NHỮNG MỐC LỊCH SỬ CỦA VIỆT NAM
NHỮNG MỐC LỊCH SỬ CỦA VIỆT NAM
HOÀNG THÀNH THĂNG LONG VÀ MIỀN TRUNG
Bạn đang đọc: NHỮNG MỐC LỊCH SỬ CỦA VIỆT NAM
Hoàng thành Thăng Long – Thành Phố Hà Nội là quần thể di tích lịch sử gắn liền với lịch sử của Thăng Long – TP. Hà Nội. Những cấu trúc lớn được thiết kế xây dựng qua nhiều triều đại và đã trở thành khu vực quan trọng nhất trong số những di tích lịch sử lịch sử ở Việt Nam. Trong tháng 12 năm 2002, khai thác khảo cổ học đã được thực thi trên diện tích quy hoạnh 19.000 mét vuông tại Ba Đình, TT chính trị của Thành Phố Hà Nội. khai thác này, lớn nhất tại Việt Nam và trong khu vực Khu vực Đông Nam Á, đã bật mý còn lại của thành Thăng Long trong sự tăng trưởng của hơn 13 thế kỷ liên tục. di tích lịch sử kiến trúc độc lạ và hàng triệu hiện vật có giá trị được tìm thấy trong khai thác khảo cổ học này phản ánh sự tăng trưởng lịch sử từ thế kỷ 12 đến đầu thế kỷ 20. Vào ngày 01 tháng tám năm 2010, ngành Trung ương Hoàng thành Thăng Long đã được ghi vào list di sản quốc tế của Ủy ban Di sản Thế giới của UNESCO .
DI TÍCH CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ

Di tích thắng lợi Điện Biên Phủ nằm trong thung lũng Điện Biên ( nay là thành phố Điện Biên ), bao quanh bởi những dãy núi. Nó có chiều dài 18 km và chiều rộng 6 km. Các di tích lịch sử tiêu biểu vượt trội gồm có Him Lam Hill nơi quân đội Việt đã chiến đấu trong trận chiến tiên phong của chiến dịch Điện Biên Phủ ngày 13 tháng năm 1954 ; Độc lập Hill nơi giao tranh ác liệt đã diễn ra và quân đội Việt giải phóng đồi trên 15 Tháng ba năm 1954 ; những ngọn đồi C, D và E nơi quân đội Việt Nam và quân đội viễn chinh Pháp đã trao đổi giao tranh ác liệt trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Biên Victory Monument Phú Điền trong khu phức tạp lịch sử là một hình tượng của sự quyết tâm của nhân dân Việt Nam để chiến đấu và giành thắng lợi. Bảo tàng Điện Biên Phủ Victory hiển thị hơn 500 hiện vật, tranh vẽ và ảnh tài liệu có tương quan đến chiến dịch Điện Biên Phủ và cuộc đấu tranh gian nan của nhân dân Việt Nam và quân đội để đạt được những thắng lợi vẻ vang vào ngày 7 tháng 5 năm 1954, kết thúc cuộc kháng chiến của quốc gia chống lại thực dân Pháp .
THÀNH CỔ LOA
Cổ Loa nằm ở huyện Đông Anh, thành phố Thành Phố Hà Nội. Năm 208 TCN, sau khi thống nhất những bộ lạc Lạc Việt và Âu Việt để tạo thành một vương quốc mới, Âu Lạc, An Dương Vương đã chọn website này là Hà Nội Thủ Đô và thiết kế xây dựng thành Cổ Loa. Các di tích lịch sử lịch sử được bảo tồn hiện tại gồm có hơn 830 ha. The Citadel được thiết kế xây dựng trong hình dạng xoắn ốc này lý giải nguyên do tại sao nó được gọi là Loa Thành. Nó có 9 vòng, hào nước sâu bao quanh trong vòng tròn bên ngoài. Ngày nay, Cổ Loa vẫn còn 3 vòng đất : bên ngoài thành ( chu vi 8 km ), thành giữa ( hình đa giác với một chu vi 6,5 km ) và bên trong thành ( hình chữ nhật với chu vi 1,6 km ). The Citadel tường ngày này có chiều cao trung bình từ 4-5 mét, 1 số ít trong số họ thậm chí còn đạt đến cao 12 mét ; nền tảng Citadel rộng 20-30 mét. The Citadel tự hào có khoảng chừng 60 di tích lịch sử lịch sử kiến trúc thẩm mỹ và nghệ thuật, lịch sử và những giá trị khảo cổ. Đây cũng là một khu vực khảo cổ vô giá gắn liền với nền văn hóa truyền thống cổ của người Việt như văn hóa truyền thống Sơn Vi, văn hóa truyền thống Phùng Nguyên, văn hóa truyền thống Đồng Đậu và văn hóa truyền thống Gò Mun. văn hóa truyền thống Đông Sơn tăng trưởng can đảm và mạnh mẽ với những website khảo cổ học tiêu biểu vượt trội như Đồng Vông, Bãi Men, Đình Chiến, Đinh Trang, Ma Tre, Nội Hoàng Thành, Trung Thành, ngoài Đại Nội, Xuân Kiều, xã Nhồi, Đền Thượng, Tiên Hội, Đường Mây và Cầu Vực ..
VĂN MIẾU (VĂN MIẾU – QUỐC TỬ GIÁM)

