để làm được điều này
không phải là điều dễ dàng, tuy nhiên một số điều dưới đây có thể
giúp bạn tìm kiếm được đúng phương cách để thực hiện điều đó.
1. Làm rõ sự trông đợi: Với cương vị và uy quyền của một trưởng nhóm, hãy
truyền đạt một cách rõ ràng sự trông đợi của bạn vào việc thi hành và những kết
quả. Làm cho những thành viên của nhóm hiểu vì sao cần phải làm việc theo nhóm.
Tạo điều kiện thuận lợi để họ thực hiện tốt nhiệm vụ chung bằng các nguồn
tài nguyên về nhân lực, thời gian và ngân sách. Làm sao để họ lĩnh hội đầy đủ tầm
quan trọng cũng như ưu thế của họ trong các điều khoản về thời gian, các cuộc thảo
luận và sự quan tâm của người chỉ đạo.
2. Bối cảnh: Để các thành viên trong nhóm hiểu được vì sao họ có mặt trong nhóm.
Vạch rõ cho họ thấy được kế hoạch làm việc nhóm sẽ giúp cho tổ chức đạt được
14
những mục tiêu đề ra, và tầm quan trọng của việc làm nhóm để hoàn thành những
mục tiêu chung. Làm cho họ hiểu được đâu là việc làm thích hợp trong mọi mục
tiêu, nguyên tắc, tầm nhìn và giá trị của tổ chức?
3. Sự giao phó: Làm thế nào để mỗi thành viên lôi cuốn vào công việc chung của
nhóm? Làm thế nào để họ cảm thấy nhóm của họ có một sứ mệnh rất quan trọng và
luôn cố gắng hết năng lực để hoàn thành tốt nhiệm vụ chung của nhóm, và trông
chờ vào một kết quả tốt đẹp? Làm sao để mỗi thành viên của nhóm nắm bắt rõ
nhiệm vụ, giá trị của họ trong tổ chức và trong sự nghiệp của cá nhân họ? Để mỗi
thành viên trong nhóm thấy trước được sự công nhận về những đóng góp của họ đối
với tổ chức, cống hiến năng lực của họ để đem đến sự tăng trưởng và phát triển cho
nhóm. Để mỗi thành viên của nhóm bị cuốn hút và bị thách thức
bởi những cơ hội thăng tiến.
4. Khả năng: Làm cho các thành viên của nhóm cảm thấy họ đều thích hợp với vị trí
của họ. Làm cho họ cảm thấy những hiểu biết, những kỹ năng và năng lực của họ
luôn được nâng cao qua quá trình đào tạo và làm việc với nhóm. Nếu không, hãy
làm cho các thành viên của nhóm dễ dàng cần sự hỗ trợ của cấp trên.
Để họ cảm thấy đó là một nguồn tài nguyên, chiến lược và sự hỗ trợ cần thiết cho
việc hoàn thành sứ mệnh.
5. Đặc quyền: Để mỗi thành viên trong nhóm đảm nhận mỗi công việc riêng. Tự
chịu trách nhiệm, sự sáng tạo, và thực hiện chiến lược để hoàn thành sứ mệnh của
mỗi người. Để họ được nắm bắt rõ và được truyền đạt bởi những mục tiêu, thấy
trước được kết quả và sự đóng góp, đo lường được qui trình mà nhóm đã thực hiện
để hoàn thành nhiệm vụ. Lãnh đạo nhóm, phối hợp và ủng hộ những gì mà nhóm đã
sáng tạo.
6. Sự hợp tác: Nhóm là những thành viên cùng nhau làm việc một cách hiệu quả
giữa các cá nhân. Làm cho họ hiểu được vai trò và trách nhiệm của mỗi cá nhân.
Những thành viên của nhóm là những vị lãnh đạo và những vị quan tòa của nhóm.
Họ có quyền giải quyết mọi vấn đề của nhóm, đưa ra phương pháp cải thiện
công việc, đặt mục tiêu và có chung quyền lợi. Làm cho những thành viên của
nhóm hợp tác với nhau để hoàn thành nhiệm vụ.
7. Sự liên lạc: Làm sao để nhóm cung cấp và được cung cấp những thông tin quan
trọng về hoạt động chuyên môn đều đặn. Để họ hiểu được đầy đủ bối cảnh xung
quanh và sự tồn tại của họ. Làm cho những thành viên của nhóm có sự liên lạc rõ
ràng và trung thực với nhau. Tạo động lực cho những thành viên của
nhóm mang đến những ý kiến khác nhau đặt trên bàn làm việc của bạn. Những sự
đối lập tất yếu được nâng lên và được cộng thêm vào.
8. Sáng kiến, sáng tạo: Một tổ chức thực sự thì luôn quan tâm đến sự thay đổi. Hãy
để nhân viên của bạn tự do đưa ra những ý tưởng mới, những suy nghĩ và những
15
phương pháp độc đáo. Huấn luyện, đào tạo họ những kỹ năng cần thiết. Cho phép
họ truy cập vào những quyển sách và phim ảnh, vào các lĩnh vực giải trí
cần thiết khác để khuyến kích cho những suy nghĩ mới.
9. Những hệ quả: Sau cùng, hãy làm cho những thành viên của nhóm cảm thấy họ
có nghĩa vụ và trách nhiệm cho sự nghiệp chung của nhóm. Là những phần thưởng
và sự công nhận được đáp ứng khi họ thành công. Sự mạo hiểm hợp lý thì được coi
trọng và được khuyến khích. Đồng thời cũng xem xét về chế độ thưởng cho cả
nhóm hay cho cá nhân nào có thành tích nổi bật, lúc đó hãy đề phòng hoặc đưa ra
giải pháp nếu có sự hiềm khích và trả thù cá nhân. Nên xem xét một cách mềm dẻo
và công bằng
Ngoài ra, trưởng nhóm là người hướng các thành viên vào những điều quan trọng
nhất để tạo nên thành công. Trưởng nhóm cũng luôn phải loại trừ các hoạt động
không cần thiết và là chổ dựa cho cả nhóm tránh những xao lãng từ bên ngoài.
– Trách nhiệm của trưởng nhóm là thúc đẩy cả nhóm làm việc với nhau để đạt mục
đích chung.
– Phải có phẩm chất tư cách – đạo đức tốt, có uy tín.
– Phải có chuyên môn tốt.
– Biết tác động vào nhóm đúng lúc đúng chỗ.
– Nắm được đặt điểm tâm lý nhóm – tâm lý cá nhân.
Để có thể lãnh đạo nhóm đạt hiệu quả cao nhất, trưởng nhóm cần có cái nhìn vừa
bao quát, vừa sâu sắc đối với các thành viên. Trong quá trình giải quyết xung đột
khi làm việc nhóm, nếu trưởng nhóm nắm bắt được tâm lý và phong cách làm việc
của các thành viên trong nhóm, đó sẽ là cơ sở cho các bước xử lý tiếp theo.
Nắm bắt tâm lý các thành viên trong nhóm
Dưới đây là 5 kiểu tâm lý cơ bản trong xung đột khi làm việc nhóm:
– Cạnh tranh: Những thành viên này có xu hướng giữ vững quan điểm của mình, và
kết quả cuối cùng chỉ ý kiến một bên được nhóm công nhận. Kiểu này hữu ích khi
khẩn cấp, và lúc phải ra quyết định nhanh chóng, hoặc chống lại lối suy nghĩ cá
nhân, bất thường của một thành viên nào đó. Tuy nhiên, có thể nó để lại cho người
khác cảm giác không hài lòng, bực bội khi dùng kiểu này trong nhũng trường hợp ít
khẩn cấp.
– Hợp tác: Những thành viên này có thể rất quyết đoán nhưng không giống những
người theo kiểu cạnh tranh, họ có xu hướng hợp tác và cố gắng đạt đến sự tương
đồng với ý kiến những người liên quan, thừa nhận rằng mọi thành viên trong nhóm
là quan trọng. Kiểu này hữu ích khi bạn cần tham khảo nhiều quan điểm để có được
giải pháp tốt nhất, hoặc khi vừa mới có xung đột trong nhóm, hoặc khi tình huống
đó quá quan trọng không thể dùng một thỏa hiệp đơn giản.
16
– Thỏa hiệp: Những người thích kiểu thỏa hiệp thường tìm giải pháp mà ít ra có thể
phần nào làm hài lòng nhiều người. Kiểu thỏa hiệp này hữu dụng khi mọi việc đang
bế tắc mà không còn đủ thời gian, hoặc khi cái giá phải trả của việc xung đột cao
hơn là việc đánh mất lập trường.
– Dễ dãi: Kiểu tâm lý này biểu hiện sự sẵn sàng đồng ý và dễ bị thuyết phục từ bỏ
quan điểm. Sự dễ dãi này phù hợp khi sự yên ổn tốt hơn là việc chiến thắng mà phải
xảy ra tranh cãi hoặc muốn người khác hài lòng với thiện cảm từ phía mình. Tuy
nhiên, xét toàn diện thì có vẻ như kiểu này không mang đến kết quả tốt nhất.
– Trốn tránh: Những thành viên này có thiên hướng trốn tránh xung đột xảy ra, tránh
các quyết định gây tranh cãi. Kiểu này có thể phù hợp khi cuộc tranh luận là không
đáng kể, hoặc khi đã có quan điểm của ai đó đúng hơn để giải quyết vấn đề. Tuy
nhiên, trong hầu hết các trường hợp, phương cách này không mang lại nhiều hiệu
quả.
Một khi hiểu được tâm lý của người tham gia cuộc xung đột, trưởng nhóm sẽ dễ
dàng có được phương sách điều hòa thích hợp nhằm giải quyết chúng. Ngoài ra,
hiểu về phong cách làm việc của các thành viên sẽ giúp cho trưởng nhóm trong việc
phân công, phát huy thế mạnh của mỗi thành viên theo từng vị trí, công việc và tình
huống thích hợp
16.Trình bày nội dung của các hoạt động xây dựng nhóm ?
Thông thường một nhóm nào đó chính thức hay không chính thức đều trải qua 5 giai
đoạn trong quá trình phát triển xây dựng của nhóm. Các giai đoạn này được mô tả
dưới đây.
Giai đoạn 1: Hình thành nhóm.
Giai đoạn này các thành viên nhóm bắt đầu tập hợp lại. Họ mang đến nhóm nhiều
điểm khác biệt nhau từ tính cách đến cách làm việc, kiến thức và kỹ năng. Họ cần có
thời gian tìm hiểu, thăm dò lẫn nhau để có thể thể hiện vai trò của họ hoặc không thể
trong nhóm.
Vai trò trưởng nhóm giai đoạn này là thúc đẩy các thành viên cởi mở, giao tiếp với
nhau, sau đó cùng phối hợp xây dựng định hướng hoạt động của nhóm hoặc mục
tiêu hoạt động nhóm. Nhóm trưởng và các thành viên tìm hiểu các thành viên khác
về tính tình, khả năng làm việc, sự tự tin, trách nhiệm và những suy nghĩ đóng góp
cho nhóm…Sau đó nhóm quyết tâm xây dựng hoặc hiểu rõ mục tiêu mà nhóm phải
hoàn thành. Các mục tiêu được xây dựng bởi nhóm thường được đánh giá bằng các
tiêu chí cụ thể, đo được, được đồng thuận, khả thi và có thời hạn xác định
(SMART). Nếu nhóm không xây dựng được mục tiêu hoặc các thành viên không
hiểu rõ mục tiêu của nhóm thì nhóm không thể hoàn thành công việc hoặc sớm tan
rã.
