Tổng quan về viện nghiên cứu da – giày – Tài liệu text
Tổng quan về viện nghiên cứu da – giày
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (225.87 KB, 36 trang )
Bạn đang đọc: Tổng quan về viện nghiên cứu da – giày – Tài liệu text
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, ở các nước đang phát triển thì hội nhập kinh tế khu vực và thế giới
đã mang lại nhiều cơ hội phát triển kinh tế cho các nước này. Công nghiệp được
đầu tư trang thiết bị hiện, chuyển giao công nghệ, đi tắt đón đầu trong sản xuất –
kinh doanh và thương mại dịch vụ. Ở Việt Nam hiện nay ngành công nghiệp cũng
có nhiều đóng góp quan trọng vào sự tăng truởng kinh tế chung của cả nước với
các ngành công nghiệp chủ chốt như: Dệt may, Da – Giày, Than, Điện lực, …
Ngành Da – Giày Việt Nam trong mấy năm gần đây có nhiều thay đổi đáng
quan trọng và vụ kiện bán phá giá mặt hàng Giày mũ da Việt Nam lại càng làm
cho ngành có nhiều nỗ lực phấn đấu vươn lên mọi thách thức để hoà mình với
không khí hội nhập chung của nền kinh tế Việt Nam. Viện nghiên cứu Da – Giày là
một đơn vị có tầm quan trọng trong sự phát triển chung của ngành. Viện không
những là nơi nghiên cứu khoa học, thiết kế mẫu mốt – kiểu dáng thời trang, thực
hiện chuyển giao công nghệ và đào tạo vê Da – Giày mà Viện còn thực hiện hoạt
động sản xuất kinh doanh đạt kết quả.
Để tìm hiểu về quá trình hoạt động, phát triển và những thành tựu đạt được
của Viện trong những năm vừa qua Em xin có bài viêt về Viện nghiên cứu với bố
cục trình bày như sau:
Phần I: Lịch sử hình thành và giai đoạn phát triển của Viện
Phần II: Mô hình cơ cấu tổ chức của Viện.
Phần III: Một số chỉ tiêu tài chính của Viện trong quá trình hoạt động.
Phần IV: Phương hướng hoạt động trong một số năm tới.
Em xin chân thành cảm ơn Ths Hoàng Thị Thanh Hương đã giúp đỡ và
hướng dẫn Em hoàn thành bài viết này. Em xin chân thành cảm ơn Viện nghiên
cứu Da – Giày Trung tâm mẫu và đào tạo Da – Giày đã tạo điều kiện cho Em thực
tập và cung cấp tài liệu cho Em hoàn thành bài viết này.
1
I. Lịch sử ra đời và quá trình phát triển của Viện.
Trước những đòi hỏi về việc tăng cường công tác nghiên cứu khoa học kỹ
thuật phục vụ ngành công nghiệp Da – Giày, đồng thời tạo điều kiện để nhà máy
Da Thụy Khuê tập trung vào việc quản lý và chỉ đạo sản xuất, ngày 04/05/1973,
Bộ công nghiệp nhẹ đã ra quyết định số 290/CNN-TCQL tách phòng nghiên cứu
thuộc Da khỏi nhà máy Da Thụy Khuê thành đơn vị độc lập trực thuộc Bộ, có con
dấu riêng, có tài khoản riêng tại ngân hàng và hạch toán theo chế độ thu đủ bù chi
từ ngân sách nhà nước cấp.
Lúc này nhiệm vụ chủ yếu của phong là nghiên cứu để ứng dụng những
thành tựu khoa học kỹ thuật thuộc da của thế giới vào điều kiện sản xuất trong
nước, nhằm nâng cao kỹ thuật bảo quản da và chế biến các sản phẩm từ da thuộc,
đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường trong nước và xuất khẩu; tổ chức
sản xuất thực nghiệm các đề tài nghiên cứu, nhằm thu thập tài liệu để kết luận khả
năng sản xuất đưa vào sản xuất lớn.
Từ 50 m
2
nhà làm việc và 75m
2
xưởng thực nghiệm khi mới thành lập đến
nay VIện nghiên cứu đã có 2 cơ sở với 500m
2
nhà làm việc, 540m
2
phòng thí
nghiệm và nghiên cứu khoa học, 1000m
2
xưởng thực nghiệm và 1300m
2
khu dịch
vụ và kho. Máy móc thiết bị ngoài một dây chuyền thực nghiệm phân tích xác định
thành phần hóa học, các chỉ tiêu cơ lý của nguyên liệu và da thuộc thành phẩm,
Viện còn có một số máy chuyên dùng cho chế biến giày, đồ da…Với đội ngũ lao
động ngày càng tăng về số lượng và chất lượng Viện cũng đang tham gia vào tiến
trình hội nhập kinh tế như các Doanh nghiệp độc lập khác trong nền kinh tế.
Viện là đơn vị sự nghiệp nghiên cứu khoa học trực thuộc Bộ Công nghiệp,
hoạt động theo nguồn kinh phí sự nghiệp do ngân sách nhà nước cấp và một số
hoạt động đầu tư, chuyển giao công nghệ, dịch vụ khoa học kỹ thuật có thu theo
quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, được mở tài khoản tại kho bạc và
ngân hàng Nhà nước (kể cả khoản ngoại tệ). Viện có chức năng nhiệm vụ chủ yếu
sau:
1. Nghiên cứu xây dựng chiến lược, quy hoạch, chính sách phát triển
khoa học và công nghệ chuyên ngành da giày.
2
2. Triển khai thực hiện chương trình, dự án, đề tài nghiên cứu khoa học,
công nghệ, môi trường và kinh tế ngành da giày; tổ chức ứng dụng
các thành tựu khoa học tiên tiến vào phát triển công nghệ thuộc da,
chế biến đồ dùng bằng da, công nghệ hóa phục vụ thuộc da và chế
biến da, công nghệ xử lý và tận dụng phế liệu, phế thải để sản xuất
các sản phẩm phụ phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu;
3. Tư vấn đầu tư, lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên
cứu khả thi, thiết kế, chế tạo mẫu mốt, chuyển giao công nghệ và các
dịch vụ khoa học kỹ thuật, sản xuất kinh doanh khác theo quy định
của pháp luật;
4. Tổ chức bồi dưỡng và đòa tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên môn
– nghiệp vụ, công nhân kỹ thuật thuộc Viện và theo yêu cầu của các
cơ quan, doanh nghiệp trong và ngoài ngành; thực hiện đào tạo sau
đại học, trên đại học cho các đối tượng có nhu cầu theo quyết định
của nhà nước;
5. Xây dựng quy trình, quy phạm, tiêu c huẩn và định mức kinh tế kỹ
thuật cấp nghành; tham gia Hội đồng xét duyệt, thẩm định các dự án
đầu tư, chuyển giao công nghệ, các báo cáo và công trình khoa học
công nghệ chuyên nghành da giày;
6. Tổ chức các hoạt động thông tin khoa học kỹ thuật, kinh tế và phục vụ
thông tin dưới hình thức cung cấp thông tin, xuất bản ấn phẩm, báo
cáo chuyên đề, hội thảo khoa học, tổ chức hội chợ, triển lãm, quảng
cáo giới thiệu sản phẩm theo quy định của pháp luật;
Tổ chức trao đổi, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều
hành và thiết kế mẫu mốt tời trang trong nghành da giày;
7. Bố trí, sử dụng và thực hiện đúng các chính sách, chế độ của nhà
nước đối với đội ngũ cán bộ, công nhân của Viện;
8. Quản lý, phát triển và sử dụng đúng mục đích có hiệu quả cơ sở vật
chất kỹ thuật, các nguồn vốn được nhà nước theo các quy định của
pháp luật;
3
9. Giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong Viện; bảo vệ tài
sản, bí mật quốc gia, xây dựng thực hiện các quy chế và biện pháp
bảo hộ, an toàn lao động …
Hơn ba mươi năm lặng lẽ nghiên cứu và sản xuất, Viện nghiên cứu Da Giày
đang dần khẳng định vị trí quan trọng của mình đối với ngành Da Giày Việt Nam.