Văn Miếu, nằm ở phía nam của Hoàng thành Thăng Long (thời nhà Lý), là sự kết hợp của hai di tích: Văn Miếu Quốc Tử Giám. Văn
Miếu được xây dựng vào năm 1070 bởi vua Lý Thánh Tông trong sự cống
hiến cho Khổng Tử (Khổng Tử) và trong danh dự của các học giả tốt nhất
và giáo viên Chu Văn An, một nhân vật đạo đức trong giáo dục Việt của
Việt Nam. Năm
1076, dưới triều Lý Nhân Tông, Quốc Tử Giám được xây dựng bên cạnh Văn
Miếu và trở thành trường đại học đầu tiên ở Việt Nam để đào tạo trí thức
cho đất nước. Hơn 1.000 năm qua, Văn Miếu-Quốc Tử Giám đã được xem như một biểu tượng giáo dục và văn hóa của Việt Nam. Nó là một biểu tượng của truyền thống của quốc gia tôn trọng giáo viên và thúc đẩy giáo dục.
Có
82 tấm bia đá có khắc tên của các bác sĩ, người nhận danh hiệu tiến sĩ
tại các kỳ thi hoàng gia dưới Hậu Lê và Mac Dynasties (1442-1779). Tất cả những phong cách là trong giường phẳng và đầu cong và được đặt trên lưng rùa. Các
tấm bia là những người duy nhất trong thế giới đó có dòng chữ ghi âm
không chỉ có tên của những người đoạt giải các kỳ thi của hoàng gia được
tổ chức thông qua gần 300 năm mà còn thông tin về lịch sử của các kỳ
thi của hoàng gia, quan niệm các triều đại kế tiếp ‘của giáo dục, đào
tạo và trí tuệ sử dụng. Sau
gần 1.000 năm lịch sử, Văn Miếu vẫn giữ phong cách kiến trúc cổ xưa
của nhiều triều đại phong kiến và hiện nay được coi là một trong những
di tích lịch sử và văn hóa tốt nhất của Hà Nội và của cả nước.
THÀNH NHÀ HỒ

