Vì sao phải nghiên cứu thị trường – Tài liệu text

Vì sao phải nghiên cứu thị trường

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (229.98 KB, 42 trang )

Vì sao phải nghiên cứu thị trường.
Khái niệm nghiên cứu thị trường: Là sự nghiên cứu tỉ mỉ, có khoa
học xuất phát từ nghiên cứu nhu cầu của người tiêu dùng để đi đến
quyết định nên sản xuất kinh doanh mặt hàng gì, cách thức và chất
lượng như thế nào, với khối lượng bao nhiêu và lựa chọn phương
thức bán hàng, tiếp thị và khuyến mãi nào để tạo chỗ đứng cho sản
phẩm của dự án trên thị trường ở hiện tại và trong tương lai.
Lý do phải nghiên cứu thị trường.
Để biết được những yếu tố tác động tới người tiêu dùng, suy nghĩ
của người tiêu dùng.
– Người tiêu dùng họ đã biết những gì ( sự nhận biết hay sự
quen thuộc).
– Người tiêu dùng nghĩ gì và đánh giá như thế nào (ý kiến và
sự tin tưởng)
– Người tiêu dùng cảm thấy như thế nào ( Thái độ và cảm xúc)
– Người tiêu dùng làm gì và thường làm gì ( thói quen sử dụng
và hành vi)
– Động cơ thúc đẩy người tiêu dùng và lý do của những điểm
nêu trên.
– Những vấn đề nổi bật có thể ảnh hưởng đến tổ chức công ty
của họ.

1. Mục đích, vai trò và yêu cầu nghiên cứu khía cạnh thị trường
sản phẩm của dự án.
1

1.1 Mục đích và vai trò của nghiên cứu thị trường sản phẩm
của dự án
Nghiên cứu thị trường của dự án nhằm xác định được thị phần
mà dự án dự kiến sẽ chiếm lĩnh trong tương lai và cách thức

chiếm lĩnh đoạn thị trường đó. Để thực hiện được mục tiêu
trên,nghiên cứu thị trường bao gồm những nôi dung sau:

1.2

 Phân tích và đánh giá thị trường tổng thể
 Phân đoạn thị trường và xác định thị trường mục tiêu của
dự án
 Xác định sản phẩm của dự án
 Dự báo cung cầu thị trường sản phẩm của dự án trong
tương lai
 Lựa chọn các biện pháp tiếp thị và khuyến mại cần thiết
giúp cho việc tiêu thụ sản phẩm hoặc tiến hành các hoạt
động dịch vụ của dự án được thuận lợi( bao gồm cả chính
sách giá cả,hệ thống phân phối,các vấn đề về quảng
cáo…)
 Phân tích,đánh giá khả năng cạnh tranh và chiếm lĩnh thị
trường về sản phẩm của dự án
Vai trò của nghiên cứu thị trường

Nghiên cứu thị trường có vai trò quan trọng và ý nghĩa hết sức
to lớn. Nghiên cứu thị trường cho phép người soạn thảo phân
tích đánh giá cung cầu thị trường ở hiện tại và dự báo cung cầu
thị trường trong tương lai về loại sản phẩm của dự án. Kết quả
nghiên cứu thị trường cho phép người soạn thảo đi đến quyết

2

định có nên đầu tư hay không và xác định quy mô đầu tư hợp lý,

bời vì dự án chỉ được chấp nhận khi đạt được hiệu quả( kinh tế
và xã hội).
1.3. Yêu cầu của nghiên cứu thị trường
Để nghiên cứu thị trường cho kết quả chính xác phục vụ cho
việc xác định thị phần và quy mô dự án, nghiên cứu thị trường
cần đảm bảo các yêu cầu sau:
– Thu thập đầy đủ các thông tin cần thiết cho nghiên cứu thị
trường tiêu thụ sản phẩm của dự án.
– Thông tin phải đảm bảo chính xác và tin cậy.
– Sử dụng các phương pháp phân tích phù hợp như : Trường
hợp thiếu thông tin, hoặc thông tin không đủ độ tin cậy thì
tùy vào mức độ thiếu thông tin có thể sử dụng các phương
pháp khác nhau để dự đoán như ngoại suy từ các trường hợp
tương tự, từ tình hình của quá khứ, sử dụng các thông tin
gián tiếp có liên quan, tổ chức điều tra phỏng vấn, hoặc lấy
mẫu phân tích để bổ sung.
Các dữ liệu thông tin cần thiết để nghiên cứu cầu thị trường sản
phẩm trong tương lai cần phải bao gồm:
• Các dữ kiện về kinh tế tổng thể:
– Tổng sản lượng, tổng sản phẩm quốc nội, tốc độ tăng
trưởng.
– Thu nhập gia đình và thu nhập bình quân đầu người.
– Biểu đồ phân phối thu nhập.
– Phân phối thu nhập bình quân từng địa phương.
– Dân số: phân bố dân cư theo khu vực, tốc đọ tăng dân số.
3

Cơ cấu sản xuất của nền kinh tế.
Cơ cấu nhân lực theo ngành nghề.
Các chỉ số giá cả tiền tệ, các dữ liệu về ngân sách.
Tình hình xuất nhập khẩu, dự trữ ngoại tệ.
Các kế hoạch định hướng lớn về phát triển kinh tế – xã hội
của đát nước.
• Các dữ liệu thông tin về thị trường sản phẩm:
– Khối lượng sản xuất, xuất hoặc nhập khẩu sản phẩm trong
khoảng 5 đến 10 năm.
– Giá cả sản phẩm theo thời gian, biểu thuế của sản phẩm,
sự khác biệt về giá cả giữa các sản phẩm cùng loại nhưng
do các nhà sản xuất khác nhau làm ra.
– Sự biến động cảu thị trường các sản phẩm bổ sung và cạnh
tranh.
• Các dữ liệu khác của nền kinh tế đói với từng loại sản phẩm.
2. Phân tích và đánh giá khái quát thị trường.
2.1.Phân tích cung cầu thị trường về sản phẩm của dự án ở
hiện tại:
Để có cái nhìn tổng quan về thị trường,trước tiên phải phân tích
tình hình cung cầu ở hiện tại. để xác định mức tiêu thụ của thị
trường tổng thể,cần xác định những dữ liệu thống kê sau:
– Số lượng doanh nghiệp do các doanh nghiệp trong nước
sản xuất và cung ứng cho thị trường
– Khối lượng nhập khẩu hàng năm của sản phẩm đó
– Mức tồn kho cuối năm của sản phẩm (tách riêng nội địa và
nhập khẩu)
– Giá cả sản phẩm.
Bên cạnh việc nghiên cứu cầu hiện tại thì việc xác định tổng
khối lượng cung ứng hiện tại và số lượng sản phẩm cung ứng từ
các nguồn. vì việc nghiên cứu tổng khối lượng cung ứng hiện

tại và số lượng sản phẩm từ các nguồn cung cấp cho chủ đầu tư
4

biết các khoảng trống thị trường và để làm căn cứ,cơ sở cho
việc nghiên cứu,dự báo tổng khối lượng và nguồn cung ứng các
sản phẩm của dự án tương lai
2.2Xác định loại thị trường và loại sản phẩm của dự án:
Để làm rõ những đối tượng tiêu thụ sản phẩm của dự án là như
thế nào và sản phẩm của dự án thuộc loại gì. Theo phương diện
kinh tế, có thể chia sản phẩm theo 2 tiêu thức:
• Theo loại thị trường, bao gồm
– Thị trường nội địa
– Thị trường quốc tế
• Theo loại sản phẩm, gồm:
– Các loại sản phẩm thô: xi măng, sắt thép, phân bón, lúa
gạo, khoáng sản…
– Các sản phẩm có tính năng tương tự nhưng khác nhau về
mẫu mã, về thị hiếu như: xe hơi, máy móc, sản phẩm công
nghệ tiêu dùng
– Các sản phẩm không luân chuyển được: nhà đất, công
trình kiến trúc.
3. Phân đoạn thị trường và xác định thị trường mục tiêu
3.1.Phân đoạn thị trường: phân chia thị trường thành các đoạn
nhỏ mà ở đó khách hàng sẽ có sự giống nhau về nhu cầu hoặc ước
muốn và có phản ứng giống nhau trước cùng 1 kích thích
marketing. Phân đoạn thị trường giúp chủ đầu tư xác định những
đoạn thị trường hẹp và đồng nhất hơn so với thị trường tổng thế,
qua đó lựa chọn được những đoạn thị trường hấp dẫn với dự án.
Yêu cầu:

o Tính đo lường được:
o Tính tiếp cận được
o Tính quan trọng
o Tính khả thi

5

Thị trường tổng thể có thể được phân đoạn dựa trên nhiều tiêu chí
khác nhau như:
o Địa lý: miền, vùng, tỉnh, huyện, quận, xã, phường…
o Dân số- xã hội: tuổi, giới tính, thu nhập, tình trạng hôn nhân, quy
mô gia đình, giai tầng xã hội, tín ngưỡng, chủng tộc…
o Tâm lý học: thái độ, động cơ, cá tính, lối sống, thói quen…
o Hành vi tiêu dùng: lý do mua, lợi ích tìm kiếm, số lượng và tỷ lệ
tiêu dùng, tính trung thành…
3.2.Xác định thị trường mục tiêu: sau khi phân đoạn thị trường,
chủ đầu tư lựa chọn được đoạn thị trường cụ thể và hấp dẫn nhất
để tiến hành kinh doanh lựa chọn thị trường mục tiêu. Những đoạn
thị trường này phải đảm bảo: quy mô đủ cho 1 dự án, có thể tạo ra
ưu thế hơn so với đối thủ cạnh tranh, tính hiệu quả khi đầu tư vào
thị trường này và khả năng của doanh nghiệp. các công việc cần
tiến hành:
Thứ nhất, đánh giá các đoạn thị trường: để nhận dạng được
mức độ hấp dẫn của
chúng trong việc thực hiện mục tiêu của dự án.dựa trên 3 tiêu
chuẩn cơ bản:
 Quy mô và sự tăng trưởng: quy mô đủ lớn đề bù đắp chi phí
đầu tư và marketing không chỉ trong hiện tai mà cả trong
tương lai