Chặng đường phát triển đó có thể khái quát thành các giai đoạn như sau:
Giai đoạn mới thành lập, đây là gai đoạn khó khăn nhất của Viện trong suốt
hơn 30 năm xây dựng và phát triển. Cuộc ra đời riêng nghe có vẻ to tát nhưng tài
sản chỉ có 3 chiếc thùng phuy quay nhỏ, còn lại là toàn bộ cơ sở vật chất từ nhà
xưởng, chỗ làm việc đến trang thiết bị của phòng thí nghiệm đều phải nhờ của nhà
máy Da Thụy Khuê, 25 con người (kể cả kỹ sư và lao động phụ trợ) với long nhiệt
tình yêu nghề thuộc da, vượt qua mọi khó khăn thiếu thốn đã làm được những việc
tưởng chừng khó có thể làm được. Thành công nhất trong giai đoạn này là tập
trung nghiên cứu da lợn và các sản phẩm từ da lợn như găng tay đi ấm mùa đông,
găng tay bảo hộ lao động, da mũ giày… Nghiên cứu sản xuất gelatine từ phế liệu
da lợn để cung cấp cho ngành công nghiệp thực phẩm, dược phẩm và giấy ảnh
thay thế gelatine nhập ngoại.
Nhờ thành công của đề tài sản xuất gelatine, phòng đã trang bị thêm một số
thiết bị đơn giản và mua thêm được vài nồi nấu tráng men, chịu áp lực, nồi cô chân
không. Đội ngũ kỹ sư của của phòng không quản khó khăn, lặn lội các cơ sở sản
xuất tìm hiểu nhu cầu về chất lượng cũng như số lượng để sản xuất cho đúng yêu
cầu. Vì phương tiện lam việc phải phụ thuộc vào nhà máy Da Thụy Khuê nên
CBCNV của phòng thường xuyên phải làm ngoài giờ để đảm bảo tiến độ hợp
đồng đã ký kết với khách hàng. Ngay cả các đồng chí lãnh đạo cũng có những
hôm phải đi làm thông tầm 24/24 giờ để trực tiếp theo dõi những thí nghiệm mang
tính liên tục.
Trong khó khăn tình người, tình đồng nghiệp càng thêm gắn bó. Để phục sản
xuất, Phòng cũng tổ chức bữa ăn ca. Không phân biệt kỹ sư hay công nhân, mọi
người cùng làm việc cùng hưởng thụ. Không khí nơilàm việc vẫn giữ được thân
mật trong một đại gia đình. Nguồn thu từ các sản xuất có tính thực tiễn này đã góp
phần không nhỏ để CBCNV vượt qua khó khăn của thời kỳ bao cấp. Bù lại, Phòng
4
Nghiên cứu thuộc da cũng cảm thấy tự hào bởi các đề tài thực sự gắn với sản xuất,
thực sự có ích cho Doanh nghiệp chứ không chỉ là những nghiên cứu trên giấy.
Chỉ tính trong giai đoạn 1975-1980, ngoài kết quả trong phòng thí nghiệm,
Phòng đã làm tốt công tác nghiên cứu và tổ chức sản xuất để lấy thu bù chi. Ngoài
ra, Phòng còn đảm nhiệm trước Bộ các đề án phát triển của ngành, giúp các nhà
máy da phía Nam khôi phục, ổn định sản xuất, bồi dưỡng đào tạo cán bộ. Trong
lĩnh vực nghiên cứu, Phòng đã chủ động đặt vấn đề cùng hợp tác nghiên cứu với
một số Viện nghiên cứu, trường đại học như Viện Hóa Học, Viện thiết kế công
nghệ hóa học, Viện khoa học kỹ thuật quân sự, Viện chăn nuôi, Trường đại học
bách khoa, Trường đại học Tổng hợp,… để thu được những kết quả nghiên cứu
chính xác nhất phục vụ sản xuất trên diện rộng.
Tháng 7/197, do sự cấn thiết tăng cường công tác thực nghiệm, mặt khác,
Phòng phải tổ chức sản xuất để kịp thời phục vụ cho các nhà máy sản xuất, Bộ
công nghiệp nhẹ đã ký quyết định số 424/CNN- TCQL cho thành lập Phân xưởng
thực nghiệm với nhiệm vụ là nơi nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm và tổ chức sản
xuất nhân rộng các mặt hàng theo chỉ tiêu đề ra. Việc thành lập phân xưởng này,
Phòng được cấp vốn là vay vốn sản xuất, được mở tài khoản tại ngân hàng và hoạt
dộng theo chế độ hạch toán kinh doanh với những sản phẩm sản xuất theo kế
hoạch được giao. Đây là bước ngoặt rất lớn đối với phòng nghiên cứu thuộc da,
bởi nó đánh dấu sự manh nha của một viện nghiên cứu có gắn với sản xuất và hạch
toán kinh doanh theo phương thức lấy thu bù chi.
So với ngày mới thành lập, Phòng nghiên cứu đơn thuần thì nay có thêm sản
xuất và kinh doanh. Năm 1979, năm đầu tiên đi vào sản xuất phòng đạt giá trị tổng
sản lượng 207000 đồng, lợi nhuận 95000 đồng. Năm 1980, giá trị tổng sản lượng
đạt 276000 đồng, lợi nhuận 125000 đồng. Nhờ nguồn thu này, cùng với nguồn
kinh phí được cấp từ ngân sách nhà nước đã góp phần quan trọng trong hoạt động
nghiên cứu khoa học kỹ thuật và cải thiện đới sống CBCNV.
Biên chế của phòng khi mới thành lập tháng 5/1973 chỉ có 25 người, đến
năm 1980 lên đến 79 người chưa kể 10 công nhân hợp đồng tạm tuyển, 30 học
sinh học nghề. Cơ cấu tổ chức cũng có nhiều thay đổi, Phòng đã hình thành được
các tổ chuyên môn như nghiên cứu công nghệ thuộc da, nghiên cứu công nghệ
5
hóa, quản lý nghiệp vụ, hành chính quản trị và một phân xưởng sản xuất thực
nghiệm gồm 3 tổ là tổ phục vụ nghiên cứu thực nghiệm, tổ sản xuất gelatine- keo
dán và chế biến các mặt hàng da thuộc.
Cho đến 12/6/1982, Phòng nghiên cứu thuộc da chính thức được chuyển đổi
thành Trung tâm nghiên cứu công nghiệp Da Giầy theo quyết định này, Trung tâm
nghiên cứu công nghiệp Da Giày là một đơn vị nghiên cứu khoa học kỹ thuật
thuộc Công ty Tạp phẩm, có tư cách pháp nhân, có tài khoản tại ngân hàng Nhà
nước và có con dấu riêng. Việc xác lập tư cách pháp nhân có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng trong quá trình hình thành và phát triển của Trung tâm. Theo đó, Trung tâm
hoàn toàn bình đẳng với các Doanh nghiệp khác trong quá trình ký kết và thực
hiện hợp đồng kinh tế. Đồng thời, Trung tâm có đầy đủ thẩm quyền kinh tế để
nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập bằng các
quyền và nghĩa vụ được giao. Từ thời điểm này, Trung tâm thực sự phát huy tính
chủ động, sáng tạo trong quá trình thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được Bộ và
Ngành giao phó.
Việc chuyển đổi Phòng nghiên cứu thuộc da thành Trung tâm nghiên cứu Da
Giày là một yêu cầu thực tế. Bởi lúc đó, trên phạm vi cả nước có 2 nhà máy thuộc
da trung ương. Ngoài ra, còn có hàng chục cơ sở thuộc da và chế biến đồ dùng
bằng da nằm rải rác tại các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình,
Vinh, Quảng Nam, Đà Nẵng và khu vực thành phố Hồ Chí Minh. Từ việc chỉ
nghiên cứu ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật thế giới, Trung tâm chủ
động nghiên cứu công nghệ thuộc da, chế biến da thuộc, phụ liệu và hóa chất cho
ngành thuộc da và chế biếnđồ dùng từ da thuộc; nghiên cứu chế tạo các thiết bị
chuyên ngành và thiết kế dây chuyền công nghệ sản xuất nghành da; tổ chức thông
tin dự báo khoa học kỹ thuật, tổ chức hoạt động thực nghiệm các đề tài nghiên cứu
khoa học kỹ thuật.
Giai đoạn này, Trung tâm đặt mục tiêu nghiên cứu phải gắn với sản xuất
công nghiệp, cần đi vào nghiên cứu sản xuất những mặt hàng đang nhập khẩu, đặt
nền móng cho công nghiệp chế biến. Lúc đó, hai sản phẩm nổi tiếng là giày phục
vụ quân đội và phục vụ phi công đang phải hoàn toàn nhập từ Liên xô. Trung tâm
đã lấy mẫu giày của Liên xô, nghiên cứu và chế biến từ các loại da mũ giày sẵn có,
6
cuối cùng tự sản xuất phục vụ quân đội và không quân. Các sản phẩm đã đem lại
cho Trung tâm một nguồn thu không nhỏ, tạo thêm việc làm cho CBCNV. Sản
phẩm găng tay da lợn vẫn tiếp tục gặt hái bên cạnh đó Trung tâm tiếp tục nghiên
cứu thành công loại da thuộc dùng làm bóng đá có tính năng bền, dai, đàn hồi
không dai, được nhiều nhà sản xuất bóng đá tín nhiệm đặt hàng.
