Chữ viết các dân tộc thiểu số Việt Nam
Chữ viết các dân tộc thiểu số Việt Nam
Ở các nước Đông Nam Á và Nam Á, mỗi cộng đồng dân tộc thiểu số thường sống tập trung theo vùng và dân số giữa các dân tộc không chênh lệch nhau nhiều, nhưng ở Việt Nam, người Việt (Kinh) chiếm tới 87% dân số giữa quốc gia (số liệu của Tổng cục Thống kê tính đến ngày 1-4-1999). Họ có mặt ở tất cả các tỉnh thành trong cả nước, từ vùng núi cao cho tới hải đảo. Vì lẽ đó, tiếng Việt được các dân tộc thiểu số xem là ngôn ngữ chung trong giao tiếp giữa các dân tộc. Tiếng Việt là tác nhân thiết yếu thúc đẩy sự phát triển kinh tế và văn hoá, thực sự trở thành phương tiện đoàn kết các dân tộc ở Việt Nam.
Trong hiến pháp Việt Nam không có lao lý nào cản trở việc sử dụng ngôn từ của tộc mình, kể cả dạy và học. Nhà nước còn khuyến khích việc sử dụng ngôn từ của tộc mình và học bất kỳ ngôn từ dân tộc nào trong hội đồng. Sách, báo, truyền hình, phát thanh bằng tiếng dân tộc được mở ra ở các vùng có dân tộc sử dụng ngôn từ đó tập trung chuyên sâu. Tuy nhiên, một điều cần nhận thức rằng, để tiếp cận với quốc tế văn minh, tăng trưởng và cùng tăng trưởng, thay đổi, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam gặp khá nhiều khó khăn vất vả, trước hết là ngôn từ. Chỉ có lời nói chưa đủ, phải có chữ viết. Sự nghèo nàn về mạng lưới hệ thống từ vựng, sự không chuẩn mực và thống nhất trong cách diễn đạt câu, ngữ … trong đảm nhiệm thông tin và lại chưa có một mạng lưới hệ thống thuật ngữ khoa học đủ để đảm nhiệm tính hiện đại hoá của xã hội mới, đang thực sự là một rào cản lớn .Trong 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam chỉ có 1 số ít dân tộc có chữ viết. Tuy tổng thể ngôn từ các dân tộc đều thuộc mô hình ngôn từ đơn lập, tuy nhiên không có nghĩa là giống nhau, đã thế lại rất nhiều loại chữ .
Ghi nhận được 28 trong 53 dân tộc thiểu số Việt Nam có chữ viết, nhưng trên thực tế không như vậy. Chữ Di – chữ Lô Lô cổ thực ra chỉ có trong ký ức, rất hiếm có người già nào biết. Còn lại là một vài vật thể có hình ảnh mà người già Lô Lô cho là chữ Di. Nếu chữ Di lớp người Lô Lô hiện nay không ai biết, thì tình trạng chữ Nôm của dân tộc Tày, Nùng, của người Dao có khá hơn. Đã có những văn bản, kể cả tác phẩm văn học bằng chữ Nôm dân tộc truyền lại và như vậy chữ viết đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn văn hoá. Nhưng muốn biết chữ Nôm dân tộc – ví dụ Nôm Tày, trước hết phải biết tiếng Hán. Dựa vào chữ Hán, người ta ghi lại âm đọc tiếng Tày (tiếng Nùng, Dao) bằng cách thêm, bớt nét chữ tượng hình Hán. Tất nhiên chữ viết này không thể phổ biến, dạy cho mọi người của dân tộc vốn rất khó khăn về kinh tế và sống không tập trung. Vì thế tiếng Nôm Tày, Nôm Nùng, Nôm Dao chỉ có các thầy tào, thầy cúng và một số trí thức dân tộc biết. Hiện nay, mỗi xã (chứ không phải bản, làng) chỉ một, hai người biết chữ Nôm dân tộc mình. Một số người già dùng ngay tiếng Hán để ghi chép, đặc biệt là người Dao. Số trẻ thì dùng ngay chữ quốc ngữ ghi chép “cho tiện lợi”.