 Sự hấp dẫn của đoạn thị trường từ các sức ép hay đe dọa
khác nhau:
– Sự đe dọa từ việc gia nhập và rút lui: nếu sự gia nhập hoặc
rút lui là quá dễ dàng thì sẽ được coi là thị trường kém hấp
dẫn, vì có tính ổn định thấp
– Sự đe dọa của các sản phẩm thay thế
– Sự đe dọa từ người mua
– Sự đe dọa từ phía người cung ứng

6

 Các mục tiêu và khả năng của công ty: một đoạn thị trường
hấp dẫn vẫn có thể sẽ bị loại bỏ do chúng không ăn khớp với
mục tiêu lâu dài và khả năng của chủ đầu tư
Thứ hai: Lựa chọn đoạn thị trường mục tiêu: thị trường mục
tiêu là thị trường bao gồm các khách hàng có nhu cầu mà chủ đầu
tư có khả năng đáp ứng, đồng thời có thể tạo ưu thế hơn so với các
đối thủ cạnh tranh và đạt được mục tiêu đã định.
4.Xác định sản phẩm cửa dự án
Sau khi xác định được thị trường mục tiêu,người soạn thảo phải
xác định được sản phẩm của dự án Đó là thiết kế sản phẩm của dự
án đáp ứng nhu cầu của khách hang mục tiêu sao cho phải có
những đặc tính khác biệt so với hàng hóa của đối thủ cạnh tranh
tạo được hình ảnh riêng với khách hàng.
Giới thiệu rõ về sản phẩm:
* Tên sản phẩm
* Các đặc điểm chủ yếu, những dấu hiệu để phân biệt với các
sản phẩm có cùng chức năng
* Tính năng và công dụng

* Quy cách, tiêu chuẩn chất lượng
* Hình thức bao bì đóng gói….
Vị trí của sản phẩm trên thị trường là mức độ sản phẩm được
khách hàng nhìn nhận ở tầm cỡ nào, chiếm một vị trí như thế nào
trong tâm trí khách hàng.
7

5.Dự báo cung cầu thị trường trong tương lai:
Các nhà kinh tế cũng như các nhà quản trị doanh nghiệp luôn quan
tâm đến cầu về sản phẩm hay dịch vụ trong mộ thời kì nhất
định,bởi vì nó mới chính là những nhu cầu có khả năng thanh toán
hay những cá nhân này sẵn sang tiêu dùng để thỏa mãn nhu cầu
của mình.Việc dự báo cầu sản phẩm của dự án trong tương lai là
nhân tố quyết định đến việc lựa chọn mục tiêu và quy mô sản xuất
tối ưu của dự án.Vì vậy việc dự báo cầu thị trường trong tương lai
hết sức quan trọng.
Phải thực hiện theo các bước cơ bản sau
• Phân tích đánh giá cung cầu thị trường về sản phẩm của dự
án ở hiện tại và trong quá khứ
• Dự báo cầu sản phẩm của dự án trong tương lai
• Dự báo cung sản phẩm của dự án trong tương lai
5.1 Phân tích đánh giá cung cầu thị trường về sản phẩm của dự
án ở hiện tại và trong quá khứ
Cung cấp tình hình và số liệu cho phân tích dự báo cung cầu sản
phẩm của dự án trong tương lai.Nội dưng nghiên cứu
• Xác định mức tiêu thụ
• Nguồn cung cấp
• Mức độ thỏa mãn cung cầu thị trường về sản phẩm của dự án

8

Những nội dung nghiên cứu trên được xem xét đánh giá ở hiện tại
và những năm quá khứ
5.2 Dự báo cầu sản phẩm của dự án trong tương lai
Để dự báo cầu thị trường về một loại sản phẩm hay dịch vụ nào
đó trong tương lai, có thể sử dụng rất nhiều phương pháp dự
báo,tùy thuộc vào nguồn và luồng thông tin thu được.Sau đây là
một số phương pháp thường được áp dụng:
• Phương pháp ngoại suy thống kê
• Mô hình hồi quy tương quan
• Hệ số co giãn cầu
• Phương pháp định mức
• Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Dự báo cầu bằng phương pháp ngoại suy thống kê
Dựa trên mối quan hệ kế thừa giữa ba trạng thái của đối tương dự
báo đó chính là quá khứ hiện tại và tương lai.ba trạng thái đó
chuyển tiếp liên tục cho nhau và hình thành nên quy luật phát triển
của đối tượng.vì vậy dự báo bằng phương pháp ngoại suy thống
kê là việc nghiên cứu lịch sử phát triển của đối tượng để tìm ra tính
quy luật phát triển của nó trong quá khứ,hiện tại và chuyển tính
quy luật đó sang tương lai với các điều kiện sau:

9

• Đối tượng dự báo phải phát triển một cách ôn định theo thời
gian
• Những điều kiện chung cho sự phát triển của đối tượng dự

bảo phải được duy trì trong tương lai
• Không có những tác động gây ra những thay đổi đột biến
trong quá trình phát triển của đối tượng dự báo
Do có nhiều điều kiện ràng buộc nên áp phương pháp này có thể
dẫn đến kết quả không chính xác chẳng hạn: có đột biến quan
trọng trong kinh tế xã hội của vùng lãnh thổ mà dự án định tiêu thụ
sản phẩm hoặc phương pháp này không còn phù hợp khi sản phẩm
của dự án lần đầu tiên xuất hiện trên thị trường hay đang còn mới
Những bước thực hiện dự báo cầu thị trường bằng phương pháp
ngoại suy hệ thống:
– Thu thập mức tiêu thụ loại sản phẩm mà dự án dự định sản
xuất qu các năm quá khứ và hiện tại,từ đó xây dựng dãy số
thời gian
– Xác định xu hướng và quy luật phát triển của đối tượng
nghiên cứu
– Xây dựng hàm xu thế
– Ngoại suy dự báo cho những năm tương lai trên cơ sở hàm
xu thế
– Xác định độ tin cậy của dự báo

10

Phương pháp này chỉ cho kết quả tương đối chính xác đối với
những sản phẩm có tính ổn định cao và thường được vận dụng để
dự báo ngắn hạn
Dự báo cầu thị trường bằng mô hình hồi quy tương quan
Là phương pháp rất phổ biến dựa trên cơ sở phẩn tích mối quan hệ
giữa cầu thị trường và các nhần tố ảnh hường như giá cả, dịch vụ,
thu nhập của người tiêu dung, giá cả hàng hóa và dịch vụ liên

quan, thị hiếu của người tiêu dung… Mô hình hồi quy tương quan
có 2 dạng: mô hình hồi quy đơn và mô hình hồi quy bội
Các bước tiến hành
– Xác định các nhân tố ảnh hưởng lớn đến cầu thị trường về
sản phẩm hoặc dịch vụ của dự án(xác định biến số)
– Lựa chọn mô hình tương quan(tùy theo đặc điểm, tính chất
của mối liên hệ đó lựa chọn mô hình hồi quy tương quan hay
xác định các tham số của mô hình)
– Kiểm định mô hình gồm tính hệ số tương quan,đánh giá sai
số dự báo,ước lượng khoảng giá trị mà dự báo có thể rơi vào
– Tiến hành dự báo(nếu mô hình được chấp nhận)
Nếu tiêu chuẩn kiểm định không chấp nhận phải lựa chọn lại mô
hình và quay trở lại bước đầu để điều chỉnh bổ sung hoặc thay thế

11

Dự báo cầu thị trường bằng hệ số co giãn cầu
Sự ảnh hường của các nhân tố đến cầu thị trường được lượng hóa
thông qua hệ số co giãn của cầu theo các nhân tố ảnh hưởng
(E ).Hệ số co giãn của cầu cho biết cầu sẽ thay đổi bao nhiêu % khi
có 1% thay đổi của 1 nhân tố (X)
nào đó trong điều kiện các nhân tố khác không đổi.
Nếu quan hệ giữa lượng cầu Q và nhân tố ảnh hưởng X được biểu
diễn dưới dạng phương trình hồi quy Q = f(x) thì :
∆Q
∆Q X
Q
ED =
=

×
∆X ∆X Q
X

Trong đó

ED

: hệ số co giãn cầu theo nhân tố X

Q

: lượng cầu

X

: nhân tố làm thay đổi lượng cầu

∆Q

: mức gia tăng lượng cầu

∆X

: mức gia tăng nhân tố X

Để thực hiện dự báo cầu thị trường theo phương pháp này cần phải
tiến hành – Thu thập số liệu về cầu(Q) và nhân tố ảnh hưởng (X)
theo thời gian
– Tính hệ số co giãn qua các năm trên cơ sở số liệu đã thu thập