Mặc dù đang trong thời kỳ bao cấp cuộc sống còn nhiều khó khăn nhưng
lãnh đạo Trung tâm đã tạo mọi điều kiện để CBCNV nâng cao trình độ, đón đầu
những thay đổi trong giai đoạn lịch sử tiếp theo bằng cách tổ chức học ngoại ngữ
ngoài giờ tại trung tâm, liên tục có sự trao đổi thông tin với các nhà máy Da Giày
trong cả nước và các Viện nghiên cứu thuộc da của nước ngoài để cập nhật những
thông tin mới, chọn lọc và đưa vào nghiên cứu phù hợp với công nghệ và trình độ
trong nước.
Đánh dấu giai đoạn này, ngày 16/8/1986, Dự án VIE 85/013 “Tăng cường
khả năng nghiên cứu cho Trung tâm nghiên cứu công nghiệp Da Giày” được ký
kết giữa nhà nước ta và đại diện UNIDO – UNDP tại Hà Nội với tổng mức vốn
1539993 USD. Ngay sau khi dự án được ký kết, việc triển khai dự án được chuẩn
bị hết sức khẩn trương, đúng mục đích và đx sớm phát huy tác dụng.
Sau khi dự án VIE 85/013 đi vào hoạt động,năm 1990, Trung tâm nghiên cứu
công nghiệp Da Giày chính thức có một cơ ngơi riêng và trang bị một xưởng thực
nghiệm nhỏ với số trang thiết bị hoàn chỉnh. Trong điều kiện được tự chủ về cơ sở
vật chất và khoa học kỹ thuật, CBCNV Trung tâm càng say mê nghiên cứu khoa
học, tập trung vào những đề tài khó sau đó được phát triển thành Dự án và có
những đề tài được Bằng lao động sáng tạo như đề tài nghiên cứu công nghệ nghiên
cứu da trâu chun mặt tự nhiên bọc đệm salon của TS Trần Thị Nhàn; nghiên cứu
công nghệ sản xuất da bóng dùng cho nội địa và xuất khẩu của KS Nguyễn Hữu
Cung… Hầu hết các đề tài nghiên cứu của Trung tâm đều triển khai sản xuất đến
được các Doanh nghiệp, mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần không nhỏ vào
sự tăng trưởng chung của toàn ngành như sản xuất gelatine, sản xuất da bọc suốt,
sản xuất trục cán bông, da boxcall các loại…
Thời kỳ này, các cán bộ của Trung tâm liên tục được cử đi học nâng cao
trình độ ở nước ngoài, học thêm công nghệ thuộc da của một số nước Tiệp Khắc,
7
Itali, Pháp, Hà Lan, Đức, Bungari… Trong số đó có 3 kỹ sư được cử đi học nghiên
cứu sinh và đã bảo vệ thành công luận án Tiến sỹ tại Tiệp Khắc là TS Đặng Tùng,
TS Nguyễn Trí Hạnh, TS Lưu Hữu Thục. Kinh tế thị trường đã buộc các nhà
nghiên cứu phải năng động hơn. Muốn vậy cần có kiến thức mới, về cả chuyên
môn lẫn quản lý. Các đề tài liên tiếp được triển khai, tạo điều kiện để Trung tâm
đầu tư thêm cả về cơ sở vật chất lẫn nguồn nhân lực .
Xóa bỏ bao cấp, ngành Da Giày Việt Nam trên đà phát triển thành một ngành
kinh tế mạnh có nhiều triển vọng mà trong đó có sự đóng góp to lớn của khoa học
công nghệ. Một lần nữa, Trung tâm cần có một tầm vóc mới xứng đáng với chức
năng, nhiệm vụ là một cơ quan nghiên cứu khoa học của một nghành kinh tế kỹ
thuật lớn. Ngày 6 tháng 4 năm 1993, Bộ Công nghiệp nhẹ đã ra quyết định số
278/CNN- TCLĐ về việc chuyển đổi tổ chức và hoạt động của Trung tâm nghiên
cứu công nghiệp Da Giày thành Viện nghiên cứu Da Giày và bổ nhiệm TS Đặng
Tùng làm viện trưởng. Năm 1995, do sự phân cấp quản lý, Viện nghiên cứu Da
Giày trở thành đơn vị sự nghiệp của Tông công ty Da Giày Việt Nam.
Một sự kiện đánh dấu sự lớn mạnh hơn nữa của Viện đó là ngày 10/11/1998
Trung tâm kỹ thuật Da Giày Thuộc Tổng công ty Da Giày Việt Nam được sáp
nhập vào Viện nghiên cứu Da Giày. Kể từ đây, lĩnh vực hoạt động của Viện được
mở rộng, cơ sở vật chất của Viện khang trang hơn với 2 cơ sở rộng 2500m
2
tại 20
Núi Trúc Ba Đình Hà Nội. Nguồn nhân lực của Viện tăng lên do được bổ xung
thêm một đội ngũ kỹ sư, kỹ thuật viên và cán bộ quản lý có tiềm năng trong thiết
kế mẫu mốt, chế biến sản phẩm ngành Da Giày, tư vấn, đào tạo và kinh doanh dịch
vụ nghành Da Giày.
Từ đó đến nay, hoạt động của Viên nghiên cứu Da Giày bước vào một thời
kỳ mới hòa cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Với bề dày truyền
thống và tiềm năng trí tuệ cùng sự khát khao vươn lên những đỉnh cao mới, hoạt
động của Viện ngày càng phong phú và hiệu quả, đới sống vật chất và tinh thần
của các nhà khoa học và CBCNV của Viện ngày càng ổn định tuy so với lòng
mong muốn của chúng ta là những kết quả chưa phải là đã thỏa mãn.
Hàng năm, doanh thu từ xưởng sản xuất của Viện cũng mang lại cho Viện
hơn 2 tỷ đồng, góp phần quan trọng cải thiện đới sống CBCNV của Viện… Bên
8
cạnh các hoạt động nghiên cứu, sản xuất thì một mặt không kém quan trọng trong
công tác quản ký của Viện là công tác đào tạo dạy nghề. Trong điều kiện cơ sở vật
chất chưa thực sự đáp ứng nhu cầu thời đại mới, nhưng Viện đã chủ động kết hợp
với một số trường Đại học, Viện nghiên cứu và các Doanh nghiệp sản xuất trong
cả nước triển khai các khóa học theo phương pháp đào tạo tại chỗ, tận dụng mặt
bằng thiết bị của các Doanh nghiệp để triển khai mở các lớp, mời các cộng tác
viên có chuyên môn cùng tham gia giảng dạy, đào tạo nguồn nhân lực cho ngành
Da Giày. Rất nhiều cán bộ trưởng thành từ thời gian công tác tại Viện, khi đi nhận
nhiệm vụ tại cơ quan khác đều là những cán bộ rất xuất sắc, những người giữ chức
vụ cao trong ngành, trong Bộ. Hệ thống thông tin thư viện liên tục được đàu tư
củng cố với nhiều đầu sách quý trong nước và thế giới để CBCNV tham khảo
nghiên cứu. Đây cũng là nơi các Doanh nghiệp trong ngành và những người có
nhu cầu tìm hiểu về những vấn đề liên quan đến ngành Da Giày có thể tìm đến tra
cứu.
Bằng ý chí vượt lên trong khó khăn, tập thể CBCNV của Viện đang ấp ủ
thực hiện những dự kiến trong tương lai. Một số dự án mới đã ra đời: Dự án tiền
khả thi quy hoạch phát triển Viện đến năm 2010 và hướng đến 2020; Dự án khả thi
đầu tư xưởng thực nghiệm thiết kế mẫu mốt ngành Giày, dự án triển khai sản xuất
thử thuộc đề tài KC06; Dự án tăng cường năng lực nghiên cứu khoa học lĩnh vực
thuộc da. Tính khả thi của các dự án sẽ là động lực mạnh mẽ để Viện nghiên cứu
Da Giày trụ vững và phát triển trong giai đoạn mới.
Tháng 3/2003 trong quá trình triển khai thực hiện quyết định 125 Ttg về sắp
xếp đổi mới và phát triển Doanh nghiệp Nhà nước của Bộ Công nghiệp, Viện đã
trở thành đơn vị sự nghiệp trực thuộc sự quản lý của Bộ Công nghiệp theo Quyết
định số 40/2003/QĐ- BCN.