Giai đoạn 2: Hỗn loạn/ bão táp.
17
Giai đoạn này xảy ra khi các thành viên xung đột nhau về cách làm việc, công việc
phân công và chia sẻ trách nhiệm. Mới hình thành nhóm nên có một số thành viên tỏ
ra nổi trội, mất đoàn kết có thể xảy ra. Truyền thông, giao tiếp trong nhóm chưa
suôn sẻ, người muốn thống trị, lôi kéo, người thì hãy thờ ơ. Trưởng nhóm lúc này
phải là người cứng rắn, gương mẫu, gần gũi các thành viên, tránh để xảy ra căng
thẳng quá, tổ chức tốt công việc và làm cho công việc bắt đầu có hiệu quả. Làm sao
cho các thành viên nhóm hiểu nhau nhiều nhất, hiểu công việc, tránh các thành viên
cạnh tranh nhau trở thành đối thủ. Tăng cường giao tiếp trong nhóm. Chuyển các
công việc do thành tích cá nhân sang thành tích chung của nhóm.
Giai đoạn 3: Ổn định
Giai đoạn này các thành viên bắt đầu nỗ lực đóng góp vào công việc chung của
nhóm. Các thành viên nhóm tin tưởng lẫn nhau, gắn kết với nhau qua công việc. lãnh
đạo nhóm tạo điều kiện để các thành viên hỗ trợ nhau. Bảo đảm các kênh thông tin
trong nhóm thông suốt, xây dựng được cơ chế phản hồi tích cực. Thành viên tin
tưởng lẫn nhau, cùng gắn kết bởi mục tiêu chung. Nhóm viên lắng nghe ý kiến lẫn
nhau.
Giai đoạn 4: Hoạt động.
Sau giai doạn ổn định là giai đoạn hoạt động hiệu quả. Đặc trưng giai đoạn này là
các thành viên hoàn toàn hòa hợp nhau, tạo ra năng suất làm việc cao, mọi tiềm năng
của cá nhân và tập thể nhóm được phát huy, vấn đề được giải quyết hiệu quả, các
mâu thuẫn không còn xảy ra. Tuy nhiên không phải là đã loại bỏ hết xung đột, vì
xung đột lúc nào cũng thường trực tác động đến bất cứ nhóm nào ở bất cứ giai đoạn
nào. Các thành viên phải tự hoàn thiện mình trong nhóm, thích ứng với thay đổi,
chấp nhận sự khác biệt, hướng mục tiêu chung, tham gia vào việc quản lý chung.
Giai đoạn 5: Kết thúc (hay tan rã!).
Giai đoạn này các thành viên đã hoàn thành mục tiêu chung (hoặc không hoàn thành
mục tiêu nào cả). Các thành viên ít phụ thuộc vào nhau. Nhiệm vụ hoàn thành thì
nhóm sẽ kết thúc vai trò (các nhóm nghiên cứu, nhóm dự án thường kết thúc như
vậy), xây dựng hoặc tập hợp thành các nhóm mới với mục tiêu mới. Hoạt động của
nhóm thường được giám sát và đánh giá để rút kinh nghiệm và bài học cho các
nhóm khác, dự án khác.
2.2.Hoạt động nhóm:
Nhóm là tập hợp nhiều người do đó luôn có những thành viên mới với thành viên cũ,
có quen nhau từ trước hoặc hoàn toàn chưa quen nhau. Người trưởng nhóm luôn
phải giải quyết nhiều vấn đề về đoàn kết, tranh chấp, xung đột, ra quyết định, hài
hòa các chức năng của nhóm. Các thành viên cũng cần hiểu rõ cá động thái của
nhóm để xây dựng nhóm làm việc. Nhóm muốn vận hành hiệu quả thì cần làm tốt
các hoạt động sau:
1.Hội nhập thành viên mới vào nhóm. Khó khăn luôn xảy ra khi nhóm mới thành lập
hoặc có thêm thành viên mới nhập vào nhóm. Thành viên mới cũng phải tự mình
18
giải quyết vấn đề hội nhập. Các thành viên mới có thể thuộc một trong ba dạng
chính như người thích tranh cãi, người tốt bụng hoặc người có lý, ba dạng này đều
gây khó khăn cho quá trình hội nhập. Người thích tranh cãi hay phản ứng lại mọi
vấn đề, muốn khẳng định sự nổi trội của mình trong nhóm. Người tốt bụng thì có
thái độ phụ thuộc người khác, luôn muốn tìm phe nhóm để dựa, sợ hãi những điều
bất ngờ, nhu cầu an toàn cao. Người có lý thì lo lắng về nhu cầu cá nhân của mình
trong nhóm, bướng bỉnh khi hòa hợp nhu cầu cá nhân và định hướng của nhóm.
2.Lãnh đạo nhóm liên quan đến nhiệm vụ và các mối quan hệ. Để đạt được năng
suất trong làm việc nhóm thì phải thỏa mãn hai nhu cầu: nhu cầu liên quan đến
nhiệm vụ và nhu cầu liên quan đến các mối quan hệ. Hai nhu cầu này toàn thể thành
viên nhóm và lãnh đạo nhóm phải cùng phấn đấu để thỏa mãn. Các công việc gồm
nêu ra tất cả các ý kiến, tìm kiếm thông tin, làm sáng tỏ các nhiệm vụ, làm rõ và tóm
tắt nội dung các cuộc họp nhóm, thảo luận nhóm, khuyến khích các thành viên, dung
hòa sự khác biệt, tăng cường giao tiếp, khuyến khích tham gia, tránh các thái độ gây
rối…
3.Vai trò trong nhóm và sự vận động. Trong nhóm làm việc các thành viên luôn có
một vai trò và muốn người khác cũng có vai trò rõ ràng. Nếu vai trò không rõ thì sẽ
dễ gây hiểu lầm, mất đoàn kết ảnh hưởng đến năng suất chung. Các thành viên cũng
mong muốn được biết người khác chờ đợi gì ở cá nhân đó. Không nen để vai trò của
người này quá nhiều (quá tải) và người khác thì quá ít. Xung đôt về vai trò có thể
xảy ra bời cá nhân với cá nhân, bởi cá nhân với tập thể, bởi chính cá nhân với vai
trò của anh ta.
4.Các chuẩn mực, quy định của nhóm. Đây là các quy chế, quy tắc mà nhóm tự đề ra
để các thành viên theo đó mà thực hiện. Các chuẩn mực của nhóm rất quan trọng, nó
cho phép các thành viên trong nhóm nhận các thông tin phản hồi tích cực. Các chuẩn
mực được xây dựng có sự tham gia, sao cho mục tiêu của nhóm được thực hiện một
cách tốt nhất.
5.Sự gắn kết trong nhóm. Sự gắn kết trong nhóm làm cho nhóm hoạt động hiệu quả
và bền vững. Các thành viên càng tự hào về mình được tham gia nhóm thì sự gắn kết
trong nhóm càng cao. Như vậy các thành viên cũng như trưởng nhóm phải làm sao
cho nhóm đáng tự hào về các công việc làm. Trưởng nhóm và các thành viên cần
phấn đấu để có sự gắn kết trong nhóm cao và sự tuân theo chuẩn mực của nhóm
Xem thêm: Cẩn trọng với việc nhẹ, lương cao
cũng cao, để hình thành nhóm lý tưởng, có hiệu suất làm việc cao.
2.3.Thông tin trong nhóm:
Thông tin trong nhóm rất quan trọng, nó như là các mạch máu nuôi dưỡng cơ thể
nhóm. Thông tin rõ ràng, chính xác thì mọi người sẽ hiểu nhau và hiểu nhiệm vụ để
hơp tác với nhau. Thông tin có nguồn phát ra và có nơi tiếp nhận qua một kênh
truyền nào đó, rồi lại phản hồi lại nơi phát thông tin. Cơ chế này phải thông suốt
trong nhóm. Quá trình thông tin luôn tiếp diễn không ngừng.
19
Trong nhóm thì thông tin xảy ra giữa cá nhân mỗi thành viên với nhóm trưởng và
ngược lại, các thành viên với nhau và ngược lại. Thông tin được truyền bởi các kênh
truyền thông tin. Các kênh này như nói, viết, ngôn ngữ cơ thể (động tác tay, chân,
nét mặt…)
Khi thông tin thì có những rào cản của thông tin. Các rào cản này làm hạn chế hoặc
triệt tiêu thông tin mà mọi thành viên muốn gửi cho nhau và muốn nhận được. Do đó
muốn nhậ thông tin tốt thì chúng ta phải rèn các kỹ năng truyền thông tin và nhận
thông tin. Các kỹ năng này sẽ đề cập đến trong phần “ kỹ năng giao tiếp”.
2.4.Thảo luận và ra quyết định trong nhóm:
Nhóm là một tập thể làm việc để đạt được mục tiêu. Rất nhiều công việc cần phải
được cùng bàn bạc, thảo luận và cuối cùng là ra quyết định. Cho nên đi tới quyết
định định cuối cùng là nhiệm vụ rất quan trong của nhóm. Quá trình ra quyết định có
sự tham gia có những đặc trưng riêng mà mỗi cá nhân trong nhóm cần phải hiểu để
làm. Để ra quyết định có thể theo một số cách sau:
Ra quyết định theo kiểu thờ ơ: một người nào đó đưa ra ý tưởng, các thành viên khác
không quan tâm và do đó quyết định được nhanh chóng thông qua. Theo kiểu này
một số ý tưởng hay khác không được phân tích và bị bỏ qua.
Ra quyết định từ trên xuống: Theo kiểu này người lãnh đạo nhóm hay cấp cao hơn
chỉ cần phổ biến, thông báo, nhân danh cả nhóm thông qua mà không qua thảo luận.
Ra quyết định kiểu này nhanh chóng, nhưng cũng như kiểu trên có thể nhiều ý kiến
hay khác bị bỏ qua. Nó trở nên xấu nếu người ra quyết định có quá ít thông tin, chủ
quan và độc đoán. Khi thực hiện quyết định sẽ xảy ra vấn đề khác không lường
trước.
Ra quyết định theo kiểu thiểu số: Cách này một hoặc một vài cá nhân gợi ý rồi thúc
giục,
ép mọi người theo ý kiến mình. Khuyết điểm của cách này cũng như trên. Ra quyết
định theo nguyên tắc đa số: Theo cách này mang danh dân chủ qua bỏ phiếu hoặc
giơ tay tán thành lấy số đông. Quyết định sẽ thông qua nhưng không phải tất cả các
thành viên đều hài lòng. Một số không hài lòng sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng,
hiệu suất công việc. Nguy cơ trong nhóm sẽ kéo bè cánh để lấy phiếu áp đảo cho
quyền lợi của một nhóm nào đó. Ra quyết định theo nguyên tắc đồng thuận: cách
này chỉ ra quyết định khi đã thảo luận kỹ mọi ý tưởng, không
bỏ qua ý kiến nào kể cả các ý kiến trái ngược. Quyết định được ra khi có đa số tán
thành nhưng thiểu số khác cũng được nghe, được phân tích và có ý kiến của mình.
Kiểu ra quyết định này mất nhiều thời gian nhưng sẽ tiến tới dần sự đồng thuận hoàn
toàn – là lý tưởng đối với tiến trình ra quyết định.