được

12

– Xác định xu hướng biến đổi của hệ số co giãn trong thời kỳ dự
báo và sau đó xác định giá trị hệ số co giãn ở năm dự báo
– Dự báo cầu trên cơ sở hệ số co giãn và mức thay dổi nhân tố (X)
đã biết
Dự báo cầu thị trường bằng phương pháp định mức
Cũng như nhu cầu,các định mức về tiêu dùng có thể phản ánh
chính xác tình hình tiêu dùng của dân cư. Các định mức tiều dùng
được xác định dựa trên cơ sở điều tra thực tế theo các mẫu điều tra
ngẫu nhiên có tính đại diện cao để có thể phản ánh chính xác tình
hình tiêu dùng của dân cư.
Định mức tiêu dùng được chia thành 3 loại chủ yếu sau: Định mức
tiêu dùng hàng thực phẩm được tính theo đầu người, hàng có giá
trị lâu bền tính theo mức đảm bảo cho 100 hoặc 1000 hộ gia đình
và hàng dịch vụ có loại tính theo đầu người ( khám chữa bệnh…)
có loại tính theo mức đảm bảo cho 100 hoặc 1000 hộ gia đình
( như điện thoại cố định, cáp truyền hình..)
Chúng ta có thể dự báo được lượng cầu về hàng hóa và dịch vụ
dựa trên định mức tiêu dùng và quy mô đối tượng đã được định
mức
Lượng Cầu =

Định mức
tiêu dùng

Số lượng đối

* tượng tiêu dùng

13

Phương pháp dự báo cầu bằng cách lấy ý kiến chuyên gia
Đây là phương pháp thu thập và xử lí những đánh giá dự báo bằng
cách tập hợp va hỏi ý kiến chuyên gia giỏi thuộc một lĩnh vực hẹp
của khoa học kĩ thuật hoặc sản xuất
Tiến hành như sau
B1. Lựa chọn chuyên gia
Lựa chọn những người có chuyên môn cao hiểu biết rộng từ thực
tiễn cũng như lí thuyết về các vấn đề dự báo, có khả năng phân tích
và tiên đoán tương lai,, có các ý kiến đánh giá ổn định theo thời
gian và phải điều chỉnh đánh giá của mình khi có các thông tin bổ
sung.
Chất lượng của chuyên gia được thể hiên thông qua các tiêu chí
sau: Trình độ chuyên môn, tính sáng tạo, thái độ của chuyên gia về
cuộc trưng cầu, khả năng phân tích và bề dầy của tư duy, khả năng
thiết kế của tư duy, tính tập thể và tự phê bình của chuyên gia…..
B2. Trưng cầu ý kiến chuyên gia:
– Để ra nhiệm vụ và nêu câu hỏi cho các chuyên gia
– Đảm bảo các thông tin cho các chuyên gia
– Các chuyên gia nêu những đánh giá, những ý kiến đề nghị

14

– Thu thập kết quả hoạt động của các chuyên gia
Trưng cầu ý kiến tiến hành dười nhiều hình thức: cá nhân hoặc tập

thể, trưng cầu có mặt hoặc vắng mặt, phỏng vấn hội thảo, tấn công
não….
B3. Thu thập và xử lí các đánh giá dự báo
Giai đoạn kết thúc và rất quan trọng, phân tích về mặt lượng các
kết quả so sánh kết quả đó với những quan điểm hiện có về vấn
đề nghiên cứu và những kết quả đánh giá dự báo khác
Phương pháp chuyên gia được áp dụng đặc biệt có hiệu quả
trong các trường hợp sau:
• Khi đối tượng dự báo có tầm bao quát lớn, phụ thuộc vào
nhiều yếu tố mà hiện tại cònn chưa có hoặc thiếu những cơ
sở lý luận chắc chắn để xác định
• Thiếu thông tin và thống kê không đầy đủ, độ tin cậy về đặc
tính của đối tượng dự báo
• Trong điều kiện có độ bất định lớn về chức năng của đối
tượng dự báo(ví dụ như: dự báo về ảnh hưởng qua lại giữa
các ngành khoa hcj và kỹ thuật,dự báo về hệ thống con
người-máy móc trong vũ trụ..)

15

• Dự báo trung hạn hoặc dài hạn đối với các ngàng công
nghiệp mới, chịu ảnh hưởng bởi công nghệ vi sinh học điện
tử thông minh
• Thiếu thời gian, hoàn cảnh cấp bách
Tuy nhiên phương pháp này bị hạn chế khi mà ý kiến các
chuyên gia không có sự đồng nhất cao,thì phải tiến hành lại
hoặc lấy thêm ý kiến của các chuyên gia khác
5.3.Dự báo cung sản phẩm trong tương lai
Khi đã xác định được cầu của thị trường sản phẩm trong tương lai

thì bước tiếp theo là phải xác định được lượng cung về hàng hóa
và dịch vụ trong tương lai bao gồm của cơ sở hiện có hoặc của các
dự án khác có thể có trong tương lai
Để xác định được cung về sản phẩm hoặc dịch vụ mà dự án dự
định cung cấp cần thu thập
• Khả năng mở rộng sản xuất trong tương lai của các cơ sở
hiện có về hàng hóa,dịch vụ đang nghiên cứu( dự tính cơ sở
khác có thể có)
• Dự kiến khả năng xuất nhập khẩu hàng hóa dịch vụ đó trong
tương lai
Tùy theo khối lượng thông tin mà đưa ra các dự báo thích hợp. trên
cơ sở xác định được cầu và cung của thị trường trong tương

16

lai,xác định được chênh lệch giữa cung và cầu trong tương lai sẽ
chi phối trực tiếp đến việc hình thành dự án và qui mô của dự án
6. nghiên cứu vấn đề tiếp thị sản phẩm của dự án
Việc xác định có nhu cầu của thị trường về sản phẩm của dự án
mới chỉ cho phép giải quyết một số vấn đề về tiêu thụ sản
phẩm(khả năng tiêu thụ sản phẩm) còn làm thế nào để người tiêu
thụ sử dụng sản phẩm của mình thay vì sử dụng sản phẩm của dự
án khác lại thuộc về khâu tiếp thị sản phẩm. hoạt động tiếp thị
nhằm thúc đẩy hoạt động của thị trường và thỏa mãn nhu cầu của
khách hàng trong việc cung cấp các sản phẩm của dự án. tiếp thị và
khuyến mại-một bộ phận của tiếp thị có nghĩa là xác định bằng
cách nào với chi phí bao nhiêu để có thể tiêu thụ được sản phẩm
của dự án
6.1. Nhiệm vụ của công tác tiếp thị của dự án

Công tác tiếp thị là một hệ thống các biện pháp được sử dụng
nhằm khuyến khích,kích thích khách hàng mua sản phẩm của dự
án. tiếp thị được xem như một trong những phương tiện để cạnh
tranh trên thị trường với các doanh nghiệp khác,các dự án khác sản
xuất sản phẩm tương tự
Thực chất của hoạt động tiếp thị chính là sự truyền thông tin về sản
phẩm và về dự án tới khách hàng để thuyết phục họ mua hàng.
Trong đó hoạt động khuyến mại là bộ phận chủ chốt của tiếp thị.

17

Khuyến mại được hiểu là các biện pháp tác động mang tính chất
tức thời ngắn hạn để khuyến khích khách hàng mua sản hay dịch
vụ của dự án. hoạt động khuyến mại có tác động trực tiếp và tích
cực đến việc tăng doanh số bằng những lợi ích vật chất bổ sung
cho người mua. Mục tiêu của khuyến mại đó là làm sao để người
tiêu dùng sử dung sản phẩm của dự án này thay vì sử dụng sản
phẩm cung loại của dự án khác
Nhiệm vụ công tác tiếp thị của dự án:
– Đối với người tiêu dùng:
 Khuyến khích khách hàng tiêu dùng nhiều hơn,mua với số
lượng lớn hơn nhằm tăng nhanh nhu cầu sản phẩm của dự
án
 Tạo thêm những khách hàng mới
– Đối với các thành viên trung gian trung gian trong khâu phân
phối:
 Khuyến khích các thành viên này tăng cường hoạt động
phân phối hơn,đẩy mạnh các hoạt động mua bán
 Mở rộng kênh phân phối

6.2. Nội dung cần xem xét khi nghiên cứu công tác tiếp thị của
dự án
Khi nghiên cứu công tác tiếp thị cần xem xét các nội dung chủ yếu
sau: xác định đối tượng tiêu thụ sản phẩm của dự án,lựa chọn các

18

phương phápgiới thiệu sản phẩm,lựa chọn các phương thức linh
hoạt để đẩy mạnh sức mua và tổ chức mạng lưới tiêu thụ sản phẩm
6.2.1. Xác định đối tượng tiêu thụ sản phẩm của dự án
Việc xác định đối tượng của dự án cần phải xem xét đến đặc tính
của đối tượng,khu vực phân phối,các yêu cầu và thị hiếu của đối
tượng tiêu thụ đối với sản phẩm. thông thường,nếu sản phẩm thuộc
loại thô thì vấn đề quan trọng nhất là giá cả và chất lượng có đạt
được yêu cầu của quốc tế hay không. Trong trường hợp nếu số
lượng tiêu thụ nhỏ,việc khảo sát những yêu cầu của khách hàng có
thể thực hiện bằng các biện pháp chào hàng trực tiếp và tiếp xúc
trực tiếp để từ đó kí kết hợp đồng. đối với các loại sản phẩm có
tính năng tương tự thì có nhiều phức tạp hơn và đòi hỏi phải có
chương trình nghiên cứu kĩ càng hơn bao gồm các phương pháp
điều tra chọn mẫu nhu cầu của từng thành phần đối tượng,từ đó rút
ra các tính năng cần thiết của sản phẩm phải có để được đối tượng
chấp nhận
6.2.2. Lựa chọn các phương pháp giới thiệu sản phẩm
 Tiếp xúc trực tiếp bằng thư từ,gửi mẫu…
– Giúp cho khách hàng có được những thông tin trực tiêp về
sản phẩm,thông qua đó giới thiêu đến khách hàng và công
chúng về sản phẩm,dự án,giúp họ có những ý kiến,quan điểm
cụ thể về sản phẩm. từ đó dự án có thể xem xét hoặc điều