Trong giai đoạn 2003- 2006 Viện thường xuyên tổ chức các hoạt động nhằm
nâng cao năng lực làm việc của CBCNV trong Viện như tổ chức lớp học nâng cao
năng lục thiết kế thuộc chương trình xúc tiến thương mại năm 2006, chương trình
nâng cao năng lực thiết kế mũ giày nội dung phần học thiết kế thủ công, thực hiện
các đề tài nghiên cứu khoa học đựoc ứng dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh
của Viện và làm dịch vụ khoa học kỹ thuật,… Tháng 6 năm 2006 Viện có Đề án
9
chuyển đổi tổ chức hoạt động Viện nghiên cứu Da Giày thành Tổ chức khoa học
công nghệ tự trang trải kinh phí Theo nghị định 115/2005/NĐ- CP của Thủ tuớng
chính phủ, sắp xếp tổ chức lại cơ cấu tổ chức mở rộng hình thức nghiên cứu khoa
học, sản xuất- kinh doanh theo hướng đi mới. Bổ xung thêm chức năng nhiệm vụ
theo giấy chứng nhận hoạt động khoa học công nghệ: Nghiên cứu phát triển tiềm
năng phục vụ trong ngành công nghệ thuộc da chế biến đồ da các vật liệu phục vụ
cho ngành Da Giày; Thực hiện các dịch vụ khoa học công nghệ về thông tin đào
tạo, tư vấn, chuyển giao công nghệ trong ngành Da Giày.
Ba mươi tư năm, thời gian không phải là dài nhưng cũng không là ngắn đối
với quá trình xây dựng và phát triển của một cơ quan nghiên cứu khoa học. Không
ồn ào với những hoạt động bề nổi để lấy thành tích, hơn 30 năm qua đội ngũ
CBCNV nơi đây đã làm việc và cống hiến hết tâm huyết, trí tuệ của mình cho
ngành, cho xã hội như nhứngx con ong chăm chỉ, lặng lẽ chắt chiu những kiến
thức và kinh nghiệm thực sự bổ ích, góp phần tích cực quan trọng vào sự phát triển
chung của nghành Da Giày. Niềm tự hào đó cũng chính là động lực để Viện
nghiên cứu Da Giày tiếp tục khẳng định mình và vươn tới một tương lai tươi sáng
hơn trong một số năm tới.
10
II. Mô hình cơ cấu tổ chức của Viện nghiên cứu.
1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý hiện tại của Viện nghiên cứu Da Giày.
Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức Viện nghiên cứu Da Giày
-Viện trưởng ThS Đỗ Thị Hồi
– Viện phó:
+ ThS Trần Thị Minh Thư Giám đóc trung tâm mẫu và đào tạo Da Giày
+ TS Trần Thị Nhàn phụ trách mảng nghiên cứu khoa học
+ KS Nguyễn Hữu Cung phụ trách kế hoạch sản xuất
– Các bộ phận chuyên môn- nghiệp vụ.
1. Phòng tổ chức- hành chính
2. Phòng nghiên cứu khoa học
3. Phòng tài chính- kế toán
11
Viện trưởng
Phó viện trưởng Phó viện trưởng (Giám
đóc trung tâm mẫu và
đào tạo
Da – Giày)
Phó viện trưởng
Phòng
tổ chức hành
chính
Phòng
nghiên cứu
khoa học
Phòng tài
chính kế toán
Phòng
kế hoạch đầu
tư
Xưởng thực
nghiệm
thuộc da
Trung tâm
mẫu và đào
tạo
Da – Giày
4. Phòng kế hoạch đầu tư
– Các cơ sở phục vụ dịch vụ và chuyển giao công nghệ
1. Xưởng thực nghiệm thuộc da
2. Trung tâm mẫu và đào tạo Da Giày (FATRACEN)
2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của một số vị trí chủ chốt.
2.1 Viện trưởng.
– Viện trưởng là nguời chịu trách nhiệm trước nhà nước về các mặt hoạt
động sản xuất kinh doanh theo nguyên tắc lấy thu bù chi, có lãi, sử dụng vốn bảo
toàn và phát triển. Nghiên cứu xây dựng chiến lược, quy hoạch, chính sách phát
triển khoa học và công nghệ chuyên ngành Da Giày, Tiếp nhận và triển khai thực
hiện các chương trình, dự án, đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ môi trường và
kinh tế Da Giày.
2.2 Viện phó.
– Có nhiệm vụ giúp đỡ viện trưởng về công tác quản lý, nghiên cứu các đề tài
khoa học mới, công nghệ thuộc da mới, đào tạo và phát triển mẫu. Các viện phó
thực hiện các quan hệ hợp tác nghiên cứu, triển khai khoa học- công nghệ chuyên
ngành với các cơ quan tổ chức, trường Đại học, Viện nghiên cứu, cơ sở sản
xuất,kinh doanh trong nước và ngoài nước.
– Giám đốc trung tâm mẫu là người chịu trách nhiệm về công tác sản xuất,
cân đối kế hoạch, lập kế hoạch sản xuất, kế hoạch tiêu thụ, kế hoạch nguyên vật
liệu đầu vào.
3. Cơ cấu tổ chức của Viện theo đề án chuyển đổi Viện tháng 6 năm
2006.
3.1 Cơ cấu tổ chức hiện tại.
Theo đề án chuyển đổi tháng 6 năm 2006, Viện là một đơn vị sự nghiệp khoa
học trực thuộc BCN hoạt động theo hình thức đơn vị sự nghiệp có thu, có cơ cấu
tổ chức hiện tại như sau:
12
Sơ đồ 2: Cơ cấu tổ chức
Trong đó:- Lãnh đạo bao gồm Viện trưởng và các phó Viện trưởng; Viện có
một chi bộ Đảng và một tổ chức công đoàn cơ sở.
– Cơ cấu tổ chức
+ Ban giám đốc 04 người
+ Các phòng ban chuyên môn nghiệp vụ
Phòng hành chính tổ chức: 09 người
Phòng nghiên cứu khoa học: 09 người
Phòng tài chính kế toán: 04 người
Phòng kế hoạch đầu tư: 08 người
Xưởng thực nghiệm thuộc da: 11 người
– Các cơ sở trực thuộc hạch toán độc lập gồm trung tâm mẫu và đào
tạo Da Giày: 37 người.
3.2 Phương hướng tổ chức và hoạt động sau khi chuyển đổi
– dự kiến sắp xếp các bộ phận và tổ chức trực thuộc
+ Lãnh đạo: Viện trưởng và các phó viện trưởng
13
Viện nghiên cứu Da
Giày
Hội đồng khoa học
Viện
Khối chuyên môn nghiệp vụ
– Phòng Nghiên cứu khoa học
– Phòng kế hoạch đầu tư
– Phòng tài chính kế toán
– Phòng hành chính tổ chức
– Xưởng thực nghiệm thuộc da
Các đơn vị trực thuộc
– Trung tâm mẫu và đào tạo
Da – Giày
+ Khối quản lý: Văn phòng (gồm các bộp phận: hành chính tổ chức, hợp tác
quốc tế); Phòng kinh tế tổng hợp ( tài chính kế toán, kế hoạch đầu tư, ban kiểm
soát nội bộ).