Để ra quyết định các thành viên cần được biết những khó khăn và thuận lợi khi ra
quyết định, nhất là quyết định có sự đồng thuận, có sự tham gia. Những thuận lợi ở
đây có thể là nhóm có nhiều hiểu biết, có nhiều lựa chọn hơn một người. Nhóm một
20
khi đồng thuận thì có động lực cùng thực hiện quyết định. Khó khăn là có một số
thành viên như bị bắt phải đồng ý, phải theo một ý tưởng, có thể có bè phái và áp đặt
ý tưởng của các nhóm nhỏ, thảo luận nhiều thì chậm ra quyết định và có thể mất cơ
hội.
Nhóm cũng cần phải tránh kiểu “tư duy nhóm” nghĩa là đoàn kết quá thiếu dần tư
duy phê phán. Tham gia trong nhóm lâu nên các thành viên gắn kết, không còn sẵn
sàng phê phán ý tưởng của thành viên khác. Cần phát hiện sớm tư duy nhóm và có
biện pháp phòng trừ.
Để ra quyết định các thành viên và nhất là nhóm trưởng cần có các kỹ năng phát huy
ý tưởng các thành viên khi thảo luận, bàn bạc và ra quyết định. Các kỹ năng này như
phương pháp động não, cây vấn đề, phương pháp Delphi (dùng bảng hỏi gửi trước),
thảo luận nhóm, đóng vai chậu cá…
Ghi chú: Đề thi viết sẽ gồm 3 trong số các câu hỏi trên. Buổi thi sẽ gồm ít nhất 3 đề!
21
phải tương thích với tiềm năng của tổ chức triển khai. Yếu tố thứ hai của một nhóm là những thành viên phải tương tác, liên hệ, tiếp xúc vớinhau tiếp tục. Tiếp xúc và tương tác sẽ làm tác động ảnh hưởng lẫn nhau giữa cácthành viên và tác động ảnh hưởng tác động ảnh hưởng này tạo ra sự động lực tăng trưởng nhóm : hoàn toàn có thể tíchcực hoặc xấu đi. Yếu tố thứ ba là những quy tắc nhóm. Nhóm phải kiến thiết xây dựng được quy tắc, pháp luật, nội quy của nhóm để sao cho nhóm hoạt động giải trí hiệu suất cao. Đây là những quy tắc chínhthức. Trong nhóm còn có những quy tắc ngầm không công bố nhưng cũng có hiệulực không kém phần quan trọng. Yếu tố ở đầu cuối là vai trò, nghĩa vụ và trách nhiệm rõ ràng của những thành viên trong nhóm. Nhóm chỉ hoạt động giải trí hiệu suất cao khi những thành viên được biết rõ trách nhiệm, phù hợpnăng lực của mình, không chồng chéo, giẫm đạp lên nhau. Nhóm làm việc đượcthành lập để xử lý và triển khai việc làm nào đó có tiềm năng rõ ràng mà mộtcá nhân không hề triển khai xong. Nếu những việc làm đơn thuần, hoàn toàn có thể xử lý bởi1 cá thể, không yên cầu phải phối hợp, không cần phối hợp nhiều kỹ năng thìkhông thiết yếu tới xây dựng nhóm. – Khái niệm làm việc nhóm : so với sinh viên + Tập hợp một nhóm người ( từ 3 thành viên trở lên, tối đa 10 thành viên ) + Có cùng một trách nhiệm, tiềm năng + Có sự hợp tác, mối quan hệ giữa những thành viênvai trò của những cá thể trong nhómCác thành viên nhóm thường có vai trò nhất định, được phân công hoặc nhận nhữngnhiệm vụ đơn cử. Nhóm chính thức có trưởng phó nhóm, thư ký, phục vụ hầu cần … Nhómkhông chính thức cũng hoàn toàn có thể có những vai trò đó. Trưởng nhóm giữ vai trò người tổ chức triển khai, người triển khai và người điều hành quản lý. Trưởng nhóm phải lo sắp xếp những cuộc họp từ buổi gặp mặt tiên phong đến khi nhóm tanrã. Việc tổ chức triển khai cuộc họp bàn kế hoạch sao cho có sự tham gia bình đẳng giữa cácthành viên là kỹ năng cần có của trưởng nhóm. Lập kế hoạch và phân công côngviệc cho những thành viên cũng là nghệ thuật và thẩm mỹ của trưởng nhóm. Tất cả những giai đoạnhoạt động của nhóm, người nhóm trưởng phải nắm vững và quản lý cho tốt. Cáckỹ năng quản lý và điều hành hoạt động giải trí nhóm đã có rất nhiều sách viết và có những lớp tậphuấn kỹ càng. Nhưng quan trọng nhất là trưởng nhóm phải là người có những kỹ năngtruyền thông và thôi thúc và càng có nhiều thưởng thức càng tốt ( xem phần Kỹ nănggiao tiếp ). Các kỹ năng này được kiến thiết xây dựng dựa trên nền tảng của 4 thái độ : cảmthông, tôn trọng, chăm sóc và tin yêu vào tiềm năng nhóm. Tóm lại trưởng nhómphải là người có nghĩa vụ và trách nhiệm với việc làm của nhóm, với từng thành viên củanhóm và với cả nhóm nói chung. Ngoài ra khi đề cập đến vai trò thành viên còn lại trong nhóm người ta thường phâncác thành viên thành những “ kiểu vai trò ” tương hỗ hay cản trở những hoạt động giải trí của nhóm. Có ba loại vai trò như vậy. Loại thứ nhất là những thành viên tương hỗ cho viêc hoàn thành xong việc làm như ngườikhởi xướng, người làm sáng tỏ, người triển khai, người thông tin, người góp phần. Loại thứ hai là những thành viên củng cố nhóm như người khuyến khích, người giữcửa, người quan sát, người đề xuất kiến nghị và củng cố quy tắc, người đùa vui. Nhóm thứ ba là nhóm những người xấu đi như người gây hấn, người phu thuộc, người thống trị, người đùa dai, người lè phè, người phá đám … Hai nhóm đầu là nhóm tích cực. Khi có những hành vi xấu đi cần đưa quy tắc, quy định của nhóm ra để những thành viên tự giác tuân theo. 2. Trình bày khái quát về đặc thù tâm ý của nhóm. Nếu bạn bị ghép vào mộtnhóm mà mình không thích thì nên ứng xử thế nào ? Khi số người link thành một nhóm – nhóm có một sức sống riêng và chi phốichính những nhóm viên đã lập ra nhóm. Ở đâu, khi nào cũng có nhóm, nhưng khôngcó nhóm nào giống nhóm nào. Tuy nhiên sẽ có 1 số ít hiện tượng kỳ lạ và diễn tiến mànhóm nào cũng có. Những diễn tiến này chi phối đời sống của nhóm và tác độngvào cá thể. Người ta gọi là tiến trình nhóm hoặc tâm ý nhóm. a. Một số hiện tượng kỳ lạ tâm ý diễn ra trong nhóm : – Nhóm trưởng của nhóm chính thức nhiều khi không được sự ưng ý ủng hộ củacác nhóm viên ( không ưa, kèn cựa nhau … ) – Sự phân thành tiểu nhóm – giữa những tiểu nhóm không có sự thống nhất. – Giữa những nhóm viên trong quy trình tương tác diễn ra sự hợp tác hay xung đột mâuthuẫn là một hiện tượng kỳ lạ tâm ý tất yếu trong nhóm cũng như trong đời sống. – Như vậy yếu tố ở đây là xử lý những xích míc trên để đưa nhóm tiến lên. Người tác viên phải nắm được tâm ý nhóm. Biết dựa vào thủ lĩnh trong nhóm đểgiải quyết những xích míc đó nhưng phải rất thẩm mỹ và nghệ thuật, nghĩa là phải biết tácđộng đúng lúc và khôn khéo. b. Sự tương đương trong nhóm : – Tương đồng là sự hòa hợp, tương thích những thuộc tính tâm ý của những thành viên trongnhóm. Nhờ đó bảo vệ cho việc triển khai tốt những mục tiêu chung của nhóm. Sựtương đồng ở mức độ cao làm cho nhóm đạt tới sự thống nhất cao trong hành vi – những nhóm có sự tương đương cao gọi là nhóm đồng tính. Trái ngược với sựtương đồng là sự không tương đương gồm có những yếu tố sau : + Do không thống nhất về quan điểm, lối sống, niềm tin + Do độc lạ về tâm ý cá thể + Do những pháp luật sai lầm đáng tiếc của người chỉ huy dẫn đến không tương đương. c. Sự tác động ảnh hưởng lây lan tâm ý : – Đây là hình thức tâm ý phổ cập diễn ra tiếp tục trong đời sống hàng ngàycủa con người, nó diễn ra trong khoanh vùng phạm vi to lớn. Hiện tượng lây lan tâm ý đượcdiễn ra trong hoạt động và sinh hoạt, trong hoạt động giải trí hàng ngày. Tâm lý những thành viên bao giờcũng ảnh hưởng tác động lẫn nhau tạo ra hiện tượng kỳ lạ tâm ý mới. – Ví dụ : Trong nhóm có một người có chuyện buồn thì cả nhóm cùng buồn, khôngkhí không vui. Hoặc đua đòi về quần áo, đầu tóc … đó cũng là hiện tượng kỳ lạ lây lantâm lý ( chạy theo mốt ). – Cơ sở của sự lây lan : nó nhờ vào vào những yếu tố sau : + Do sự bắt chước làm theo. + Do đặc thù của quan hệ : càng thân cành gần thì tính lây lan càng mạnh, lạ lẫm thìlây lan ít hơn. d. Sự xung đột trong nhóm : – Nguyên nhân dẫn đến xung đột : + Do mâu thuẩn giữa những thành viên trong nhóm : va chạm về quyền hạn vật chấthoặc ý thức. Xung đột tiếp tục xảy ra khi một thành viên cho rằng nhữngcái mình không đạt được là do nhóm hay do một cá thể nào đó trong nhóm gâynên. + Xung đột hoàn toàn có thể sinh ra do nhân cách xấu : ích kỷ, tham lam, vụn vặt … – Các xung đột thường gây ảnh hưởng tác động đến sự sống sót và tăng trưởng của nhóm tạo nênbầu không khí stress trong nhóm. – Xung đột là điều kiện kèm theo tất yếu trong nhóm, muốn xử lý những xung đột đó vaitrò chính là người chỉ huy. Bởi vậy chỉ huy phải nắm được tâm ý nhóm, tâm lýcá nhân, biết tác động ảnh hưởng đúng lúc đúng chỗ, tế nhị thì mới đưa nhóm tiến lên được. e. Bầu không khí tâm ý trong nhóm : – Quan sát hay tham gia vào trong một nhóm ta có cảm xúc chung : có nhóm thìsinh hoạt chân tình cởi mở, ít câu nệ hình thức ; có nhóm quan tâm đến hình thức bênngoài … điều đó hoàn toàn có thể bộc lộ cho một ngấm ngầm hay một tiềm năng chưa đạtđược. – Vậy bầu không khí tâm ý là sự kết tinh những yếu tố chi phối nhóm – phong cáchlãnh đạo nhóm – tiến trình tăng trưởng nhóm. – Bầu không khí ảnh hưởng tác động đến quan hệ tâm ý và hiệu suất cao hoạt động giải trí. Cần phải xâydựng bầu không khí nhóm làm thế nào để nhóm có bầu không khí tự do … Muốnxây dựng bầu không khí nhóm tốt, ta cần những yếu tố sau : + Phải hòa hợp về xã hội tâm ý – cùng sở trường thích nghi – cùng nhu yếu – cùng hứng thú. + Phải hòa hợp tâm sinh lý. + Cách xử sự việc làm của người chỉ huy – có sự công minh hài hòa và hợp lý. + Điều kiện làm việc – điều kiện kèm theo hoạt động và sinh hoạt phải bảo vệ. + Tăng cường sự hoạt động và sinh hoạt tập thể ( đi dạo ). 