Bạn đang đọc: Chữ viết các dân tộc thiểu số Việt Nam
Các nhà dân tộc học luôn xem ngôn từ – gồm có ngôn từ nói và ngôn từ viết – là một trong các tiêu chuẩn quan trọng để xét thành phần dân tộc. Chữ viết dân tộc dựa trên lời nói dân tộc đó, phản ánh các quy tắc ngữ âm của tiếng dân tộc, vì vậy người ta hoàn toàn có thể tạo ra chữ viết. Tiếng Việt từ đầu thế kỷ XX đã dùng chữ quốc ngữ làm chữ viết chính thống ( tuy lúc đầu các văn bản còn ghi kèm chữ Hán, chữ Nôm, chữ Pháp ), từ 1945 trở đi, chữ quốc ngữ thực sự trở thành chữ vương quốc. Sự tiện dùng, đơn thuần của chữ quốc ngữ thì ai cũng biết, nó được thiết kế xây dựng dựa trên cơ sở chữ viết La tinh. Người Pháp xâm lược và thống trị nước ta, nghĩ ngay tới việc dùng hệ chữ La tinh này trong công cuộc chinh phục thực dân hoá. Năm 1923 chữ Ê-đê theo tự dạng La tinh do người Pháp đặt ra, cùng thời kỳ đó các chữ có tự dạng La tinh được người Pháp kiến thiết xây dựng cho các dân tộc Ba-na, Gia – rai, Xơ – đăng, Xtiêng, Hrê, Cơ – ho .Sau khi giải phóng miền Bắc, Nhà nước Việt Nam đã kiến thiết xây dựng bộ chữ Tày – Nùng trên cơ sở La tinh hoá, gần với chữ quốc ngữ. Chữ La tinh Tày, Nùng được phát hành năm 1961 trên cơ sở ngữ âm tiếng Tày vùng Tràng Định, Hoà An … tỉnh Cao Bằng. Chữ Tày – Nùng La tinh hoá được đưa vào giảng dạy ở cấp 1 ( tiểu học lúc bấy giờ ) cho dân tộc Tày và dân tộc Nùng với hàng chục vạn học viên và trên 1.000 lớp học. Phong trào học tiếng Tày – Nùng La tinh hoá đã tăng trưởng can đảm và mạnh mẽ không chỉ trong giáo dục, mà còn ở văn hoá, văn học, văn nghệ, phát thanh. Sau đó, trào lưu xuống dần, tới năm 1978 việc dạy chữ Tày – Nùng ở cấp 1 trọn vẹn biết mất ! Điều đáng quan tâm là sự ghép 2 dân tộc trong một ngôn từ – chữ viết chỉ dựa trên tiếng Tày một địa phương, coi tiếng Nùng như một phương ngữ của tiếng Tày nên tất yếu dẫn tới thực trạng đáng tiếc trên. ( Xem thêm, Nguyễn Trọng Báu, Bản sắc dân tộc trước khuynh hướng gộp hai nền văn hoá làm một. Tạp chí “ Dân tộc và Thời đại ”, số 41 tháng 4/2002. )Chữ viết Hmông La tinh hoá được nhà nước thiết kế xây dựng và cho phát hành năm 1961. Chữ viết này lấy ngữ âm của người Hmông Hoa ở Sa Pa ( Tỉnh Lào Cai ) làm cơ sở, các thanh điệu được ký hiệu bằng các con chữ sửa chữa thay thế để ở cuối âm tiết. Chữ viết này không mạng lưới hệ thống và phức tạp vì nhiều ký hiệu nên khó học. Từ 1962 chữ Hmông được đưa vào dạy ở cấp 1 và Nhà nước dùng chữ này để xoá mù chữ cho người Hmông. Ngoài sách giáo khoa dùng trong giáo dục phổ thông, tiếng Hmông còn được in trên báo chí truyền thông riêng bằng chữ Hmông nâng cấp cải tiến, các tác phẩm văn hoá, văn học, thẩm mỹ và nghệ thuật, phát thanh, truyền hình đếu có in hàng loạt hoặc xen kẽ chữ Hmông. Tuy nhiên, chữ viết này không được hưởng ứng, tới nay giảm sút và chỉ còn hạn chế trong khoanh vùng phạm vi hoạt động giải trí hẹp .
