12 CÂU HỎI VÀ ĐÁP ÁN VỀ VĂN BẢN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CHO KÌ THI CHUYÊN VIÊN CHÍNH , – Tài liệu text

12 CÂU HỎI VÀ ĐÁP ÁN VỀ VĂN BẢN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CHO KÌ THI CHUYÊN VIÊN CHÍNH, THANH TRA VIÊN CHÍNH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (221.5 KB, 35 trang )

VĂN BẢN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
PHẦN I.
Câu 1. Hãy chứng minh rằng đặc điểm của văn bản quản lí nhà nước là “thể
thức văn bản phải theo đúng quy định của luật pháp và được cơ quan chức
năng có thẩm quyền hướng dẫn thống nhất”. Lấy ví dụ minh họa bằng một
văn bản quản lí nhà nước.
Đáp án:
a. Nêu khái niệm văn bản quản lý Nhà nước: Văn bản quản lý nhà nước là
những quyết đinh và thông tin quản lý thành văn (được văn bản hoá) do các cơ
quan quản lý nhà nước soạn thảo, ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thể
thức nhất định phục vụ mục tiêu hoạt động của các cơ quan, đặc biệt là nhiệm vụ
điều chỉnh các mối mối quan hệ xã hội, quan hệ pháp lý trong quản lý nhà nước,
quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau hoặc giữa các cơ quan nhà nước với tổ
chức và công dân.
Hay nói cách khác: Văn bản quản lý nhà nước là những thông tin quản lý
thành văn (được văn bản hoá) do các chủ thể là cơ quan quản lý nhà nước, cán bộ,
công chức ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục và thể thức nhất định để thực
hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, quan hệ
pháp lý trong quản lý nhà nước, quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau hoặc
vói các tố chức và công dân.
Thẩm quyền nói chung và thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật nói
riêng gắn với một chủ thể và địa vị pháp lý của chủ thể đó. Thẩm quyền (quyền hạn
và nghĩa vụ) của chủ thể được xem xét trên 3 phương diện:
Một là, chủ thể đó là ai (từ việc thành lập đến hoạt động theo yêu cầu của
pháp luật (Hiến pháp hay luật hoặc các quy định khác)?
Hai là, hoạt động của chủ thể đó ở phạm vi nào (ngành, lĩnh vực hay ở tất cả
mặt, các phương diện của đời sống xã hội)?
Ba là, trách nhiệm trước pháp luật (hoặc với các chủ thể khác) như thế nào?
b. Chứng minh đặc điểm của văn bản quản lý nhà nước
Khi nói đến văn bản quản lý nhà nước là nói đến loại văn bản của tổ chức đặc
biệt trong xã hội, đó là Nhà nước. Tính đặc biệt của văn bản quản lý nhà nước thể

hiện ở những đặc điểm sau:
Về chủ thể ban hành: văn bản quản lý nhà nước do các cơ quan Nhà nước,
người có thẩm quyền soạn thảo và ban hành. Chỉ có những văn bản do người đúng
thẩm quyền ban hành mới có ý nghĩa pháp lý.
Không phải chủ thể nào cũng được ban hành mọi loại văn bản quản lý mà chỉ
được ban hành những loại văn bản nhất định trong phạm vi thẩm quyền để thực
hiện chức năng nhiệm vụ của mình.

1

Ví dụ: các cơ quan thuộc Chính phủ không có quyền ban hành văn bản quy
phạm pháp luật. Tổng cục, Cục, Vụ thuộc Bộ không có quyền ban hành Thông tư
mà chỉ có Bộ chủ quản mới có quyền đó.
+ Về mục đích ban hành: văn bản quản lý nhà nước được ban hành nhằm
mục đích thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của Nhà nước.
+ Đối tượng áp dụng: Văn bản quản lý Nhà nước mang tính công quyền,
được ban hành để tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, là cơ sở pháp lý quan
trọng cho các hoạt động cụ thể của các cơ quan, tổ chức, cá nhân.
+ Về trình tự ban hành, hình thức văn bản: Văn bản quản lý nhà nước đòi
hỏi phải được xây dựng, ban hành theo thủ tục pháp luật quy định và được trình
bày theo hình thức luật định. Mỗi loại văn bản thường được sử dụng trong những
trường hợp nhất định và có cách thức trình bày riêng. Sử dụng đúng hình thức văn
bản sẽ góp phần tạo ra sự thống nhất cả về nội dung và hình thức của hệ thống văn
bản, tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu, sử dụng thực hiện văn bản.
+ Về bảo đảm thi hành.
Văn bản nhà nước mang tính quyền lực Nhà nước, bắt buộc các chủ thể khác
phải thực hiện và được đảm bảo thực hiện bởi Nhà nước như hoạt động tổ chức
trực tiếp hoặc cưỡng chế.
+ Về văn phong.

Văn bản quản lý nhà nước nhằm mục đích truyền đạt thông tin, mệnh lệnh từ
chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý một cách đầy đủ, chính xác nhất. Nó không
cần biểu cảm nên mang đặc trưng văn phong riêng, khác với văn phong nghệ thuật.
Văn bản quản lý nhà nước thường mang tính phổ quát, đại chúng và không cần quá
chi tiết như văn bản khoa học.
– Thể thức văn bản phải theo đúng qui định pháp luật:
+ Nội dung chế định pháp luật được thể hiện trong văn bản nên thể thức văn
bản phải bảo đảm tính pháp lý cao.
+ Văn bản là phương tiện chứa đựng quyết định của chủ thể là nhà nước nên thể
thực văn bản phải thể hiện được quan hệ pháp lý giữa chủ thể và đối tượng.
+ Văn bản quản lý nhà nước được đảm bảo thực hiện bằng nhà nước, nên thể
thức văn bản phải thể hiện được tư cách pháp nhân công quyền của chủ thể.
+ Văn bản quản lý nhà nước được tất cả các đối tượng thực hiện nên văn bản
phải được pháp luật quy định thống nhất về thể thức.
– Thể thức văn bản được cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn thống nhất (5 đ)
Tùy theo tính chất của văn bản mà việc hướng dẫn thực hiện thể thức văn bản
thuộc thẩm quyền của cơ quan nào: Là văn bản qui phạm pháp luật do chủ thể hành
chính ban hành do Bộ thư pháp hướng dẫn theo Thông tư 25/2011/TT- BTP; nếu là
văn bản hành chính sẽ thực hiện theo hướng dẫn của Thông tư 01/2011/TT-BNV
– Văn bản QPPL có tính mệnh lệnh cưỡng chế thi hành. Mọi đối tượng có
trách nhiệm thi hành, nếu không thi hành thì nhà nước có biện pháp cưỡng chế như
2

xử phạt bằng các hình thức cho dù văn bản đó có thể không có tính khả thi nhưng
vẫn phải thực hiện… do đó nó chỉ có tính một chiều, bắt buộc.
– Có hiệu lực thường xuyên và tương đối lâu dài (KN tương đối lâu dài còn
tuỳ thuộc vào nội dung hợp lý hay không hợp lý, nội dung đề cập rộng hay hẹp mà
thời gian có thể dài hay ngắn; có quy phạm khi ban hành ra tới khi có hiệu lực phải
qua một thời gian, do đó nếu thời gian tồn tại ngắn thì nó ảnh hưởng đến việc điều

chỉnh XH). Văn bản luôn luôn được áp dụng cho nhiều người, nhiều đối tượng khác
nhau, luôn luôn điều chỉnh mối quan hệ XH mà nó đề cập, chỉ khi nào có văn bản
khác thay thế.
– Văn bản QPPL có đối tượng thi hành rộng (thông thường thì văn bản không
chỉ áp dụng đối với 1 đối tượng, mà là tác động tới 1 nhóm đối tượng). Mọi cá
nhân, cơ quan chịu sự tác động của văn bản phải có trách nhiệm thi hành.
a. Lấy ví dụ minh họa bằng một quyết định thành văn cụ thể

BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
VIỆT NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Số:337/QĐ-BKH

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2007

QUYẾT ĐỊNH
Về việc ban hành Quy định nội dung Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam

BỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
Căn cứ Nghị định số 61/2003/NĐ-CP ngày 06 tháng 06 năm 2003 của Chính
phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Kế hoạch
và Đầu tư;
Căn cứ Nghị định số 01/NĐ-CP ngày 04 tháng 01 năm 2007 của Chính phủ
về việc chuyển Tổng cục Thống kê vào Bộ Kế hoạch và đầu tư;
Căn cứ Quyết định số 10/2007/QĐ-TTG ngày 23 tháng 01 năm 2007 của thủ
tướng chính phủ ban hành Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam;
Xét đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê,

QUYẾT ĐỊNH

3

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Qui định nội dung Hệ thống ngành
kinh tề của Việt Nam đã được ban hành theo Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg của
Thủ tướng Chính Phủ.
Điều 2. Giao Tổng cục thống kê phối hợp vói các đơn vị có liên quan:
Hướng dẫn các Bộ, ngành, cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện theo đúng
Quy định nội dung Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam;
Theo dõi tình hình thực hiện, trình Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư sửa đổi,
bổ sung quy định nội dung Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam khi cần thiết.
Điều 3. Các Ông Tổng cục trưởng Tổng cục thống kê, Chánh văn phòng Bộ,
Thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ Kế Hoạch và Đầu tư chịu trách nhiệm thi hành
Quyết định này.
BỘ TRƯỞNG
Đã ký
Võ Hồng Phúc
Câu 2. Theo Anh (Chị), để văn bản quản lý nhà nước thực hiện được chức
năng pháp lý thì cần phải bảo đảm những điều kiện nào? Phân tích để làm rõ
những điều kiện đó và minh họa bằng một văn bản quản lý nhà nước cụ thể?
Đáp án: (Đề 5-Tuấn Anh)
Khái niệm văn bản quản lý nhà nước
Văn bản quản lý nhà nước là những quyết định và thông tin quản lý thành
văn (được văn bản hóa) do các cơ quan quản lý nhà nước soạn thảo, ban hành theo
thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thể thức nhất định phục vụ mục tiêu hoạt động của
các cơ quan, đặc biệt là nhiệm vụ điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, quan hệ pháp
lý trong quản lý nhà nước, quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau hoặc giữa
các cơ quan nhà nước với tổ chức và công dân.

Như vậy, có thể thấy rằng, văn bản quản lý nhà nước hình thành trong quá
trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ mà các cơ quan nhà nước là chủ thể ban hành.
Chức năng pháp lý của văn bản quản lý nhà nước được thể hiện ở những
phương diện dưới đây:
Ghi lại các quy phạm pháp luật và các quan hệ pháp lý tồn tại trong xã hội do
pháp luật điều chỉnh. Khi đã sử dụng hình thức văn bản để ghi lại và truyển tải
quyết định và thông tin quản lý, cơ quan nhà nước đã sử dụng thẩm quyền trong đó.
Mệnh lệnh chứa trong văn bản có giá trị pháp lý bắt buộc mọi người phải tuân theo.
Bản thân văn bản là chỗ dựa pháp lý, khung pháp lý ràng buộc mọi mối quan hệ,
dựa vào đó để tổ chức hoạt động của cơ quan, cá nhân, tổ chức.
– Quy phạm hóa các mối quan hệ xã hội đang tồn tại trong các lĩnh vực của đời
sống xã hội;
– Là cơ sở pháp lý cho hoạt động của các cơ quan, tổ chức. Văn bản là cơ sở
xây dựng hệ thống pháp luật, tạo ra hành lang pháp lý cho hoạt động của các cơ
quan tổ chức;

4

– Là sản phẩm của sự vận dụng các quy phạm pháp luật vào đời sống thực tế,
vào quản lý nhà nước và quản lý xã hội; phản ánh quá trình giải quyết các công
việc theo quy định pháp luật hiện hành;
– Là cơ sở để cơ quan, tổ chức, công dân thực hiện các quyền và nghĩa vụ của
mình.
– Là cầu nối tạo ra các mối quan hệ giữa các tổ chức, cơ quan. Văn bản và các
hệ thống văn bản quản lý giúp xác định các quan hệ pháp lý giữa các cơ quan quản
lý và bị quản lý, tạo nên sự ràng buộc trách nhiệm giữa các cơ quan, cá nhân có
quan hệ trao đổi văn bản, theo phạm vi hoạt động của mình và quyền hạn được
giao.
Ví dụ: quan hệ giữa Bộ với các sở, ban, ngành…; giữa UBND tỉnh với UBND

huyện, các sở, ban, ngành.
– Bản thân các văn bản trong nhiều trường hợp, là chứng cứ pháp lý để giải
quyết các nhiệm vụ cụ thể trong quản lý và điều hành công việc của các cơ quan.
– Là trọng tài phân minh, phân xử khi thực hiện văn bản không thống nhất, cơ
sở để giải quyết tranh chấp và bất đồng giữa các cơ quan, đơn vị, cá nhân, giải
quyết các quan hệ pháp lý nảy sinh.
Tính pháp lý của văn bản được hiểu là sự phù hợp của văn bản (về nội dung và
thể thức) với quy định pháp luật hiện hành.
Như vậy, văn bản đảm bảo tính pháp lý khi được ban hành theo đúng quy
định pháp luật về nội dung và thể thức.
Thể thức văn bản là hình thức pháp lý của văn bản, là toàn bộ những yếu tố về
hình thức có tính bố cục đã được thể chế hoá để đảm bảo giá trị pháp lý cho văn
bản. Như vậy thể thức là yếu tố thuộc về hình thức bên ngoài nhằm đảm bảo tính
pháp lý cho văn bản.
Xét trên phương diện này, có thể thấy văn bản là phương tiện tác động của
pháp luật vào các quan hệ xã hội. Như vậy, có thể coi các văn bản được ban hành
theo chức năng pháp lý là sản phẩm của quá trình áp dụng các quy phạm pháp luật
trong quản lý nhà nước và quản lý xã hội. Đây là một trong những hình thức bảo
đảm pháp lý của các quyết định quản lý. Ban hành các văn bản theo hướng này, các
cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước mong muốn thực hiện mục tiêu duy trì các
quan hệ xã hội theo quy định pháp luật và bảo vệ quyền lợi ích chính đáng của
người lao động trước pháp luật. Ở đây, chức năng pháp lý của văn bản quản lý nhà
nước được gắn liền với mục tiêu ban hành chúng. Theo chức năng này, văn bản
quản lý nhà nước cũng tham gia và tạo dựng hành lang pháp lý cho hoạt động quản
lý nhà nước.
Cần nhấn mạnh thêm rằng, cho đến nay việc truyền đạt các quy phạm pháp
luật, các chủ trương, chính sách, v.v… đều được thực hiện chủ yếu thông qua hệ
thống văn bản quản lý nhà nước. Về phương diện pháp lý, văn bản và các hệ thống
văn bản quản lý có tác dụng rất quan trọng trong việc xác định các quan hệ pháp lý
giữa các cơ quan nhà nước và các tổ chức bị quản lý. Chúng tạo nên mối ràng buộc

về mặt trách nhiệm giữa các chủ thể có quan hệ với nhau theo phạm vi hoạt động
và theo quyền hạn được giao trong từng hệ thống.
5

Điều kiện để văn bản quản lý nhà nước thực hiện được chức năng pháp lý
Về chủ thể ban hành: Văn bản quản lý nhà nước do cơ quan có thẩm quyền
ban hành theo luật định để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao.
Về nội dung: Văn bản quản lý nhà nước thể hiện ý chí của chủ thể thành
mệnh lệnh (qua tên loại văn bản) và các quy tắc xử sự chung để điều chỉnh hay tác
động vào các mối quan hệ, các đối tượng; yêu cầu các đối tượng chấp hành và có
chế tài thực hiện; nội dung phải cụ thể, phù hợp với tính chất pháp lý của mỗi loại
văn bản trong hệ thống văn bản (ngành, lĩnh vực…); phù hợp với chức năng sử
dụng, phù hợp với quy định pháp luật hiện hành; các chế tài sử dụng phải đảm bảo
tính hợp lý.
Về hình thức: Văn bản quản lý nhà nước thể hiện rõ chủ thể ban hành, tính
chất văn bản, xác nhận phạm vi không gian và thời gian, có bố cục nội dung theo
chương, mục, điều, khoản, điểm, có số, ký hiệu văn bản theo quy định của pháp
luật; Văn bản phải đảm bảo về mặt thể thức; sử dụng thuật ngữ và văn phong hợp
lý; Về trình tự, thủ tục ban hành: Văn bản quản lý nhà nước được ban hành theo
đúng trình tự, thủ tục do Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định.
Điều kiện đảm bảo: Văn bản quản lý nhà nước được đảm bảo thực hiện bằng
nhà nước: do cơ quan nhà nước tổ chức thực hiện bằng quyền lực nhà nước,
phương tiện, vật chất kỹ thuật và ngân sách nhà nước, do công chức có thẩm quyền
thực hiện tại trụ sở cơ quan nhà nước.
Về giá trị pháp lý:
– Văn bản quản lý nhà nước dùng để điều chỉnh các quan hệ xã hội hay điều
hành hoạt động các chủ thể;
– Văn bản quản lý nhà nước làm cơ sở pháp lý để các chủ thể ban hành quyết
định thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình;