19

chỉnh cho phù hợp với yêu cầu của khách hàng,tuy nhiên
những điều chỉnh này chỉ mang tính chất nhỏ,thay đổi chút
ít,không đáng kể. nhược điểm của phương pháp này là tốn
kém và lãng phí thời gian
– Hàng mẫu có thê miễn phí hoặc với giá rất thấp,thông qua
bưu điện,phân phối tại cửa hàng hoặc qua đội ngũ nhân viên
tiếp thị nhằm khuyến khích khách hàng dùng thử sản phẩm
với thông điệp quảng cáo hay các câu hỏi mà dự án muốn
biết
 Quảng cáo
Quảng cáo bao gồm mọi hình thức giới thiệu một cách gián
tiế và đề cao về sản phẩm của dự án được thực hiện theo yêu
cầu của chủ thể quảng cáo. Thông qua quảng cáo,sản phẩm
của dự án cũng như uy tín của doanh nghiệp được chuyển tải
trên các phương tiện truyền tin quảng cáo đến khách hàng
tương lai
 Quảng cáo trên các báo,tạp chí

Quảng cáo trên báo có ưu điểm là dễ sử dụng,có
tính kịp thời,được phổ biến và được chấp nhận
rộng rãi,độ tin cậy cao,tuy nhiên thường trong thời
gian ngắn hạn,số lượng độc giả hạn chế

20

Quảng cáo trên tạp chí có ưu điểm là độ lựa chọn
cao,có uy tín,quan hệ với người đọc lâu dài.
Nhược điểm là thời gian chờ đợi lâu,phát hành với
số lượng nhiều có thể gây lãng phí

 Quảng cáo phổ biến trên các hình thức thông tin
đạichúng,phát thanh truyền hình
– Quảng cáo trên tivi: thông dụng,khai thác được
các lợi thế âm thanh,ngôn ngữ,hình ảnh,màu sắc.
đối tượng khán giả rộng,nhiều tầng lớp xã hội,khả
năng truyền thông nhanh,dễ tạo nên sự chú ý. Tuy
nhiên thời gian có hạn,chi phí cao,khán giả ít chọn
lọc
– Quảng cáo trển radio:ưu điểm là người nghe
nhiều,chi phí thấp,linh hoạt về địa lý. Nhược điểm
là giới thiệu sản phẩm bằng âm thanh,khả năng
gây chú ý thấ,thời gian phát ngắn
– Quảng cáo trên internet: khá phổ biến hiện nay,các
sản phẩm của dự án được truyền tải trên
mạng,đem đến cho người truy cập những thông tin
cần thiết về sản phẩm,tuy nhiên nhược điểm là số
lượng người truy cập hạn chế,có thể bị nhiễu
thông tin

21

 Hội nghị khách hàng,hội chợ hay triển lãm thương mại
– Các hội nghị khách hàng hay các cuộc hội
thảochuyên đề nhằm giúp cho dự án nhanh chóng
nắm bắt được những thông tin của công chúng và
khách hàng,tiếp cận họ trực tiếp và tìm hiểu cặn
kẽ nhu cầu,thị hiếu để từ đó có những biện pháp
thích hợp trong hoạt động sx,tiêu thụ…
– Hội chợ,triển lãm giúp dự án giới thiệu sản
phẩm,thương hiệu cũng như uy tín của mình với
khách hàng và công chúng,góp phần khuyếchs
trương sản phẩm,tăng cường tiêu thụ sản phẩm
của dự án
6.2.3. Lựa chọn các phương thức linh hoạt để đẩy mạnh sức
mua
Phiếu thưởng là giấy chứng nhận cho khách hàng được giảm một
khoản nhất định khi mua sản phẩm của dự án. phương tiện này có
thể tác động nhanh và trực tiếp đến khách hàng,khuyến khích họ sử
dụng sản phẩm của dự án hay thích ứng với nhãn hiệu mới
Gói hàng chung là gói hàng mà dự án giới thiệu một số sản phẩm
hàng hóa nhất định,được bán với giá hạ. ví dụ một gói hàng với 4
loại hàng hóa hoặc 4 đơn vị hàng hóa song giá bán chỉ bằng 2 loại

22

hay 2đơn vị…sử dụng phương tiện này góp phần kích thích bán
hàng trong ngắn hạn
Quà tặng là hàng được cho không hoặc được tính với giá rất thấp.
quà tặng thường được phân phối cùng với việc mua hàng hoặc có
thể gói chung với hàng

Ngoài các phương thức trên còn có thể thực hiện hình thức giảm
giá khi mua hàng,hàng miễn phí(dành cho các nhà buôn khi họ
mua hàng với một khối lượng nhất định)
Nôi dung của chương trình khuyến mại
Đối tượng tham gia: đối tượng tham gia là ai,tất cả mọi người hay
chỉ một người. cần có các quy định cụ thể về đối tượng tham gia
Mức độ tác động: cần nêu rõ mức độ tác động trực tiếp ở mức
nào,mạnh hay yếu để từ đó lựa chọn được phương tiên khuyến mại
thích hợp. mức độ tác động này có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng
tiêu dùng. Nếu nhu cầu tiêu dùng giảm thì cần phải tác động nhiều
hơn,tuy nhiên tùy theo từng loại sản phẩm trong không gian và
thời gian cụ thể mà xác đinh mức độ tác động như thế nào
Phương tiện khuyến mại: lựa chọn phương tiện phù hợp với
chủng loại sản phẩm,khả năng và điều kiện của mình. Sau khi lựa
chọn được cần phải làm rõ sẽ sử dụng phương tiện này như thế nào
và cơ chế sử dụng

23

Thời gian cho chương trình khuyến mãi: thời gian này bao gồm
thời gian cụ thể để thực hiện chương trình và khoảng thời gian kéo
dài của chương trình. Thời điểm bắt đầu thực hiện chương trình
phụ thuộc vào đặc điểm của sản phẩm,thị trường,khă năng,điều
kiện cụ thể của dự án…Khoảng thời gian kéo dài của chương trình
cần được xác định cho thích hợp,không quá ngắn nhưng cũng
không quá dài
Ngân sách cho chương trình: tùy theo điều kiện,khả năng cúng
như mực tiêu chiến lược về marketing của dự án,ngân sách dành
cho chương trình có thể được xem xét theo nhiệm vụ hoàn thành

hoặc một tỷ lệ % trong ngân sách marketing
Tài liệu của chương trình: sau khi lựa chọn được phương tiện
khuyến mại phù hợp,trong chương trình cần nêu rõ cách thức công
bố chương trình và tuyên truyền như thế nào?cách thức phát tài
liệu cho người tham gia?
6.2.4. Tổ chức mạng lưới tiêu thụ sản phẩm
Việc tổ chức mạng lưới tiêu thụ sản phẩm của dự án là xác lập
kênh phân phối sản phẩm của dự án hay nói rộng hơn là cần xác
định các phương án tiêu thụ sản phẩm như:bán trực tiếp,qua đại
lý,theo hợp đồng dài hạn bao tiêu
Xác lập kênh phân phối của dự án là xác định một tập hợp các
thành viên độc lập và phụ thuộc lẫn nhau cùng tham gia vào quá

24

trình đa sản phẩm của dự án từ người sản xuất đến người tiêu
dùng. Kênh phân phối nhằm xây dựng một nhóm các tổ chức và cá
nhân thực hiện các hoạt động làm cho sản phẩm của dự án sẵn
sàng phục vụ người tiêu dùng hoặc người sử dụng
Trong quá trình xây dựng mạng lưới tiêu thụ sản phẩm của dự án
cần xem xét đến các trung gian trong mạng lưới đó. Bao gồm:
 Nhà bán buôn: là những trung gian bán sản phẩm của dự án
cho các trung gian khác,cho nhà bán lẻ hoặc những nhà sử
dụng công nghiệp
 Nhà bán lẻ: là những người trung gian bán sản phẩm của dự
án trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng
 Đại lý và môi giới: là những nhà trung gian có quyền hành
động hợp pháp thay mặt cho nhà sản xuất
 Nhà phân phối: là những trung gian thực hiện chức năng

phân phối
7. Nghiên cứu khả năng cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường
của dự án
7.1. khả năng cạnh tranh và các tiêu chí đánh giá khả năng
cạnh tranh của sản phẩm của dự án
7.1.1 Khả năng cạnh tranh