Tọa
lạc tại huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, Đại Nội của triều đại nhà Hồ
được xây dựng bởi Hồ Quý Ly, người là quan cao cấp nhất của triều đại
nhà Trần vào lúc đó. Sau
khi xây dựng ba tháng của Citadel (từ tháng Giêng đến tháng 3 năm
1397), vua Trần Thuận Tông đã quyết định chọn Thanh Hóa là thủ đô thay
vì các thành Thăng Long (Hà Nội). Trong tháng thứ hai của năm con Rồng (1400), Hồ Quý Ly lên ngôi từ thời nhà Trần, đổi tên nước thành Đại Ngu (1400-1407). Kinh thành triều Hồ đã trở thành Citadel chính thức. The Citadel cũng được gọi tên như An Tôn, Tây Đô, Tây Kinh, Tây Nhai và Tây Giai. Kinh thành triều Hồ được gọi là Citadel đá duy nhất còn lại ở Đông Nam Á. Nhờ
kỹ thuật xây dựng độc đáo của nó và vật liệu xây dựng bền vững, đặc
biệt là các khối đá lớn, Citadel đã được bảo quản tốt, trong khi cảnh
quan thiên nhiên của nó vẫn không thay đổi. Nó là một trong số ít các di tích chưa bị tác động bất lợi do đô thị hóa. Vào ngày 27 tháng Sáu 2011, UNESCO công nhận quan Kinh thành triều Hồ là Di sản văn hóa thế giới của nhân loại.
PHỐ CỔ HỘI AN



Phố cổ Hội An nằm ở tỉnh Quảng Nam, khoảng 30 km về phía nam của thành phố Đà Nẵng. Vào
cuối thế kỷ 16, Hội An từng là một trung tâm thương mại quốc tế trên
tuyến đường biển Đông-Tây, một thương cảng sầm uất ở Đàng Trong khu vực
của Việt Nam dưới sự cai trị của các chúa Nguyễn. Ngày
nay, các kiến trúc độc đáo của phố cổ Hội An vẫn được bảo tồn, bao
gồm nhà ở, đền, chùa, giếng, cầu, nơi thờ cúng tổ tiên, cảng và thị
trường … Thị trấn này được coi như một bảo tàng sống về kiến trúc và
đô thị lối sống.
Bên cạnh những giá trị văn hóa từ kiến trúc đa dạng của nó, Hội An vẫn duy trì một nền tảng văn hóa phi vật khổng lồ. Hội
An đã trở thành một điểm đến du lịch hấp dẫn nhờ hải quan sâu xa của
nó, hoạt động tâm linh, nghệ thuật dân gian truyền thống và lễ hội văn
hóa cùng với cảnh quan thiên nhiên thơ mộng và đẹp như tranh vẽ của nó,
các làng nghề truyền thống và đặc sản nổi tiếng của địa phương. Trong tháng 12 năm 1999, UNESCO công nhận phố cổ Hội An là Di sản văn hóa thế giới của nhân loại.
DI TÍCH CỐ ĐÔ HUẾ

Cố đô Huế gồm có di tích lịch sử lịch sử và văn hóa truyền thống được kiến thiết xây dựng vào thời nhà Nguyễn từ 19 nguồn vào giữa thế kỷ 20 ở cố đô Huế ( nay là tỉnh Thừa Thiên Huế ). Nằm trên bờ bắc sông Hương, hợp tích Cố đô Huế chiếm tổng diện tích quy hoạnh hơn 500 ha với mạng lưới hệ thống của ba vòng thành lũy, đơn cử là Huế Capital Citadel ( Kinh Thanh Huế ), Huế Hoàng Thành ( Hoàng Thanh Huế ) và Tử cấm Thành ( Tu Cam Thanh Huế ) .