– Văn bản quản lý nhà nước được các đối tượng thừa nhận và chấp hành
không điều kiện.
Với những điều kiện trên, văn bản quản lý nhà nước có hiệu lực thực hiện
với mọi đối tượng, ở mọi lúc, mọi nơi.
Minh họa bằng lời hoặc bằng mẫu văn bản quản lý nhà nước kèm theo lời
giải thích ngắn gọn
Quyết định số 43/2010/QĐ-TTg ngày 02 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng
Chính phủ về việc ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia (được gửi kèm).
Các điều kiện để văn bản quản lý nhà nước trên thực hiện được chức năng
quản lý:
– Mục tiêu quản lý: …
– Chủ thể quản lý: …
– Đối tượng quản lý: …
– Phương pháp quản lý: …
– Công cụ quản lý: …
– Điều kiện đảm bảo: …
6

– Môi trường quản lý: …
– Hiệu lực thi hành: …
Câu 3. Phân tích, làm rõ ý nghĩa của yêu cầu về tính kịp thời trong soạn thảo
và ban hành quyết định hành chính.
Đáp án:
Quyết định hành chính là mệnh lệnh điều hành của các chủ thể quản lý
HCNN được ban hành theo một trình tự, thủ tục và thể thức nhất định nhằm giải
quyết một mục đích hay một công việc cụ thể trong quản lý hành chính nhà nước.
Quyết định hành chính chứa đựng quyền lực của nhà nước dưới góc độ nhất
định là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước (hoặc cá nhân, tổ chức có thẩm
quyền) nhằm đưa ra các quy định chung hoặc giải quyết các vấn đề pháp lý hành

chính cụ thể đối với tập thể hay cá nhân có ý nghĩa bắt buộc tuân thủ.
Quyết định hành chính cũng chứa đựng trong đó các mục tiêu mà chủ thể
mong muốn đạt tới khi thi hành quyết định và phương tiện để thực hiện chúng.
Quyết định hành chính là biện pháp giải quyết công việc của chủ thể quản lý
hành chính trước một tình huống đang đặt ra, là sự phản ứng của chủ thể quản lý
hành chính nhà nước trước một tình huống đòi hỏi phải có sự giải quyết của nhà
nước theo thẩm quyền do luật định.
Nhìn một cách tổng quát, việc ban hành các quyết định là nhiệm vụ của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền nhằm định ra chính sách, quy định, sửa đổi hoặc bãi
bỏ các quy phạm pháp luật hành chính. Chúng có khả năng làm phát sinh, thay đổi,
chấm dứt hoặc phục hồi các quan hệ pháp luật hành chính cụ thể. Khi soạn thảo và
ban hành các cơ quan nhà nước thực hiện các nhiệm vụ, chức năng, quyền hạn mà
pháp luật quy định cho mình.
Các quyết định hành chính được hiểu như là một loại hình của quyết định
nhà nước có những tính chất chủ yếu:
– Có tính ý chí quyền lực nhà nước, là kết quả của sự thể hiện ý chí của các
cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền thực hiện nhân danh quyền lực nhà
nước.
– Có tính pháp lý thể hiện ở hậu quả pháp lý do chúng ta tạo ra. Quyết định
hành chính tác động vào đời sống xã hội bằng việc định ra chính sách, sửa đổi, bãi
bỏ các quy phạm pháp luật hành chính, làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt hoặc phục
hồi quan hệ pháp luật hành chính.
Có tính dưới luật, chấp hành luật, nghĩa là nội dung của quyết định hành
chính phải phù hợp với Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp
trên, được ban hành theo trình tự và hình thức do pháp luật quy định. Chúng được
ban hành để thực hiện quyền hành pháp tức là hoạt động chấp hành và điều hành
của hệ thống hành chính nhà nước và người có thẩm quyền hành pháp.
Với những đặc điểm như vậy, quyết định hành chính nhà nước chính là tín
hiệu điều chỉnh, là thông tin quy phạm của chủ thể quản lý hành chính nhà nước tác
7

động vào khách thể của quan hệ pháp luật hành chính để thực hiện mục đích của
mình theo quỹ đạo và ý chí của mình.
* Yêu cầu về tính kịp thời trong soạn thảo và ban hành quyết định hành
chính:
Trong hoạt động quản lý và điều hành của các ngành, các cấp thì việc soạn
thảo và ban hành các quyết định hành chính là một nhu cầu tất yếu. Tuy nhiên, việc
soạn thảo và ban hành quyết định hành chính chậm trễ, không kịp thời, không đúng
thời điểm sẽ mang lại hiệu quả không cao.
Do đó, yêu cầu về tính kịp thời trong soạn thảo và ban hành quyết định hành
chính là rất quan trọng, cần thiết bởi lẽ:
– Quyết định hành chính được soạn thảo và ban hành khi có yêu cầu giải
quyết vấn đề của chủ thể.
– Quyết định hành chính được soạn thảo và ban hành khi có yêu cầu giải
quyết vấn đề của đối tượng.
– Quyết định hành chính ban hành đúng thời điểm cần giải quyết vấn đề
thuộc trách nhiệm của chủ thể hành chính.
– Quyết định hành chính được ban hành kịp thời khi đảm bảo các điều kiện
cơ bản để giải quyết vấn đề.
* Phân tích ý nghĩa của yêu cầu về tính kịp thời trong soạn thảo và ban
hành quyết định hành chính
Việc thực hiện soạn thảo và ban hành văn bản hành chính kịp thời sẽ mang
lại ý nghĩa vô cùng quan trọng:
– Đảm bảo yêu cầu kịp thời của quyết định hành chính sẽ đáp ứng việc giải
quyết những nhu cầu của chủ thể hay đối tượng trong hoạt động quản lý nhà nước.
– Đảm bảo yêu cầu kịp thời trong soạn thảo và ban hành quyết định là trách
nhiệm thực thi công vụ của công chức.
– Đảm bảo yêu cầu kịp thời trong soạn thảo và ban hành quyết định hành
chính sẽ tiết kiệm chi phí hoạt động của chủ thể hành chính.

– Đảm bảo yêu cầu kịp thời trong soạn thảo và ban hành quyết định hành
chính sẽ góp phần nâng cao tính khả thi của quyết định
– Đảm bảo yêu cầu kịp thời trong soạn thảo và ban hành quyết định hành
chính sẽ tạo ra sự thống nhất cao trong quản lý hành chính
– Đảm bảo yêu cầu kịp thời trong soạn thảo và ban hành quyết định hành
chính góp phần củng cố quan hệ giữa chủ thể hành chính nhà nước với đối tượng
hành chính.
* Minh họa bằng một quyết định cụ thể
Trong hoạt động quản lý nhà nước, rõ ràng yêu cầu khách quan của sự việc,
của vấn đề cần giải quyết chỉ xảy ra ở một thời điểm lịch sử cụ thể.
Do vậy, quyết định hành chính nhà nước được ban hành nhằm điều chỉnh
hành vi trên phải đảm bảo kịp thời, đúng thời điểm

8

Ví dụ như trường hợp theo thông báo của Đài khí tượng thủy văn ngày
01/11/2013 sẽ có cơn bão cấp 13 đi qua tỉnh A. Sau khi nhận được thông báo của
Ban phòng chống lụt bão TW, UBND tỉnh A phải ban hành quyết định di dân, sơ
tán ra khỏi vùng tâm bão. Do vậy, nếu không có quyết định di dời dân ra khỏi vùng
tâm bão và ra quyết định không kịp thời thì hậu quả xảy ra là không lường trước
được.
Hiện nay, hoạt động soạn thảo và ban hành quyết định hành chính của chủ
thể quản lý và đạt được những quyết định quan trọng rất đáng khích lệ. Tất cả
những hoạt động này đều hướng tới mục tiêu thực hiện quyền lực của nhân dân,
phục vụ nhân dân, thực thi pháp luật, đưa pháp luật đi vào đời sống để đảm bảo kỷ
cương xã hội.
Tuy nhiên, việc đảm bảo tính kịp thời trong soạn thảo và ban hành quyết định
hành chính nhà nước vẫn còn những bất cập, hạn chế nhất định. Do thiếu kịp thời
nên những quyết định hành chính đó chưa có tính khả thi cao, hiệu quả thấp, cá biệt

có trường hợp để lại hậu quả nghiêm trọng.
Do vậy, cần nâng cao tinh thần trách nhiệm của công chức thực thi công vụ
trong công việc, đảm bảo tính kịp thời trong soạn thảo và ban hành quyết định hành
chính nhà nước, đưa hoạt động quản lý nhà nước ngày càng đạt hiệu quả cao, góp
phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Câu 4. Anh (chị) hãy cho biết, giữa văn bản quy phạm pháp luật với văn bản
hành chính thông thường có gì khác nhau? Để văn bản quy phạm pháp luật có
hiệu lực thi hành cần phải có những điều kiện đảm bảo nào. Phân tích các điều
kiện đó và lấy ví dụ thực tế để minh họa?
Đáp án:
Đáp án:
a) Khái niệm văn bản QPPL
Văn bản qui phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc
phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được qui định bởi
Luật ban hành văn bản QPPL hoặc luật ban hành văn bản qui phạm pháp luật của
Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, trong đó có qui tắc xử sự chung, có hiệu lực
bắt buộc chung, được nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã
hội.
Như vậy qui phạm pháp luật có tính đặc thù riêng của mình được áp dụng
trong một phạm vi rộng và có tính bắt buộc, phản ánh thẩm quyền của cơ quan nhà
nước được phép ban hành. Văn bản qui phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có
thẩm quyền ban hành theo thủ tục trình tự được luật qui định, chứa đựng các qui
phạm pháp luật nhằm xác định các qui tắc xử sụ chung của cộng đồng, thiết lập

9

hay sửa đổi các quan hệ pháp lý trong điều hànhc, điều chỉnh các quan hệ xã hội và
được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng những phương thức thích hợp.

Văn bản qui phạm pháp luật hướng vào cộng đồng không dành riêng cho một
các thể nào cả được áp dụng nhiều lần và việc thay thế chúng phải theo đúng thủ
tục.Theo qui định của luật ban hành văn bản qui phạm pháp luật năm 2008, hệ
thống văn bản qui phạm pháp luật của nước ta bao gồm các loại sau đây:
Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.
Pháp lệnh, nghị quyết của Chủ tịch nước
Nghị định của chính phu
Quyết định của Thủ tướng chính phủ
Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thông tư của
Chánh án tóa án nhân dân tối cao
Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Thông tư của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
Quyết định của Tổng kiểm toán nhà nước
Nghi quyết liên tịch giữa UB thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ với cơ
quan trung ương của tổ chức chính trị xã hội.
Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, giữa Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ với
Chánh án tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa
các Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
Văn bản qui phạm pháp luật của hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân.
Trong các văn bản qui phạm pháp luật nói trên, Hiến pháp được xem là đạo
luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Cac đạo luật về ban hành
cvăn bản qui phạp pháp luật còn qui định rằng, văn bản qui phạm pháp luật do các
cơ quuan nhà nước cấp dưới ban hành phải phù hợp với van bản qui phạm pháp
luật của cơ quan nhà nưosc cấp trên. Văn bản qui phạm pháp luật trái với Hiện
pháp, trái với van bản của cơ quan nhà nước cấp trên phải được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền bãi bỏ, đình chỉ việc thi hành.
Từ những nội dung đã trình bày ở trên, có thể nêu lên những đặc điểm cơ bản
của văn bản qui phạm pháp luật nói chung như sau:
Được ban hành và điều chỉnh theo luật

Chứa đụng các qui tắc xử sự chung
Việc áp dụng chúng làm phát sinh hoặc thay đổi chấm dứt các quan hệ pháp
luật, quan hệ xã hội
Co tính chất bắt buộc thi hành
Được áp dụng nhiều lần
Vì những đặc điểm trên mà việc soạn thảo các văn bản qui phạm pháp luật
luôn có những yêu cầu rất chặt chẽ. Cụ thể là:

10

Các cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản qui phạm pháp luật theo luật
định phải có chương trình, kế hoạch ban hành văn bản rõ ràng, phù hợp với chức
năng nhiệm vụ của mình vf phải được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Phải tuân thủ qui trình xây dụng và ban hành văn bản đã được pháp luật qui
định.
Không được ban hành văn bản trái thẩm quyền cho phép hoặc trái với những
qui định của văn bản cấp trên
b) Văn bản hành chính thông thường:
Đặc điểm của văn bản hành chính thông thường: Trong thực tiễn hoạt động
của các cơ quan, tổ chức, kể cả ở chính quyền cấp xã, văn bản hành chính thông
thường là loại văn bản được soạn thảo và sư dụng nhiều nhất.
Khác với văn bản qui phạm pháp luạt mà thẩm quyền ban hành phải tuân
theo luật định, văn bản hành chính thông thường là loại văn bản hầu nhưn mọi cơ
quan, tổ chức đơn vị đề có thể ban hành. Đây là loại văn bản không qui định thẩm
quyền ban hành mà việc ban chúng lệ thuộc vào yêu cầu công việc và thường do
thủ trưởng cácc đơn vị, cơ quan xác dịnh cụ thể cho từng văn bản gắn với yêu cầu
giải quyết công việc hàng ngày.Trong nhiều trường hợp, loại văn bản này không có
tính cưỡng chế, bắt buộc thực hiện.
c) Qua những nội dung nêu trên cho thấy sự khác nhau giữa văn bản qui

phạm pháp luật với van bẳn hành chính thông thường ở những điểm
sau:
+ Về mục tiêu sử dụng:
Văn bản QPPL để điều chỉnh các quan hệ xã hội
Văn bản hành chính để hướng dẫn thực hiện hay thông tin về quản lý.
+ Về chủ thể ban hành:
Văn bản QPPL do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo luật định
Văn bản hành chính do các cơ quan nhà nước ban hành
+ Về nội dung
Văn bản QPPL có chứa đựng các qui tắc xử sự chung và chế tài thực hiện
Văn bản hành chính chỉ phản ánh thông tin về hoạt động quản lý nhà nước
+ Về hình thức.
Văn bản QPPL có bố cục nội dung theo phần, chương, mục, điều, khoản,
điểm; có số, ký hiệu văn bản theo qui định của Luật ban hành văn bản QPPL;
Văn bản hành chính không nhất thiết phải đảm bảo yêu cầu về cấu trúc hình
thức
+ Về trình tự thủ tục ban hành
Văn bản QPPL được ban hành đúng theo trình tự, thủ tục do Luật ban hành
văn bản QPPL qui định.
Văn bản hành chính không nhất thiết phải tuân theo trình tự, thủ tục luật định.
+ Điều kiện đảm bảo
Văn bản QPPL được đảm bảo thực hiện bằng nhà nước (quyền lực nhà nước,
11

ngân sách nhà nước, công chức nhà nước)
Văn bản hành chính do các đối tượng trong và ngoài nhà nước tự thực hiện
Minh họa
BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
NAM

TỔNG CỤC THỐNG KÊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số…./QĐ – TCTK

Hà Nội, ngày

tháng

năm

QUYẾT ĐỊNH
Về việccử cán bộ đi công tác nước ngoài
TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THỐNG KÊ .
Căn cứ quyết định số 54/2010/QĐ – TTg ngày 24/8/2010 của Thủ
tướng Chính phủ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức của Tổng cục Thống kê trực thuộc Bộ Kế hoạc và Đầu tư;
Căn cứ Nghị định số 136/2007/NĐ – CP ngày 17/8/2007 của Chính phủ
về việc xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam;
Căn cứ Quyết định số 676/QĐ – BKH ngày 25/5/2009 của Bộ trưởng
Bộ Kế hoách và Đầu tư về việc cung cấp quản lý cán bộ, công chức, viên
chức hành chính, Sự nghiệp Bộ Kế hoạch và Đầu tư;
Căn cứ Kế hoách đào tạo, bối dưỡng cán bộ, công chức, viên chức năm
2013 của Tổng cục Thống kê về việc thành lập Đoàn cán bộ tham dự Khóa
đào tạo tại Hàn Quốc;
Xét đề nghị của Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Cử các ông, bà có tên sau đây tham dụ khóa đào tạo vè “Thống

kê kinh tế “ từ ngay 07/12/2013 tại Hàn Quốc:
1. Ông Nguyễn Văn A, (Công chức mẫ ngạch: 01002 loại A2 ), Vụ ttrưởng
Vụ TK …, Trưởng đoàn
2. Bà Nguyễn Thị B (Công chức mẫ ngạch: 23262 loại A2) Phó vụ trưởng
Vụ Tk….. Phó đoàn
3. Ông Nguyễn Văn C (Công chức mẫ ngạch: 23262 loại A1) Thống kê viên
Vụ Tk….. Thành viên
Kinh phí toàn bộ chuyến đi do Viện đào tạo Thống kê Hàn Quốc (STI) tài
trợ

12

Điều 2. Sau khi kết thúc chuyến công tác, trong thời gian 7 ngày làm việc.
Đoàn phải có báo cáo kết quả chuyến công tác theo qui định của Tổng cục
Thống kê.
Điều 3. Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, Chánh văn phòng, Vụ trưởng Vụ
Thống kê nước ngoài và Hợp tác quốc tế, Thủ trưởng các đơn vị có liên quan
và các ông bà có tên tại Điều 1 Căn cứ Quyết định thi hành../.
TỔNG CỤC TRƯỞNG

Nơi nhận:
Bộ Ngoại giao
Bộ Công an
Như điều 3
Lưu VT,TCCB, HS

Nguyễn Bích Lâm

BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
VIỆT NAM
TỔNG CỤC THỐNG KÊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số…./ TCTK – DSLĐ
2012

Hà Nội, ngày

tháng

năm

V/v thống nhất số liệu dân số
Trung bình chính thức năm 2010 và
Ước tính năm 2011
Kính gửi : Các cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Ngày 16 tháng 01 năm 2012, Tổng cục Thống kê đã gửi Công văn số 35/TCTKDSLĐ trưng cầu ý kiến các Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
về số liệu dân số trung bình chính thức năm 2010 và ước tính năm 2011. Hầu hết
các Cục Thống kê thống nhất với phương pháp biên soạn và nhiều Cục Thống kê
thống nhất với số liệu của Tổng cục Thống kê.
Sau khi nghiên cứu thận trọng và cân nhắc gops ý của các Cục Thống kê, Tổng cục
đã tính lại các biểu số liệu dân số trung bình chính thức năm 2010 (Biểu 1) và ước
tinh năm 2011( Biểu 20 chia theo tỉnh, thành phố, giới tính, thành thị và nông thôn.
Số liệu này sẽ được công bố trong niên giám Thống kê tóm tắt và đầy đủ năm 2011
của Tổng cục Thống kê.