3. Trình bày những nguyên tắc làm việc nhóm ? – Các nguyên tắc làm việc nhóm : + Tôn trọng : lắng nghe quan điểm của những thành viên trong nhóm + Bình đẳng : mỗi người có quyền đưa ra ý tưởng sáng tạo, những ý tưởng sáng tạo đều có giá trị nhưnhau + Chia sẻ : mỗi người có nghĩa vụ và trách nhiệm san sẻ ý tưởng sáng tạo với người khác + Trợ giúp : nếu một thành viên gặp khó khăn vất vả thì cả nhóm cùng tương hỗ ( ý thức, vật chất ) + Chung sức : ý thức đoàn kết, vượt qua khó khăn vất vả – Đặc điểm nhóm làm việc hiệu suất cao : + Các yếu tố thiết yếu để kiến thiết xây dựng nhóm làm việc : tiềm năng, năng lượng, góp phần vàhưởng lợi, thiên nhiên và môi trường khuyến khích + Tuân theo những nguyên tắc của nhóm đề ra + Tạo nên những giá trị của nhóm-Để là một thành viên nhóm hiệu suất cao, hãy tuân thủ những nguyên tắc sau : i. Hãy đúng giờ, điều đó giúp cho những thành viên khác trong nhóm làm việc khôngphải mất thêm thời gian.ii. Luôn đặt tiềm năng của cuộc luận bàn lên số 1, tránh chuyện trò về nhữngchủ đề không tương quan, gây loãng chủ đề, thiếu tập trung.iii. Hãy nghĩ mình là một phần của nhóm chứ không phải một cá thể riêng không liên quan gì đến nhau. Thảo luận với cả nhóm chứ không phải chỉ với người ngồi cạnh bạn. Hãy rõ ràng vàngắn gọn. Luôn ý thức rằng bạn đang sử dụng thời hạn của toàn bộ mọi người. iv. Đừng ngắt lời người khác. Hãy lắng nghe và cố hiểu họ. Cũng đừng nghĩ về ýkiến sắp trình diễn của mình, hãy quan tâm những gì người khác nói. Nếu có gì chưa rõ, hãy hỏi lại khi họ kết thúc. v. Hãy đoàn kết để đạt đến tiềm năng chung. Không ai có khá đầy đủ kiến thức và kỹ năng về bất cứmột yếu tố nào, chỉ có là họ góp phần được nhiều hay ít mà thôi. Hãy thuyết phụcmọi người bằng lý lẽ và dẫn chứng, không phải bằng cảm hứng. vi. Đừng chỉ trích. Đừng phản đối ngay quan điểm của người khác dù bạn có thấy nóthiếu trong thực tiễn đến đâu. Cũng đừng gắn mỗi cá thể với quan điểm của họ, chỉ thảo luậnvề quan điểm thôi, đừng chỉ trích riêng ai cả. vii. Hãy luôn tâm niệm rằng, tác dụng sau cuối thu nhận được phải là sự đồng lòngcủa cả nhóm, kể cả những cá thể có quan điểm bị bác bỏ. Việc này không hề nhanhchóng đạt được mà phải cần có thời gian.viii. Hãy nỗ lực tôn trọng những thành viên khác và hướng tới tiềm năng chung. 4. Sự thiết yếu phải làm việc theo nhóm ? – Lợi ích của làm việc nhóm : + Tập hợp nhiều sáng tạo độc đáo + Phát huy trí tuệ tập thể + Tăng hiệu suất cao + Tạo dựng mối quan hệ + Tăng tính sáng tạoLàm việc theo nhóm tạo điều kiện kèm theo tăng hiệu suất và hiệu suất cao của việc làm. Nhiềunghiên cứu đã chứng tỏ rằng làm việc theo nhóm hiệu suất và hiệu suất cao của mỗicá nhân cao hơn hẳn hiệu suất và hiệu suất cao trung bình của mỗi cá thể khi làm việcriêng lẻ. Vì trong nhóm, khi làm việc những kỹ năng và kinh nghiệm tay nghề hỗ trợ lẫn nhau. Làm việc theo nhóm hoàn toàn có thể giảm được một số ít nhân sự, khâu trung gian nên linhhoạt hơn. Vì linh động nên tổ chức triển khai dễ đổi khác để đối phó với đổi khác của môitrường, chớp lấy thời cơ và giảm thiểu rủi ro tiềm ẩn. Nhóm hoàn toàn có thể tạo ra môi trường tự nhiên làm việc mà những kiến thức và kỹ năng và kinh nghiệm tay nghề của cáccá nhân hỗ trợ cho nhau, những quyết định hành động đưa ra tổng lực và tương thích hơn. Nhóm làm việc có đủ năng lực triển khai xong một dự án Bất Động Sản hoàn hảo trong khi mỗi cánhân chỉ hoàn toàn có thể hoàn thành xong một phần việc. Nhóm hoàn toàn có thể tận dụng những gì tốt nhấtcủa mỗi cá thể trong công tác làm việc trình độ và cả ngoài trình độ. Các thànhviên tự rút ra những gí tốt nhất để học hỏi lẫn nhau, cải tổ thái độ và ứng xử củamình. Nhóm làm việc hiệu suất cao là nhóm quy tụ 1 số ít đặc thù cơ bản như những thành viênhiểu rõ nguyên do sống sót của nhóm ; những nguyên tắc và quy định được bàn luận, đồngthuận ; thông tin trong nhóm thông đạt ; những thành viên tương hỗ nhau ; có những quytắc kiểm tra, nhìn nhận, khen thưởng rõ ràng. Để có những đặc thù trên nhóm phảigiữ giá trị cơ bản của nhóm, lấy đó làm xu thế hoạt động giải trí của mình chứ khôngphải là thi hành theo thông tư cấp trên. Các trách nhiệm của cá thể và nhóm được nêurõ bằng những tiềm năng ( SMART ). Nhóm phải phối hợp lẫn nhau, phát minh sáng tạo. Tuy nhiênnhững đặc thù trên không phải là có ngay mà phải hình thành kiến thiết xây dựng dần dầntrong những quá trình tăng trưởng của nhóm. Tác động tới sự làm việc hiệu suất cao của nhóm là những yêu tố toàn cảnh, quy mô nhóm, sự phong phú của thành viên nhóm, những chuẩn mực nhóm, chỉ huy … 5. Để tạo được thành công xuất sắc khi làm việc nhóm, cần quan tâm những yếu tố nào ? 1. Hội nhập thành viên mới vào nhóm. Khó khăn luôn xảy ra khi nhóm mới thànhlập hoặc có thêm thành viên mới nhập vào nhóm. Thành viên mới cũng phải tựmình xử lý yếu tố hội nhập. Các thành viên mới hoàn toàn có thể thuộc một trong badạng chính như người thích tranh cãi, người tốt bụng hoặc người có lý, ba dạng nàyđều gây khó khăn vất vả cho quy trình hội nhập. Người thích tranh cãi hay phản ứng lạimọi yếu tố, muốn chứng minh và khẳng định sự nổi trội của mình trong nhóm. Người tốt bụng thìcó thái độ nhờ vào người khác, luôn muốn tìm phe nhóm để dựa, sợ hãi nhữngđiều giật mình, nhu yếu bảo đảm an toàn cao. Người có lý thì lo ngại về nhu yếu cá thể củamình trong nhóm, bướng bỉnh khi hòa hợp nhu yếu cá thể và xu thế củanhóm. 2. Lãnh đạo nhóm tương quan đến trách nhiệm và những mối quan hệ. Để đạt được năngsuất trong làm việc nhóm thì phải thỏa mãn nhu cầu hai nhu yếu : nhu yếu tương quan đếnnhiệm vụ và nhu yếu tương quan đến những mối quan hệ. Hai nhu yếu này toàn thể thànhviên nhóm và chỉ huy nhóm phải cùng phấn đấu để thỏa mãn nhu cầu. Các việc làm gồmnêu ra toàn bộ những quan điểm, tìm kiếm thông tin, làm sáng tỏ những trách nhiệm, làm rõ vàtóm tắt nội dung những cuộc họp nhóm, bàn luận nhóm, khuyến khích những thành viên, dung hòa sự độc lạ, tăng cường tiếp xúc, khuyến khích tham gia, tránh những tháiđộ gây rối … 3. Vai trò trong nhóm và sự hoạt động. Trong nhóm làm việc những thành viên luôn cómột vai trò và muốn người khác cũng có vai trò rõ ràng. Nếu vai trò không rõ thì sẽdễ gây hiểu nhầm, mất đoàn kết ảnh hưởng tác động đến hiệu suất chung. Các thành viên cũngmong muốn được biết người khác chờ đón gì ở cá thể đó. Không nen để vai tròcủa người này quá nhiều ( quá tải ) và người khác thì quá ít. Xung đôt về vai trò cóthể xảy ra bời cá thể với cá thể, bởi cá thể với tập thể, bởi chính cá thể vớivai trò của anh ta. 4. Các chuẩn mực, lao lý của nhóm. Đây là những quy định, quy tắc mà nhóm tự đềra để những thành viên theo đó mà thực thi. Các chuẩn mực của nhóm rất quan trọng, nó được cho phép những thành viên trong nhóm nhận những thông tin phản hồi tích cực. Cácchuẩn mực được thiết kế xây dựng có sự tham gia, sao cho tiềm năng của nhóm được thựchiện một cách tốt nhất. 5. Sự kết nối trong nhóm. Sự kết nối trong nhóm làm cho nhóm hoạt động giải trí hiệu quảvà vững chắc. Các thành viên càng tự hào về mình được tham gia nhóm thì sự gắnkết trong nhóm càng cao. Như vậy những thành viên cũng như trưởng nhóm phải làmsao cho nhóm đáng tự hào về những công việc làm. Trưởng nhóm và những thành viêncần phấn đấu để có sự kết nối trong nhóm cao và sự tuân theo chuẩn mực của nhómcũng cao, để hình thành nhóm lý tưởng, có hiệu suất làm việc cao. 6. Giao tiếp là gì ? Vẽ sơ đồ minh họa quy mô tiếp xúc cụ thể. Giao tiếp là gì ? Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về tiếp xúc, nhưng nhìn mộtcách tổng thể và toàn diện, tiếp xúc được hiểu là : – Quá trình trao đổi thông tin, niềm tin và cảmxúc giữa Người với Người – Sự chuyển giao thông tin và sự hiểu biết – Suy nghĩ củangười này được chuyển đến người khác và hiểu rõ – Hành vi và thái độ được tiếpnhận bởi người khácGiao tiếp là một quy trình phức tạp và được cấu thành bởi rất nhiều những yếu tốkhác nhau như : người gửi, người nhận, thông điệp, kênh thông tin ( có lời, khônglời ), toàn cảnh, … Tuy nhiên, có 3 yếu tố cơ bản cần phải được chú trọng trong quátrình rèn luyện kỹ năng tiếp xúc đó là : Chủ thể và đối tượng người tiêu dùng tham gia quy trình tiếp xúc ( người gửi và người nhận ) : Mỗi một cá thể tham gia tiếp xúc là một con người đơn cử, độc lạ về tính khí, tính cách, nhu yếu, sở trường thích nghi, niềm tin, … Chính vì điều này, trong tiếp xúc rất dễxuất hiện hiện tượng kỳ lạ hiểu sai nghe nhầm. Thông điệp : Nội dung cần chuyển tải. Trong quy trình tiếp xúc, thông điệpkhông phải khi nào cũng dễ hiểu và dễ nhận thấy mà nó còn có những “ nội dungẩn ” phía sau. Thông điệp hoàn toàn có thể đơn thuần chỉ mang tính thông tin nhưng có nhiềutrường hợp xen kẽ với cảm hứng, mong đợi, nhu yếu, sở trường thích nghi, … của những đối tượngtham gia tiếp xúc. Kênh thông tin : Ngôn ngữ có lời hoặc không lời ( cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, nụ cười, … ) Rèn luyện kỹ năng tiếp xúc chính là rèn luyện những nội dung có tương quan đến 3 yếu tố quan trọng trên, đơn cử : Đối với những cá thể tham gia tiếp xúc cần phải chăm sóc đến : + Khám phá bản thân : Tôi là ai ? Tôi khác gì so với người khác ? Tôi có những ưu vànhược điểm gì ? Ước mơ của tôi là gì ?, … + Xác định vị thế tâm ý + Phong cách ăn mặc + Tác phongĐối với thông điệp chuyển tải : + Ngắn gọn + Chính xác + Rõ ràngĐối với kênh thông tin : + Sử dụng ngôn từ có lời hiệu suất cao + Kỹ năng lắng nghe + Kỹ năng quan sát + Sử dụng ngôn từ không lời ( cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, nụ cười, … ) Nâng cao vốn từ cá thể bằng cách : + Đọc sách + Chơi ô chữ + Ghi lại những từ, câu hay vào sổ tayTham gia những hoạt động giải trí do Đoàn – Hội tổ chức triển khai hoặc những hoạt động giải trí tập thể, xã hội khác. Tập quan sát và ghi nhận khi tiếp xúc với mọi người xung quanh : quan sáttướng mạo, quan sát cách ăn mặc, quan sát tư thế ngồi, … Tham gia những cuộc thi thuyết trình, hùng biện, người dẫn chương trình, …. 7. Ngôn ngữ không lời trong quy trình tiếp xúc có vai trò gì ? Muốn sử dụng ngônngữ không lời một cách hiệu suất cao nên làm thế nào ? Giá trị thật sự của tiếp xúc không lời là cho thấy một cách sâu sắc thái độ, tưtưởng, xúc cảm. Con người có năng lực đọc được những tín hiệu không lời theotrực giác ( cảm thụ ), qua những giác quan. Trong một buổi họp, nếu có một thành viêntham dự bổng ngồi ngả sống lưng vào ghế dựa và khoanh tay lại một cách bất thần thì tacó thể hiểu ngay là đã có chuyện rắc rối. Cử chỉ miêu tả nhiều sắc thái khác nhau, hàm chứa những ẩn ý về tâm ý. S. Freud có nói : ” Không ai giữ được bí hiểm cả. Nếu miệng không nói thì ngón tay, ngón chân cũng động đậy. “. Thường con ngườithể hiện ngôn từ không lời một cách vô thức. Việc phân phối hài hòa và hợp lý cho 1 số ít cách diễn đạt phi ngôn từ và cử chỉ thông dụngcó thể tạo điều kiện kèm theo cho việc tiếp xúc và giúp tăng trưởng mối quan hệ với ngườikhác. Việc quan sát những hành vi không lời của người khác hoàn toàn có thể phân phối chochúng ta những thông tin quan trọng có tương quan đến những thông điệp của họ vàhiểu được những thông điệp này là một điều quan trọng của một sự tiếp xúc tốt. Các yếu tố của tiếp xúc không lời gồm có : • Giao tiếp bằng mắt • Ngôn ngữ thân thể • Giao tiếp bằng ngôn từ cử chỉ • Giọng nói và vận tốc nói • Khoảng cách, sử dụng khoảng trống • Thời gian. • Sự im re • Trang phục • Đụng chạmMuốn sử dụng ngôn từ không lời một cách hiệu suất cao nên : • Bắt tay : Dù bạn bắt tay với nam hay nữ, thì cái bắt tay của bạn phải thật chặt vàchắc để chứng tỏ bạn thật lòng. Đừng quên nhìn thẳng vào mắt người đối lập. • Quần áo : Giày dép cũng rất quan trọng. Quần áo quá đẹp hay quá sờn cũ đều phảntác dụng vì phần lớn những cuộc gặp là xã giao nên chỉ cần ăn mặc đúng mực. • Giao tiếp bằng mắt : Khi bạn gặp một người nào đó lần tiên phong, hãy nhìn thẳngvào mắt họ. Không nhìn chăm chăm mà hãy nhìn nhau bằng những “ tia nhìn ấmáp ”, nếu không người đối lập sẽ nghĩ là bạn không chăm sóc đến những gì họ nói. • Trò chuyện : Thông thường trong lần gặp tiên phong, người ta hay có khuynh hướnghỏi thông tin về nhau, nhưng đừng biến buổi gặp thành một cuộc phỏng vấn. Nêndùng những câu hỏi gợi cho người đối lập bày tỏ quan điểm của họ và đừng quên tỏdấu hiệu là bạn rất thú vị với những ý tưởng sáng tạo của người đối thoại. • Mỉm cười : Nếu bạn mở màn với một nụ cười, những việc tiếp theo sau đó sẽ diễn rasuôn sẻ. Hãy nhớ rằng những người khác cũng hoàn toàn có thể nhút nhát như bạn, cũng mangtheo họ những lo ngại, bồn chồn giống như bạn. Một nụ cười báo rằng bạn cảm thấyrất tự do và rất sung sướng trong cuộc gặp gỡ này. Việc tạo ấn tượng tốt trong lần gặp tiên phong là trọn vẹn nằm trong tầm tay bạn vàmột khởi đầu tốt đẹp chắc như đinh sẽ mang lại những điều tốt đẹp theo sau đó. Tập trung chú ý quan tâm vào những đầu mối có lợi nhất : Chúng ta nhận thông tin về cảmxúc của người nói từ 6 nguồn : • Những từ đặc trưng • Âm thanh của giọng nói • Tốc độ nhanh của câu nói • Biểu hiện trên nét mặt • Dáng điệu • Cử chỉ-Hiểu những thông tin không lời trong toàn cảnh xảy ra. • Không có cử chỉ nào tự nó có một ý nghĩa đặc trưng mà là một phần của mộtkhuôn mẫu ( như một từ trong một đoạn văn ). • Mục đích để lắng nghe có hiệu suất cao là nhận những tín hiệu từ toàn thể người truyềnđạt. • Ghi chú những điều không đồng điệu nếu có giữa lời nói và cử chỉ. – Nhận thức được những cảm nghĩ và phản ứng khung hình của chính mình. Những phản ứng của tất cả chúng ta khuyến khích người khác nói ra được cảm nghĩ về tìnhhuống của họ. 8. Tại sao nói tiếp xúc là quan trọng ? Lấy ví dụ minh họa. – Trong những nguyên do thất bại của làm việc nhóm, nguyên do thành viênkém về kỹ năng tiếp xúc và kỹ năng sống trong thiên nhiên và môi trường là nguyên do thứ 2, chỉ sau nguyên do thành viên có sự độc lạ quá lớn về văn hóa truyền thống, sắc tộc, vùngmiền – Trong định nghĩa về làm việc nhóm, cũng có yếu tố về tiếp xúc, nó nhu yếu, cácthàh viên trong nhóm phải tiếp xúc một cách cởi mở và trung thực – Trong những tác nhân tạo nên thành công xuất sắc khi làm việc nhóm, tác nhân Giao tiếp vàthương thuyết hiệu suất cao là tác nhân quan trọng nhất. + Trong tiếp xúc, kiên trì và lắng nghe là 2 điều quan trọng nhất + Cách thức mọi người trong nhóm trao đổi, tóm tắt, nhìn nhận sáng tạo độc đáo, giải hòamâu thuẫn, dẫn dắt đàm đạo giúp cho việc kiến thiết xây dựng mối quan hệ trong côngviệc, và sẽ đem lại những hiệu suất cao nhất định trong thành công xuất sắc + Đàm phám giúp tăng trưởng mối quạn hệ, tạo long tin và thích ứng với sự khácbiệt văn hóa truyền thống. Trong đàm phán, có những dào cản về việc k chú ý quan tâm lắng nghe, sợmất mặt, kiêu ngạo, sợ bị chê bai, nghĩa vụ và trách nhiệm cá thể – Giao tiếp không chỉ trong một nhóm, mà còn phải suy trì sự tiếp xúc với những cánhân quan trọng bên ngoài tổ chức triển khai, có những điều kiện kèm theo để hoàn toàn có thể giúp nhóm đạtđược thành công109. Nguồn gốc của xung đột / xích míc trong nhóm là gì ? * Tổ chức, chỉ huy : – Mục đích không rõ ràng-Thiếu phân công, kiểm tra-Năng lực, tổ chức triển khai, trình độ kém … * Công việc : – Quan điểm về công việc-Tính chất việc làm – Cách tiếp cận công việc-Nguồn lực trong làm việc * Cá nhân con người ( Khó xử lý nhất ) – Tính cách, Tuổi tác, giới tình – Quan điểm, Văn hóa, xuất thân … 10. Vì sao phải chú ý quan tâm lắng nghe ? Muốn lắng nghe hiệu suất cao thì làm thế nào ? a. Vì sao phải chú ý quan tâm lắng nghe ? – Hầu hết những rắc rối trong quan hệ giữa người với người xuất phát từ sự yếu kémtrong kĩ năng lắng nghe. Qua thời hạn, tất cả chúng ta đã hình thành nên những thói quenxấu khi nghe. Chẳng hạn, thay vì lắng nghe, tất cả chúng ta lại nghĩ về điều sắp nói hoặcxao lãng khi người khác nói do mãi chú ý quan tâm đến cử chỉ của họ hoặc những gì đangdiễn ra xung quanh. Trong đó thói quen xấu nhất là ngắt lời khi người khác chưanói xong. Chúng ta cứ ngỡ đã biết được điều họ định nói trong khi lại không biếtđược điều họ thật sự muốn nói. Hoặc là, tất cả chúng ta chỉ ” nghe nhìn nhận “, tức là đánhgiá người nói, bỏ ngoài tai những điều họ nói chỉ vì không thích điệu bộ, cử chỉ củahọ hay đơn thuần là cho rằng những điều đó không đáng nghe. Hoặc là, tất cả chúng ta chỉnghe những gì mình thích. Mục tiêu chính để lắng nghe là hiểu, học hỏi, chiêm ngưỡng và thưởng thức, giúp sức và tương hỗ. b. Muốn lắng nghe hiệu suất cao thì làm thế nào ? – Chuẩn bị lắng nghe bằng cách tập trung chuyên sâu sự chú ý quan tâm vào người nói. Tránh xem TV, nhìn ra hành lang cửa số hoặc xung quanh. – Tạo sự tiếp xúc bằng mắt bằng cách nhìn người nói. Nhìn thẳng người nói để hiểuđược những tín hiệu không lời. Nhìn người nói giúp họ biết rằng tất cả chúng ta đang thậtsự lắng nghe và do đó mà truyền đạt tốt hơn. Đáp lại người nói bằng cách gật đầu, hướng người về phía trước hay mỉm cười. Những tín hiệu này cho thấy sự lắngnghe một cách chú ý. – Tuyệt đối không trò chuyện riêng hay ngắt lời người nói. Một người nghe tốt phảibiết dành thời hạn cho