+ Các đơn vị trực thuộc:
• Trung tâm mẫu và đào tạo Da Giày tại 20 Núi Trúc- Ba Đình- Hà Nội
• Công ty thương mại và Da Giày tại 20 Núi Trúc- Ba Đình- Hà Nội
• Trung tâm nghiên cứu phát triển công nghệ thuộc da và môi trường tại 160
Hoàng Hoa Thám- Tây Hồ- Hà Nội
• Phân viện tại thành phố Hồ Chí Minh
– Mô hình tổ chức của Viện: Tổ chức khoa học và công nghệ tự trang trải
kinh phí có sơ đồ khối cơ cấu tổ chức như sau:
Sơ đồ 3: Cơ cấu tổ chức Viện trong tương lai
14
Viện nghiên cứu Da
Giày
Hội đồng khoa học
Viện
Khối chức năng quản lý
– Văn phòng
– Phòng kinh tế tổng hợp
Phòng tài chính kế toán
Phòng kế hoạch đầu tư
Ban kiểm soát nội bộ
Các đơn vị trực thuộc
– Trung tâm mẫu và đào tạo Da –
Giày
– Công ty Thương mại và dịch vụ
Da – Giày
– Trung tâm nghiên cứu phát triển
công nghệ thuộc da và môi
trường
– Phân viện tại TP HCM
Bộ công nghiệp nhẹ đã ra quyết định hành động số 290 / CNN-TCQL tách phòng nghiên cứuthuộc Da khỏi nhà máy sản xuất Da Thụy Khuê thành đơn vị chức năng độc lập thường trực Bộ, có condấu riêng, có thông tin tài khoản riêng tại ngân hàng nhà nước và hạch toán theo chính sách thu đủ bù chitừ ngân sách nhà nước cấp. Lúc này trách nhiệm hầu hết của phong là nghiên cứu để ứng dụng nhữngthành tựu khoa học kỹ thuật thuộc da của quốc tế vào điều kiện kèm theo sản xuất trongnước, nhằm mục đích nâng cao kỹ thuật dữ gìn và bảo vệ da và chế biến những mẫu sản phẩm từ da thuộc, cung ứng nhu yếu ngày càng tăng của thị trường trong nước và xuất khẩu ; tổ chứcsản xuất thực nghiệm những đề tài nghiên cứu, nhằm mục đích tích lũy tài liệu để Kết luận khảnăng sản xuất đưa vào sản xuất lớn. Từ 50 mnhà thao tác và 75 mxưởng thực nghiệm khi mới xây dựng đếnnay VIện nghiên cứu đã có 2 cơ sở với 500 mnhà thao tác, 540 mphòng thínghiệm và nghiên cứu khoa học, 1000 mxưởng thực nghiệm và 1300 mkhu dịchvụ và kho. Máy móc thiết bị ngoài một dây chuyền sản xuất thực nghiệm nghiên cứu và phân tích xác địnhthành phần hóa học, những chỉ tiêu cơ lý của nguyên vật liệu và da thuộc thành phẩm, Viện còn có 1 số ít máy chuyên dùng cho chế biến giày, đồ da … Với đội ngũ laođộng ngày càng tăng về số lượng và chất lượng Viện cũng đang tham gia vào tiếntrình hội nhập kinh tế tài chính như những Doanh nghiệp độc lập khác trong nền kinh tế tài chính. Viện là đơn vị chức năng sự nghiệp nghiên cứu khoa học thường trực Bộ Công nghiệp, hoạt động giải trí theo nguồn kinh phí đầu tư sự nghiệp do ngân sách nhà nước cấp và một sốhoạt động góp vốn đầu tư, chuyển giao công nghệ tiên tiến, dịch vụ khoa học kỹ thuật có thu theoquy định của pháp lý, có tư cách pháp nhân, được mở thông tin tài khoản tại kho bạc vàngân hàng Nhà nước ( kể cả khoản ngoại tệ ). Viện có công dụng trách nhiệm chủ yếusau : 1. Nghiên cứu thiết kế xây dựng kế hoạch, quy hoạch, chủ trương phát triểnkhoa học và công nghệ tiên tiến chuyên ngành da giày. 2. Triển khai triển khai chương trình, dự án Bất Động Sản, đề tài nghiên cứu khoa học, công nghệ tiên tiến, thiên nhiên và môi trường và kinh tế tài chính ngành da giày ; tổ chức triển khai ứng dụngcác thành tựu khoa học tiên tiến và phát triển vào tăng trưởng công nghệ tiên tiến thuộc da, chế biến vật dụng bằng da, công nghệ hóa ship hàng thuộc da và chếbiến da, công nghệ tiên tiến giải quyết và xử lý và tận dụng phế liệu, phế thải để sản xuấtcác loại sản phẩm phụ ship hàng tiêu dùng và xuất khẩu ; 3. Tư vấn góp vốn đầu tư, lập báo cáo giải trình nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo giải trình nghiêncứu khả thi, phong cách thiết kế, sản xuất mẫu mốt, chuyển giao công nghệ tiên tiến và cácdịch vụ khoa học kỹ thuật, sản xuất kinh doanh thương mại khác theo quy địnhcủa pháp lý ; 4. Tổ chức tu dưỡng và đòa tạo lại đội ngũ cán bộ quản trị, trình độ – nhiệm vụ, công nhân kỹ thuật thuộc Viện và theo nhu yếu của cáccơ quan, doanh nghiệp trong và ngoài ngành ; thực thi đào tạo và giảng dạy sauđại học, trên ĐH cho những đối tượng người dùng có nhu yếu theo quyết địnhcủa nhà nước ; 5. Xây dựng tiến trình, quy phạm, tiêu c huẩn và định mức kinh tế tài chính kỹthuật cấp nghành ; tham gia Hội đồng xét duyệt, thẩm định và đánh giá những dự ánđầu tư, chuyển giao công nghệ tiên tiến, những báo cáo giải trình và khu công trình khoa họccông nghệ chuyên nghành da giày ; 6. Tổ chức những hoạt động giải trí thông tin khoa học kỹ thuật, kinh tế tài chính và phục vụthông tin dưới hình thức phân phối thông tin, xuất bản ấn phẩm, báocáo chuyên đề, hội thảo chiến lược khoa học, tổ chức triển khai hội chợ, triển lãm, quảngcáo ra mắt loại sản phẩm theo pháp luật của pháp lý ; Tổ chức trao đổi, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản trị, điềuhành và thiết kế mẫu mốt tời trang trong nghành da giày ; 7. Bố trí, sử dụng và thực thi đúng những chủ trương, chính sách của nhànước so với đội ngũ cán bộ, công nhân của Viện ; 8. Quản lý, tăng trưởng và sử dụng đúng mục tiêu có hiệu suất cao cơ sở vậtchất kỹ thuật, những nguồn vốn được nhà nước theo những pháp luật củapháp luật ; 9. Giữ gìn bảo mật an ninh chính trị, trật tự bảo đảm an toàn xã hội trong Viện ; bảo vệ tàisản, bí hiểm vương quốc, thiết kế xây dựng thực thi những quy định và biện phápbảo hộ, an toàn lao động … Hơn ba mươi năm lặng lẽ nghiên cứu và sản xuất, Viện nghiên cứu Da Giàyđang dần khẳng định chắc chắn vị trí quan trọng của mình so với ngành Da Giày Việt Nam. Chặng đường tăng trưởng đó hoàn toàn có thể khái quát thành những tiến trình như sau : Giai đoạn mới xây dựng, đây là gai đoạn khó khăn vất vả nhất của Viện trong suốthơn 30 năm thiết kế xây dựng và tăng trưởng. Cuộc sinh ra riêng nghe có vẻ như to tát nhưng tàisản chỉ có 3 chiếc thùng phuy quay nhỏ, còn lại là hàng loạt cơ sở vật chất từ nhàxưởng, chỗ thao tác đến trang thiết bị của phòng thí nghiệm đều phải nhờ của nhàmáy Da Thụy Khuê, 25 con người ( kể cả kỹ sư và lao động phụ trợ ) với long nhiệttình yêu nghề thuộc da, vượt qua mọi khó khăn vất vả thiếu thốn đã làm được những việctưởng chừng khó hoàn toàn có thể làm được. Thành công nhất trong quá trình này là tậptrung nghiên cứu da lợn và những loại sản phẩm từ da lợn như găng tay đi ấm ngày đông, găng tay bảo lãnh lao động, da mũ giày … Nghiên cứu sản xuất gelatine từ phế liệuda lợn để cung ứng cho ngành công nghiệp thực phẩm, dược phẩm và giấy ảnhthay thế gelatine nhập ngoại. Nhờ thành công xuất sắc của đề tài sản xuất gelatine, phòng đã trang bị thêm một sốthiết bị đơn thuần và mua thêm được vài nồi nấu tráng men, chịu áp lực đè nén, nồi cô chânkhông. Đội ngũ kỹ sư của của phòng không quản khó khăn vất vả, lặn lội những cơ sở sảnxuất khám phá nhu yếu