13

Để đảm bảo thống nhất số liệu giữa Trung ương và địa phương, Tổng cục Thống kê
yêu cầucác Cục Thống kê thống nhất sử dụng số liệu do Tổng cục đã tính và gử cấc
Cục Thống kê ( các biểu số liệu được gửi kèm)
Nơi nhận:
KT.TỔNG CỤC TRƯỞNG
– Như trên
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG
– Đồng chí Tổng cục trưởng ( để báo cáo);
– Lưu VT, DSLĐ
Nguyễn Bích Lâm

Để văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực thi hành cần phải có những điều
kiện đảm bảo nào. Phân tích các điều kiện đó và lấy ví dụ thực tế để minh họa?
Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc
phối hợp ban hành theo thủ tục, trình tự thẩm quyền luật định, trong đó có các quy
tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung được nhà nước bảo đảm thực hiện
nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội (Điều 1 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp
luật 2008).
Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật bao gồm: hiệu lực về thời gian và
hiệu lực về không gian và đối tượng áp dụng. Do vậy, để văn bản quy phạm pháp
luật có hiệu lực thi hành cần có các điều kiện sau:
– Điều kiện có hiệu lực về thời gian:
Theo quy định tại Điều 78 Luật Ban hành văn bản qppl 2008 thì: “Thời điểm
có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được quy định trong văn bản những
không sớm hơn bốn mươi lăm ngày, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành. Trường
hợp văn bản qppl quy định các biện pháp thi hành trong tình trạng khẩn cấp, văn
bản được ban hành để kịp đáp ứng yêu cầu phòng, chống thiên tai, dịch bệnh thì có

thể có hiệu lực kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành nhưng phải được đăng ngay
trên Trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành và phải được đưa tin trên phương
tiện thông tin đại chúng; đăng Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
(sau đây gọi chung là Công báo) chậm nhất sau hai ngày làm việc, kể từ ngày công
bố hoặc ký ban hành”.
Như vậy, văn bản quy phạm pháp luật phải được đăng Công báo; văn bản quy
phạm pháp luật không đăng Công báo thì không có hiệu lực thi hành, trừ trường
hợp văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước và các trường hợp quy định các
biện pháp thi hành trong tình trạng khẩn cấp,…
Trong thời hạn chậm nhất là hai ngày làm việc, kể từ ngày công bố hoặc ký
ban hành, cơ quan ban hành văn ban qppl phải gửi văn bản đến cơ quan Công báo
để đăng Công báo.

14

Cơ quan Công báo có trách nhiệm đăng toàn văn văn bản quy phạm pháp luật
trên Công báo chậm nhất là mười lăm ngày, để từ ngày nhận được văn bản.
Văn bản quy phạm pháp luật đăng Công báo là văn bản chính thức và có giá
trị như văn bản gốc.
Trong những trường hợp thật cần thiết, văn bản quy phạm pháp luật có thể có
hiệu lực trở về trước, có nghĩa là nó được áp dụng làm căn cứ để giải quyết những
vụ việc xảy ra trước khi ban hành văn bản. Tuy nhiên, không được quy định hiệu
lực trở về trước đối với các trường hợp như: Quy định trách nhiệm pháp lý mới đối
với hành vi mà vào thời điểm thực hiện hành vi đó pháp luật không quy định trách
nhiệm pháp lý; Quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn.
* Lấy ví dụ:
Luật xử lý vi phạm hành chính được Quốc hội ban hành ngày 20/6/2013. Tuy
nhiên, theo quy định tại Điều 141 của Luật này thì ngày có hiệu lực của văn bản là:
“1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2013, trừ các quy định

liên quan đến việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính do Tòa án nhân dân xem
xét, quyết định thì có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2014.
2. Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính số 44/2002/PL-UBTVQH10, Pháp lệnh
số 31/2007/PL-UBTVQH11 sửa đổi một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành
chính năm 2002 và Pháp lệnh số 04/2008/UBTVQH12 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có
hiệu lực, trừ các quy định liên quan đến việc áp dụng các biện pháp đưa vào trường
giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh tiếp tục có hiệu lực
đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2013”
– Điều kiện có hiệu lực về không gian và đối tượng áp dụng:
Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở Trung ương có hiệu lực
trong phạm vi cả nước và được áp dụng đối với mọi cơ quan, tổ chức, công dân
Việt Nam, trừ trường hợp văn bản có quy định khác.
Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân có hiệu
lực trong phạm vi địa phương.
Văn bản quy phạm pháp luật cũng có hiệu lực đối với cơ quan, tổ chức, người
nước ngoài ở Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế
mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.
* Lấy ví dụ:
Văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trên toàn quốc: Hiến pháp, luật, bộ
luật v.v..
Văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực tại địa phương: Nghị quyết của Hội
đồng nhân dân về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội tại địa phương; Quyết định
của Ủy ban nhân dân về việc ban hành khung giá đất tại địa phương v.v..

15

Câu 5. Ý nghĩa của yêu cầu về tính khả thi trong soạn thảo quyết định hành
chính là gì? Liên hệ thực tế và minh họa bằng một văn bản cụ thể.

Đáp án:
a) Khái niệm quyết định hành chính nhà nước.
Quyết điịnh hành chính nhà nước là mệnh lệnh điều hành của chủ thể quản lý
HCNN được ban hành theo một trình tự, thủ tục và thể thức nhất định nhằm giải
quyết một mục đích hay một công việc cụ thể trong quản lý hành chính nhà nước
Hay nói cách khác Quyết định hành chính là văn bản quản lý hành chính nhà
nước, bao gồm văn bản của các cơ quan nhà nước ( mà chủ yếu là của các cơ quan
hành chính) dùng để đưa ra các quyết định và chuyển tải các thông tin trong hoạt
động chấp hành và điều hành.
b) Nêu và phân tích yêu cầu về tính khả thi trong soạn thảo quyết định
hành chính nhà nước:
– Tính khả thi là hệ quả của sự kết hợp đúng đắn và hợp lý của các yêu
cầu:
+ Tính mục đích: Quyết định hành chính nhà nước được ban hành nhằm phục
vụ mục tiêu hoạt động của các cơ quan, đặc biệt là nhiệm vụ điều chỉnh các mối
quan hệ xã hội, quan hệ pháp lý trong quản lý nhà nước, quan hệ giữa cơ quan nhà
nước với nhau hoặc giữa cơ quan nhà nước với tổ chức và công dân
+ Tính phổ thống đại chúng
+ Tính khoa học
Khi ra một quyết định hành chính nhà nước, cần phải nắm vững nội dung của
vấn đề cấn ban hành:
Môt là, nội dung của Quyết định HCNN chuẩn bị ban hành phải thiết thực,
đáp ứng được tối đa yêu cầu mà thực tế đang đòi hởi phải có văn bản để điều chỉnh,
phù hợp với pháp luật hiện hành.
Hai là, nội dung triển khai phải được thể hiện trong một quyết định thích
hợp. Nói cách khác, phải có sự lựa chọn cần thiết trong quá trình văn bản hóa để
văn bản đươc soạn thảo có chức năng phù hợp và có tinh khả thi.
– Để đảm bảo tính khả thi, quyết định hành chính cần:
+ Nội dung quyết định phải cụ thể:
Các thông tin được sử dụng để đưa vào văn bản phải được sử lý để bảo đảm

chính xác,. Không nên viết văn bản với các thông tin chung chung và lặp lại, từ các
văn bản khác. Những văn bản được viết với loại thông tin không chính xác hoặc
thiếu cụ thể chính là một trong những biểu hiện của tính quan liêu trong quản lý và
chúng sữ không có ý nghĩa thiết thực trong hoạt động của bất cứ cơ quan nào.
Phải đảm bảo cho quyết định hành chính được ban hành đúng thể thức
Thể thức được nói đến ở đây là toàn bộ các thành phần tạo nên quyết định
hành chính do nhà nưosc qui định. Thể thức văn bản là tập hợp các thành phần cấu
thành nên văn bản, bao gồm những thành phần chung áp dụng trong quyết định và
các thành phần bổ sung trong những trường hợp cụ thể hoặc đối với một số loại
16

văn bản qui định tại Nghị định 110/2004/NĐ-CP ngày 08-4-2004 của chính phủ về
công tác văn thư và Nghị định bổ sung một số điều của Nghị định sô
s110/2004/NĐ-CP và hưỡng dẫn tại thông tư 01/2011/BNV ngày 19-01-2011 của
Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn thể thức và kỹ thuậ trình bày văn bản hành chính
chúng bảo dảm văn bản có hiệu lực pháp lý và được sử dụng thuận lợi trưc mắt
cũng như lâu dài trong hoạt động quản lý của các cơ quan.
Cần chú ý rằng thể thức văn bản không chỉ đơn thuần là hình thức mà còn
mang tính nội dung, liên quan đến giá trị thông tin của văn bản.
Một văn bản quản lý hành chính nhà nước bảo đảm đúng thể thức cần phải
cso các thành phần: Quốc hiệu; địa điểm và ngày tháng ban hành văn bản; tên cơ
quan; đơn vị ban hành; số và ký hiệu; tên loại và trích yếu nội dung; nội dung ; chữ
ký của người có thẩm quyền; con dấu hợp thức của cơ quan; nơii nhận văn bản,..vv
Khi xem xét các yếu tố tạo nên van bẳn ( thể thức) nhiều người còn cho rằng
đây chỉ là yếu tố mang tính hình thức nên thường xem nhẹ ván đề này trong quá
trình saonj thảo văn bản. Từ đó đã có những quan niệm sai lầm cho rằng những
thiếu sót về mặt thể thức của văn bản là không uqna trọng, không ành hưởnglớn
đến chát lượng của việc soạn thảo và sử dụng văn bản. Thạt ra, nếu thể thức không
đảm bảo thì rất dễ nhận ra rằng ngay từ đầu giá trị pháp lý và nhiều mặt giá trịn

khác của văn bản đã bị ảnh hưởng. Vấn đề này sẽ được xem xét kỹ ở phần sau.
Sử dụng thuật ngữ và văn phong phù hợp: Có nội dung cụ thể, Đối với
văn bản quản lý nhà nước, các thuật ngữ và văn phong sử dụng trong văn bản nhất
thiết phải là thụt ngữ quản lý hành chính nhà nước và sử dụng văn viết ( không
dùng văn nói) VD không dùng những từ ngữ biểu cảm, quá nôm la, dân dã trong
văn bản. Thcự tế cho thấy, nếu thuật ngữ và văn phong lkhông được lựa chọn
thích hợp cho từng loại văn bản khi soạn thảo thì việc truênf đạt thông tin qua văn
bản sẽ thiếu chính xác. Điều đó tát nhiên sẽ ảnh hưởng đến nội dung văn bản.
Ngoài ra, cũng cần nói thêm rằng, lựa chọn thuật ngữ và sử dụng văn phong thích
hợp trong quá trình soạn thảo văn bản sẽ có ảnh hưởng tốt đơi với sự phát triển của
ngôn ngữ nưoc ta
Văn bản phải phù hợp với chức năng sử dụng:
phù hợp đối tượng thực hiện. Mỗi văn bản quản lý nhà nươc đều có
những chức năng cụ thể không dùng văn bản này thay cho chức năng của văn bản
khác. VD không dùng chỉ thị thay cho thông báo và ngược lại. yêu cầu này đòi hởi
phải có sự phân biệt rõ ràng chức năng của các loại văn bản trước khi lựa chọn
chúng để việc văn bản hóa quyết định quản lý đưọc thực hiện chính xác.
Đảm bảo hài hòa giũa lợi ích của nhà nước, tập thể và cá nhân
Nội dung quyết định được chuản bị ban hành phải thiết thực, đáp ứng
được tối đa yêu cầu mà thực tế đang đòi hởi phải có văn bản để điều chỉnh phù hợp
với luật pháp hiện hành. Quyết định phải nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn
của xã hội phù hợp với điều kiện cụ thể của đời sống xã hội.
Chế tài sử dụng trong văn bản phải thích hợp
17

Không nên lạm dụng các chế tài một cách chung chung. Khó áp dụng. Không
được dùng chế tài hình sự trong các văn bản hành chính.
c) Ý nghĩa của yêu cầu về tính khả thi trong soạn thảo quyết định
HCNN:

Nếu văn bản không đảm báo tính khả thi sẽ không có giá trị điều hành của cơ
quan hành chính nhà nước trong thực tế (không có giá trị thực tiễn), điều này gây
lãng phải nhân lực, thời gian, tài chính công, đồng thời làm suy giảm lòng tin của
nhân dân vào nhà nước.
 Liên hệ thực tế và minh họa bằng một văn bản cụ thể
BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
VIỆT NAM
TỔNG CỤC THỐNG KÊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số…./QĐ – TCTK

Hà Nội, ngày

tháng

năm

QUYẾT ĐỊNH
Về việc cho cán bộ nghỉ phép đi nước ngoài vì việc riêng
TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THỐNG KÊ .
Căn cứ quyết định số 54/2010/QĐ – TTg ngày 24/8/2010 của Thủ
tướng Chính phủ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức của Tổng cục Thống kê trực thuộc Bộ Kế hoạc và Đầu tư;
Căn cứ Nghị định số 136/2007/NĐ – CP ngày 17/8/2007 của Chính phủ
về việc xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam;
Căn cứ Quyết định số 676/QĐ – BKH ngày 25/5/2009 của Bộ trưởng
Bộ Kế hoách và Đầu tư về việc cung cấp quản lý cán bộ, công chức, viên

chức hành chính, Sự nghiệp Bộ Kế hoạch và Đầu tư;
Xét đề nghị của Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Đồng ý để ông ………, Thống kê viên chính Vụ……………….
Tổng cục Thống kê, được nghỉ phép năm để đi giải quyết việc riêng tại LB
Nga, thời gian từ ngày 10/11 đén ngày 15/11/2013 .
Điều 2. Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, Chánh văn phòng, Vụ trưởng
Vụ………… và ông ………. Căn cứ Quyết định thi hành../.
TỔNG CỤC TRƯỞNG
Nơi nhận:
– Bộ Ngoại giao
18

– Bộ Công an
– Như điều 2
– Lưu VT,TCCB, HS

Nguyễn Bích Lâm

Câu 6. Tại sao nói, văn bản quản lý HCNN là một trong những phương tiện
thông tin cơ bản, là sợi dây liên lạc giữa cơ quan NN với tổ chức và công dân.
* Khái niệm Văn bản quản lý NN: là những quyết định và thông tin quản lý
thành văn (được văn bản hóa) do các cơ quan QLNN soạn thảo, ban hành theo thẩm
quyền, trình tự, thủ tục, thể thức nhất định phục vụ mục tiêu hoạt động của các cơ
quan, đặc biệt là nhiệm vụ điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, quan hệ pháp lý
trong quản lý nhà nước, quan hệ giữa các cơ quan NN với các tổ chức và công
dân.
* Đặc điểm của văn bản QLNN
– Phản ánh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan ban hành;