Một số khu công trình thiết kế xây dựng dọc theo trục này trong sự hòa giải với thiên nhiên và môi trường xung quanh tự nhiên của họ gồm có Nghinh Lương Đình, Phu Văn Lâu, Kỳ Đài, Ngọ Môn, hoàng cung Thái Hòa và Cần Chánh Palace … Các hợp tích Cố đô Huế đại diện thay mặt cho sức phát minh sáng tạo của người Việt Nam người, sự tăng trưởng của nghệ thuật và thẩm mỹ Việt, kiến trúc và điêu khắc trong suốt một thời hạn dài trong lịch sử của quốc gia. Trong tháng 12 năm 1993, UNESCO công nhận sự hợp tích Cố đô Huế là Di sản văn hóa truyền thống quốc tế của quả đât .
THÁNH ĐỊA MỸ SƠN


Thánh địa Mỹ Sơn nằm trong một thung lũng nhỏ thuộc xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Thung lũng này là khoảng 2 km theo đường kính, sở hữu hơn 70 công trình kiến trúc nằm trên 9 ngọn đồi. Mỹ Sơn được coi là một trong những trung tâm của ngôi đền của Ấn Độ giáo ở khu vực Đông Nam Á. Nó từng là một khu bảo tồn Hindu của Vương quốc Chămpa. Như đã nói, mỗi vua, sau khi lên ngôi, đã có chuyến thăm đến Mỹ Sơn để ăn mừng lễ thánh tẩy, tặng quà và xây dựng đền thờ. Mỹ Sơn là nơi duy nhất mà nghệ thuật Chăm phát triển mạnh mẽ mà không bị gián đoạn từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 13.
Các ngôi đền ở Mỹ Sơn được xây dựng thành các nhóm cơ bản theo cùng một mô hình. Mỗi nhóm bao gồm một khu bảo tồn chính (kalan), bao quanh bởi các tòa tháp và tượng đài phụ trợ. Các
khu bảo tồn chính là biểu tượng của Meru núi – trung tâm của vũ trụ,
nhà của các vị thần Hindu – được dành riêng cho Chúa Shiva. Các ngôi đền phụ tôn thờ các vị thần, người chăm sóc trong những hướng bầu trời. Bên cạnh đó, quyền địa dịch là đền thờ với mái ngói, nơi hành hương chuẩn bị và lưu trữ hy sinh. Trong tháng 12 năm 1999, Thánh địa Mỹ Sơn được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới của nhân loại.
ĐỊA ĐẠO CỦ CHI
Xem thêm: Tìm hiểu đường lối chiến lược cách mạng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1954-1975)

Củ Chi, đó là khoảng chừng 40 km về phía tây-bắc của thành phố Hồ Chí Minh, là một di tích lịch sử lịch sử nổi tiếng. Xây dựng đường hầm Củ Chi đã khởi đầu giữa năm 1946 và 1948. Người dân địa phương và những người lính Việt Minh sử dụng những đường hầm như che giấu những điểm trong những cuộc càn quét mặt đất Pháp. Đây là việc làm duy nhất với một mạng lưới hệ thống đường hầm dưới lòng đất với nhiều tầng và những thành phố như một mạng lưới nhện của hơn 200 km. Các đường hầm có nơi cho che chắn, có những cuộc họp và chiến đấu chống lại quân địch. Địa đạo Củ Chi được chia thành hai nơi đó là Bến Dược hầm và hầm Bến Đình. Bến Dược Tunnel là Ủy ban Khu Đảng cơ sở và khu Sài Gòn-Gia Định Quân, được bảo vệ ở ấp Phú Hiệp, xã Phú Mỹ Hưng. Đình Tunnel Ben là Củ Chi Huyện ủy, được bảo vệ ở ấp Bến Đình, xã Nhuận Đức. Địa đạo Củ Chi đại diện thay mặt cho hình tượng của sự quyết tâm, trí tuệ và niềm tự hào của dân cư Củ Chi và bộc lộ chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Củ Chi có tựa đề ” Củ Chi đất của bức tường thép và đồng ” do Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Địa đạo Củ Chi đã đi vào lịch sử đấu tranh gan góc của nhân dân Việt Nam như một lịch sử một thời của thế kỷ 20 và trở thành một nơi nổi tiếng trên quốc tế .
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Người Lao Động