Người Thái có chữ Thái cổ, có nguồn gốc từ chữ Ấn Độ, dạng chữ cổ Sanskrít, tuy nhiên chữ viết này có khác nhau ở các địa phương. Hiện ghi được 8 loại chữ Thái cổ. Chữ Thái cổ xuất hiện ít nhất cũng từ vài trăm năm trước. Các tác phẩm thơ ca, truyện cổ còn lưu lại tới nay nhờ những văn bản chữ Thái cổ như các ghi chép tục ngữ, dân ca, truyện thơ Sóng chụ son sao, Quắm tố Mướng…, luật tục, công văn… Chữ Thái cổ thực sự đóng vai trò gìn giữ, bảo tồn văn hoá phi vật thể dân tộc Thái. Có 2 lần, chính quyền tiến hành cải tiến chữ Thái cổ và biên soạn sách dạy chữ này. Song chỉ được một thời gian vì chữ cải tiến không giúp ích cho việc giữ gìn chữ Thái cổ cũng như tiếp nhận văn hoá ở cấp phổ thông qua chữ quốc ngữ. Song song với việc bảo tồn chữ Thái cổ, năm 1970 bộ phận cải tiến chữ Thái lại thực hiện xây dựng chữ Thái La tinh hoá. Năm 1981 phương án chữ Thái La tinh hoá được đưa vào sử dụng trong nhiều lĩnh vực, kể cả văn hoá, văn học, nghệ thuật…
Chữ Chăm của dân tộc Chăm có nguồn gốc từ chữ Ấn Độ cổ, chữ Sanskrít. Sự Open của nền văn hoá Chămpa đã làm chữ Chăm tăng trưởng và như vậy chữ Chăm cổ phải có sớm hơn thế kỷ thứ III sau công nguyên. Chữ chăm đang sống sót 2 dạng : dạng Akhar rik ( chữ Thánh ) và dạng chữ Akhar thrah là chữ Chăm thường dùng, nhưng không phải là chữ Chăm tân tiến thời nay. Thời chính quyền sở tại Hồ Chí Minh từ những năm 60 của thế kỷ XX đã thực thi La tinh hoá chữ Chăm. Dạng chữ La tinh hoá này người Chăm thấy khó khăn vất vả và việc dạy chữ không lôi cuốn họ .Người Hoa ở Việt Nam nói nhiều phương ngữ khác nhau, thậm chí còn không hiểu nhau. Dân tộc Hoa ở Việt Nam đều dùng chữ Hán tượng hình, Hán Quan thoại. Các lớp học của người Hoa đều dùng chữ Hán trong giảng dạy, học tập .Dân tộc Khơ-me dùng chữ viết thống nhất với chữ Khơ-me của Campuchia có tự dạng Sanskrít. Chữ Khơ-me được dạy ở bậc tiểu học thời Pháp thuộc, chính quyền sở tại Hồ Chí Minh cũ không cho dạy ở các nhà trường, trừ chùa là nơi vẫn có lớp học chữ Khơ-me. Hiện nay chữ Khơ-me được đưa vào học chính thức ở các trường đại trà phổ thông tại một số ít nơi. Các lớp học chữ Khơ-me tại các chùa vẫn thực thi. Hệ thống thông tin, báo chí truyền thông, truyền hình, phát thanh và các ấn phẩm văn học, văn hoá bằng tiếng Khơ-me được phát hành đều đặn .
Ở miền Nam vào những năm cuối 60 đầu 70 của thế kỷ XX, Viện Ngôn ngữ học Mùa hè Mỹ SIL (Summer institute of linguistics), trên cơ sở chữ viết La tinh hoá do người Pháp đặt ra cho dân tộc Gia-rai, Cơ-ho đã cải tiến chữ viết của họ, đồng thời cũng cải tiến chữ viết La tinh hoá do Mặt trận Dân tộc giải phóng đặt ra trước đó, như chữ viết của các dân tộc Ra-giai, Cơ-tu, Tà-ôi (Pa-cô). Thời kỳ từ 1965-1974, SIL đã xây dựng chữ viết mới La tinh hoá cho các dân tộc: Mnông, Bru – Vân Kiều, Giẻ-Triêng, Mạ, Co, Chơ-ro, Chu-ru.
Như vậy, tình hình chữ viết các dân tộc thiểu số ở nước ta có sự tăng trưởng không đều, có nhiều dân tộc đến nay vẫn chưa kiến thiết xây dựng được chữ viết cho mình. Thậm chí có dân tộc địa phương truyền kiếp, số dân đông như dân tộc Mường – đứng thứ 6 về dân số ở Việt Nam, lại chưa có chữ viết của mình. Ngược lại có dân tộc có tới 2-3 chữ viết, trước kia hoặc sau này vẫn song song sống sót như chữ Thái cổ và chữ Thái La tinh hoá, chữ Chăm cổ, chữ Chăm La tinh hoá. Dân tộc Cơ-ho có tới 3 dạng chữ viết : chữ do cha cố đặt ra trước 1945, sau đó Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam đầu năm 1960 nâng cấp cải tiến. Tới các năm đầu 1970, Viện Ngôn ngữ học Mùa hè Mỹ SIL lại nâng cấp cải tiến thêm một bước chữ viết này. Nhiều dân tộc chưa có chữ viết đang thực thi phiên âm các từ ngữ dân tộc theo hệ chữ quốc ngữ – một dạng La tinh hoá .Bức tranh phong phú về chữ viết các dân tộc thiểu số Việt Nam cho thấy toàn cảnh đời sống ngôn từ Việt Nam. Nó đặt ra cho các nhà dân tộc học và ngôn ngữ học những yếu tố đơn cử để kiến thiết xây dựng, tăng trưởng chữ dân tộc với trách nhiệm giúp phương tiện đi lại bảo tồn và phản ánh truyền thống văn hoá mỗi dân tộc .
Nguồn: Dân tộc và Thời đại, số 76, 3/2005, tr 2 – 4
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Nông Thôn