người khác bày tỏ quan điểm cá thể. Khi muốn nói điều gì, hãyđợi người nói dứt câu và dừng trong giây lát. Điểm dừng này được cho phép chúng ta11xem xét lại những gì vừa trình diễn cũng như người nói xem xét cách lắng nghe củachúng ta-Tránh phán xét hay Tóm lại. Hầu hết những nguyên do dẫn đến không lắng nghe là quá chútrọng đến những kinh nghiệm tay nghề bản thân và không quan tâm đúng mức đến người khác. Tránh làm một người nghe thụ động, thay vào đó, thử so sánh quan điểm của bản thânvà người nói khi lắng nghe. Cố gắng không át lời hoặc ngắt lời người nói. Đừng bỏngoài tai hoặc xem nhẹ những điều được nói. – Lắng nghe và tìm hiểu và khám phá ẩn ý, chú ý quan tâm vào nội dung được trình diễn và cả những điềukhông được biểu lộ bằng cảm nhận qua giọng điệu, nét mặt hay điệu bộ của ngườinói. – Tự đặt câu hỏi, dùng nghi vấn từ ai, cái gì, ở đâu, tại sao, khi nào để hiểu rõ điềungười nói muốn truyền đạt hơn là chỉ lắng nghe quan điểm của họ. Hỏi lại nếukhông chắc về những điều được trình diễn. – Hiểu rõ bản thân, tự biết khi nào tất cả chúng ta mất tập trung chuyên sâu. Để ý và vượt qua nó. 11. Hãy nêu những khuynh hướng và những bước xử lý xung đột trong nhóm ? a. Xu hướng : – Rút lui ( rùa ) : Họ chuẩn bị sẵn sàng quyết tử mục tiêu và mối quan hệ của mình để sống yênthân. Họ tránh né xung đột. – Áp đảo ( cá mập ) : Họ tìm mọi cách để đạt mục tiêu với bất kể giá nào ( rình rập đe dọa, trấnáp, tiêu diệt … ), họ không chăm sóc đến nhu yếu người khác. – Xoa dịu ( gấu bông ) : Họ xem mối quan hệ là tối quan trọng vàquyền lợi của họ làthứ yếu. Họ chuẩn bị sẵn sàng quyết tử mục tiêu, quyền hạn miễn là người khác yêu thươnghọ. Họ nghĩ rằng tránh xích míc để giữ trung khí. – Thỏa hiệp ( chồn ) : Họ quyết tử một phần quyền lợi để tìm giải pháp trung hòa nhằm mục đích đạtđến mục tiêu chung. Họ cũng hoạt động đối phương cũng làm như họ. Hài hòa giữamối quan hệ và mục tiêu-Hợp tác ( cú ) : Họ coi xích míc là một yếu tố phải xử lý, họ tìm giải pháp làmgiảm căng thẳng mệt mỏi, họ không thỏa mãn nhu cầu cho đến khi đạt đến mục tiêu chung và giảiquyết được căng thẳng mệt mỏi giữa đôi bên. Coi trọng mục tiêu và quan hệb. Các bước xử lý xung đột trong nhóm : Bước 1 : Phân tích-Mô tả xích míc như thể một yếu tố chung cần xử lý, không như thể một cuộcđấu tranh có kẻ thắng người thua. – Xác định nội dung xích míc càng đơn cử, càng đặc trưng càng tốt. – Mô tả hành vi hơn là ý đồ, không dán nhãn, tố cáoBước 2 : Trao đổi-Lắng nghe, làm sáng tỏ, nhìn nhận quan điểm của nhau. – Uyển chuyển và sẵng sàng biến hóa quan điểm khi được thuyết phục. – Tập trung vào nhu yếu, mục tiêu và phát hiện ra những độc lạ giữa đôi bên. Bước 3 : Hiểu hoàn cảnh12-Cố gắng khám phá thực trạng, toàn cảnh của bên kia bằng cách đặt mình vào vịtrí, thực trạng của họ. Bước 4 : Thỏa thuận-Tìm ra giải pháp khôn ngoan -> “ Không có giải pháp tốt, chỉ có giải pháp tốt nhất ” 12. Cho biết vai trò của người nhóm trưởng ? – Trưởng nhóm giữ vai trò người tổ chức triển khai, người thực thi và người điềuhành. – Trưởng nhóm phải lo sắp xếp những cuộc họp từ buổi gặp mặt tiên phong đến khi nhómtan rã. – Việc tổ chức triển khai cuộc họp bàn kế hoạch sao cho có sự tham gia bình đẳng giữacác thành viên là kỹ năng cần có của trưởng nhóm. – Lập kế hoạch và phân công việc làm cho những thành viên ũng là nghệ thuật và thẩm mỹ củatrưởng nhóm. – Tất cả những quá trình hoạt động giải trí của nhóm, người nhóm trưởng phải nắm vững vàđiều hành cho tốt. Trưởng nhóm phải là người có những kỹ năng truyền thông online vàthúc đẩy và càng có nhiều thưởng thức càng tốt. Các kỹ năng này được xây dựngdựa trên nền tảng của 4 thái độ : cảm thông, tôn trọng, chăm sóc và tin cậy vàotiềm năng nhóm. – Tóm lại trưởng nhóm phải là người có nghĩa vụ và trách nhiệm với việc làm của nhóm, vớitừng thành viên của nhóm và với cả nhóm nói chung. 13. Làm thế nào để tăng cường động lực làm việc nhóm ? – Cổ vũ sự hợp tác – Nhóm cần thân thiện nhau lúc làm việc. – Mọi người cần tự do khi làm việc với nhau. – Những hành xử xấu đi cần sớm được vô hiệu khi có thời cơ. – Sự không an tâm là quân địch của việc điểu hành nhóm đạt đến thành công-Cần xử lý ngay những nguyên do chia rẽ tiềm ẩn. * Có 3 yếu tố quan trọng để tăng cường động lực làm việc nhóm : – Sự tôn trọng-Chú ý đến thành tích-Và đựơc thừa nhận14. Để chỉ huy nhóm, người nhóm trưởng cần làm những gì ? 1. Đảm bảo sự hợp tác trong nhóm – Muốn có sự hợp tác, người chỉ huy phải nêu rõ mục tiêu, tiềm năng của mỗicông việc hoặc mỗi quy trình tiến độ. – Nhóm viên chỉ hoàn toàn có thể xác lập họ sẽ hợp tác cái gì, như thế nào nếu họ đã hiểu rõmục đích, tiềm năng. 2. Sử dụng quyền của người lãnh đạoNgười chỉ huy điều hành quản lý việc làm của nhóm và có trách nhiệm thực hiệnnhững việc làm mà nhóm đã bàn luận và nhất trí. Người chỉ huy không được épnhóm viên phải làm trái với quyền lợi của nhóm. Tuy nhiên cũng có những trường hợp13người trưởng nhóm phải sử dụng quyền của mình để quyết định hành động miễn là quyết địnhđó không trái với quyền lợi của nhóm. Trong một số ít trường hợp chỉ có nhóm trưởng mới có quyền quyết định hành động. Dođó cần người chỉ huy biết sử dụng đúng quyền của mình. 3. Phân công, giao việc, đôn đốc và kiểm traNgười trưởng nhóm giống như người thuyền trưởng, có nghĩa vụ và trách nhiệm phâncông mọi người cùng làm việc để lái con tàu cho đến đích. Phân công vừa sứcGiao việc đúng khả năngĐôn đốc việc làm trôi chảy và kiểm tra xem tác dụng việc làm có đúng yêucầu đề ra hay không. 4. Duy trì trật tự, kỷ luậtMọi người có nghĩa vụ và trách nhiệm tuân theo nội quy của nhóm. Nhóm trưởng tự mìnhchấp hành đúng những nội quy ấy và nhu yếu mọi người tuân theo. Các việc làm cần được thực thi cho khớp với kế hoạch nhằm mục đích đạt đượcmục tiêu. Nhóm trưởng có quyền nhu yếu mọi người tôn trọng và làm đúng nhữnggì đã đàm đạo. 5. Phát triển ý thức tập thể ( giữ lửa ) Khen thưởng đúng lúc đúng việc. Phê phán đúng cách, đúng lúc, đúng nơi – trên nền tảng ý thức tôn trọng lẫnnhau. Cần quan tâm rằng, mỗi người trong nhóm đều có những đặc thù riêng của cánhân họ. Họ chỉ hòa mình vào trong nhóm theo mục tiêu chung của nhóm chứkhông phải để trở thành người khác theo khuôn mẫu định sẵn. 15. Điều gì tạo nên một người nhóm trưởng thành công xuất sắc ? Trả lời : Người chỉ huy nhóm hoặc người trực tiếp chỉ huy nhóm luôn phải tâm lý ranhững phương cách để kiến thiết xây dựng nhóm làm việc sao cho đem lại tác dụng tốt đẹp chomục tiêu chung của nhóm và cho từng cá thể trong nhóm. Để làm được điều nàykhông phải là điều thuận tiện, tuy nhiên 1 số ít điều dưới đây có thểgiúp bạn tìm kiếm được đúng phương cách để triển khai điều đó. 1. Làm rõ sự trông đợi : Với cương vị và uy quyền của một trưởng nhóm, hãytruyền đạt một cách rõ ràng sự trông đợi của bạn vào việc thi hành và những kếtquả. Làm cho những thành viên của nhóm hiểu vì sao cần phải làm việc theo nhóm. Tạo điều kiện kèm theo thuận tiện để họ triển khai tốt trách nhiệm chung bằng những nguồntài nguyên về nhân lực, thời hạn và ngân sách. Làm sao để họ lĩnh hội rất đầy đủ tầmquan trọng cũng như lợi thế của họ trong những pháp luật về thời hạn, những cuộc thảoluận và sự chăm sóc của người chỉ huy. 2. Bối cảnh : Để những thành viên trong nhóm hiểu được vì sao họ xuất hiện trong nhóm. Vạch rõ cho họ thấy được kế hoạch làm việc nhóm sẽ giúp cho tổ chức triển khai đạt được14những tiềm năng đề ra, và tầm quan trọng của việc làm nhóm để hoàn thành xong nhữngmục tiêu chung. Làm cho họ hiểu được đâu là việc làm thích hợp trong mọi mụctiêu, nguyên tắc, tầm nhìn và giá trị của tổ chức triển khai ? 3. Sự phó thác : Làm thế nào để mỗi thành viên hấp dẫn vào việc làm chung củanhóm ? Làm thế nào để họ cảm thấy nhóm của họ có một thiên chức rất quan trọng vàluôn nỗ lực hết năng lượng để hoàn thành xong tốt trách nhiệm chung của nhóm, và trôngchờ vào một hiệu quả tốt đẹp ? Làm sao để mỗi thành viên của nhóm chớp lấy rõnhiệm vụ, giá trị của họ trong tổ chức triển khai và trong sự nghiệp của cá thể họ ? Để mỗithành viên trong nhóm thấy trước được sự công nhận về những góp phần của họ đốivới tổ chức triển khai, góp sức năng lượng của họ để đem đến sự tăng trưởng và tăng trưởng chonhóm. Để mỗi thành viên của nhóm bị hấp dẫn và bị thách thứcbởi những thời cơ thăng quan tiến chức. 4. Khả năng : Làm cho những thành viên của nhóm cảm thấy họ đều thích hợp với vị trícủa họ. Làm cho họ cảm thấy những hiểu biết, những kỹ năng và năng lượng của họluôn được nâng cao qua quy trình giảng dạy và làm việc với nhóm. Nếu không, hãylàm cho những thành viên của nhóm thuận tiện cần sự tương hỗ của cấp trên. Để họ cảm thấy đó là một nguồn tài nguyên, kế hoạch và sự tương hỗ thiết yếu choviệc hoàn thành xong thiên chức. 5. Đặc quyền : Để mỗi thành viên trong nhóm tiếp đón mỗi việc làm riêng. Tựchịu nghĩa vụ và trách nhiệm, sự phát minh sáng tạo, và triển khai kế hoạch để hoàn thành xong thiên chức củamỗi người. Để họ được chớp lấy rõ và được truyền đạt bởi những tiềm năng, thấytrước được tác dụng và sự góp phần, giám sát được qui trình mà nhóm đã thực hiệnđể triển khai xong trách nhiệm. Lãnh đạo nhóm, phối hợp và ủng hộ những gì mà nhóm đãsáng tạo. 6. Sự hợp tác : Nhóm là những thành viên cùng nhau làm việc một cách hiệu quảgiữa những cá thể. Làm cho họ hiểu được vai trò và nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi cá thể. Những thành viên của nhóm là những vị chỉ huy và những vị quan tòa của nhóm. Họ có quyền xử lý mọi yếu tố của nhóm, đưa ra chiêu thức cải thiệncông việc, đặt tiềm năng và có chung quyền lợi và nghĩa vụ. Làm cho những thành viên củanhóm hợp tác với nhau để triển khai xong trách nhiệm. 