về chất lượng cũng như số lượng để sản xuất cho đúng yêucầu. Vì phương tiện đi lại lam việc phải phụ thuộc vào vào nhà máy sản xuất Da Thụy Khuê nênCBCNV của phòng tiếp tục phải làm ngoài giờ để bảo vệ quá trình hợpđồng đã ký kết với người mua. Ngay cả những chiến sỹ chỉ huy cũng có nhữnghôm phải đi làm thông tầm 24/24 giờ để trực tiếp theo dõi những thí nghiệm mangtính liên tục. Trong khó khăn vất vả tình người, tình đồng nghiệp càng thêm gắn bó. Để phục sảnxuất, Phòng cũng tổ chức triển khai bữa ăn ca. Không phân biệt kỹ sư hay công nhân, mọingười cùng thao tác cùng tận hưởng. Không khí nơilàm việc vẫn giữ được thânmật trong một đại gia đình. Nguồn thu từ những sản xuất có tính thực tiễn này đã gópphần không nhỏ để cán bộ công nhân viên chức vượt qua khó khăn vất vả của thời kỳ bao cấp. Bù lại, PhòngNghiên cứu thuộc da cũng cảm thấy tự hào bởi những đề tài thực sự gắn với sản xuất, thực sự có ích cho Doanh nghiệp chứ không chỉ là những nghiên cứu trên giấy. Chỉ tính trong quy trình tiến độ 1975 – 1980, ngoài hiệu quả trong phòng thí nghiệm, Phòng đã làm tốt công tác làm việc nghiên cứu và tổ chức triển khai sản xuất để lấy thu bù chi. Ngoàira, Phòng còn đảm nhiệm trước Bộ những đề án tăng trưởng của ngành, giúp những nhàmáy da phía Nam Phục hồi, không thay đổi sản xuất, tu dưỡng huấn luyện và đào tạo cán bộ. Tronglĩnh vực nghiên cứu, Phòng đã dữ thế chủ động đặt yếu tố cùng hợp tác nghiên cứu vớimột số Viện nghiên cứu, trường ĐH như Viện Hóa Học, Viện phong cách thiết kế côngnghệ hóa học, Viện khoa học kỹ thuật quân sự chiến lược, Viện chăn nuôi, Trường đại họcbách khoa, Trường ĐH Tổng hợp, … để thu được những hiệu quả nghiên cứuchính xác nhất ship hàng sản xuất trên diện rộng. Tháng 7/197, do sự cấn thiết tăng cường công tác làm việc thực nghiệm, mặt khác, Phòng phải tổ chức triển khai sản xuất để kịp thời Giao hàng cho những nhà máy sản xuất sản xuất, Bộcông nghiệp nhẹ đã ký quyết định hành động số 424 / CNN – TCQL cho xây dựng Phân xưởngthực nghiệm với trách nhiệm là nơi nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm và tổ chức triển khai sảnxuất nhân rộng những loại sản phẩm theo chỉ tiêu đề ra. Việc xây dựng phân xưởng này, Phòng được cấp vốn là vay vốn sản xuất, được mở thông tin tài khoản tại ngân hàng nhà nước và hoạtdộng theo chính sách hạch toán kinh doanh thương mại với những mẫu sản phẩm sản xuất theo kếhoạch được giao. Đây là bước ngoặt rất lớn so với phòng nghiên cứu thuộc da, bởi nó lưu lại sự manh nha của một viện nghiên cứu có gắn với sản xuất và hạchtoán kinh doanh thương mại theo phương pháp lấy thu bù chi. So với ngày mới xây dựng, Phòng nghiên cứu đơn thuần thì nay có thêm sảnxuất và kinh doanh thương mại. Năm 1979, năm tiên phong đi vào sản xuất phòng đạt giá trị tổngsản lượng 207000 đồng, doanh thu 95000 đồng. Năm 1980, giá trị tổng sản lượngđạt 276000 đồng, doanh thu 125000 đồng. Nhờ nguồn thu này, cùng với nguồnkinh phí được cấp từ ngân sách nhà nước đã góp thêm phần quan trọng trong hoạt độngnghiên cứu khoa học kỹ thuật và cải tổ đới sống CBCNV.Biên chế của phòng khi mới xây dựng tháng 5/1973 chỉ có 25 người, đếnnăm 1980 lên đến 79 người chưa kể 10 công nhân hợp đồng tạm tuyển, 30 họcsinh học nghề. Cơ cấu tổ chức triển khai cũng có nhiều biến hóa, Phòng đã hình thành đượccác tổ trình độ như nghiên cứu công nghệ tiên tiến thuộc da, nghiên cứu công nghệhóa, quản trị nhiệm vụ, hành chính quản trị và một phân xưởng sản xuất thựcnghiệm gồm 3 tổ là tổ ship hàng nghiên cứu thực nghiệm, tổ sản xuất gelatine – keodán và chế biến những mẫu sản phẩm da thuộc. Cho đến 12/6/1982, Phòng nghiên cứu thuộc da chính thức được chuyển đổithành Trung tâm nghiên cứu công nghiệp Da Giầy theo quyết định hành động này, Trung tâmnghiên cứu công nghiệp Da Giày là một đơn vị chức năng nghiên cứu khoa học kỹ thuậtthuộc Công ty Tạp phẩm, có tư cách pháp nhân, có thông tin tài khoản tại ngân hàng nhà nước Nhànước và có con dấu riêng. Việc xác lập tư cách pháp nhân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng quantrọng trong quy trình hình thành và tăng trưởng của Trung tâm. Theo đó, Trung tâmhoàn toàn bình đẳng với những Doanh nghiệp khác trong quy trình ký kết và thựchiện hợp đồng kinh tế tài chính. Đồng thời, Trung tâm có không thiếu thẩm quyền kinh tế tài chính đểnhân danh mình tham gia vào những quan hệ pháp lý một cách độc lập bằng cácquyền và nghĩa vụ và trách nhiệm được giao. Từ thời gian này, Trung tâm thực sự phát huy tínhchủ động, phát minh sáng tạo trong quy trình thực thi những tính năng, trách nhiệm được Bộ vàNgành phó thác. Việc quy đổi Phòng nghiên cứu thuộc da thành Trung tâm nghiên cứu DaGiày là một nhu yếu trong thực tiễn. Bởi lúc đó, trên khoanh vùng phạm vi cả nước có 2 nhà máy sản xuất thuộcda TW. Ngoài ra, còn có hàng chục cơ sở thuộc da và chế biến đồ dùngbằng da nằm rải rác tại những thành phố TP.HN, Hải Phòng Đất Cảng, Tỉnh Nam Định, Tỉnh Thái Bình, Vinh, Quảng Nam, Thành Phố Đà Nẵng và khu vực thành phố Hồ Chí Minh. Từ việc chỉnghiên cứu ứng dụng những văn minh khoa học kỹ thuật quốc tế, Trung tâm chủđộng nghiên cứu công nghệ tiên tiến thuộc da, chế biến da thuộc, phụ liệu và hóa chất chongành thuộc da và chế biếnđồ dùng từ da thuộc ; nghiên cứu sản xuất những thiết bịchuyên ngành và phong cách thiết kế dây chuyền sản xuất công nghệ tiên tiến sản xuất nghành da ; tổ chức triển khai thôngtin dự báo khoa học kỹ thuật, tổ chức triển khai hoạt động giải trí thực nghiệm những đề tài nghiên cứukhoa học kỹ thuật. Giai đoạn này, Trung tâm đặt tiềm năng nghiên cứu phải gắn với sản xuấtcông nghiệp, cần đi vào nghiên cứu sản xuất những loại sản phẩm đang nhập khẩu, đặtnền móng cho công nghiệp chế biến. Lúc đó, hai mẫu sản phẩm nổi tiếng là giày phụcvụ quân đội và ship hàng phi công đang phải trọn vẹn nhập từ Liên xô. Trung tâmđã lấy mẫu giày của Liên xô, nghiên cứu và chế biến từ những loại da mũ giày sẵn có, sau cuối tự sản xuất Giao hàng quân đội và không quân. Các mẫu sản phẩm đã đem lạicho Trung tâm một nguồn thu không nhỏ, tạo thêm việc làm cho CBCNV. Sảnphẩm găng tay da lợn vẫn liên tục gặt hái cạnh bên đó Trung tâm liên tục nghiêncứu thành công xuất sắc loại da thuộc dùng làm bóng đá có tính năng bền, dai, đàn hồikhông dai, được nhiều nhà phân phối bóng đá tin tưởng đặt hàng. Mặc dù đang trong thời kỳ bao cấp đời sống còn nhiều khó khăn vất vả nhưnglãnh đạo Trung tâm đã tạo mọi điều kiện kèm theo để CBCNVC nâng cao trình độ, đón đầunhững đổi khác trong quy trình tiến độ lịch sử vẻ vang tiếp theo bằng cách tổ chức triển khai học ngoại ngữngoài giờ tại TT, liên tục có sự