– Thẩm quyền ban hành các loại văn bản quản lý NN phải theo đúng quy
định của pháp luật được cơ quan chức năng có thẩm quyền quy định thống nhất.
– Văn bản quản lý nhà nước có nhiều loại khác nhau và chúng đều có những
chức năng cụ thể, có yêu cầu riêng khi soạn thảo;
– Giữa các văn bản hình thành trong hoạt động quản lý nhà nước luôn luôn
có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và thường tạo thành các hệ thống với những đặc
trưng riêng biệt.
* Văn bản QLNN là phương tiện thông tin cơ bản
– Lưu trữ các thông tin được hình thành trong hoạt động quản lý;
– Truyền đạt thông tin quản lý từ nơi này đến nơi khác trong hệ thống quản lý
hay giữa hệ thống với bên ngoài.
– Giúp các cơ quan, người có thẩm quyền đánh giá được thông tin thu thập
qua các hệ thống truyền đạt thông tin khác.
* Văn bản QLNN là sợi dây liên lạc giữa các cơ quan NN, người có thẩm
quyền tới tổ chức, người dân
– Truyền đạt thông tin quản lý từ cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền tới
tổ chức người dân;
– Là phương tiện giải quyết công việc giữa các cơ quan nhà nước với tổ chức,
công dân;
-Là căn cứ để nhân dân thực hiện quyền giám sát hoạt động QLNN
Câu 7. Theo anh (chị) để văn bản quản lý nhà nước thực hiện được chức
19

năng quản lý thì cần phải đảm bảo những điều kiện nào. Phân tích để làm rõ
những điều kiện đó và minh họa bằng một văn bản quản lý nhà nước cụ thể?
– Khái niệm văn bản quản lý Nhà nước: Văn bản quản lý nhà nước là những
quyết định và thông tin quản lý thành văn (được văn bản hóa) do các cơ quan
QLNN soạn thảo, ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thể thức nhất định
phục vụ mục tiêu hoạt động của các cơ quan, đặc biệt là nhiệm vụ điều chỉnh các

mối quan hệ xã hội, quan hệ pháp lý trong quản lý nhà nước, quan hệ giữa các cơ
quan NN với các tổ chức và công dân.
– Chức năng quản lý của một số loại văn bản được hình thành trong hoạt
động của các cơ quan, tổ chưc, gắn liền với khả năng làm công cụ điều hành hoạt
động của các cơ quan đó. Chức năng này xuất hiện khi văn bản được sử dụng để
thu thập thông tin, ban hành quyết định và tổ chức thực hiện các quyết định quản
lý. Các cơ quan quản lý khi sử dụng văn bản để điều hành công việc đều dựa trên
chức năng quản lý của chúng. Tuy nhiên, không phải bao giờ chức năng này cũng
phát huy được tác dụng trong thực tiễn quản lý, bởi lẽ các văn bản cũng có khi
được ban hành mang tính quan liêu và không dựa trên mục tiêu quản lý cụ thể.Khi
nói đến chức năng quản lý của văn bản cần chú ý rằng, văn bản là yếu tố tạo nên
quan hệ giữa các cơ quan thuộc bộ máy quản lý nhà nước, là yếu tố hợp thức hóa
các hoạt động quản lý của các cơ quan này. Nhưng nếu sử dụng không đúng, văn
bản sẽ tạo cơ sở cho chủ nghĩa quan liêu pháp triển.
Chức năng quản lý của văn bản được thể hiện trên những phương diện:
Đây là chức năng có tính chất thuộc tính của văn bản quản lý. Chức năng quản
lý của văn bản thể hiện ở những khía cạnh sau:
– Thông tin trong văn bản quản lý Nhà nước giúp cho việc tổ chức tốt công
việc của các nhà lãnh đạo, làm cơ sở ban hành các quyết định quản lý.
– Văn bản ghi lại và truyền đạt các quyết định quản lý tới đối tượng thực hiện,
tham gia vào tổ chức thực hiện quyết định.
– Là phương tiện hữu hiệu để phối hợp, kiểm tra, đánh giá hiệu quả hoạt động
quản lý.
Ví dụ: Căn cứ các thông tin về kế hoạch phát triển kinh tế xã hộ của tỉnh, các
cơ quan quản lý Nhà nước, các tổ chức và địa phương trong tỉnh đã đưa ra các
quyết định quản lý đúng đắn trong công tác chỉ đạo điều hành.
– Điều kiện đảm bảo cho văn bản có chức năng quản lý:
+ Về mục tiêu quản lý: Mục tiêu quản lý là nhũng giá trị cần đạt được hay
nhiệm vụ cần được thực hiện phù hợp với ý chí của chủ thể. Nội dung này có thể
được thể hiện ở tên loại văn bản hoặc trong nội dung văn bản và cũng có thể ở phụ

lục văn bản.
+ Về chủ thể quản lý: Chủ thể quản lý có thể là cơ quan nhà nước hay công
chức có thẩm quyền ban hành theo luật điịnh để thực hiện chức năng, nhiệm vụ
được giao.
+ Về đối tượng quản lý: Trong văn bản quản lý nhà nước, đối tượng quản lý
20

là những quan hệ hay các chủ thể và các nguồn lực cần tác động để đạt mục
tiêu.Thể hiện trong văn bản được trình bày là đối tượng, phạm vi tác động; thể hiện
ý chí của chủ thể thành mệnh lệnh (qua tên loại văn bản) và các quy tắc xử sự
chung để điều chỉnh hay tác động vào các mối quan hệ, các đối tượng; yêu cầu các
đối tượng chấp hành và có chế tài thực hiện.
+ Về phương pháp quản lý: Cách thức tác động của chủ thể đến đối tượng
thể hiện qua văn bản vẫn là trực tiếp bằng những thông tin phản ánh ý chí của chủ
thể. Với văn bản quản lý nhà nước thì chủ yếu là phương pháp hành chính yêu cầu
các đối tượng phải chấp hành.
+ Về công cụ quản lý: Văn bản quản lý nhà nước mang tính chất của công cụ
pháp luật chính sách trong quản lý trong đó thể hiện những quy tắc xử sự có tính
bắt buộc, những cơ chế tác động thống nhất mà cả chủ thể và đối tượng phải có
trách nhiệm thực hiện.
+ Về điều kiện đảm bảo: Văn bản quản lý nhà nước được đảm bảo thực hiện
bằng nhà nước: Do cơ quan nhà nước tổ chức thực hiện bằng quyền lực nhà nước,
phương tiện vật chất kỹ thuật và ngân sách nhà nước, do công chức có thẩm quyền
thực hiện tại trụ sở cơ quan nhà nước.
+ Về môi trường quản lý: Môi trường quản lý thể hiện trong văn bản quản lý
nhà nước là môi trường pháp lý trong điều kiện kinh tế xã hội nhấtđịnh về không
gian và thời gian.
Với những điều kiện trên, văn bản quản lý nhà nước thực hiện được chức
năng quản lý của mình

– Ví dụ: các điều kiện để văn bản quản lý nhà nước trên thực hiện được chức
năng quản lý: Về mục tiêu quản lý, chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, phương
pháp quản lý, công cụ quản lý, điều kiện đảm bảo, môi trường quản lý, hiệu lực thi
hành.
Câu 8. Theo anh (chị) để văn bản quản lý nhà nước thực hiện được chức
năng xã hội thì cần phải đảm bảo những điều kiện nào. Phân tích để làm rõ
những điều kiện đó và minh họa bằng một văn bản quản lý nhà nước cụ thể?
– Văn bản quản lý nhà nước là những quyết định và thông tin quản lý thành
văn (được văn bản hóa) do các cơ quan QLNN soạn thảo, ban hành theo thẩm
quyền, trình tự, thủ tục, thể thức nhất định phục vụ mục tiêu hoạt động của các cơ
quan, đặc biệt là nhiệm vụ điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, quan hệ pháp lý
trong quản lý nhà nước, quan hệ giữa các cơ quan NN với các tổ chức và công
dân.
– Đặc điểm của chức năng xã hội
+ Được ban hành từ nhu cầu quản lý xã hội, là phương tiện để QLNN,
QLXH;
+ Phản ánh và điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong thực tiễn đời sống;
21

+ Văn bản QLNN có vai trò tích cực trong việc xây dựng và giữ gìn các định
chế (bộ máy) xã hội phù hợp với nhu cầu của sự tiến bộ chung;
+ Văn bản cũng có thể phá vỡ các quan hệ xã họi cũ được hình thành hoặc
tạo nên những quan hệ mới;
+ Các văn bản có khả năng góp phần thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển
của quan hệ xã hội.
– Phân tích các điều kiện để văn bản QLNN thực hiện được các chức năng xã
hội (Sách trang 354), các khía cạnh:
+ Văn bản được ban hành đúng mục tiêu ( tính khả thi, phù hợp với nhu cầu
của xã hội);

+ Nội dung văn bản phải cụ thể;
+ văn bản phải đảm bảo các yêu cầu về thể thức (thể thức văn bản kg phải
đơn thuần là hình thức mà còn mang tính nội dung, liên quan đến giá trị thông tin
của văn bản);
+ Văn bản phải sử dụng thuật ngữ và văn phong hợp lý, đơn giản, dễ hiểu;
+ Văn bản phải phù hợp với chức năng sử dụng;
+ văn bản phải được ban hành đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục ( tính
hợp pháp)
– Minh họạ bằng một văn bản cụ thể: phân tích sơ lược ví dụ đã đáp ứng các yêu cầu trên hay
chưa.+ Văn bản quy phạm pháp quy dưới luật (văn bản lập quy): Thông tư, Quyết định, Chỉ
thị
+ Văn bản hành chính thông thường: Công văn, Thông báo, Báo cáo, Tờ trình, Biên bản, Đề
án, Phương án, Kế hoạch, Chương trình, các loại giấy (giấy mời, giấy đi đường, giấy ủy
nhiệm…), các loại phiếu (phiếu theo dõi xử lí văn bản, phiếu gửi…)

Câu 9. Phân tích ý nghĩa của những thông tin chủ yếu chứa đựng trong
văn bản quản lý nhà nước và minh họa bằng một văn bản quản lý cụ thể.
* Văn bản quản lý nhà nước là những quyết định và thông tin quản lý thành
văn (được văn bản hóa) do các cơ quan QLNN ban hành theo thẩm quyền, trình tự,
thủ tục, hình thức nhất định và được nhà nước bảo đảm thi hành bằng nhiều hình
thức khác nhau nhằm điều chỉnh các mối quan hệ quản lý nội bộ nhà nước hoặc
giữa các cơ quan NN với các tổ chức và công dân.
* Chức năng thông tin của văn bản QLNN
Chức năng thông tin là thuộc tính cơ bản quan trọng, bản chất của văn bản, là
nguyên nhân hình thành văn bản và là cơ sở để thực hiện các chức năng khác. Chức
năng thông tin của văn bản thể hiện ở các mặt sau:
– Ghi lại các thông tin quản lý.
– Truyền đạt thông tin quản lý từ nơi này đến nơi khác trong hệ thống quản lý
hay giữa hệ thống với bên ngoài.
– Giúp cho cơ quan thu nhận thông tin cần cho hoạt động quản lý.

– Giúp các cơ quan xử lý, đánh giá các thông tin thu được thông qua hệ thống
truyền đạt thông tin khác.
22

* Ý nghĩa của những thông tin chủ yếu chứa đựng trong văn bản QLNN:
Giá trị của văn bản được đảm bảo bởi thông tin chứa đựng trong đó. Đến
lượt mình, giá trị thông tin trong văn bản phụ thuộc vào tính chính xác, mức độ đầy
đủ và sự trùng lặp cái mới của các thông tin mà văn bản mang lại cho quá trình
quản lý. Thông tin trong văn bản thường gồm 3 loại: thông tin quá khứ, thông tin
hiện hành, thông tin dự đoán.
– Thông tin văn bản quá khứ liên quan đến những sự việc đã được giải quyết
trong quá trình hoạt động đã qua của cơ quan quản lý. Tất nhiên, không phải mọi
thông tin văn bản quá khứ đều có giá trị ngang nhau đối với hoạt động hiện hành
của các cơ quan. Chỉ có một số thông tin trong đó cần bảo quản lâu dài dưới dạng
văn bản.
– Thông tin văn bản hiện hành liên quan đến những sự việc và quá trình quản
lý đang xảy ra hàng ngày trong các cơ quan QLNN. Ý nghĩa của các loại thông tin
hiện hành được xét theo mục đích hoạt động, chức năng, nhiệm vụ đang thực hiện
hàng ngày của cơ quan. Tính đa dạng của thông tin văn bản hiện hành phản ánh
hoạt động đa dạng của các cơ quan cũng như nhiệm vụ khác nhau mà mỗi hệ thống
cơ quan phải thực hiện trong quá trình QLNN.
– Thông tin dự đoán phải được phản ánh trong văn bản là những thông tin
mang tính kế hoạch tương lai, các dự báo chiến lược hoạt động mà bộ máy quản lý
cần dựa vào đó để hoạch định phương hướng hoạt động.
* Minh họa bằng một văn bản cụ thể:
– Tên cơ quan ban hành văn bản: Cho biết vị trí của cơ quan ban hành trong
hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước.
– Địa danh, ngày tháng năm ban hành văn bản: Giúp cho nơi nhận văn bản
theo dõi được địa điểm cơ quan ban hành nhằm liên hệ giao dịch công tacst huận

lợi và theo dõi được thời gian ban hành.
– Trích yếu văn bản: Thể hiện tổng quát, chính xác nội dung chủ yếu của văn
bản, giúp cho xác định nhanh chóng nội dung chủ yếu của văn bản, thuận tiện vào
sổ và theo dõi giải quyết công việc, tra tìm khi cần thiết.
– Căn cứ ban hành văn bản: Xác định rõ những căn cứ trực tiếp liên quan đến
nội dung của văn bản gồm: căn cứ pháp lý, cawncuws thẩm quyền, lý do ban hành.
– Nội dung điều chỉnh: Đây là phần trọng tâm của văn bản giúp cho đối
tượng thực hiện hiểu rõ nội dung của văn bản.
– Điều khoản thi hành:
+ Hiệu lực của văn bản: Nêu thời điểm bắt đầu hoặc giới hạn thời gian văn
bản có hiệu lực thi hành.
+ Xử lý văn bản cũ: Hiểu rõ, cụ thể những văn bản hoặc quy định nào bị bãi
bỏ toàn bộ hay một phần.
+ Các chủ thể có liên quan: Nêu những đối tượng chịu trách nhiệm chính
trong việc triển khai, thực hiện phối hợp… đối với văn bản được ban hành.
23

+ Nơi nhận: Mục này xác định rõ các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có trách
nhiệm thi hành công việc được đề cập trong văn bản.
+ Dấu độ mật hoặc/và mức độ khẩn: Giúp hiểu rõ mức độ mật, khẩn của văn
bản.
– Các yếu tố chỉ dẫn phạm vi phổ biến, dự thảo và tài liệu hoi nghị.
Câu 10. Hãy nêu các điều kiện đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả của văn
bản quản lý nhà nước; ví dụ minh họa bằng một văn bản quản lý nhà nước cụ
thể.
* Văn bản quản lý nhà nước là những quyết định và thông tin quản lý thành
văn (được văn bản hóa) do các cơ quan QLNN ban hành theo thẩm quyền, trình tự,
thủ tục, hình thức nhất định và được nhà nước bảo đảm thi hành bằng nhiều hình
thức khác nhau nhằm điều chỉnh các mối quan hệ quản lý nội bộ nhà nước hoặc

giữa các cơ quan NN với các tổ chức và công dân.
* Đặc điểm của văn bản quản lý NN
– Phản ánh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan ban hành;
– Thẩm quyền ban hành các loại văn bản quản lý nhà nước theo đúng quy
định của luật pháp được cơ quan chức năng có thẩm quyền quy định thống nhất;
– Văn bản quản lý nhà nước có nhiều loại khác nhau và chúng đều có những
chức năng cụ thể, có yêu cầu riêng khi soạn thảo.
– Giữa các văn bản hình thành trong hoạt động quản lý nhà nước luôn luôn
có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và thường tạo thành các hệ thống với những đặc
trưng riêng biệt (ngành, lĩnh vực)
– Đặc điểm cụ thể:
+Về chủ thể ban hành: văn bản quản lý nhà nước do các cơ quan Nhà nước,
người có thẩm quyền soạn thảo và ban hành. Chỉ có những văn bản do người đúng
thẩm quyền ban hành mới có ý nghĩa pháp lý.
Không phải chủ thể nào cũng được ban hành mọi loại văn bản quản lý mà chỉ
được ban hành những loại văn bản nhất định trong phạm vi thẩm quyền để thực
hiện chức năng nhiệm vụ của mình.
Ví dụ: các cơ quan thuộc Chính phủ không có quyền ban hành văn bản quy
phạm pháp luật. Tổng cục, Cục, Vụ thuộc Bộ không có quyền ban hành Thông tư
mà chỉ có Bộ chủ quản mới có quyền đó.
+ Về mục đích ban hành: văn bản quản lý nhà nước được ban hành nhằm
mục đích thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của Nhà nước.
+ Đối tượng áp dụng: Văn bản quản lý Nhà nước mang tính công quyền, được
ban hành để tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, là cơ sở pháp lý quan trọng
cho các hoạt động cụ thể của các cơ quan, tổ chức, cá nhân.
+ Về trình tự ban hành, hình thức văn bản: Văn bản quản lý nhà nước đòi
hỏi phải được xây dựng, ban hành theo thủ tục pháp luật quy định và được trình
bày theo hình thức luật định. Mỗi loại văn bản thường được sử dụng trong những
trường hợp nhất định và có cách thức trình bày riêng. Sử dụng đúng hình thức văn
bản sẽ góp phần tạo ra sự thống nhất cả về nội dung và hình thức của hệ thống văn

bản, tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu, sử dụng thực hiện văn bản.
24