7. Sự liên lạc : Làm sao để nhóm cung ứng và được phân phối những thông tin quantrọng về hoạt động giải trí trình độ đều đặn. Để họ hiểu được khá đầy đủ toàn cảnh xungquanh và sự sống sót của họ. Làm cho những thành viên của nhóm có sự liên lạc rõràng và trung thực với nhau. Tạo động lực cho những thành viên củanhóm mang đến những quan điểm khác nhau đặt trên bàn làm việc của bạn. Những sựđối lập tất yếu được nâng lên và được cộng thêm vào. 8. Sáng kiến, phát minh sáng tạo : Một tổ chức triển khai thực sự thì luôn chăm sóc đến sự biến hóa. Hãyđể nhân viên cấp dưới của bạn tự do đưa ra những ý tưởng sáng tạo mới, những tâm lý và những15phương pháp độc lạ. Huấn luyện, huấn luyện và đào tạo họ những kỹ năng thiết yếu. Cho phéphọ truy vấn vào những quyển sách và phim ảnh, vào những nghành nghề dịch vụ giải trícần thiết khác để khuyến kích cho những tâm lý mới. 9. Những hệ quả : Sau cùng, hãy làm cho những thành viên của nhóm cảm thấy họcó nghĩa vụ và trách nhiệm và nghĩa vụ và trách nhiệm cho sự nghiệp chung của nhóm. Là những phần thưởngvà sự công nhận được cung ứng khi họ thành công xuất sắc. Sự mạo hiểm hài hòa và hợp lý thì được coitrọng và được khuyến khích. Đồng thời cũng xem xét về chính sách thưởng cho cảnhóm hay cho cá thể nào có thành tích điển hình nổi bật, lúc đó hãy đề phòng hoặc đưa ragiải pháp nếu có sự hiềm khích và trả thù cá thể. Nên xem xét một cách mềm dẻovà công bằngNgoài ra, trưởng nhóm là người hướng những thành viên vào những điều quan trọngnhất để tạo nên thành công xuất sắc. Trưởng nhóm cũng luôn phải loại trừ những hoạt độngkhông thiết yếu và là chổ dựa cho cả nhóm tránh những xao lãng từ bên ngoài. – Trách nhiệm của trưởng nhóm là thôi thúc cả nhóm làm việc với nhau để đạt mụcđích chung. – Phải có phẩm chất tư cách – đạo đức tốt, có uy tín. – Phải có trình độ tốt. – Biết ảnh hưởng tác động vào nhóm đúng lúc đúng chỗ. – Nắm được đặt điểm tâm ý nhóm – tâm ý cá thể. Để hoàn toàn có thể chỉ huy nhóm đạt hiệu suất cao cao nhất, trưởng nhóm cần có cái nhìn vừabao quát, vừa thâm thúy so với những thành viên. Trong quy trình xử lý xung độtkhi làm việc nhóm, nếu trưởng nhóm chớp lấy được tâm ý và phong thái làm việccủa những thành viên trong nhóm, đó sẽ là cơ sở cho những bước giải quyết và xử lý tiếp theo. Nắm bắt tâm ý những thành viên trong nhómDưới đây là 5 kiểu tâm ý cơ bản trong xung đột khi làm việc nhóm : – Cạnh tranh : Những thành viên này có xu thế giữ vững quan điểm của mình, vàkết quả ở đầu cuối chỉ quan điểm một bên được nhóm công nhận. Kiểu này hữu dụng khikhẩn cấp, và lúc phải ra quyết định hành động nhanh gọn, hoặc chống lại lối tâm lý cánhân, không bình thường của một thành viên nào đó. Tuy nhiên, hoàn toàn có thể nó để lại cho ngườikhác cảm xúc không hài lòng, tức bực khi dùng kiểu này trong nhũng trường hợp ítkhẩn cấp. – Hợp tác : Những thành viên này hoàn toàn có thể rất quyết đoán nhưng không giống nhữngngười theo kiểu cạnh tranh đối đầu, họ có khuynh hướng hợp tác và cố gắng nỗ lực đạt đến sự tươngđồng với quan điểm những người tương quan, thừa nhận rằng mọi thành viên trong nhómlà quan trọng. Kiểu này hữu dụng khi bạn cần tìm hiểu thêm nhiều quan điểm để có đượcgiải pháp tốt nhất, hoặc khi vừa mới có xung đột trong nhóm, hoặc khi tình huốngđó quá quan trọng không hề dùng một thỏa hiệp đơn thuần. 16 – Thỏa hiệp : Những người thích kiểu thỏa hiệp thường tìm giải pháp mà ít ra có thểphần nào làm hài lòng nhiều người. Kiểu thỏa hiệp này hữu dụng khi mọi việc đangbế tắc mà không còn đủ thời hạn, hoặc khi cái giá phải trả của việc xung đột caohơn là việc đánh mất lập trường. – Dễ dãi : Kiểu tâm ý này biểu lộ sự chuẩn bị sẵn sàng chấp thuận đồng ý và dễ bị thuyết phục từ bỏquan điểm. Sự dễ dãi này tương thích khi sự yên ổn tốt hơn là việc thắng lợi mà phảixảy ra tranh cãi hoặc muốn người khác hài lòng với thiện cảm từ phía mình. Tuynhiên, xét tổng lực thì có vẻ như kiểu này không mang đến tác dụng tốt nhất. – Trốn tránh : Những thành viên này có thiên hướng trốn tránh xung đột xảy ra, tránhcác quyết định hành động gây tranh cãi. Kiểu này hoàn toàn có thể tương thích khi cuộc tranh luận là khôngđáng kể, hoặc khi đã có quan điểm của ai đó đúng hơn để xử lý yếu tố. Tuynhiên, trong hầu hết những trường hợp, phương cách này không mang lại nhiều hiệuquả. Một khi hiểu được tâm ý của người tham gia cuộc xung đột, trưởng nhóm sẽ dễdàng có được phương sách điều hòa thích hợp nhằm mục đích xử lý chúng. Ngoài ra, hiểu về phong thái làm việc của những thành viên sẽ giúp cho trưởng nhóm trong việcphân công, phát huy thế mạnh của mỗi thành viên theo từng vị trí, việc làm và tìnhhuống thích hợp16. Trình bày nội dung của những hoạt động giải trí kiến thiết xây dựng nhóm ? Thông thường một nhóm nào đó chính thức hay không chính thức đều trải qua 5 giaiđoạn trong quy trình tăng trưởng kiến thiết xây dựng của nhóm. Các quy trình tiến độ này được mô tảdưới đây. Giai đoạn 1 : Hình thành nhóm. Giai đoạn này những thành viên nhóm khởi đầu tập hợp lại. Họ mang đến nhóm nhiềuđiểm độc lạ nhau từ tính cách đến cách làm việc, kỹ năng và kiến thức và kỹ năng. Họ cần cóthời gian khám phá, thăm dò lẫn nhau để hoàn toàn có thể bộc lộ vai trò của họ hoặc không thểtrong nhóm. Vai trò trưởng nhóm quá trình này là thôi thúc những thành viên cởi mở, tiếp xúc vớinhau, sau đó cùng phối hợp thiết kế xây dựng xu thế hoạt động giải trí của nhóm hoặc mụctiêu hoạt động giải trí nhóm. Nhóm trưởng và những thành viên tìm hiểu và khám phá những thành viên khácvề tính tình, năng lực làm việc, sự tự tin, nghĩa vụ và trách nhiệm và những tâm lý đóng gópcho nhóm … Sau đó nhóm quyết tâm thiết kế xây dựng hoặc hiểu rõ tiềm năng mà nhóm phảihoàn thành. Các tiềm năng được thiết kế xây dựng bởi nhóm thường được nhìn nhận bằng cáctiêu chí đơn cử, đo được, được đồng thuận, khả thi và có thời hạn xác lập ( SMART ). Nếu nhóm không thiết kế xây dựng được tiềm năng hoặc những thành viên khônghiểu rõ tiềm năng của nhóm thì nhóm không hề triển khai xong việc làm hoặc sớm tanrã. Giai đoạn 2 : Hỗn loạn / bão táp. 17G iai đoạn này xảy ra khi những thành viên xung đột nhau về cách làm việc, công việcphân công và san sẻ nghĩa vụ và trách nhiệm. Mới hình thành nhóm nên có 1 số ít thành viên tỏra nổi trội, mất đoàn kết hoàn toàn có thể xảy ra. Truyền thông, tiếp xúc trong nhóm chưasuôn sẻ, người muốn thống trị, lôi kéo, người thì hãy hờ hững. Trưởng nhóm lúc nàyphải là người cứng rắn, gương mẫu, thân thiện những thành viên, tránh để xảy ra căngthẳng quá, tổ chức triển khai tốt việc làm và làm cho việc làm khởi đầu có hiệu suất cao. Làm saocho những thành viên nhóm hiểu nhau nhiều nhất, hiểu việc làm, tránh những thành viêncạnh tranh nhau trở thành đối thủ cạnh tranh. Tăng cường tiếp xúc trong nhóm. Chuyển cáccông việc do thành tích cá thể sang thành tích chung của nhóm. Giai đoạn 3 : Ổn địnhGiai đoạn này những thành viên khởi đầu nỗ lực góp phần vào việc làm chung củanhóm. Các thành viên nhóm tin cậy lẫn nhau, kết nối với nhau qua việc làm. lãnhđạo nhóm tạo điều kiện kèm theo để những thành viên tương hỗ nhau. Bảo đảm những kênh thông tintrong nhóm thông suốt, thiết kế xây dựng được chính sách phản hồi tích cực. Thành viên tintưởng lẫn nhau, cùng kết nối bởi tiềm năng chung. Nhóm viên lắng nghe quan điểm lẫnnhau. Giai đoạn 4 : Hoạt động. Sau giai doạn không thay đổi là quá trình hoạt động giải trí hiệu suất cao. Đặc trưng quy trình tiến độ này làcác thành viên trọn vẹn hòa hợp nhau, tạo ra hiệu suất làm việc cao, mọi tiềm năngcủa cá thể và tập thể nhóm được phát huy, yếu tố được xử lý hiệu suất cao, cácmâu thuẫn không còn xảy ra. Tuy nhiên không phải là đã vô