25

sở hữu đoạn thị trường đó. Để triển khai được mục tiêutrên, nghiên cứu thị trường gồm có những nôi dung sau : 1.2  Phân tích và nhìn nhận thị trường toàn diện và tổng thể  Phân đoạn thị trường và xác lập thị trường tiềm năng củadự án  Xác định mẫu sản phẩm của dự án Bất Động Sản  Dự báo cung và cầu thị trường mẫu sản phẩm của dự án Bất Động Sản trongtương lai  Lựa chọn những giải pháp tiếp thị và khuyến mại cần thiếtgiúp cho việc tiêu thụ mẫu sản phẩm hoặc triển khai những hoạtđộng dịch vụ của dự án Bất Động Sản được thuận tiện ( gồm có cả chínhsách Chi tiêu, mạng lưới hệ thống phân phối, những yếu tố về quảngcáo … )  Phân tích, nhìn nhận năng lực cạnh tranh đối đầu và sở hữu thịtrường về mẫu sản phẩm của dự ánVai trò của nghiên cứu thị trườngNghiên cứu thị trường có vai trò quan trọng và ý nghĩa hết sứcto lớn. Nghiên cứu thị trường được cho phép người soạn thảo phântích nhìn nhận cung và cầu thị trường ở hiện tại và dự báo cung cầuthị trường trong tương lai về loại mẫu sản phẩm của dự án Bất Động Sản. Kết quảnghiên cứu thị trường được cho phép người soạn thảo đi đến quyếtđịnh có nên góp vốn đầu tư hay không và xác lập quy mô góp vốn đầu tư hài hòa và hợp lý, bời vì dự án Bất Động Sản chỉ được đồng ý khi đạt được hiệu suất cao ( kinh tếvà xã hội ). 1.3. Yêu cầu của nghiên cứu thị trườngĐể nghiên cứu thị trường cho tác dụng đúng chuẩn ship hàng choviệc xác lập thị trường và quy mô dự án Bất Động Sản, nghiên cứu thị trườngcần bảo vệ những nhu yếu sau : – Thu thập rất đầy đủ những thông tin thiết yếu cho nghiên cứu thịtrường tiêu thụ mẫu sản phẩm của dự án Bất Động Sản. – tin tức phải bảo vệ đúng chuẩn và đáng tin cậy. – Sử dụng những giải pháp nghiên cứu và phân tích tương thích như : Trườnghợp thiếu thông tin, hoặc thông tin không đủ độ an toàn và đáng tin cậy thìtùy vào mức độ thiếu thông tin hoàn toàn có thể sử dụng những phươngpháp khác nhau để Dự kiến như ngoại suy từ những trường hợptương tự, từ tình hình của quá khứ, sử dụng những thông tingián tiếp có tương quan, tổ chức triển khai tìm hiểu phỏng vấn, hoặc lấymẫu nghiên cứu và phân tích để bổ trợ. Các tài liệu thông tin thiết yếu để nghiên cứu cầu thị trường sảnphẩm trong tương lai cần phải gồm có : • Các dữ kiện về kinh tế tài chính tổng thể và toàn diện : – Tổng sản lượng, tổng sản phẩm quốc nội, vận tốc tăngtrưởng. – Thu nhập mái ấm gia đình và thu nhập trung bình đầu người. – Biểu đồ phân phối thu nhập. – Phân phối thu nhập trung bình từng địa phương. – Dân số : phân bổ dân cư theo khu vực, tốc đọ tăng dân số. Cơ cấu sản xuất của nền kinh tế tài chính. Cơ cấu nhân lực theo ngành nghề. Các chỉ số Ngân sách chi tiêu tiền tệ, những tài liệu về ngân sách. Tình hình xuất nhập khẩu, dự trữ ngoại tệ. Các kế hoạch định hướng lớn về tăng trưởng kinh tế tài chính – xã hộicủa đát nước. • Các tài liệu thông tin về thị trường mẫu sản phẩm : – Khối lượng sản xuất, xuất hoặc nhập khẩu mẫu sản phẩm trongkhoảng 5 đến 10 năm. – Giá cả mẫu sản phẩm theo thời hạn, biểu thuế của loại sản phẩm, sự độc lạ về giá thành giữa những mẫu sản phẩm cùng loại nhưngdo những nhà phân phối khác nhau làm ra. – Sự biến động cảu thị trường những mẫu sản phẩm bổ trợ và cạnhtranh. • Các tài liệu khác của nền kinh tế tài chính đói với từng loại mẫu sản phẩm. 2. Phân tích và nhìn nhận khái quát thị trường. 2.1. Phân tích cung và cầu thị trường về loại sản phẩm của dự án Bất Động Sản ởhiện tại : Để có cái nhìn tổng quan về thị trường, thứ nhất phải phân tíchtình hình cung và cầu ở hiện tại. để xác lập mức tiêu thụ của thịtrường tổng thể và toàn diện, cần xác lập những tài liệu thống kê sau : – Số lượng doanh nghiệp do những doanh nghiệp trong nướcsản xuất và đáp ứng cho thị trường – Khối lượng nhập khẩu hàng năm của mẫu sản phẩm đó – Mức tồn dư cuối năm của mẫu sản phẩm ( tách riêng trong nước vànhập khẩu ) – Giá cả mẫu sản phẩm. Bên cạnh việc nghiên cứu cầu hiện tại thì việc xác lập tổngkhối lượng đáp ứng hiện tại và số lượng loại sản phẩm đáp ứng từcác nguồn. vì việc nghiên cứu tổng khối lượng đáp ứng hiệntại và số lượng loại sản phẩm từ những nguồn cung ứng cho chủ đầu tưbiết những khoảng trống thị trường và để làm địa thế căn cứ, cơ sở choviệc nghiên cứu, dự báo tổng khối lượng và nguồn đáp ứng cácsản phẩm của dự án Bất Động Sản tương lai2. 2X ác định loại thị trường và loại mẫu sản phẩm của dự án Bất Động Sản : Để làm rõ những đối tượng người dùng tiêu thụ loại sản phẩm của dự án Bất Động Sản là nhưthế nào và mẫu sản phẩm của dự án Bất Động Sản thuộc loại gì. Theo phương diệnkinh tế, hoàn toàn có thể chia loại sản phẩm theo 2 tiêu thức : • Theo loại thị trường, gồm có – Thị trường trong nước – Thị trường quốc tế • Theo loại mẫu sản phẩm, gồm : – Các loại loại sản phẩm thô : xi-măng, sắt thép, phân bón, lúagạo, tài nguyên … – Các loại sản phẩm có tính năng tựa như nhưng khác nhau vềmẫu mã, về thị hiếu như : xe hơi, máy móc, mẫu sản phẩm côngnghệ tiêu dùng – Các mẫu sản phẩm không luân chuyển được : nhà đất, côngtrình kiến trúc. 3. Phân đoạn thị trường và xác lập thị trường mục tiêu3. 1. Phân đoạn thị trường : phân loại thị trường thành những đoạnnhỏ mà ở đó người mua sẽ có sự giống nhau về nhu yếu hoặc ướcmuốn và có phản ứng giống nhau trước cùng 1 kích thíchmarketing. Phân đoạn thị trường giúp chủ góp vốn đầu tư xác lập nhữngđoạn thị trường hẹp và như nhau hơn so với thị trường tổng thế, qua đó lựa chọn được những đoạn thị trường mê hoặc với dự án Bất Động Sản. Yêu cầu : o Tính thống kê giám sát được : o Tính tiếp cận đượco Tính quan trọngo Tính khả thiThị trường tổng thể và toàn diện hoàn toàn có thể được phân đoạn dựa trên nhiều tiêu chíkhác nhau như : o Địa lý : miền, vùng, tỉnh, huyện, Q., xã, phường … o Dân số – xã hội : tuổi, giới tính, thu nhập, thực trạng hôn nhân gia đình, quymô mái ấm gia đình, giai tầng xã hội, tín ngưỡng, chủng tộc … o Tâm lý học : thái độ, động cơ, đậm cá tính, lối sống, thói quen … o Hành vi tiêu dùng : nguyên do mua, quyền lợi tìm kiếm, số lượng và tỷ lệtiêu dùng, tính trung thành với chủ … 3.2. Xác định thị trường tiềm năng : sau khi phân đoạn thị trường, chủ góp vốn đầu tư lựa chọn được đoạn thị trường đơn cử và mê hoặc nhấtđể tiến hành kinh doanh lựa chọn thị trường tiềm năng. Những đoạnthị trường này phải bảo vệ : quy mô đủ cho 1 dự án Bất Động Sản, hoàn toàn có thể tạo raưu thế hơn so với đối thủ cạnh tranh cạnh tranh đối đầu, tính hiệu suất cao khi góp vốn đầu tư vàothị trường này và năng lực của doanh nghiệp. những việc làm cầntiến hành : Thứ nhất, nhìn nhận những đoạn thị trường : để nhận dạng đượcmức độ mê hoặc củachúng trong việc triển khai tiềm năng của dự án Bất Động Sản. dựa trên 3 tiêuchuẩn cơ bản :  Quy mô và sự tăng trưởng : quy mô đủ lớn đề bù đắp chi phíđầu tư và marketing không riêng gì trong hiện tai mà cả trongtương lai  Sự mê hoặc của đoạn thị trường từ những sức ép hay đe dọakhác nhau : – Sự rình rập đe dọa từ việc gia nhập và rút lui : nếu sự gia nhập hoặcrút lui là quá thuận tiện thì sẽ được coi là thị trường kém hấpdẫn, vì có tính không thay đổi thấp – Sự rình rập đe dọa của những mẫu sản phẩm thay thế sửa chữa – Sự rình rập đe dọa từ người mua – Sự rình rập đe dọa từ phía người đáp ứng  Các tiềm năng và năng lực của công ty : một đoạn thị trườnghấp dẫn vẫn hoàn toàn có thể sẽ bị vô hiệu do chúng không ăn khớp vớimục tiêu lâu bền hơn và năng lực của chủ đầu tưThứ hai : Lựa chọn đoạn thị trường tiềm năng : thị trường mụctiêu là thị trường gồm có những người mua có nhu yếu mà chủ đầutư có năng lực phân phối, đồng thời hoàn toàn có thể tạo lợi thế hơn so với cácđối thủ cạnh tranh đối đầu và đạt được tiềm năng đã định. 4. Xác định loại sản phẩm cửa dự ánSau khi xác lập được thị trường tiềm năng, người soạn thảo phảixác định được mẫu sản phẩm của dự án Bất Động Sản Đó là phong cách thiết kế loại sản phẩm của dựán cung ứng nhu yếu của khách hang tiềm năng sao cho phải cónhững đặc tính độc lạ so với sản phẩm & hàng hóa của đối thủ cạnh tranh cạnh tranhtạo được hình ảnh riêng với người mua.  