+ Về bảo đảm thi hành.
Văn bản nhà nước mang tính quyền lực Nhà nước, bắt buộc các chủ thể khác
phải thực hiện và được đảm bảo thực hiện bởi Nhà nước như hoạt động tổ chức
trực tiếp hoặc cưỡng chế.
+ Về văn phong.
Văn bản quản lý nhà nước nhằm mục đích truyền đạt thông tin, mệnh lệnh từ
chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý một cách đầy đủ, chính xác nhất. Nó không
cần biểu cảm nên mang đặc trưng văn phong riêng, khác với văn phong nghệ thuật.
Văn bản quản lý nhà nước thường mang tính phổ quát, đại chúng và không cần quá
chi tiết như văn bản khoa học.
* Điều kiện để văn bản QLNN bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả ( Sách
trang 354)
– Đảm bảo yêu cầu về nội dung văn bản phải được ban hành đúng mục đích (
đúng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và nhu cầu quản lý xã hội…):
Khi bắt tay vào soạn thảo, cần xác định mục tiêu và giới hạn điều chỉnh của
văn bản, tức là cần phải trả lời được các vấn đề: văn bản này ban hành để làm gì?
Giải quyết công việc gì? Mức độ giải quyết đến đâu? Kết quả của việc thực hiện
văn bản là gì? Do đó, cần nắm vững nội dung văn bản cần soạn thảo, phương thức
giải quyết công việc đưa ra phải rõ ràng, phù hợp. Nội dung văn bản phải thiết thực,
đáp ứng các yêu cầu thực tế đặt ra, phù hợp với pháp luật hiện hành, không trái với
văn bản cấp trên, có tính khả thi. Không những thế, văn bản được ban hành phải
phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và phạm vi hoạt động của cơ quan,
tức là phải giải đáp được các vấn đề: văn bản sắp ban hành thuộc thẩm quyền pháp
lý của ai và thuộc loại nào? Phạm vi tác động của văn bản đến đâu? Trật tự pháp lý
được xác định như thế nào? Văn bản dự định ban hành có gì mâu thuẫn với các văn
bản của cơ quan hoặc của cơ quan khác? Như vậy,người soạn thảo cần nắm vững

nghiệp vụ và kỹ thuật soạn thảo văn bản dựa trên kiến thức cơ bản và hiểu biết về
quản lý hành chính và pháp luật. Tính mục đích của văn bản còn thể hiện ở phương
diện mức độ phản ánh các mục tiêu trong đường lối, chính sách của cấp ủy Đảng,
nghị quyết của cơ quan quyền lực cùng cấp và các văn bản của cơ quan quản lý nhà
nước cấp trên, áp dụng vào giải quyết những công việc cụ thể ở một ngành, một cấp
nhất định. Vì vậy, cần nắm vững đường lối chính trị của Đảng để có thể quy phạm
hóa chính sách thành pháp luật. Công tác này đòi hỏi giải quyết hợp lý các quan hệ
giữa Đảng và Nhà nước, giữa tập thể và cá nhân, giữa cấp trên và cấp dưới, phải
bảo đảm công tác bảo mật.
– Văn bản phải đảm bảo tính khoa học:
+ Có đủ lượng thông tin quy phạm và thông tin thực tế cần thiết. Chức năng
thông tin là chức năng tổng quát của văn bản. Thông tin quản lý chuyển đạt qua văn
bản được xem là đáng tin cậy nhất.
25