hiệu hết xung đột, vìxung đột khi nào cũng thường trực ảnh hưởng tác động đến bất kể nhóm nào ở bất kỳ giai đoạnnào. Các thành viên phải tự triển khai xong mình trong nhóm, thích ứng với đổi khác, đồng ý sự độc lạ, hướng tiềm năng chung, tham gia vào việc quản trị chung. Giai đoạn 5 : Kết thúc ( hay tan rã ! ). Giai đoạn này những thành viên đã hoàn thành xong tiềm năng chung ( hoặc không hoàn thànhmục tiêu nào cả ). Các thành viên ít phụ thuộc vào vào nhau. Nhiệm vụ hoàn thành xong thìnhóm sẽ kết thúc vai trò ( những nhóm điều tra và nghiên cứu, nhóm dự án Bất Động Sản thường kết thúc nhưvậy ), thiết kế xây dựng hoặc tập hợp thành những nhóm mới với tiềm năng mới. Hoạt động củanhóm thường được giám sát và nhìn nhận để rút kinh nghiệm tay nghề và bài học kinh nghiệm cho cácnhóm khác, dự án Bất Động Sản khác. 2.2. Hoạt động nhóm : Nhóm là tập hợp nhiều người do đó luôn có những thành viên mới với thành viên cũ, có quen nhau từ trước hoặc trọn vẹn chưa quen nhau. Người trưởng nhóm luônphải xử lý nhiều yếu tố về đoàn kết, tranh chấp, xung đột, ra quyết định hành động, hàihòa những tính năng của nhóm. Các thành viên cũng cần hiểu rõ cá hành động củanhóm để kiến thiết xây dựng nhóm làm việc. Nhóm muốn quản lý và vận hành hiệu suất cao thì cần làm tốtcác hoạt động giải trí sau : 1. Hội nhập thành viên mới vào nhóm. Khó khăn luôn xảy ra khi nhóm mới thành lậphoặc có thêm thành viên mới nhập vào nhóm. Thành viên mới cũng phải tự mình18giải quyết yếu tố hội nhập. Các thành viên mới hoàn toàn có thể thuộc một trong ba dạngchính như người thích tranh cãi, người tốt bụng hoặc người có lý, ba dạng này đềugây khó khăn vất vả cho quy trình hội nhập. Người thích tranh cãi hay phản ứng lại mọivấn đề, muốn chứng minh và khẳng định sự nổi trội của mình trong nhóm. Người tốt bụng thì cóthái độ nhờ vào người khác, luôn muốn tìm phe nhóm để dựa, sợ hãi những điềubất ngờ, nhu yếu bảo đảm an toàn cao. Người có lý thì lo ngại về nhu yếu cá thể của mìnhtrong nhóm, bướng bỉnh khi hòa hợp nhu yếu cá thể và xu thế của nhóm. 2. Lãnh đạo nhóm tương quan đến trách nhiệm và những mối quan hệ. Để đạt được năngsuất trong làm việc nhóm thì phải thỏa mãn nhu cầu hai nhu yếu : nhu yếu tương quan đếnnhiệm vụ và nhu yếu tương quan đến những mối quan hệ. Hai nhu yếu này toàn thể thànhviên nhóm và chỉ huy nhóm phải cùng phấn đấu để thỏa mãn nhu cầu. Các việc làm gồmnêu ra tổng thể những quan điểm, tìm kiếm thông tin, làm sáng tỏ những trách nhiệm, làm rõ và tómtắt nội dung những cuộc họp nhóm, bàn luận nhóm, khuyến khích những thành viên, dunghòa sự độc lạ, tăng cường tiếp xúc, khuyến khích tham gia, tránh những thái độ gâyrối … 3. Vai trò trong nhóm và sự hoạt động. Trong nhóm làm việc những thành viên luôn cómột vai trò và muốn người khác cũng có vai trò rõ ràng. Nếu vai trò không rõ thì sẽdễ gây hiểu nhầm, mất đoàn kết ảnh hưởng tác động đến hiệu suất chung. Các thành viên cũngmong muốn được biết người khác chờ đón gì ở cá thể đó. Không nen để vai trò củangười này quá nhiều ( quá tải ) và người khác thì quá ít. Xung đôt về vai trò có thểxảy ra bời cá thể với cá thể, bởi cá thể với tập thể, bởi chính cá thể với vaitrò của anh ta. 4. Các chuẩn mực, lao lý của nhóm. Đây là những quy định, quy tắc mà nhóm tự đề rađể những thành viên theo đó mà triển khai. Các chuẩn mực của nhóm rất quan trọng, nócho phép những thành viên trong nhóm nhận những thông tin phản hồi tích cực. Các chuẩnmực được kiến thiết xây dựng có sự tham gia, sao cho tiềm năng của nhóm được triển khai mộtcách tốt nhất. 5. Sự kết nối trong nhóm. Sự kết nối trong nhóm làm cho nhóm hoạt động giải trí hiệu quảvà bền vững và kiên cố. Các thành viên càng tự hào về mình được tham gia nhóm thì sự gắn kếttrong nhóm càng cao. Như vậy những thành viên cũng như trưởng nhóm phải làm saocho nhóm đáng tự hào về những công việc làm. Trưởng nhóm và những thành viên cầnphấn đấu để có sự kết nối trong nhóm cao và sự tuân theo chuẩn mực của nhómcũng cao, để hình thành nhóm lý tưởng, có hiệu suất làm việc cao. 2.3. Thông tin trong nhóm : tin tức trong nhóm rất quan trọng, nó như là những mạch máu nuôi dưỡng cơ thểnhóm. Thông tin rõ ràng, đúng mực thì mọi người sẽ hiểu nhau và hiểu trách nhiệm đểhơp tác với nhau. Thông tin có nguồn phát ra và có nơi tiếp đón qua một kênhtruyền nào đó, rồi lại phản hồi lại nơi phát thông tin. Cơ chế này phải thông suốttrong nhóm. Quá trình thông tin luôn tiếp nối không ngừng. 19T rong nhóm thì thông tin xảy ra giữa cá thể mỗi thành viên với nhóm trưởng vàngược lại, những thành viên với nhau và ngược lại. Thông tin được truyền bởi những kênhtruyền thông tin. Các kênh này như nói, viết, ngôn từ khung hình ( động tác tay, chân, nét mặt … ) Khi thông tin thì có những rào cản của thông tin. Các rào cản này làm hạn chế hoặctriệt tiêu thông tin mà mọi thành viên muốn gửi cho nhau và muốn nhận được. Do đómuốn nhậ thông tin tốt thì tất cả chúng ta phải rèn những kỹ năng truyền thông tin và nhậnthông tin. Các kỹ năng này sẽ đề cập đến trong phần “ kỹ năng tiếp xúc ”. 2.4. Thảo luận và ra quyết định hành động trong nhóm : Nhóm là một tập thể làm việc để đạt được tiềm năng. Rất nhiều việc làm cần phảiđược cùng đàm đạo, bàn luận và ở đầu cuối là ra quyết định hành động. Cho nên đi tới quyếtđịnh định ở đầu cuối là trách nhiệm rất quan trong của nhóm. Quá trình ra quyết định hành động cósự tham gia có những đặc trưng riêng mà mỗi cá thể trong nhóm cần phải hiểu đểlàm. Để ra quyết định hành động hoàn toàn có thể theo 1 số ít cách sau : Ra quyết định hành động theo kiểu hờ hững : một người nào đó đưa ra sáng tạo độc đáo, những thành viên kháckhông chăm sóc và do đó quyết định hành động được nhanh gọn trải qua. Theo kiểu nàymột số sáng tạo độc đáo hay khác không được nghiên cứu và phân tích và bị bỏ lỡ. Ra quyết định hành động từ trên xuống : Theo kiểu này người chỉ huy nhóm hay cấp cao hơnchỉ cần thông dụng, thông tin, nhân danh cả nhóm trải qua mà không qua tranh luận. Ra quyết định hành động kiểu này nhanh gọn, nhưng cũng như kiểu trên hoàn toàn có thể nhiều ý kiếnhay khác bị bỏ lỡ. Nó trở nên xấu nếu người ra quyết định hành động có quá ít thông tin, chủquan và độc đoán. Khi triển khai quyết định hành động sẽ xảy ra yếu tố khác không lườngtrước. Ra quyết định hành động theo kiểu thiểu số : Cách này một hoặc một vài cá thể gợi ý rồi thúcgiục, ép mọi người theo quan điểm mình. Khuyết điểm của cách này cũng như trên. Ra quyếtđịnh theo nguyên tắc hầu hết : Theo cách này mang danh dân chủ qua bỏ phiếu hoặcgiơ tay ưng ý lấy số đông. Quyết định sẽ trải qua nhưng không phải toàn bộ cácthành viên đều hài lòng. Một số không hài lòng sẽ làm tác động ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu suất việc làm. Nguy cơ trong nhóm sẽ kéo bè cánh để lấy phiếu áp đảo choquyền lợi của một nhóm nào đó. Ra quyết định hành động theo nguyên tắc đồng thuận : cáchnày chỉ ra quyết định hành động khi đã tranh luận kỹ mọi sáng tạo độc đáo, khôngbỏ qua quan điểm nào kể cả những quan điểm trái ngược. Quyết định được ra khi có đa phần tánthành nhưng thiểu số khác cũng được nghe, được nghiên cứu và phân tích và có quan điểm của mình. Kiểu ra quyết định hành động này mất nhiều thời hạn nhưng sẽ tiến tới dần sự đồng thuận hoàntoàn – là lý tưởng so với tiến trình ra quyết định hành động. Để ra quyết định hành động những thành viên cần được biết những khó khăn vất vả và thuận tiện khi raquyết định, nhất là quyết định hành động có sự đồng thuận, có sự tham gia. Những thuận tiện ởđây hoàn toàn có thể là nhóm có nhiều hiểu biết, có nhiều lựa chọn hơn một người. Nhóm một20khi đồng thuận thì có động lực cùng triển khai quyết định hành động. Khó khăn là có một sốthành viên như bị bắt phải đồng ý chấp thuận, phải theo một sáng tạo độc đáo, hoàn toàn có thể có bè đảng và áp đặtý tưởng của những nhóm nhỏ, đàm đạo nhiều thì chậm ra quyết định hành động và hoàn toàn có thể mất cơhội. Nhóm cũng cần phải tránh kiểu “ tư duy nhóm ” nghĩa là đoàn kết quá thiếu dần tưduy phê phán. Tham gia trong nhóm lâu nên những thành viên kết nối, không còn sẵnsàng phê phán ý tưởng sáng tạo của thành viên khác. Cần phát hiện sớm tư duy nhóm và cóbiện pháp phòng trừ. Để ra quyết định hành động những thành viên và nhất là nhóm trưởng cần có những kỹ năng phát huyý tưởng những thành viên khi tranh luận, luận bàn và ra quyết định hành động. Các kỹ năng này nhưphương pháp động não, cây yếu tố, giải pháp Delphi ( dùng bảng hỏi gửi trước ), đàm đạo nhóm, đóng vai chậu cá … Ghi chú : Đề thi viết sẽ gồm 3 trong số những câu hỏi trên. Buổi thi sẽ gồm tối thiểu 3 đề ! 21
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Việc Làm