Giới thiệu rõ về mẫu sản phẩm : * Tên mẫu sản phẩm * Các đặc thù đa phần, những tín hiệu để phân biệt với cácsản phẩm có cùng công dụng * Tính năng và hiệu quả * Quy cách, tiêu chuẩn chất lượng * Hình thức vỏ hộp đóng gói …. Vị trí của mẫu sản phẩm trên thị trường là mức độ loại sản phẩm đượckhách hàng nhìn nhận ở tầm cỡ nào, chiếm một vị trí như vậy nàotrong tâm lý người mua. 5. Dự báo cung và cầu thị trường trong tương lai : Các nhà kinh tế tài chính cũng như những nhà quản trị doanh nghiệp luôn quantâm đến cầu về mẫu sản phẩm hay dịch vụ trong mộ thời kì nhấtđịnh, chính do nó mới chính là những nhu yếu có năng lực thanh toánhay những cá thể này sẵn sang tiêu dùng để thỏa mãn nhu cầu nhu cầucủa mình. Việc dự báo cầu loại sản phẩm của dự án Bất Động Sản trong tương lai lànhân tố quyết định hành động đến việc lựa chọn tiềm năng và quy mô sản xuấttối ưu của dự án Bất Động Sản. Vì vậy việc dự báo cầu thị trường trong tương laihết sức quan trọng. Phải thực thi theo những bước cơ bản sau • Phân tích nhìn nhận cung và cầu thị trường về loại sản phẩm của dựán ở hiện tại và trong quá khứ • Dự báo cầu mẫu sản phẩm của dự án Bất Động Sản trong tương lai • Dự báo cung loại sản phẩm của dự án Bất Động Sản trong tương lai5. 1 Phân tích nhìn nhận cung và cầu thị trường về mẫu sản phẩm của dựán ở hiện tại và trong quá khứCung cấp tình hình và số liệu cho nghiên cứu và phân tích dự báo cung và cầu sảnphẩm của dự án Bất Động Sản trong tương lai. Nội dưng nghiên cứu • Xác định mức tiêu thụ • Nguồn phân phối • Mức độ thỏa mãn nhu cầu cung và cầu thị trường về mẫu sản phẩm của dự ánNhững nội dung nghiên cứu trên được xem xét nhìn nhận ở hiện tạivà những năm quá khứ5. 2 Dự báo cầu loại sản phẩm của dự án Bất Động Sản trong tương laiĐể dự báo cầu thị trường về một loại loại sản phẩm hay dịch vụ nàođó trong tương lai, hoàn toàn có thể sử dụng rất nhiều giải pháp dựbáo, tùy thuộc vào nguồn và luồng thông tin thu được. Sau đây làmột số giải pháp thường được vận dụng : • Phương pháp ngoại suy thống kê • Mô hình hồi quy đối sánh tương quan • Hệ số co và giãn cầu • Phương pháp định mức • Phương pháp lấy quan điểm chuyên giaDự báo cầu bằng chiêu thức ngoại suy thống kêDựa trên mối quan hệ thừa kế giữa ba trạng thái của đối tương dựbáo đó chính là quá khứ hiện tại và tương lai.ba trạng thái đóchuyển tiếp liên tục cho nhau và hình thành nên quy luật phát triểncủa đối tượng người dùng. vì thế dự báo bằng giải pháp ngoại suy thốngkê là việc nghiên cứu lịch sử vẻ vang tăng trưởng của đối tượng người dùng để tìm ra tínhquy luật tăng trưởng của nó trong quá khứ, hiện tại và chuyển tínhquy luật đó sang tương lai với những điều kiện kèm theo sau : • Đối tượng dự báo phải tăng trưởng một cách ôn định theo thờigian • Những điều kiện kèm theo chung cho sự tăng trưởng của đối tượng người dùng dựbảo phải được duy trì trong tương lai • Không có những ảnh hưởng tác động gây ra những đổi khác đột biếntrong quy trình tăng trưởng của đối tượng người tiêu dùng dự báoDo có nhiều điều kiện kèm theo ràng buộc nên áp giải pháp này có thểdẫn đến hiệu quả không đúng mực ví dụ điển hình : có đột biến quantrọng trong kinh tế tài chính xã hội của vùng chủ quyền lãnh thổ mà dự án Bất Động Sản định tiêu thụsản phẩm hoặc giải pháp này không còn tương thích khi sản phẩmcủa dự án Bất Động Sản lần tiên phong Open trên thị trường hay đang còn mớiNhững bước thực thi dự báo cầu thị trường bằng phương phápngoại suy mạng lưới hệ thống : – Thu thập mức tiêu thụ loại loại sản phẩm mà dự án Bất Động Sản dự tính sảnxuất qu những năm quá khứ và hiện tại, từ đó kiến thiết xây dựng dãy sốthời gian – Xác định xu thế và quy luật tăng trưởng của đối tượngnghiên cứu – Xây dựng hàm xu thế – Ngoại suy dự báo cho những năm tương lai trên cơ sở hàmxu thế – Xác định độ đáng tin cậy của dự báo10Phương pháp này chỉ cho hiệu quả tương đối đúng mực đối vớinhững loại sản phẩm có tính không thay đổi cao và thường được vận dụng đểdự báo ngắn hạnDự báo cầu thị trường bằng quy mô hồi quy tương quanLà chiêu thức rất thông dụng dựa trên cơ sở phẩn tích mối quan hệgiữa cầu thị trường và những nhần tố ảnh hường như giá thành, dịch vụ, thu nhập của người tiêu dung, giá thành sản phẩm & hàng hóa và dịch vụ liênquan, thị hiếu của người tiêu dung … Mô hình hồi quy tương quancó 2 dạng : quy mô hồi quy đơn và quy mô hồi quy bộiCác bước triển khai – Xác định những tác nhân tác động ảnh hưởng lớn đến cầu thị trường vềsản phẩm hoặc dịch vụ của dự án Bất Động Sản ( xác lập biến số ) – Lựa chọn quy mô đối sánh tương quan ( tùy theo đặc thù, tính chấtcủa mối liên hệ đó lựa chọn quy mô hồi quy đối sánh tương quan hayxác định những tham số của quy mô ) – Kiểm định quy mô gồm tính thông số đối sánh tương quan, nhìn nhận saisố dự báo, ước đạt khoảng chừng giá trị mà dự báo hoàn toàn có thể rơi vào – Tiến hành dự báo ( nếu quy mô được đồng ý ) Nếu tiêu chuẩn kiểm định không đồng ý phải lựa chọn lại môhình và quay trở lại trong bước đầu để kiểm soát và điều chỉnh bổ trợ hoặc thay thế11Dự báo cầu thị trường bằng thông số co và giãn cầuSự ảnh hường của những tác nhân đến cầu thị trường được lượng hóathông qua thông số co và giãn của cầu theo những tác nhân tác động ảnh hưởng ( E ). Hệ số co và giãn của cầu cho biết cầu sẽ đổi khác bao nhiêu % khicó 1 % biến hóa của 1 tác nhân ( X ) nào đó trong điều kiện kèm theo những tác nhân khác không đổi. Nếu quan hệ giữa lượng cầu Q. và tác nhân ảnh hưởng tác động X được biểudiễn dưới dạng phương trình hồi quy Q = f ( x ) thì : ∆ Q ∆ Q XED = ∆ X ∆ X QTrong đóED : thông số co và giãn cầu theo tác nhân X : lượng cầu : tác nhân làm đổi khác lượng cầu ∆ Q : mức ngày càng tăng lượng cầu ∆ X : mức ngày càng tăng tác nhân XĐể triển khai dự báo cầu thị trường theo chiêu thức này cần phảitiến hành – Thu thập số liệu về cầu ( Q. ) và tác nhân ảnh hưởng tác động ( X ) theo thời hạn – Tính thông số co và giãn qua những năm trên cơ sở số liệu đã thu thậpđược12 – Xác định khuynh hướng biến hóa của thông số co và giãn trong thời kỳ dựbáo và sau đó xác lập giá trị thông số co và giãn ở năm dự báo – Dự báo cầu trên cơ sở thông số co và giãn và mức thay dổi tác nhân ( X ) đã biếtDự báo cầu thị trường bằng phương pháp định mứcCũng như nhu yếu, những định mức về tiêu dùng hoàn toàn có thể phản ánhchính xác tình hình tiêu dùng của dân cư. Các định mức tiều dùngđược xác lập dựa trên cơ sở tìm hiểu thực tiễn theo những mẫu điều trangẫu nhiên có tính đại diện thay mặt cao để hoàn toàn có thể phản ánh đúng chuẩn tìnhhình tiêu dùng của dân cư. Định mức tiêu dùng được chia thành 3 loại hầu hết sau : Định mứctiêu dùng hàng thực phẩm được tính theo đầu người, hàng có giátrị lâu bền tính theo mức bảo vệ cho 100 hoặc 1000 hộ gia đìnhvà hàng dịch vụ có loại tính theo đầu người ( khám chữa bệnh … ) có loại tính theo mức bảo vệ cho 100 hoặc 