trao đổi thông tin với những xí nghiệp sản xuất Da Giàytrong cả nước và những Viện nghiên cứu thuộc da của quốc tế để update nhữngthông tin mới, tinh lọc và đưa vào nghiên cứu tương thích với công nghệ tiên tiến và trình độtrong nước. Đánh dấu quy trình tiến độ này, ngày 16/8/1986, Dự án VIE 85/013 “ Tăng cườngkhả năng nghiên cứu cho Trung tâm nghiên cứu công nghiệp Da Giày ” được kýkết giữa nhà nước ta và đại diện thay mặt UNIDO – UNDP tại TP.HN với tổng mức vốn1539993 USD. Ngay sau khi dự án Bất Động Sản được ký kết, việc tiến hành dự án Bất Động Sản được chuẩnbị rất là khẩn trương, đúng mục tiêu và đx sớm phát huy tính năng. Sau khi dự án Bất Động Sản VIE 85/013 đi vào hoạt động giải trí, năm 1990, Trung tâm nghiên cứucông nghiệp Da Giày chính thức có một cơ ngơi riêng và trang bị một xưởng thựcnghiệm nhỏ với số trang thiết bị hoàn hảo. Trong điều kiện kèm theo được tự chủ về cơ sởvật chất và khoa học kỹ thuật, cán bộ công nhân viên chức Trung tâm càng mê hồn nghiên cứu khoahọc, tập trung chuyên sâu vào những đề tài khó sau đó được tăng trưởng thành Dự án và cónhững đề tài được Bằng lao động phát minh sáng tạo như đề tài nghiên cứu công nghệ tiên tiến nghiêncứu da trâu chun mặt tự nhiên bọc đệm salon làm tóc của tiến sỹ Trần Thị Nhàn ; nghiên cứucông nghệ sản xuất da bóng dùng cho trong nước và xuất khẩu của KS Nguyễn HữuCung … Hầu hết những đề tài nghiên cứu của Trung tâm đều tiến hành sản xuất đếnđược những Doanh nghiệp, mang lại hiệu suất cao kinh tế tài chính cao, góp thêm phần không nhỏ vàosự tăng trưởng chung của toàn ngành như sản xuất gelatine, sản xuất da bọc suốt, sản xuất trục cán bông, da boxcall những loại … Thời kỳ này, những cán bộ của Trung tâm liên tục được cử đi học nâng caotrình độ ở quốc tế, học thêm công nghệ tiên tiến thuộc da của một số ít nước Tiệp Khắc, Itali, Pháp, Hà Lan, Đức, Bungari … Trong số đó có 3 kỹ sư được cử đi học nghiêncứu sinh và đã bảo vệ thành công xuất sắc luận án Tiến sỹ tại Tiệp Khắc là tiến sỹ Đặng Tùng, tiến sỹ Nguyễn Trí Hạnh, tiến sỹ Lưu Hữu Thục. Kinh tế thị trường đã buộc những nhànghiên cứu phải năng động hơn. Muốn vậy cần có kiến thức và kỹ năng mới, về cả chuyênmôn lẫn quản trị. Các đề tài liên tục được tiến hành, tạo điều kiện kèm theo để Trung tâmđầu tư thêm cả về cơ sở vật chất lẫn nguồn nhân lực. Xóa bỏ bao cấp, ngành Da Giày Việt Nam trên đà tăng trưởng thành một ngànhkinh tế mạnh có nhiều triển vọng mà trong đó có sự góp phần to lớn của khoa họccông nghệ. Một lần nữa, Trung tâm cần có một tầm vóc mới xứng danh với chứcnăng, trách nhiệm là một cơ quan nghiên cứu khoa học của một nghành kinh tế tài chính kỹthuật lớn. Ngày 6 tháng 4 năm 1993, Bộ Công nghiệp nhẹ đã ra quyết định hành động số278 / CNN – TCLĐ về việc quy đổi tổ chức triển khai và hoạt động giải trí của Trung tâm nghiêncứu công nghiệp Da Giày thành Viện nghiên cứu Da Giày và chỉ định tiến sỹ ĐặngTùng làm viện trưởng. Năm 1995, do sự phân cấp quản trị, Viện nghiên cứu DaGiày trở thành đơn vị chức năng sự nghiệp của Tông công ty Da Giày Việt Nam. Một sự kiện ghi lại sự vững mạnh hơn thế nữa của Viện đó là ngày 10/11/1998 Trung tâm kỹ thuật Da Giày Thuộc Tổng công ty Da Giày Việt Nam được sápnhập vào Viện nghiên cứu Da Giày. Kể từ đây, nghành nghề dịch vụ hoạt động giải trí của Viện đượcmở rộng, cơ sở vật chất của Viện khang trang hơn với 2 cơ sở rộng 2500 mtại 20N úi Trúc Ba Đình Thành Phố Hà Nội. Nguồn nhân lực của Viện tăng lên do được bổ xungthêm một đội ngũ kỹ sư, kỹ thuật viên và cán bộ quản trị có tiềm năng trong thiếtkế mẫu mốt, chế biến loại sản phẩm ngành Da Giày, tư vấn, giảng dạy và kinh doanh thương mại dịchvụ nghành Da Giày. Từ đó đến nay, hoạt động giải trí của Viên nghiên cứu Da Giày bước vào một thờikỳ mới hòa cùng với sự tăng trưởng kinh tế tài chính xã hội của quốc gia. Với bề dày truyềnthống và tiềm năng trí tuệ cùng sự khát khao vươn lên những đỉnh điểm mới, hoạtđộng của Viện ngày càng đa dạng chủng loại và hiệu suất cao, đới sống vật chất và tinh thầncủa những nhà khoa học và CBCNVC của Viện ngày càng không thay đổi tuy so với lòngmong muốn của tất cả chúng ta là những hiệu quả chưa phải là đã thỏa mãn nhu cầu. Hàng năm, lệch giá từ xưởng sản xuất của Viện cũng mang lại cho Việnhơn 2 tỷ đồng, góp thêm phần quan trọng cải tổ đới sống CBCNVC của Viện … Bêncạnh những hoạt động giải trí nghiên cứu, sản xuất thì một mặt không kém quan trọng trongcông tác quản ký của Viện là công tác làm việc giảng dạy dạy nghề. Trong điều kiện kèm theo cơ sở vậtchất chưa thực sự cung ứng nhu yếu thời đại mới, nhưng Viện đã dữ thế chủ động kết hợpvới một số ít trường Đại học, Viện nghiên cứu và những Doanh nghiệp sản xuất trongcả nước tiến hành những khóa học theo chiêu thức giảng dạy tại chỗ, tận dụng mặtbằng thiết bị của những Doanh nghiệp để tiến hành mở những lớp, mời những cộng tácviên có trình độ cùng tham gia giảng dạy, huấn luyện và đào tạo nguồn nhân lực cho ngànhDa Giày. Rất nhiều cán bộ trưởng thành từ thời hạn công tác làm việc tại Viện, khi đi nhậnnhiệm vụ tại cơ quan khác đều là những cán bộ rất xuất sắc, những người giữ chứcvụ cao trong ngành, trong Bộ. Hệ thống thông tin thư viện liên tục được đàu tưcủng cố với nhiều đầu sách quý trong nước và quốc tế để CBCNVC tham khảonghiên cứu. Đây cũng là nơi những Doanh nghiệp trong ngành và những người cónhu cầu tìm hiểu và khám phá về những yếu tố tương quan đến ngành Da Giày hoàn toàn có thể tìm đến tracứu. Bằng ý chí vượt lên trong khó khăn vất vả, tập thể CBCNVC của Viện đang ấp ủthực hiện những dự kiến trong tương lai. Một số dự án Bất Động Sản mới đã sinh ra : Dự án tiềnkhả thi quy hoạch tăng trưởng Viện đến năm 2010 và hướng đến 2020 ; Dự án khả thiđầu tư xưởng thực nghiệm thiết kế mẫu mốt ngành Giày, dự án Bất Động Sản tiến hành sản xuấtthử thuộc đề tài KC06 ; Dự án tăng cường năng lượng nghiên cứu khoa học lĩnh vựcthuộc da. Tính khả thi của những dự án Bất Động Sản sẽ là động lực can đảm và mạnh mẽ để Viện nghiên cứuDa Giày trụ vững và tăng trưởng trong quy trình tiến độ mới. Tháng 3/2003 trong quy trình tiến hành thực thi quyết định hành động 125 Ttg về sắpxếp thay đổi và tăng trưởng Doanh nghiệp Nhà nước của Bộ Công nghiệp, Viện đãtrở thành đơn vị chức năng sự nghiệp thường trực sự quản trị của Bộ Công nghiệp theo Quyếtđịnh số 40/2003 / QĐ – BCN.Trong tiến trình 2003 – 2006 Viện tiếp tục tổ chức triển khai những hoạt động giải trí nhằmnâng cao năng lượng thao tác của cán bộ công nhân viên chức trong Viện như tổ chức triển khai lớp học nâng caonăng lục phong cách thiết kế thuộc chương trình thực thi thương mại năm 2006, chương