1000 hộ mái ấm gia đình ( như điện thoại thông minh cố định và thắt chặt, cáp truyền hình .. ) Chúng ta hoàn toàn có thể dự báo được lượng cầu về sản phẩm & hàng hóa và dịch vụdựa trên định mức tiêu dùng và quy mô đối tượng người dùng đã được địnhmứcLượng Cầu = Định mứctiêu dùngSố lượng đối * tượng tiêu dùng13Phương pháp dự báo cầu bằng cách lấy quan điểm chuyên giaĐây là giải pháp tích lũy và xử lí những nhìn nhận dự báo bằngcách tập hợp va hỏi quan điểm chuyên viên giỏi thuộc một nghành nghề dịch vụ hẹpcủa khoa học kĩ thuật hoặc sản xuấtTiến hành như sauB1. Lựa chọn chuyên giaLựa chọn những người có trình độ cao hiểu biết rộng từ thựctiễn cũng như lí thuyết về những yếu tố dự báo, có năng lực phân tíchvà tiên đoán tương lai, , có những quan điểm nhìn nhận không thay đổi theo thờigian và phải kiểm soát và điều chỉnh nhìn nhận của mình khi có những thông tin bổsung. Chất lượng của chuyên viên được thể hiên trải qua những tiêu chísau : Trình độ trình độ, tính phát minh sáng tạo, thái độ của chuyên viên vềcuộc trưng cầu, năng lực nghiên cứu và phân tích và bề dầy của tư duy, khả năngthiết kế của tư duy, tính tập thể và tự phê bình của chuyên viên … .. B2. Trưng cầu quan điểm chuyên viên : – Để ra trách nhiệm và nêu câu hỏi cho những chuyên viên – Đảm bảo những thông tin cho những chuyên viên – Các chuyên viên nêu những nhìn nhận, những quan điểm đề nghị14 – Thu thập hiệu quả hoạt động giải trí của những chuyên giaTrưng cầu quan điểm thực thi dười nhiều hình thức : cá thể hoặc tậpthể, trưng cầu xuất hiện hoặc vắng mặt, phỏng vấn hội thảo chiến lược, tấn côngnão …. B3. Thu thập và xử lí những nhìn nhận dự báoGiai đoạn kết thúc và rất quan trọng, nghiên cứu và phân tích về mặt lượng cáckết quả so sánh tác dụng đó với những quan điểm hiện có về vấnđề nghiên cứu và những tác dụng nhìn nhận dự báo khácPhương pháp chuyên viên được vận dụng đặc biệt quan trọng có hiệu quảtrong những trường hợp sau : • Khi đối tượng người dùng dự báo có tầm bao quát lớn, phụ thuộc vào vàonhiều yếu tố mà hiện tại cònn chưa có hoặc thiếu những cơsở lý luận chắc như đinh để xác lập • Thiếu thông tin và thống kê không khá đầy đủ, độ đáng tin cậy về đặctính của đối tượng người tiêu dùng dự báo • Trong điều kiện kèm theo có độ bất định lớn về công dụng của đốitượng dự báo ( ví dụ như : dự báo về ảnh hưởng tác động qua lại giữacác ngành khoa hcj và kỹ thuật, dự báo về mạng lưới hệ thống conngười-máy móc trong ngoài hành tinh .. ) 15 • Dự báo trung hạn hoặc dài hạn so với những ngàng côngnghiệp mới, chịu tác động ảnh hưởng bởi công nghệ tiên tiến vi sinh học điệntử mưu trí • Thiếu thời gian, thực trạng cấp báchTuy nhiên chiêu thức này bị hạn chế khi mà quan điểm cácchuyên gia không có sự giống hệt cao, thì phải triển khai lạihoặc lấy thêm quan điểm của những chuyên viên khác5. 3. Dự báo cung loại sản phẩm trong tương laiKhi đã xác lập được cầu của thị trường loại sản phẩm trong tương laithì bước tiếp theo là phải xác lập được lượng cung về hàng hóavà dịch vụ trong tương lai gồm có của cơ sở hiện có hoặc của cácdự án khác hoàn toàn có thể có trong tương laiĐể xác lập được cung về mẫu sản phẩm hoặc dịch vụ mà dự án Bất Động Sản dựđịnh phân phối cần tích lũy • Khả năng lan rộng ra sản xuất trong tương lai của những cơ sởhiện có về sản phẩm & hàng hóa, dịch vụ đang nghiên cứu ( dự trù cơ sởkhác hoàn toàn có thể có ) • Dự kiến năng lực xuất nhập khẩu sản phẩm & hàng hóa dịch vụ đó trongtương laiTùy theo khối lượng thông tin mà đưa ra những dự báo thích hợp. trêncơ sở xác lập được cầu và cung của thị trường trong tương16lai, xác lập được chênh lệch giữa cung và cầu trong tương lai sẽchi phối trực tiếp đến việc hình thành dự án Bất Động Sản và qui mô của dự án6. nghiên cứu yếu tố tiếp thị loại sản phẩm của dự ánViệc xác lập có nhu yếu của thị trường về mẫu sản phẩm của dự ánmới chỉ cho phép xử lý 1 số ít yếu tố về tiêu thụ sảnphẩm ( năng lực tiêu thụ mẫu sản phẩm ) còn làm thế nào để người tiêuthụ sử dụng loại sản phẩm của mình thay vì sử dụng mẫu sản phẩm của dựán khác lại thuộc về khâu tiếp thị mẫu sản phẩm. hoạt động giải trí tiếp thịnhằm thôi thúc hoạt động giải trí của thị trường và thỏa mãn nhu cầu nhu yếu củakhách hàng trong việc phân phối những loại sản phẩm của dự án Bất Động Sản. tiếp thị vàkhuyến mại-một bộ phận của tiếp thị có nghĩa là xác lập bằngcách nào với ngân sách bao nhiêu để hoàn toàn có thể tiêu thụ được sản phẩmcủa dự án6. 1. Nhiệm vụ của công tác làm việc tiếp thị của dự ánCông tác tiếp thị là một mạng lưới hệ thống những giải pháp được sử dụngnhằm khuyến khích, kích thích người mua mua mẫu sản phẩm của dựán. tiếp thị được xem như một trong những phương tiện đi lại để cạnhtranh trên thị trường với những doanh nghiệp khác, những dự án Bất Động Sản khác sảnxuất mẫu sản phẩm tương tựThực chất của hoạt động giải trí tiếp thị chính là sự truyền thông tin về sảnphẩm và về dự án Bất Động Sản tới người mua để thuyết phục họ mua hàng. Trong đó hoạt động giải trí khuyến mại là bộ phận chủ chốt của tiếp thị. 17K huyến mại được hiểu là những giải pháp tác động ảnh hưởng mang tính chấttức thời thời gian ngắn để khuyến khích người mua mua sản hay dịchvụ của dự án Bất Động Sản. hoạt động giải trí khuyến mại có tác động ảnh hưởng trực tiếp và tíchcực đến việc tăng doanh thu bằng những quyền lợi vật chất bổ sungcho người mua. Mục tiêu của khuyến mại đó là làm thế nào để ngườitiêu dùng sử dung mẫu sản phẩm của dự án Bất Động Sản này thay vì sử dụng sảnphẩm cung loại của dự án Bất Động Sản khácNhiệm vụ công tác làm việc tiếp thị của dự án Bất Động Sản : – Đối với người tiêu dùng :  Khuyến khích người mua tiêu dùng nhiều hơn, mua với sốlượng lớn hơn nhằm mục đích tăng nhanh nhu yếu loại sản phẩm của dựán  Tạo thêm những người mua mới – Đối với những thành viên trung gian trung gian trong khâu phânphối :  Khuyến khích những thành viên này tăng cường hoạt độngphân phối hơn, tăng nhanh những hoạt động giải trí mua và bán  Mở rộng kênh phân phối6. 2. Nội dung cần xem xét khi nghiên cứu công tác làm việc tiếp thị củadự ánKhi nghiên cứu công tác làm việc tiếp thị cần xem xét những nội dung chủ yếusau : xác lập đối tượng người dùng tiêu thụ loại sản phẩm của dự án Bất Động Sản, lựa chọn các18phương phápgiới thiệu loại sản phẩm, lựa chọn những phương pháp linhhoạt để tăng nhanh nhu cầu mua sắm và tổ chức triển khai mạng lưới tiêu thụ sản phẩm6. 2.1. Xác định đối tượng người tiêu dùng tiêu thụ loại sản phẩm của dự ánViệc xác lập đối tượng người dùng của dự án Bất Động Sản cần phải xem xét đến đặc tínhcủa đối tượng người tiêu dùng, khu vực phân phối, những nhu yếu và thị hiếu của đốitượng tiêu thụ so với mẫu sản phẩm. thường thì, nếu mẫu sản phẩm thuộcloại thô thì yếu tố quan trọng nhất là Ngân sách chi tiêu và chất lượng có đạtđược nhu yếu của quốc tế hay không. Trong trường hợp nếu sốlượng tiêu thụ nhỏ, việc khảo sát những nhu yếu của người mua cóthể thực thi bằng những giải pháp chào hàng trực tiếp và tiếp xúctrực tiếp để từ đó kí kết hợp đồng. so với những loại loại sản phẩm cótính năng tựa như thì có nhiều phức tạp hơn và yên cầu phải cóchương trình nghiên cứu kĩ càng hơn gồm có những phương phápđiều tra chọn mẫu nhu yếu của từng thành phần đối tượng người tiêu dùng, từ đó rútra những tính năng thiết yếu của mẫu sản phẩm phải có để được đối tượngchấp nhận6. 