trìnhnâng cao năng lượng phong cách thiết kế mũ giày nội dung phần học phong cách thiết kế thủ công bằng tay, thực hiệncác đề tài nghiên cứu khoa học đựoc ứng dụng vào hoạt động giải trí sản xuất kinh doanhcủa Viện và làm dịch vụ khoa học kỹ thuật, … Tháng 6 năm 2006 Viện có Đề ánchuyển đổi tổ chức triển khai hoạt động giải trí Viện nghiên cứu Da Giày thành Tổ chức khoa họccông nghệ tự giàn trải kinh phí đầu tư Theo nghị định 115 / 2005 / NĐ – CP của Thủ tuớngchính phủ, sắp xếp tổ chức triển khai lại cơ cấu tổ chức tổ chức triển khai lan rộng ra hình thức nghiên cứu khoahọc, sản xuất – kinh doanh thương mại theo hướng đi mới. Bổ xung thêm công dụng nhiệm vụtheo giấy ghi nhận hoạt động giải trí khoa học công nghệ tiên tiến : Nghiên cứu tăng trưởng tiềmnăng Giao hàng trong ngành công nghệ tiên tiến thuộc da chế biến đồ da những vật tư phục vụcho ngành Da Giày ; Thực hiện những dịch vụ khoa học công nghệ tiên tiến về thông tin đàotạo, tư vấn, chuyển giao công nghệ tiên tiến trong ngành Da Giày. Ba mươi tư năm, thời hạn không phải là dài nhưng cũng không là ngắn đốivới quy trình thiết kế xây dựng và tăng trưởng của một cơ quan nghiên cứu khoa học. Khôngồn ào với những hoạt động giải trí bề nổi để lấy thành tích, hơn 30 năm qua đội ngũCBCNV nơi đây đã thao tác và góp sức hết tận tâm, trí tuệ của mình chongành, cho xã hội như nhứngx con ong cần mẫn, lặng lẽ chắt chiu những kiếnthức và kinh nghiệm tay nghề thực sự hữu dụng, góp thêm phần tích cực quan trọng vào sự phát triểnchung của nghành Da Giày. Niềm tự hào đó cũng chính là động lực để Việnnghiên cứu Da Giày liên tục chứng minh và khẳng định mình và vươn tới một tương lai tươi sánghơn trong một số ít năm tới. 10II. Mô hình cơ cấu tổ chức tổ chức triển khai của Viện nghiên cứu. 1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức tổ chức triển khai quản trị hiện tại của Viện nghiên cứu Da Giày. Sơ đồ 1 : Cơ cấu tổ chức triển khai Viện nghiên cứu Da Giày-Viện trưởng ThS Đỗ Thị Hồi – Viện phó : + ThS Trần Thị Minh Thư Giám đóc TT mẫu và đào tạo và giảng dạy Da Giày + tiến sỹ Trần Thị Nhàn đảm nhiệm mảng nghiên cứu khoa học + KS Nguyễn Hữu Cung đảm nhiệm kế hoạch sản xuất – Các bộ phận trình độ – nhiệm vụ. 1. Phòng tổ chức triển khai – hành chính2. Phòng nghiên cứu khoa học3. Phòng kinh tế tài chính – kế toán11Viện trưởngPhó viện trưởng Phó viện trưởng ( Giámđóc TT mẫu vàđào tạoDa – Giày ) Phó viện trưởngPhòngtổ chức hànhchínhPhòngnghiên cứukhoa họcPhòng tàichính kế toánPhòngkế hoạch đầutưXưởng thựcnghiệmthuộc daTrung tâmmẫu và đàotạoDa – Giày4. Phòng kế hoạch góp vốn đầu tư – Các cơ sở Giao hàng dịch vụ và chuyển giao công nghệ1. Xưởng thực nghiệm thuộc da2. Trung tâm mẫu và huấn luyện và đào tạo Da Giày ( FATRACEN ) 2. Chức năng, trách nhiệm, quyền hạn của một số ít vị trí chủ chốt. 2.1 Viện trưởng. – Viện trưởng là nguời chịu nghĩa vụ và trách nhiệm trước nhà nước về những mặt hoạtđộng sản xuất kinh doanh thương mại theo nguyên tắc lấy thu bù chi, có lãi, sử dụng vốn bảotoàn và tăng trưởng. Nghiên cứu kiến thiết xây dựng kế hoạch, quy hoạch, chủ trương pháttriển khoa học và công nghệ tiên tiến chuyên ngành Da Giày, Tiếp nhận và tiến hành thựchiện những chương trình, dự án Bất Động Sản, đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ tiên tiến thiên nhiên và môi trường vàkinh tế Da Giày. 2.2 Viện phó. – Có trách nhiệm trợ giúp viện trưởng về công tác làm việc quản trị, nghiên cứu những đề tàikhoa học mới, công nghệ tiên tiến thuộc da mới, đào tạo và giảng dạy và tăng trưởng mẫu. Các viện phóthực hiện những quan hệ hợp tác nghiên cứu, tiến hành khoa học – công nghệ chuyênngành với những cơ quan tổ chức triển khai, trường Đại học, Viện nghiên cứu, cơ sở sảnxuất, kinh doanh thương mại trong nước và ngoài nước. – Giám đốc TT mẫu là người chịu nghĩa vụ và trách nhiệm về công tác làm việc sản xuất, cân đối kế hoạch, lập kế hoạch sản xuất, kế hoạch tiêu thụ, kế hoạch nguyên vậtliệu nguồn vào. 3. Cơ cấu tổ chức triển khai của Viện theo đề án quy đổi Viện tháng 6 năm2006. 3.1 Cơ cấu tổ chức triển khai hiện tại. Theo đề án quy đổi tháng 6 năm 2006, Viện là một đơn vị chức năng sự nghiệp khoahọc thường trực BCN hoạt động giải trí theo hình thức đơn vị chức năng sự nghiệp có thu, có cơ cấutổ chức hiện tại như sau : 12S ơ đồ 2 : Cơ cấu tổ chứcTrong đó : – Lãnh đạo gồm có Viện trưởng và những phó Viện trưởng ; Viện cómột chi bộ Đảng và một tổ chức triển khai công đoàn cơ sở. – Cơ cấu tổ chức triển khai + Ban giám đốc 04 người + Các phòng ban trình độ nghiệp vụPhòng hành chính tổ chức triển khai : 09 ngườiPhòng nghiên cứu khoa học : 09 ngườiPhòng kinh tế tài chính kế toán : 04 ngườiPhòng kế hoạch góp vốn đầu tư : 08 ngườiXưởng thực nghiệm thuộc da : 11 người – Các cơ sở thường trực hạch toán độc lập gồm TT mẫu và đàotạo Da Giày : 37 người. 3.2 Phương hướng tổ chức triển khai và hoạt động giải trí sau khi quy đổi – dự kiến sắp xếp những bộ phận và tổ chức triển khai thường trực + Lãnh đạo : Viện trưởng và những phó viện trưởng13Viện nghiên cứu DaGiàyHội đồng khoa họcViệnKhối trình độ nhiệm vụ – Phòng Nghiên cứu khoa học – Phòng kế hoạch góp vốn đầu tư – Phòng kinh tế tài chính kế toán – Phòng hành chính tổ chức triển khai – Xưởng thực nghiệm thuộc daCác đơn vị chức năng thường trực – Trung tâm mẫu và đào tạoDa – Giày + Khối quản trị : Văn phòng ( gồm những bộp phận : hành chính tổ chức triển khai, hợp tácquốc tế ) ; Phòng kinh tế tài chính tổng hợp ( kinh tế tài chính kế toán, kế hoạch góp vốn đầu tư, ban kiểmsoát nội bộ ). + Các đơn vị chức năng thường trực : • Trung tâm mẫu và huấn luyện và đào tạo Da Giày tại 20 Núi Trúc – Ba Đình – TP. Hà Nội • Công ty thương mại và Da Giày tại 20 Núi Trúc – Ba Đình – TP. Hà Nội • Trung tâm nghiên cứu tăng trưởng công nghệ tiên tiến thuộc da và môi trường tự nhiên tại 160H oàng Hoa Thám – Tây Hồ – Thành Phố Hà Nội • Phân viện tại thành phố Hồ Chí Minh – Mô hình tổ chức triển khai của Viện : Tổ chức khoa học và công nghệ tiên tiến tự trang trảikinh phí có sơ đồ khối cơ cấu tổ chức tổ chức triển khai như sau : Sơ đồ 3 : Cơ cấu tổ chức triển khai Viện trong tương lai14Viện nghiên cứu DaGiàyHội đồng khoa họcViệnKhối công dụng quản trị – Văn phòng – Phòng kinh tế tài chính tổng hợpPhòng kinh tế tài chính kế toánPhòng kế hoạch đầu tưBan trấn áp nội bộCác đơn vị chức năng thường trực – Trung tâm mẫu và huấn luyện và đào tạo Da – Giày – Công ty Thương mại và dịch vụDa – Giày – Trung tâm nghiên cứu phát triểncông nghệ thuộc da và môitrường – Phân viện tại TP Hồ Chí Minh
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Nghiên Cứu