2.2. Lựa chọn những giải pháp trình làng loại sản phẩm  Tiếp xúc trực tiếp bằng thư từ, gửi mẫu … – Giúp cho người mua có được những thông tin trực tiêp vềsản phẩm, trải qua đó giới thiêu đến người mua và côngchúng về loại sản phẩm, dự án Bất Động Sản, giúp họ có những quan điểm, quan điểmcụ thể về loại sản phẩm. từ đó dự án Bất Động Sản hoàn toàn có thể xem xét hoặc điều19chỉnh cho tương thích với nhu yếu của người mua, tuy nhiênnhững kiểm soát và điều chỉnh này chỉ mang đặc thù nhỏ, biến hóa chútít, không đáng kể. điểm yếu kém của chiêu thức này là tốnkém và tiêu tốn lãng phí thời hạn – Hàng mẫu có thê không lấy phí hoặc với giá rất thấp, thông quabưu điện, phân phối tại shop hoặc qua đội ngũ nhân viêntiếp thị nhằm mục đích khuyến khích người mua dùng thử sản phẩmvới thông điệp quảng cáo hay những câu hỏi mà dự án Bất Động Sản muốnbiết  Quảng cáoQuảng cáo gồm có mọi hình thức trình làng một cách giántiế và tôn vinh về mẫu sản phẩm của dự án Bất Động Sản được thực thi theo yêucầu của chủ thể quảng cáo. Thông qua quảng cáo, sản phẩmcủa dự án Bất Động Sản cũng như uy tín của doanh nghiệp được chuyển tảitrên những phương tiện đi lại truyền tin quảng cáo đến khách hàngtương lai  Quảng cáo trên những báo, tạp chíQuảng cáo trên báo có ưu điểm là dễ sử dụng, cótính kịp thời, được thông dụng và được chấp nhậnrộng rãi, độ an toàn và đáng tin cậy cao, tuy nhiên thường trong thờigian thời gian ngắn, số lượng fan hâm mộ hạn chế20Quảng cáo trên tạp chí có ưu điểm là độ lựa chọncao, có uy tín, quan hệ với người đọc lâu bền hơn. Nhược điểm là thời hạn chờ đón lâu, phát hành vớisố lượng nhiều hoàn toàn có thể gây tiêu tốn lãng phí  Quảng cáo phổ cập trên những hình thức thông tinđạichúng, phát thanh truyền hình – Quảng cáo trên tivi : thông dụng, khai thác đượccác lợi thế âm thanh, ngôn từ, hình ảnh, sắc tố. đối tượng người dùng người theo dõi rộng, nhiều những tầng lớp xã hội, khảnăng truyền thông online nhanh, dễ tạo nên sự quan tâm. Tuynhiên thời hạn hạn chế, ngân sách cao, người theo dõi ít chọnlọc – Quảng cáo trển radio : ưu điểm là người nghenhiều, ngân sách thấp, linh động về địa lý. Nhược điểmlà ra mắt loại sản phẩm bằng âm thanh, khả nănggây quan tâm thấ, thời hạn phát ngắn – Quảng cáo trên internet : khá thông dụng lúc bấy giờ, cácsản phẩm của dự án Bất Động Sản được truyền tải trênmạng, đem đến cho người truy vấn những thông tincần thiết về loại sản phẩm, tuy nhiên điểm yếu kém là sốlượng người truy vấn hạn chế, hoàn toàn có thể bị nhiễuthông tin21  Hội nghị người mua, hội chợ hay triển lãm thương mại – Các hội nghị người mua hay những cuộc hộithảochuyên đề nhằm mục đích giúp cho dự án Bất Động Sản nhanh chóngnắm bắt được những thông tin của công chúng vàkhách hàng, tiếp cận họ trực tiếp và khám phá cặnkẽ nhu yếu, thị hiếu để từ đó có những biện phápthích hợp trong hoạt động giải trí sx, tiêu thụ … – Hội chợ, triển lãm giúp dự án Bất Động Sản trình làng sảnphẩm, tên thương hiệu cũng như uy tín của mình vớikhách hàng và công chúng, góp thêm phần khuyếchstrương mẫu sản phẩm, tăng cường tiêu thụ sản phẩmcủa dự án6. 2.3. Lựa chọn những phương pháp linh động để tăng cường sứcmuaPhiếu thưởng là giấy ghi nhận cho người mua được giảm mộtkhoản nhất định khi mua loại sản phẩm của dự án Bất Động Sản. phương tiện đi lại này cóthể tác động ảnh hưởng nhanh và trực tiếp đến người mua, khuyến khích họ sửdụng mẫu sản phẩm của dự án Bất Động Sản hay thích ứng với thương hiệu mớiGói hàng chung là gói hàng mà dự án Bất Động Sản trình làng 1 số ít sản phẩmhàng hóa nhất định, được bán với giá hạ. ví dụ một gói hàng với 4 loại sản phẩm & hàng hóa hoặc 4 đơn vị chức năng sản phẩm & hàng hóa tuy nhiên giá bán chỉ bằng 2 loại22hay 2 đơn vị chức năng … sử dụng phương tiện đi lại này góp thêm phần kích thích bánhàng trong ngắn hạnQuà Tặng là hàng được cho không hoặc được tính với giá rất thấp. quà khuyến mãi ngay thường được phân phối cùng với việc mua hàng hoặc cóthể gói chung với hàngNgoài những phương pháp trên còn hoàn toàn có thể triển khai hình thức giảmgiá khi mua hàng, hàng không lấy phí ( dành cho những nhà buôn khi họmua hàng với một khối lượng nhất định ) Nôi dung của chương trình khuyến mạiĐối tượng tham gia : đối tượng người tiêu dùng tham gia là ai, tổng thể mọi người haychỉ một người. cần có những lao lý đơn cử về đối tượng người dùng tham giaMức độ ảnh hưởng tác động : cần nêu rõ mức độ ảnh hưởng tác động trực tiếp ở mứcnào, mạnh hay yếu để từ đó lựa chọn được phương tiên khuyến mạithích hợp. mức độ ảnh hưởng tác động này có tác động ảnh hưởng rất lớn đến khả năngtiêu dùng. Nếu nhu yếu tiêu dùng giảm thì cần phải ảnh hưởng tác động nhiềuhơn, tuy nhiên tùy theo từng loại loại sản phẩm trong khoảng trống vàthời gian đơn cử mà xác đinh mức độ tác động ảnh hưởng như vậy nàoPhương tiện khuyến mại : lựa chọn phương tiện đi lại tương thích vớichủng loại loại sản phẩm, năng lực và điều kiện kèm theo của mình. Sau khi lựachọn được cần phải làm rõ sẽ sử dụng phương tiện đi lại này như thế nàovà chính sách sử dụng23Thời gian cho chương trình khuyễn mãi thêm : thời hạn này bao gồmthời gian đơn cử để thực thi chương trình và khoảng chừng thời hạn kéodài của chương trình. Thời điểm khởi đầu triển khai chương trìnhphụ thuộc vào đặc thù của mẫu sản phẩm, thị trường, khă năng, điềukiện đơn cử của dự án Bất Động Sản … Khoảng thời hạn lê dài của chương trìnhcần được xác lập cho thích hợp, không quá ngắn nhưng cũngkhông quá dàiNgân sách cho chương trình : tùy theo điều kiện kèm theo, năng lực cúngnhư mực tiêu kế hoạch về marketing của dự án Bất Động Sản, ngân sách dànhcho chương trình hoàn toàn có thể được xem xét theo trách nhiệm hoàn thànhhoặc một tỷ suất % trong ngân sách marketingTài liệu của chương trình : sau khi lựa chọn được phương tiệnkhuyến mại tương thích, trong chương trình cần nêu rõ phương pháp côngbố chương trình và tuyên truyền như thế nào ? phương pháp phát tàiliệu cho người tham gia ? 6.2.4. Tổ chức mạng lưới tiêu thụ sản phẩmViệc tổ chức triển khai mạng lưới tiêu thụ mẫu sản phẩm của dự án Bất Động Sản là xác lậpkênh phân phối mẫu sản phẩm của dự án Bất Động Sản hay nói rộng hơn là cần xácđịnh những giải pháp tiêu thụ loại sản phẩm như : bán trực tiếp, qua đạilý, theo hợp đồng dài hạn bao tiêuXác lập kênh phân phối của dự án Bất Động Sản là xác lập một tập hợp cácthành viên độc lập và nhờ vào lẫn nhau cùng tham gia vào quá24trình đa loại sản phẩm của dự án Bất Động Sản từ người sản xuất đến người tiêudùng. Kênh phân phối nhằm mục đích kiến thiết xây dựng một nhóm những tổ chức triển khai và cánhân triển khai những hoạt động giải trí làm cho loại sản phẩm của dự án Bất Động Sản sẵnsàng ship hàng người tiêu dùng hoặc người sử dụngTrong quy trình kiến thiết xây dựng mạng lưới tiêu thụ loại sản phẩm của dự áncần xem xét đến những trung gian trong mạng lưới đó. Bao gồm :  Nhà bán sỉ : là những trung gian bán loại sản phẩm của dự áncho những trung gian khác, cho nhà kinh doanh nhỏ hoặc những nhà sửdụng công nghiệp  Nhà kinh doanh nhỏ : là những người trung gian bán mẫu sản phẩm của dựán trực tiếp cho người tiêu dùng ở đầu cuối  Đại lý và môi giới : là những nhà trung gian có quyền hànhđộng hợp pháp đại diện thay mặt cho đơn vị sản xuất  Nhà phân phối : là những trung gian triển khai chức năngphân phối7. Nghiên cứu năng lực cạnh tranh đối đầu và sở hữu thị trườngcủa dự án7. 1. năng lực cạnh tranh đối đầu và những tiêu chuẩn nhìn nhận khả năngcạnh tranh của loại sản phẩm của dự án7. 1.1 Khả năng cạnh tranh25