hiện ở những đặc thù sau : Về chủ thể phát hành : văn bản quản lý nhà nước do những cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền soạn thảo và phát hành. Chỉ có những văn bản do người đúngthẩm quyền phát hành mới có ý nghĩa pháp lý. Không phải chủ thể nào cũng được phát hành mọi loại văn bản quản lý mà chỉđược phát hành những loại văn bản nhất định trong khoanh vùng phạm vi thẩm quyền để thựchiện tính năng trách nhiệm của mình. Ví dụ : những cơ quan thuộc nhà nước không có quyền phát hành văn bản quyphạm pháp lý. Tổng cục, Cục, Vụ thuộc Bộ không có quyền phát hành Thông tưmà chỉ có Bộ chủ quản mới có quyền đó. + Về mục tiêu phát hành : văn bản quản lý nhà nước được phát hành nhằmmục đích thực thi những trách nhiệm, công dụng của Nhà nước. + Đối tượng vận dụng : Văn bản quản lý Nhà nước mang tính công quyền, được phát hành để ảnh hưởng tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, là cơ sở pháp lý quantrọng cho những hoạt động giải trí đơn cử của những cơ quan, tổ chức triển khai, cá thể. + Về trình tự phát hành, hình thức văn bản : Văn bản quản lý nhà nước đòihỏi phải được kiến thiết xây dựng, phát hành theo thủ tục pháp lý pháp luật và được trìnhbày theo hình thức luật định. Mỗi loại văn bản thường được sử dụng trong nhữngtrường hợp nhất định và có phương pháp trình diễn riêng. Sử dụng đúng hình thức vănbản sẽ góp thêm phần tạo ra sự thống nhất cả về nội dung và hình thức của mạng lưới hệ thống vănbản, tạo điều kiện kèm theo thuận tiện cho việc điều tra và nghiên cứu, sử dụng thực thi văn bản. + Về bảo vệ thi hành. Văn bản nhà nước mang tính quyền lực tối cao Nhà nước, bắt buộc những chủ thể khácphải thực thi và được bảo vệ triển khai bởi Nhà nước như hoạt động giải trí tổ chứctrực tiếp hoặc cưỡng chế. + Về văn phong. Văn bản quản lý nhà nước nhằm mục đích mục tiêu truyền đạt thông tin, mệnh lệnh từchủ thể quản lý đến đối tượng người tiêu dùng quản lý một cách không thiếu, đúng mực nhất. Nó khôngcần biểu cảm nên mang đặc trưng văn phong riêng, khác với văn phong thẩm mỹ và nghệ thuật. Văn bản quản lý nhà nước thường mang tính phổ quát, đại chúng và không cần quáchi tiết như văn bản khoa học. – Thể thức văn bản phải theo đúng qui định pháp lý : + Nội dung chế định pháp lý được biểu lộ trong văn bản nên thể thức vănbản phải bảo vệ tính pháp lý cao. + Văn bản là phương tiện đi lại tiềm ẩn quyết định hành động của chủ thể là nhà nước nên thểthực văn bản phải biểu lộ được quan hệ pháp lý giữa chủ thể và đối tượng người dùng. + Văn bản quản lý nhà nước được bảo vệ triển khai bằng nhà nước, nên thểthức văn bản phải biểu lộ được tư cách pháp nhân công quyền của chủ thể. + Văn bản quản lý nhà nước được toàn bộ những đối tượng người dùng thực thi nên văn bảnphải được pháp lý lao lý thống nhất về thể thức. – Thể thức văn bản được cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn thống nhất ( 5 đ ) Tùy theo đặc thù của văn bản mà việc hướng dẫn thực thi thể thức văn bảnthuộc thẩm quyền của cơ quan nào : Là văn bản qui phạm pháp lý do chủ thể hànhchính phát hành do Bộ thư pháp hướng dẫn theo Thông tư 25/2011 / TT – BTP ; nếu làvăn bản hành chính sẽ thực thi theo hướng dẫn của Thông tư 01/2011 / TT-BNV – Văn bản QPPL có tính mệnh lệnh cưỡng chế thi hành. Mọi đối tượng người tiêu dùng cótrách nhiệm thi hành, nếu không thi hành thì nhà nước có giải pháp cưỡng chế nhưxử phạt bằng những hình thức mặc dầu văn bản đó hoàn toàn có thể không có tính khả thi nhưngvẫn phải triển khai … do đó nó chỉ có tính một chiều, bắt buộc. – Có hiệu lực hiện hành tiếp tục và tương đối lâu dài hơn ( KN tương đối vĩnh viễn còntuỳ thuộc vào nội dung hợp lý hay không hài hòa và hợp lý, nội dung đề cập rộng hay hẹp màthời gian hoàn toàn có thể dài hay ngắn ; có quy phạm khi phát hành ra tới khi có hiệu lực thực thi hiện hành phảiqua một thời hạn, do đó nếu thời hạn sống sót ngắn thì nó ảnh hưởng tác động đến việc điềuchỉnh XH ). Văn bản luôn luôn được vận dụng cho nhiều người, nhiều đối tượng người tiêu dùng khácnhau, luôn luôn kiểm soát và điều chỉnh mối quan hệ XH mà nó đề cập, chỉ khi nào có văn bảnkhác sửa chữa thay thế. – Văn bản QPPL có đối tượng người dùng thi hành rộng ( thường thì thì văn bản khôngchỉ vận dụng so với 1 đối tượng người tiêu dùng, mà là ảnh hưởng tác động tới 1 nhóm đối tượng người dùng ). Mọi cánhân, cơ quan chịu sự tác động ảnh hưởng của văn bản phải có nghĩa vụ và trách nhiệm thi hành. a. Lấy ví dụ minh họa bằng một quyết định hành động thành văn cụ thểBỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯVIỆT NAMCỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨASố : 337 / QĐ-BKHĐộc lập – Tự do – Hạnh phúcHà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2007QUY ẾT ĐỊNHVề việc phát hành Quy định nội dung Hệ thống ngành kinh tế tài chính của Việt NamBỘ TRƯỞNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯCăn cứ Nghị định số 61/2003 / NĐ-CP ngày 06 tháng 06 năm 2003 của Chínhphủ lao lý công dụng, trách nhiệm, quyền hạn và cơ cấu tổ chức tổ chức triển khai của Bộ Kế hoạchvà Đầu tư ; Căn cứ Nghị định số 01 / NĐ-CP ngày 04 tháng 01 năm 2007 của Chính phủvề việc chuyển Tổng cục Thống kê vào Bộ Kế hoạch và góp vốn đầu tư ; Căn cứ Quyết định số 10/2007 / QĐ-TTG ngày 23 tháng 01 năm 2007 của thủtướng cơ quan chính phủ phát hành Hệ thống ngành kinh tế tài chính của Nước Ta ; Xét ý kiến đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, QUYẾT ĐỊNHĐiều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Qui định nội dung Hệ thống ngànhkinh tề của Nước Ta đã được phát hành theo Quyết định số 10/2007 / QĐ-TTg củaThủ tướng Chính Phủ. Điều 2. Giao Tổng cục thống kê phối hợp vói những đơn vị chức năng có tương quan : Hướng dẫn những Bộ, ngành, cơ quan, tổ chức triển khai có tương quan thực thi theo đúngQuy định nội dung Hệ thống ngành kinh tế tài chính của Nước Ta ; Theo dõi tình hình thực thi, trình Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư sửa đổi, bổ trợ lao lý nội dung Hệ thống ngành kinh tế tài chính của Nước Ta khi thiết yếu. Điều 3. Các Ông Tổng cục trưởng Tổng cục thống kê, Chánh văn phòng Bộ, Thủ trưởng những đơn vị chức năng thuộc Bộ Kế Hoạch và Đầu tư chịu nghĩa vụ và trách nhiệm thi hànhQuyết định này. BỘ TRƯỞNGĐã kýVõ Hồng PhúcCâu 2. Theo Anh ( Chị ), để văn bản quản lý nhà nước thực thi được chứcnăng pháp lý thì cần phải bảo vệ những điều kiện kèm theo nào ? Phân tích để làm rõnhững điều kiện kèm theo đó và minh họa bằng một văn bản quản lý nhà nước đơn cử ? Đáp án : ( Đề 5 – Tuấn Anh ) Khái niệm văn bản quản lý nhà nướcVăn bản quản lý nhà nước là những quyết định hành động và thông tin quản lý thànhvăn ( được văn bản hóa ) do những cơ quan quản lý nhà nước soạn thảo, phát hành theothẩm quyền, trình tự, thủ tục, thể thức nhất định ship hàng tiềm năng hoạt động giải trí củacác cơ quan, đặc biệt quan trọng là trách nhiệm kiểm soát và điều chỉnh những mối quan hệ xã hội, quan hệ pháplý trong quản lý nhà nước, quan hệ giữa những cơ quan nhà nước với nhau hoặc giữacác cơ quan nhà nước với tổ chức triển khai và công dân. Như vậy, hoàn toàn có thể thấy rằng, văn bản quản lý nhà nước hình thành trong quátrình thực thi công dụng, trách nhiệm mà những cơ quan nhà nước là chủ thể phát hành. Chức năng pháp lý của văn bản quản lý nhà nước được biểu lộ ở nhữngphương diện dưới đây : Ghi lại những quy phạm pháp luật và những quan hệ pháp lý sống sót trong xã hội dopháp luật kiểm soát và điều chỉnh. Khi đã sử dụng hình thức văn bản để ghi lại và truyển tảiquyết định và thông tin quản lý, cơ quan nhà nước đã sử dụng thẩm quyền trong đó. Mệnh lệnh chứa trong văn bản có giá trị pháp lý bắt buộc mọi người phải tuân theo. Bản thân văn bản là chỗ dựa pháp lý, khung pháp lý ràng buộc mọi mối quan hệ, dựa vào đó để tổ chức triển khai hoạt động giải trí của cơ quan, cá thể, tổ chức triển khai. – Quy phạm hóa những mối quan hệ xã hội đang sống sót trong những nghành nghề dịch vụ của đờisống xã hội ; – Là cơ sở pháp lý cho hoạt động giải trí của những cơ quan, tổ chức triển khai. Văn bản là cơ sởxây dựng mạng lưới hệ thống pháp lý, tạo ra hiên chạy pháp lý cho hoạt động giải trí của những cơquan tổ chức triển khai ; – Là loại sản phẩm của sự vận dụng những quy phạm pháp luật vào đời sống trong thực tiễn, vào quản lý nhà nước và quản lý xã hội ; phản ánh quy trình xử lý những côngviệc theo pháp luật pháp lý hiện hành ; – Là cơ sở để cơ quan, tổ chức triển khai, công dân triển khai những quyền và nghĩa vụ và trách nhiệm củamình. – Là cầu nối tạo ra những mối quan hệ giữa những tổ chức triển khai, cơ quan. Văn bản và cáchệ thống văn bản quản lý giúp xác lập những quan hệ pháp lý giữa những cơ quan quảnlý và bị quản lý, tạo nên sự ràng buộc nghĩa vụ và trách nhiệm giữa những cơ quan, cá thể cóquan hệ trao đổi văn bản, theo khoanh vùng phạm vi hoạt động giải trí của mình và quyền hạn đượcgiao. Ví dụ : quan hệ giữa Bộ với những sở, ban, ngành … ; giữa Ủy Ban Nhân Dân tỉnh với UBNDhuyện, những sở, ban, ngành. – Bản thân những văn bản trong nhiều trường hợp, là chứng cứ pháp lý để giảiquyết những trách nhiệm đơn cử trong quản lý và quản lý việc làm của những cơ quan. – Là trọng tài phân minh, phân xử khi triển khai văn bản không thống nhất, cơsở để xử lý tranh chấp và sự không tương đồng giữa những cơ quan, đơn vị chức năng, cá thể, giảiquyết những quan hệ pháp lý phát sinh. Tính pháp lý của văn bản được hiểu là sự tương thích của văn bản ( về nội dung vàthể thức ) với pháp luật pháp lý hiện hành. Như vậy, văn bản bảo vệ tính pháp lý khi được phát hành theo đúng quyđịnh pháp lý về nội dung và thể thức. Thể thức văn bản là hình thức pháp lý của văn bản, là hàng loạt những yếu tố vềhình thức có tính bố cục tổng quan đã được thể chế hoá để bảo vệ giá trị pháp lý cho vănbản. Như vậy thể thức là yếu tố thuộc về hình thức bên ngoài nhằm mục đích bảo vệ tínhpháp lý cho văn bản. Xét trên phương diện này, hoàn toàn có thể thấy văn bản là phương tiện đi lại tác động ảnh hưởng củapháp luật vào những quan hệ xã hội. Như vậy, hoàn toàn có thể coi những văn bản được ban hànhtheo tính năng pháp lý là mẫu sản phẩm của quy trình vận dụng những quy phạm pháp luậttrong quản lý nhà nước và quản lý xã hội. Đây là một trong những hình thức bảođảm pháp lý của những quyết định hành động quản lý. Ban hành những văn bản theo hướng này, cáccơ quan có thẩm quyền của Nhà nước mong ước triển khai tiềm năng duy trì cácquan hệ xã hội theo pháp luật pháp lý và bảo vệ quyền lợi ích chính đáng củangười lao động trước pháp lý. Ở đây, công dụng pháp lý của văn bản quản lý nhànước được gắn liền với tiềm năng phát hành chúng. Theo công dụng này, văn bảnquản lý nhà nước cũng tham gia và tạo dựng hiên chạy pháp lý cho hoạt động giải trí quảnlý nhà nước. Cần nhấn mạnh vấn đề thêm rằng, cho đến nay việc truyền đạt những quy phạm phápluật, những chủ trương, chủ trương, v.v… đều được triển khai đa phần trải qua hệthống văn bản quản lý nhà nước. Về phương diện pháp lý, văn bản và những hệ thốngvăn bản quản lý có công dụng rất quan trọng trong việc xác lập những quan hệ pháp lýgiữa những cơ quan nhà nước và những tổ chức triển khai bị quản lý. Chúng tạo nên mối ràng buộcvề mặt nghĩa vụ và trách nhiệm giữa những chủ thể có quan hệ với nhau theo khoanh vùng phạm vi hoạt độngvà theo quyền hạn được giao trong từng mạng lưới hệ thống. Điều kiện để văn bản quản lý nhà nước triển khai được tính năng pháp lýVề chủ thể phát hành : Văn bản quản lý nhà nước do cơ quan có thẩm quyềnban hành theo luật định để thực thi công dụng, trách nhiệm được giao. Về nội dung : Văn bản quản lý nhà nước biểu lộ ý chí của chủ thể thànhmệnh lệnh ( qua tên loại văn bản ) và những quy tắc xử sự chung để kiểm soát và điều chỉnh hay tácđộng vào những mối quan hệ, những đối tượng người dùng ; nhu yếu những đối tượng người tiêu dùng chấp hành và cóchế tài triển khai ; nội dung phải đơn cử, tương thích với đặc thù pháp lý của mỗi loạivăn bản trong mạng lưới hệ thống văn bản ( ngành, nghành nghề dịch vụ … ) ; tương thích với tính năng sửdụng, tương thích với pháp luật pháp lý hiện hành ; những chế tài sử dụng phải đảm bảotính hài hòa và hợp lý. Về hình thức : Văn bản quản lý nhà nước bộc lộ rõ chủ thể phát hành, tínhchất văn bản, xác nhận khoanh vùng phạm vi khoảng trống và thời hạn, có bố cục tổng quan nội dung theochương, mục, điều, khoản, điểm, có số, ký hiệu văn bản theo lao lý của phápluật ; Văn bản phải bảo vệ về mặt thể thức ; sử dụng thuật ngữ và văn phong hợplý ; Về trình tự, thủ tục phát hành : Văn bản quản lý nhà nước được phát hành theođúng trình tự, thủ tục do Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật lao lý. Điều kiện bảo vệ : Văn bản quản lý nhà nước được bảo vệ triển khai bằngnhà nước : do cơ quan nhà nước tổ chức triển khai triển khai bằng quyền lực tối cao nhà nước, phương tiện đi lại, vật chất kỹ thuật và ngân sách nhà nước, do công chức có thẩm quyềnthực hiện tại trụ sở cơ quan nhà nước. Về giá trị pháp lý : – Văn bản quản lý nhà nước dùng để kiểm soát và điều chỉnh những quan hệ xã hội hay điềuhành hoạt động giải trí những chủ thể ; – Văn bản quản lý nhà nước làm cơ sở pháp lý để những chủ thể phát hành quyếtđịnh thực thi công dụng, trách nhiệm của mình ; – Văn bản quản lý nhà nước được những đối tượng người tiêu dùng thừa nhận và chấp hànhkhông điều kiện kèm theo. Với những điều kiện kèm theo trên, văn bản quản lý nhà nước có hiệu lực hiện hành thực hiệnvới mọi đối tượng người tiêu dùng, ở mọi lúc, mọi nơi. Minh họa bằng lời hoặc bằng mẫu văn bản quản lý nhà nước kèm theo lờigiải thích ngắn gọnQuyết định số 43/2010 / QĐ-TTg ngày 02 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướngChính phủ về việc phát hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê vương quốc ( được gửi kèm ). Các điều kiện kèm theo để văn bản quản lý nhà nước trên thực thi được chức năngquản lý : – Mục tiêu quản lý : … – Chủ thể quản lý : … – Đối tượng quản lý : … – Phương pháp quản lý : … – Công cụ quản lý : … – Điều kiện bảo vệ : … – Môi trường quản lý : … – Hiệu lực thi hành : … Câu 3. Phân tích, làm rõ ý nghĩa của nhu yếu về tính kịp thời trong soạn thảovà phát hành quyết định hành động hành chính. Đáp án : Quyết định hành chính là mệnh lệnh quản lý của những chủ thể quản lýHCNN được phát hành theo một trình tự, thủ tục và thể thức nhất định nhằm mục đích giảiquyết một mục tiêu hay một việc làm đơn cử trong quản lý hành chính nhà nước. Quyết định hành chính tiềm ẩn quyền lực tối cao của nhà nước dưới góc nhìn nhấtđịnh là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước ( hoặc cá thể, tổ chức triển khai có thẩmquyền ) nhằm mục đích đưa ra những pháp luật chung hoặc xử lý những yếu tố pháp lý hànhchính đơn cử so với tập thể hay cá thể có ý nghĩa bắt buộc tuân thủ. Quyết định hành chính cũng tiềm ẩn trong đó những tiềm năng mà chủ thểmong muốn đạt tới khi thi hành quyết định hành động và phương tiện đi lại để triển khai chúng. Quyết định hành chính là giải pháp xử lý việc làm của chủ thể quản lýhành chính trước một trường hợp đang đặt ra, là sự phản ứng của chủ thể quản lýhành chính nhà nước trước một trường hợp yên cầu phải có sự xử lý của nhànước theo thẩm quyền do luật định. Nhìn một cách tổng quát, việc phát hành những quyết định hành động là trách nhiệm của cơquan nhà nước có thẩm quyền nhằm mục đích định ra chủ trương, pháp luật, sửa đổi hoặc bãibỏ những quy phạm pháp luật hành chính. Chúng có năng lực làm phát sinh, biến hóa, chấm hết hoặc hồi sinh những quan hệ pháp luật hành chính đơn cử. Khi soạn thảo vàban hành những cơ quan nhà nước thực thi những trách nhiệm, công dụng, quyền hạn màpháp luật pháp luật cho mình. Các quyết định hành động hành chính được hiểu như thể một mô hình của quyết địnhnhà nước có những đặc thù hầu hết : – Có tính ý chí quyền lực tối cao nhà nước, là hiệu quả của sự biểu lộ ý chí của cáccơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền triển khai nhân danh quyền lực tối cao nhànước. – Có tính pháp lý biểu lộ ở hậu quả pháp lý do tất cả chúng ta tạo ra. Quyết địnhhành chính ảnh hưởng tác động vào đời sống xã hội bằng việc định ra chủ trương, sửa đổi, bãibỏ những quy phạm pháp luật hành chính, làm phát sinh, biến hóa, chấm hết hoặc phụchồi quan hệ pháp luật hành chính. Có tính dưới luật, chấp hành luật, nghĩa là nội dung của quyết định hành động hànhchính phải tương thích với Hiến pháp, luật và những văn bản của cơ quan nhà nước cấptrên, được phát hành theo trình tự và hình thức do pháp lý lao lý. Chúng đượcban hành để triển khai quyền hành pháp tức là hoạt động giải trí chấp hành và điều hànhcủa mạng lưới hệ thống hành chính nhà nước và người có thẩm quyền hành pháp. Với những đặc thù như vậy, quyết định hành động hành chính nhà nước chính là tínhiệu kiểm soát và điều chỉnh, là thông tin quy phạm của chủ thể quản lý hành chính nhà nước tácđộng vào khách thể của quan hệ pháp luật hành chính để triển khai mục tiêu củamình theo quỹ đạo và ý chí của mình. * Yêu cầu về tính kịp thời trong soạn thảo và phát hành quyết định hành động hànhchính : Trong hoạt động giải trí quản lý và điều hành quản lý của những ngành, những cấp thì việc soạnthảo và phát hành những quyết định hành động hành chính là một nhu yếu tất yếu. Tuy nhiên, việcsoạn thảo và phát hành quyết định hành động hành chính chậm trễ, không kịp thời, không đúngthời điểm sẽ mang lại hiệu suất cao không cao. Do đó, nhu yếu về tính kịp thời trong soạn thảo và phát hành quyết định hành động hànhchính là rất quan trọng, thiết yếu bởi lẽ : – Quyết định hành chính được soạn thảo và phát hành khi có nhu yếu giảiquyết yếu tố của chủ thể. – Quyết định hành chính được soạn thảo và phát hành khi có nhu yếu giảiquyết yếu tố của đối tượng người tiêu dùng. – Quyết định hành chính phát hành đúng thời gian cần xử lý vấn đềthuộc nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ thể hành chính. – Quyết định hành chính được phát hành kịp thời khi bảo vệ những điều kiệncơ bản để xử lý yếu tố. * Phân tích ý nghĩa của nhu yếu về tính kịp thời trong soạn thảo và banhành quyết định hành động hành chínhViệc triển khai soạn thảo và phát hành văn bản hành chính kịp thời sẽ manglại ý nghĩa vô cùng quan trọng : – Đảm bảo nhu yếu kịp thời của quyết định hành động hành chính sẽ phân phối việc giảiquyết những nhu yếu của chủ thể hay đối tượng người dùng trong hoạt động giải trí quản lý nhà nước. – Đảm bảo nhu yếu kịp thời trong soạn thảo và phát hành quyết định hành động là tráchnhiệm thực thi công vụ của công chức. – Đảm bảo nhu yếu kịp thời trong soạn thảo và phát hành quyết định hành động hànhchính sẽ tiết kiệm chi phí ngân sách hoạt động giải trí của chủ thể hành chính. – Đảm bảo nhu yếu kịp thời trong soạn thảo và phát hành quyết định hành động hànhchính sẽ góp thêm phần nâng cao tính khả thi của quyết định hành động – Đảm bảo nhu yếu kịp thời trong soạn thảo và phát hành quyết định hành động hànhchính sẽ tạo ra sự thống nhất cao trong quản lý hành chính – Đảm bảo nhu yếu kịp thời trong soạn thảo và phát hành quyết định hành động hànhchính góp thêm phần củng cố quan hệ giữa chủ thể hành chính nhà nước với đối tượnghành chính. * Minh họa bằng một quyết định hành động cụ thểTrong hoạt động giải trí quản lý nhà nước, rõ ràng nhu yếu khách quan của vấn đề, của yếu tố cần xử lý chỉ xảy ra ở một thời gian lịch sử vẻ vang đơn cử. Do vậy, quyết định hành động hành chính nhà nước được phát hành nhằm mục đích điều chỉnhhành vi trên phải bảo vệ kịp thời, đúng thời điểmVí dụ như trường hợp theo thông tin của Đài khí tượng thủy văn ngày01 / 11/2013 sẽ có cơn bão cấp 13 đi qua tỉnh A. Sau khi nhận được thông tin củaBan phòng chống lụt bão TW, Ủy Ban Nhân Dân tỉnh A phải phát hành quyết định hành động di dân, sơtán ra khỏi vùng tâm bão. Do vậy, nếu không có quyết định hành động di tán dân ra khỏi vùngtâm bão và ra quyết định hành động không kịp thời thì hậu quả xảy ra là không lường trướcđược. Hiện nay, hoạt động giải trí soạn thảo và phát hành quyết định hành động hành chính của chủthể quản lý và đạt được những quyết định hành động quan trọng rất đáng khuyến khích. Tất cảnhững hoạt động giải trí này đều hướng tới tiềm năng triển khai quyền lực tối cao của nhân dân, ship hàng nhân dân, thực thi pháp lý, đưa pháp lý đi vào đời sống để bảo vệ kỷcương xã hội. Tuy nhiên, việc bảo vệ tính kịp thời trong soạn thảo và ban hành quyết địnhhành chính nhà nước vẫn còn những chưa ổn, hạn chế nhất định. Do thiếu kịp thờinên những quyết định hành động hành chính đó chưa có tính khả thi cao, hiệu suất cao thấp, cá biệtcó trường hợp để lại hậu quả nghiêm trọng. Do vậy, cần nâng cao ý thức nghĩa vụ và trách nhiệm của công chức thực thi công vụtrong việc làm, bảo vệ tính kịp thời trong soạn thảo và phát hành quyết định hành động hànhchính nhà nước, đưa hoạt động giải trí quản lý nhà nước ngày càng đạt hiệu suất cao cao, gópphần vào sự nghiệp tăng trưởng kinh tế tài chính xã hội của quốc gia. Câu 4. Anh ( chị ) hãy cho biết, giữa văn bản quy phạm pháp luật với văn bảnhành chính thường thì có gì khác nhau ? Để văn bản quy phạm pháp luật cóhiệu lực thi hành cần phải có những điều kiện kèm theo bảo vệ nào. Phân tích những điềukiện đó và lấy ví dụ trong thực tiễn để minh họa ? Đáp án : Đáp án : a ) Khái niệm văn bản QPPLVăn bản qui phạm pháp lý là văn bản do cơ quan nhà nước phát hành hoặcphối hợp phát hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được qui định bởiLuật phát hành văn bản QPPL hoặc luật phát hành văn bản qui phạm pháp lý củaHội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, trong đó có qui tắc xử sự chung, có hiệu lựcbắt buộc chung, được nhà nước bảo vệ triển khai để kiểm soát và điều chỉnh những quan hệ xãhội. Như vậy qui phạm pháp lý có tính đặc trưng riêng của mình được áp dụngtrong một khoanh vùng phạm vi rộng và có tính bắt buộc, phản ánh thẩm quyền của cơ quan nhànước được phép phát hành. Văn bản qui phạm pháp lý do cơ quan nhà nước cóthẩm quyền phát hành theo thủ tục trình tự được luật qui định, tiềm ẩn những quiphạm pháp lý nhằm mục đích xác lập những qui tắc xử sụ chung của hội đồng, thiết lậphay sửa đổi những quan hệ pháp lý trong điều hànhc, kiểm soát và điều chỉnh những quan hệ xã hội vàđược nhà nước bảo vệ triển khai bằng những phương pháp thích hợp. Văn bản qui phạm pháp lý hướng vào hội đồng không dành riêng cho mộtcác thể nào cả được vận dụng nhiều lần và việc sửa chữa thay thế chúng phải theo đúng thủtục. Theo qui định của luật phát hành văn bản qui phạm pháp lý năm 2008, hệthống văn bản qui phạm pháp lý của nước ta gồm có những loại sau đây : Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội. Pháp lệnh, nghị quyết của quản trị nướcNghị định của chính phuQuyết định của Thủ tướng chính phủNghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thông tư củaChánh án tóa án nhân dân tối caoThông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối caoThông tư của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Quyết định của Tổng kiểm toán nhà nướcNghi quyết liên tịch giữa UB thường vụ Quốc hội hoặc nhà nước với cơquan TW của tổ chức triển khai chính trị xã hội. Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởngViện kiểm sát nhân dân tối cao, giữa Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ vớiChánh án TANDTC nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ; giữacác Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Văn bản qui phạm pháp lý của hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân. Trong những văn bản qui phạm pháp lý nói trên, Hiến pháp được xem là đạoluật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực hiện hành pháp lý cao nhất. Cac luật đạo về ban hànhcvăn bản qui phạp pháp lý còn qui định rằng, văn bản qui phạm pháp lý do cáccơ quuan nhà nước cấp dưới phát hành phải tương thích với van bản qui phạm phápluật của cơ quan nhà nưosc cấp trên. Văn bản qui phạm pháp lý trái với Hiệnpháp, trái với van bản của cơ quan nhà nước cấp trên phải được cơ quan nhà nướccó thẩm quyền bãi bỏ, đình chỉ việc thi hành. Từ những nội dung đã trình diễn ở trên, hoàn toàn có thể nêu lên những đặc thù cơ bảncủa văn bản qui phạm pháp lý nói chung như sau : Được phát hành và kiểm soát và điều chỉnh theo luậtChứa đụng những qui tắc xử sự chungViệc vận dụng chúng làm phát sinh hoặc đổi khác chấm hết những quan hệ phápluật, quan hệ xã hộiCo đặc thù bắt buộc thi hànhĐược vận dụng nhiều lầnVì những đặc thù trên mà việc soạn thảo những văn bản qui phạm pháp luậtluôn có những nhu yếu rất ngặt nghèo. Cụ thể là : 10C ác cơ quan có thẩm quyền phát hành văn bản qui phạm pháp lý theo luậtđịnh phải có chương trình, kế hoạch phát hành văn bản rõ ràng, tương thích với chứcnăng trách nhiệm của mình vf phải được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Phải tuân thủ qui trình xây dụng và phát hành văn bản đã được pháp lý quiđịnh. Không được phát hành văn bản trái thẩm quyền được cho phép hoặc trái với nhữngqui định của văn bản cấp trênb ) Văn bản hành chính thường thì : Đặc điểm của văn bản hành chính thường thì : Trong thực tiễn hoạt độngcủa những cơ quan, tổ chức triển khai, kể cả ở chính quyền sở tại cấp xã, văn bản hành chính thôngthường là loại văn bản được soạn thảo và sư dụng nhiều nhất. Khác với văn bản qui phạm pháp luạt mà thẩm quyền phát hành phải tuântheo luật định, văn bản hành chính thường thì là loại văn bản hầu nhưn mọi cơquan, tổ chức triển khai đơn vị chức năng đề hoàn toàn có thể phát hành. Đây là loại văn bản không qui định thẩmquyền phát hành mà việc ban chúng phụ thuộc vào nhu yếu việc làm và thường dothủ trưởng cácc đơn vị chức năng, cơ quan xác dịnh đơn cử cho từng văn bản gắn với yêu cầugiải quyết việc làm hàng ngày. Trong nhiều trường hợp, loại văn bản này không cótính cưỡng chế, bắt buộc thực thi. c ) Qua những nội dung nêu trên cho thấy sự khác nhau giữa văn bản quiphạm pháp lý với van bẳn hành chính thường thì ở những điểmsau : + Về tiềm năng sử dụng : Văn bản QPPL để kiểm soát và điều chỉnh những quan hệ xã hộiVăn bản hành chính để hướng dẫn thực thi hay thông tin về quản lý. + Về chủ thể phát hành : Văn bản QPPL do cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hành theo luật địnhVăn bản hành chính do những cơ quan nhà nước phát hành + Về nội dungVăn bản QPPL có tiềm ẩn những qui tắc xử sự chung và chế tài thực hiệnVăn bản hành chính chỉ phản ánh thông tin về hoạt động giải trí quản lý nhà nước + Về hình thức. Văn bản QPPL có bố cục tổng quan nội dung theo phần, chương, mục, điều, khoản, điểm ; có số, ký hiệu văn bản theo qui định của Luật ban hành văn bản QPPL ; Văn bản hành chính không nhất thiết phải bảo vệ nhu yếu về cấu trúc hìnhthức + Về trình tự thủ tục ban hànhVăn bản QPPL được phát hành đúng theo trình tự, thủ tục do Luật ban hànhvăn bản QPPL qui định. Văn bản hành chính không nhất thiết phải tuân theo trình tự, thủ tục luật định. + Điều kiện đảm bảoVăn bản QPPL được bảo vệ thực thi bằng nhà nước ( quyền lực tối cao nhà nước, 11 ngân sách nhà nước, công chức nhà nước ) Văn bản hành chính do những đối tượng người dùng trong và ngoài nhà nước tự thực hiệnMinh họaBỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯNAMTỔNG CỤC THỐNG KÊCỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆTĐộc lập – Tự do – Hạnh phúcSố …. / QĐ – TCTKHà Nội, ngàythángnămQUYẾT ĐỊNHVề việccử cán bộ đi công tác làm việc nước ngoàiTỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THỐNG KÊ. Căn cứ quyết định hành động số 54/2010 / QĐ – TTg ngày 24/8/2010 của Thủtướng nhà nước Quy định công dụng, trách nhiệm, quyền hạn và cơ cấu tổ chức tổchức của Tổng cục Thống kê thường trực Bộ Kế hoạc và Đầu tư ; Căn cứ Nghị định số 136 / 2007 / NĐ – CP ngày 17/8/2007 của Chính phủvề việc xuất cảnh, nhập cư của công dân Nước Ta ; Căn cứ Quyết định số 676 / QĐ – BKH ngày 25/5/2009 của Bộ trưởngBộ Kế hoách và Đầu tư về việc cung ứng quản lý cán bộ, công chức, viênchức hành chính, Sự nghiệp Bộ Kế hoạch và Đầu tư ; Căn cứ Kế hoách huấn luyện và đào tạo, bối dưỡng cán bộ, công chức, viên chức năm2013 của Tổng cục Thống kê về việc xây dựng Đoàn cán bộ tham gia Khóađào tạo tại Nước Hàn ; Xét ý kiến đề nghị của Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộQUYẾT ĐỊNH : Điều 1. Cử những ông, bà có tên sau đây tham dụ khóa huấn luyện và đào tạo vè “ Thốngkê kinh tế tài chính “ từ ngay 07/12/2013 tại Nước Hàn : 1. Ông Nguyễn Văn A, ( Công chức mẫ ngạch : 01002 loại A2 ), Vụ ttrưởngVụ TK …, Trưởng đoàn2. Bà Nguyễn Thị B ( Công chức mẫ ngạch : 23262 loại A2 ) Phó vụ trưởngVụ Tk … .. Phó đoàn3. Ông Nguyễn Văn C ( Công chức mẫ ngạch : 23262 loại A1 ) Thống kê viênVụ Tk … .. Thành viênKinh phí hàng loạt chuyến đi do Viện giảng dạy Thống kê Nước Hàn ( STI ) tàitrợ12Điều 2. Sau khi kết thúc chuyến công tác làm việc, trong thời hạn 7 ngày thao tác. Đoàn phải có báo cáo giải trình tác dụng chuyến công tác làm việc theo qui định của Tổng cụcThống kê. Điều 3. Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, Chánh văn phòng, Vụ trưởng VụThống kê quốc tế và Hợp tác quốc tế, Thủ trưởng những đơn vị chức năng có liên quanvà những ông bà có tên tại Điều 1 Căn cứ Quyết định thi hành .. /. TỔNG CỤC TRƯỞNGNơi nhận : Bộ Ngoại giaoBộ Công anNhư điều 3L ưu VT, TCCB, HSNguyễn Bích LâmBỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯVIỆT NAMTỔNG CỤC THỐNG KÊCỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAĐộc lập – Tự do – Hạnh phúcSố …. / TCTK – DSLĐ2012Hà Nội, ngàythángnămV / v thống nhất số liệu dân sốTrung bình chính thức năm 2010 vàƯớc tính năm 2011K ính gửi : Các cục Thống kê tỉnh, thành phố thường trực Trung ươngNgày 16 tháng 01 năm 2012, Tổng cục Thống kê đã gửi Công văn số 35 / TCTKDSLĐ trưng cầu quan điểm những Cục Thống kê tỉnh, thành phố thường trực Trung ươngvề số liệu dân số trung bình chính thức năm 2010 và ước tính năm 2011. Hầu hếtcác Cục Thống kê thống nhất với giải pháp biên soạn và nhiều Cục Thống kêthống nhất với số liệu của Tổng cục Thống kê. Sau khi điều tra và nghiên cứu thận trọng và xem xét gops ý của những Cục Thống kê, Tổng cụcđã tính lại những biểu số liệu dân số trung bình chính thức năm 2010 ( Biểu 1 ) và ướctinh năm 2011 ( Biểu 20 chia theo tỉnh, thành phố, giới tính, thành thị và nông thôn. Số liệu này sẽ được công bố trong niên giám Thống kê tóm tắt và rất đầy đủ năm 2011 của Tổng cục Thống kê. 13 Để bảo vệ thống nhất số liệu giữa Trung ương và địa phương, Tổng cục Thống kêyêu cầucác Cục Thống kê thống nhất sử dụng số liệu do Tổng cục đã tính và gử cấcCục Thống kê ( những biểu số liệu được gửi kèm ) Nơi nhận : KT.TỔNG CỤC TRƯỞNG – Như trênPHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG – Đồng chí Tổng cục trưởng ( để báo cáo giải trình ) ; – Lưu VT, DSLĐNguyễn Bích LâmĐể văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực thực thi hiện hành thi hành cần phải có những điềukiện bảo vệ nào. Phân tích những điều kiện kèm theo đó và lấy ví dụ thực tiễn để minh họa ? Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước phát hành hoặcphối hợp phát hành theo thủ tục, trình tự thẩm quyền luật định, trong đó có những quytắc xử sự chung, có hiệu lực thực thi hiện hành bắt buộc chung được nhà nước bảo vệ thực hiệnnhằm kiểm soát và điều chỉnh những quan hệ xã hội ( Điều 1 Luật Ban hành văn bản quy phạm phápluật 2008 ). Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật gồm có : hiệu lực thực thi hiện hành về thời hạn vàhiệu lực về khoảng trống và đối tượng người tiêu dùng vận dụng. Do vậy, để văn bản quy phạm phápluật có hiệu lực thực thi hiện hành thi hành cần có những điều kiện kèm theo sau : – Điều kiện có hiệu lực hiện hành về thời hạn : Theo pháp luật tại Điều 78 Luật Ban hành văn bản qppl 2008 thì : “ Thời điểmcó hiệu lực thực thi hiện hành của văn bản quy phạm pháp luật được lao lý trong văn bản nhữngkhông sớm hơn bốn mươi lăm ngày, kể từ ngày công bố hoặc ký phát hành. Trườnghợp văn bản qppl lao lý những giải pháp thi hành trong thực trạng khẩn cấp, vănbản được phát hành để kịp phân phối nhu yếu phòng, chống thiên tai, dịch bệnh thì cóthể có hiệu lực hiện hành kể từ ngày công bố hoặc ký phát hành nhưng phải được đăng ngaytrên Trang thông tin điện tử của cơ quan phát hành và phải được đưa tin trên phươngtiện thông tin đại chúng ; đăng Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ( sau đây gọi chung là Công báo ) chậm nhất sau hai ngày thao tác, kể từ ngày côngbố hoặc ký phát hành ”. Như vậy, văn bản quy phạm pháp luật phải được đăng Công báo ; văn bản quyphạm pháp lý không đăng Công báo thì không có hiệu lực thực thi hiện hành thi hành, trừ trườnghợp văn bản có nội dung thuộc bí hiểm nhà nước và những trường hợp lao lý cácbiện pháp thi hành trong thực trạng khẩn cấp, … Trong thời hạn chậm nhất là hai ngày thao tác, kể từ ngày công bố hoặc kýban hành, cơ quan ban hành văn ban qppl phải gửi văn bản đến cơ quan Công báođể đăng Công báo. 14C ơ quan Công báo có nghĩa vụ và trách nhiệm đăng toàn văn văn bản quy phạm pháp luậttrên Công báo chậm nhất là mười lăm ngày, để từ ngày nhận được văn bản. Văn bản quy phạm pháp luật đăng Công báo là văn bản chính thức và có giátrị như văn bản gốc. Trong những trường hợp thật thiết yếu, văn bản quy phạm pháp luật hoàn toàn có thể cóhiệu lực quay trở lại trước, có nghĩa là nó được vận dụng làm địa thế căn cứ để xử lý nhữngvụ việc xảy ra trước khi phát hành văn bản. Tuy nhiên, không được pháp luật hiệulực trở lại trước so với những trường hợp như : Quy định nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý mới đốivới hành vi mà vào thời gian triển khai hành vi đó pháp lý không lao lý tráchnhiệm pháp lý ; Quy định nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý nặng hơn. * Lấy ví dụ : Luật giải quyết và xử lý vi phạm hành chính được Quốc hội phát hành ngày 20/6/2013. Tuynhiên, theo lao lý tại Điều 141 của Luật này thì ngày có hiệu lực hiện hành của văn bản là : “ 1. Luật này có hiệu lực hiện hành thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2013, trừ những quy địnhliên quan đến việc vận dụng những giải pháp giải quyết và xử lý hành chính do Tòa án nhân dân xemxét, quyết định hành động thì có hiệu lực hiện hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2014.2. Pháp lệnh giải quyết và xử lý vi phạm hành chính số 44/2002 / PL-UBTVQH10, Pháp lệnhsố 31/2007 / PL-UBTVQH11 sửa đổi 1 số ít điều của Pháp lệnh giải quyết và xử lý vi phạm hànhchính năm 2002 và Pháp lệnh số 04/2008 / UBTVQH12 sửa đổi, bổ trợ một sốđiều của Pháp lệnh giải quyết và xử lý vi phạm hành chính hết hiệu lực thực thi hiện hành kể từ ngày Luật này cóhiệu lực, trừ những lao lý tương quan đến việc vận dụng những giải pháp đưa vào trườnggiáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh liên tục có hiệu lựcđến hết ngày 31 tháng 12 năm 2013 ” – Điều kiện có hiệu lực hiện hành về khoảng trống và đối tượng người dùng vận dụng : Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở Trung ương có hiệu lựctrong khoanh vùng phạm vi cả nước và được vận dụng so với mọi cơ quan, tổ chức triển khai, công dânViệt Nam, trừ trường hợp văn bản có pháp luật khác. Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân có hiệulực trong khoanh vùng phạm vi địa phương. Văn bản quy phạm pháp luật cũng có hiệu lực thực thi hiện hành so với cơ quan, tổ chức triển khai, ngườinước ngoài ở Nước Ta, trừ trường hợp pháp lý Nước Ta hoặc điều ước quốc tếmà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có pháp luật khác. * Lấy ví dụ : Văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực hiện hành trên toàn nước : Hiến pháp, luật, bộluật v.v.. Văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực hiện hành tại địa phương : Nghị quyết của Hộiđồng nhân dân về kế hoạch tăng trưởng kinh tế tài chính – xã hội tại địa phương ; Quyết địnhcủa Ủy ban nhân dân về việc phát hành khung giá đất tại địa phương v.v.. 15C âu 5. Ý nghĩa của nhu yếu về tính khả thi trong soạn thảo quyết định hành động hànhchính là gì ? Liên hệ thực tiễn và minh họa bằng một văn bản đơn cử. Đáp án : a ) Khái niệm quyết định hành động hành chính nhà nước. Quyết điịnh hành chính nhà nước là mệnh lệnh quản lý của chủ thể quản lýHCNN được phát hành theo một trình tự, thủ tục và thể thức nhất định nhằm mục đích giảiquyết một mục tiêu hay một việc làm đơn cử trong quản lý hành chính nhà nướcHay nói cách khác Quyết định hành chính là văn bản quản lý hành chính nhànước, gồm có văn bản của những cơ quan nhà nước ( mà đa phần là của những cơ quanhành chính ) dùng để đưa ra những quyết định hành động và chuyển tải những thông tin trong hoạtđộng chấp hành và quản lý. b ) Nêu và nghiên cứu và phân tích nhu yếu về tính khả thi trong soạn thảo quyết địnhhành chính nhà nước : – Tính khả thi là hệ quả của sự phối hợp đúng đắn và hài hòa và hợp lý của những yêucầu : + Tính mục tiêu : Quyết định hành chính nhà nước được phát hành nhằm mục đích phụcvụ tiềm năng hoạt động giải trí của những cơ quan, đặc biệt quan trọng là trách nhiệm kiểm soát và điều chỉnh những mốiquan hệ xã hội, quan hệ pháp lý trong quản lý nhà nước, quan hệ giữa cơ quan nhànước với nhau hoặc giữa cơ quan nhà nước với tổ chức triển khai và công dân + Tính phổ thống đại chúng + Tính khoa họcKhi ra một quyết định hành động hành chính nhà nước, cần phải nắm vững nội dung củavấn đề cấn phát hành : Môt là, nội dung của Quyết định HCNN sẵn sàng chuẩn bị phát hành phải thiết thực, phân phối được tối đa nhu yếu mà trong thực tiễn đang đòi hởi phải có văn bản để kiểm soát và điều chỉnh, tương thích với pháp lý hiện hành. Hai là, nội dung tiến hành phải được biểu lộ trong một quyết định hành động thíchhợp. Nói cách khác, phải có sự lựa chọn thiết yếu trong quy trình văn bản hóa đểvăn bản đươc soạn thảo có tính năng tương thích và có tinh khả thi. – Để bảo vệ tính khả thi, quyết định hành động hành chính cần : + Nội dung quyết định hành động phải đơn cử : Các thông tin được sử dụng để đưa vào văn bản phải được sử lý để bảo đảmchính xác ,. Không nên viết văn bản với những thông tin chung chung và tái diễn, từ cácvăn bản khác. Những văn bản được viết với loại thông tin không đúng mực hoặcthiếu đơn cử chính là một trong những biểu lộ của tính quan liêu trong quản lý vàchúng sữ không có ý nghĩa thiết thực trong hoạt động giải trí của bất kể cơ quan nào. Phải bảo vệ cho quyết định hành động hành chính được phát hành đúng thể thứcThể thức được nói đến ở đây là hàng loạt những thành phần tạo nên quyết địnhhành chính do nhà nưosc qui định. Thể thức văn bản là tập hợp những thành phần cấuthành nên văn bản, gồm có những thành phần chung vận dụng trong quyết định hành động vàcác thành phần bổ trợ trong những trường hợp đơn cử hoặc so với một số ít loại16văn bản qui định tại Nghị định 110 / 2004 / NĐ-CP ngày 08-4-2004 của cơ quan chính phủ vềcông tác văn thư và Nghị định bổ trợ một số ít điều của Nghị định sôs110 / 2004 / NĐ-CP và hưỡng dẫn tại thông tư 01/2011 / BNV ngày 19-01-2011 củaBộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn thể thức và kỹ thuậ trình diễn văn bản hành chínhchúng bảo dảm văn bản có hiệu lực hiện hành pháp lý và được sử dụng thuận tiện trưc mắtcũng như lâu bền hơn trong hoạt động giải trí quản lý của những cơ quan. Cần quan tâm rằng thể thức văn bản không chỉ đơn thuần là hình thức mà cònmang tính nội dung, tương quan đến giá trị thông tin của văn bản. Một văn bản quản lý hành chính nhà nước bảo vệ đúng thể thức cần phảicso những thành phần : Quốc hiệu ; khu vực và ngày tháng phát hành văn bản ; tên cơquan ; đơn vị chức năng phát hành ; số và ký hiệu ; tên loại và trích yếu nội dung ; nội dung ; chữký của người có thẩm quyền ; con dấu hợp thức của cơ quan ; nơii nhận văn bản, .. vvKhi xem xét những yếu tố tạo nên van bẳn ( thể thức ) nhiều người còn cho rằngđây chỉ là yếu tố mang tính hình thức nên thường xem nhẹ ván đề này trong quátrình saonj thảo văn bản. Từ đó đã có những ý niệm sai lầm đáng tiếc cho rằng nhữngthiếu sót về mặt thể thức của văn bản là không uqna trọng, không ành hưởnglớnđến chát lượng của việc soạn thảo và sử dụng văn bản. Thạt ra, nếu thể thức khôngđảm bảo thì rất dễ nhận ra rằng ngay từ đầu giá trị pháp lý và nhiều mặt giá trịnkhác của văn bản đã bị ảnh hưởng tác động. Vấn đề này sẽ được xem xét kỹ ở phần sau. Sử dụng thuật ngữ và văn phong tương thích : Có nội dung đơn cử, Đối vớivăn bản quản lý nhà nước, những thuật ngữ và văn phong sử dụng trong văn bản nhấtthiết phải là thụt ngữ quản lý hành chính nhà nước và sử dụng văn viết ( khôngdùng văn nói ) VD không dùng những từ ngữ biểu cảm, quá nôm la, dân dã trongvăn bản. Thcự tế cho thấy, nếu thuật ngữ và văn phong lkhông được lựa chọnthích hợp cho từng loại văn bản khi soạn thảo thì việc truênf đạt thông tin qua vănbản sẽ thiếu đúng chuẩn. Điều đó tát nhiên sẽ tác động ảnh hưởng đến nội dung văn bản. Ngoài ra, cũng cần nói thêm rằng, lựa chọn thuật ngữ và sử dụng văn phong thíchhợp trong quy trình soạn thảo văn bản sẽ có tác động ảnh hưởng tốt đơi với sự tăng trưởng củangôn ngữ nưoc taVăn bản phải tương thích với tính năng sử dụng : tương thích đối tượng người tiêu dùng triển khai. Mỗi văn bản quản lý nhà nươc đều cónhững công dụng đơn cử không dùng văn bản này thay cho công dụng của văn bảnkhác. VD không dùng thông tư thay cho thông tin và ngược lại. nhu yếu này đòi hởiphải có sự phân biệt rõ ràng tính năng của những loại văn bản trước khi lựa chọnchúng để việc văn bản hóa quyết định hành động quản lý đưọc thực thi đúng mực. Đảm bảo hài hòa giũa quyền lợi của nhà nước, tập thể và cá nhânNội dung quyết định hành động được chuản bị phát hành phải thiết thực, đáp ứngđược tối đa nhu yếu mà thực tiễn đang đòi hởi phải có văn bản để kiểm soát và điều chỉnh phù hợpvới lao lý hiện hành. Quyết định phải nhằm mục đích xử lý những yếu tố thực tiễncủa xã hội tương thích với điều kiện kèm theo đơn cử của đời sống xã hội. Chế tài sử dụng trong văn bản phải thích hợp17Không nên lạm dụng những chế tài một cách chung chung. Khó vận dụng. Khôngđược dùng chế tài hình sự trong những văn bản hành chính. c ) Ý nghĩa của nhu yếu về tính khả thi trong soạn thảo quyết địnhHCNN : Nếu văn bản không đảm báo tính khả thi sẽ không có giá trị quản lý của cơquan hành chính nhà nước trong trong thực tiễn ( không có giá trị thực tiễn ), điều này gâylãng phải nhân lực, thời hạn, kinh tế tài chính công, đồng thời làm suy giảm lòng tin củanhân dân vào nhà nước.  Liên hệ trong thực tiễn và minh họa bằng một văn bản cụ thểBỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯVIỆT NAMTỔNG CỤC THỐNG KÊCỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAĐộc lập – Tự do – Hạnh phúcSố …. / QĐ – TCTKHà Nội, ngàythángnămQUYẾT ĐỊNHVề việc cho cán bộ nghỉ phép đi quốc tế vì việc riêngTỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THỐNG KÊ. Căn cứ quyết định hành động số 54/2010 / QĐ – TTg ngày 24/8/2010 của Thủtướng nhà nước Quy định công dụng, trách nhiệm, quyền hạn và cơ cấu tổ chức tổchức của Tổng cục Thống kê thường trực Bộ Kế hoạc và Đầu tư ; Căn cứ Nghị định số 136 / 2007 / NĐ – CP ngày 17/8/2007 của Chính phủvề việc xuất cảnh, nhập cư của công dân Nước Ta ; Căn cứ Quyết định số 676 / QĐ – BKH ngày 25/5/2009 của Bộ trưởngBộ Kế hoách và Đầu tư về việc cung ứng quản lý cán bộ, công chức, viênchức hành chính, Sự nghiệp Bộ Kế hoạch và Đầu tư ; Xét đề xuất của Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộQUYẾT ĐỊNH : Điều 1. Đồng ý để ông … … …, Thống kê viên chính Vụ … … … … … …. Tổng cục Thống kê, được nghỉ phép năm để đi xử lý việc riêng tại LBNga, thời hạn từ ngày 10/11 đén ngày 15/11/2013. Điều 2. Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, Chánh văn phòng, Vụ trưởngVụ … … … … và ông … … …. Căn cứ Quyết định thi hành .. /. TỔNG CỤC TRƯỞNGNơi nhận : – Bộ Ngoại giao18 – Bộ Công an – Như điều 2 – Lưu VT, TCCB, HSNguyễn Bích LâmCâu 6. Tại sao nói, văn bản quản lý HCNN là một trong những phương tiệnthông tin cơ bản, là sợi dây liên lạc giữa cơ quan NN với tổ chức triển khai và công dân. * Khái niệm Văn bản quản lý NN : là những quyết định hành động và thông tin quản lýthành văn ( được văn bản hóa ) do những cơ quan QLNN soạn thảo, phát hành theo thẩmquyền, trình tự, thủ tục, thể thức nhất định Giao hàng tiềm năng hoạt động giải trí của những cơquan, đặc biệt quan trọng là trách nhiệm kiểm soát và điều chỉnh những mối quan hệ xã hội, quan hệ pháp lýtrong quản lý nhà nước, quan hệ giữa những cơ quan NN với những tổ chức triển khai và côngdân. * Đặc điểm của văn bản QLNN – Phản ánh công dụng, trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan phát hành ; – Thẩm quyền phát hành những loại văn bản quản lý NN phải theo đúng quyđịnh của pháp lý được cơ quan chức năng có thẩm quyền lao lý thống nhất. – Văn bản quản lý nhà nước có nhiều loại khác nhau và chúng đều có nhữngchức năng đơn cử, có nhu yếu riêng khi soạn thảo ; – Giữa những văn bản hình thành trong hoạt động giải trí quản lý nhà nước luôn luôncó mối liên hệ ngặt nghèo với nhau và thường tạo thành những mạng lưới hệ thống với những đặctrưng riêng không liên quan gì đến nhau. * Văn bản QLNN là phương tiện đi lại thông tin cơ bản – Lưu trữ những thông tin được hình thành trong hoạt động giải trí quản lý ; – Truyền đạt thông tin quản lý từ nơi này đến nơi khác trong mạng lưới hệ thống quản lýhay giữa mạng lưới hệ thống với bên ngoài. – Giúp những cơ quan, người có thẩm quyền nhìn nhận được thông tin thu thậpqua những mạng lưới hệ thống truyền đạt thông tin khác. * Văn bản QLNN là sợi dây liên lạc giữa những cơ quan NN, người có thẩmquyền tới tổ chức triển khai, người dân – Truyền đạt thông tin quản lý từ cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền tớitổ chức người dân ; – Là phương tiện đi lại xử lý việc làm giữa những cơ quan nhà nước với tổ chức triển khai, công dân ; – Là địa thế căn cứ để nhân dân triển khai quyền giám sát hoạt động giải trí QLNNCâu 7. Theo anh ( chị ) để văn bản quản lý nhà nước triển khai được chức19năng quản lý thì cần phải bảo vệ những điều kiện kèm theo nào. Phân tích để làm rõnhững điều kiện kèm theo đó và minh họa bằng một văn bản quản lý nhà nước đơn cử ? – Khái niệm văn bản quản lý Nhà nước : Văn bản quản lý nhà nước là nhữngquyết định và thông tin quản lý thành văn ( được văn bản hóa ) do những cơ quanQLNN soạn thảo, phát hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thể thức nhất địnhphục vụ tiềm năng hoạt động giải trí của những cơ quan, đặc biệt quan trọng là trách nhiệm kiểm soát và điều chỉnh cácmối quan hệ xã hội, quan hệ pháp lý trong quản lý nhà nước, quan hệ giữa những cơquan NN với những tổ chức triển khai và công dân. – Chức năng quản lý của một số ít loại văn bản được hình thành trong hoạtđộng của những cơ quan, tổ chưc, gắn liền với năng lực làm công cụ quản lý và điều hành hoạtđộng của những cơ quan đó. Chức năng này Open khi văn bản được sử dụng đểthu thập thông tin, phát hành quyết định hành động và tổ chức triển khai thực thi những quyết định hành động quảnlý. Các cơ quan quản lý khi sử dụng văn bản để quản lý việc làm đều dựa trênchức năng quản lý của chúng. Tuy nhiên, không phải khi nào công dụng này cũngphát huy được tính năng trong thực tiễn quản lý, bởi lẽ những văn bản cũng có khiđược phát hành mang tính quan liêu và không dựa trên tiềm năng quản lý đơn cử. Khinói đến công dụng quản lý của văn bản cần quan tâm rằng, văn bản là yếu tố tạo nênquan hệ giữa những cơ quan thuộc cỗ máy quản lý nhà nước, là yếu tố hợp thức hóacác hoạt động giải trí quản lý của những cơ quan này. Nhưng nếu sử dụng không đúng, vănbản sẽ tạo cơ sở cho chủ nghĩa quan liêu pháp triển. Chức năng quản lý của văn bản được bộc lộ trên những phương diện : Đây là công dụng có đặc thù thuộc tính của văn bản quản lý. Chức năng quảnlý của văn bản bộc lộ ở những góc nhìn sau : – tin tức trong văn bản quản lý Nhà nước giúp cho việc tổ chức triển khai tốt côngviệc của những nhà chỉ huy, làm cơ sở phát hành những quyết định hành động quản lý. – Văn bản ghi lại và truyền đạt những quyết định hành động quản lý tới đối tượng người tiêu dùng triển khai, tham gia vào tổ chức triển khai triển khai quyết định hành động. – Là phương tiện đi lại hữu hiệu để phối hợp, kiểm tra, nhìn nhận hiệu suất cao hoạt độngquản lý. Ví dụ : Căn cứ những thông tin về kế hoạch tăng trưởng kinh tế tài chính xã hộ của tỉnh, cáccơ quan quản lý Nhà nước, những tổ chức triển khai và địa phương trong tỉnh đã đưa ra cácquyết định quản lý đúng đắn trong công tác làm việc chỉ huy quản lý. – Điều kiện bảo vệ cho văn bản có tính năng quản lý : + Về tiềm năng quản lý : Mục tiêu quản lý là nhũng giá trị cần đạt được haynhiệm vụ cần được thực thi tương thích với ý chí của chủ thể. Nội dung này có thểđược bộc lộ ở tên loại văn bản hoặc trong nội dung văn bản và cũng hoàn toàn có thể ở phụlục văn bản. + Về chủ thể quản lý : Chủ thể quản lý hoàn toàn có thể là cơ quan nhà nước hay côngchức có thẩm quyền phát hành theo luật điịnh để thực thi tính năng, nhiệm vụđược giao. + Về đối tượng người dùng quản lý : Trong văn bản quản lý nhà nước, đối tượng người dùng quản lý20là những quan hệ hay những chủ thể và những nguồn lực cần tác động ảnh hưởng để đạt mụctiêu. Thể hiện trong văn bản được trình diễn là đối tượng người tiêu dùng, khoanh vùng phạm vi ảnh hưởng tác động ; thể hiệný chí của chủ thể thành mệnh lệnh ( qua tên loại văn bản ) và những quy tắc xử sựchung để kiểm soát và điều chỉnh hay tác động ảnh hưởng vào những mối quan hệ, những đối tượng người tiêu dùng ; nhu yếu cácđối tượng chấp hành và có chế tài thực thi. + Về chiêu thức quản lý : Cách thức tác động ảnh hưởng của chủ thể đến đối tượngthể hiện qua văn bản vẫn là trực tiếp bằng những thông tin phản ánh ý chí của chủthể. Với văn bản quản lý nhà nước thì đa phần là giải pháp hành chính yêu cầucác đối tượng người dùng phải chấp hành. + Về công cụ quản lý : Văn bản quản lý nhà nước mang đặc thù của công cụpháp luật chủ trương trong quản lý trong đó bộc lộ những quy tắc xử sự có tínhbắt buộc, những cơ chế tác động thống nhất mà cả chủ thể và đối tượng người dùng phải cótrách nhiệm triển khai. + Về điều kiện kèm theo bảo vệ : Văn bản quản lý nhà nước được bảo vệ thực hiệnbằng nhà nước : Do cơ quan nhà nước tổ chức triển khai triển khai bằng quyền lực tối cao nhà nước, phương tiện đi lại vật chất kỹ thuật và ngân sách nhà nước, do công chức có thẩm quyềnthực hiện tại trụ sở cơ quan nhà nước. + Về môi trường tự nhiên quản lý : Môi trường quản lý bộc lộ trong văn bản quản lýnhà nước là môi trường tự nhiên pháp lý trong điều kiện kèm theo kinh tế tài chính xã hội nhấtđịnh về khônggian và thời hạn. Với những điều kiện kèm theo trên, văn bản quản lý nhà nước triển khai được chứcnăng quản lý của mình – Ví dụ : những điều kiện kèm theo để văn bản quản lý nhà nước trên triển khai được chứcnăng quản lý : Về tiềm năng quản lý, chủ thể quản lý, đối tượng người dùng quản lý, phươngpháp quản lý, công cụ quản lý, điều kiện kèm theo bảo vệ, thiên nhiên và môi trường quản lý, hiệu lực hiện hành thihành. Câu 8. Theo anh ( chị ) để văn bản quản lý nhà nước thực thi được chứcnăng xã hội thì cần phải bảo vệ những điều kiện kèm theo nào. Phân tích để làm rõnhững điều kiện kèm theo đó và minh họa bằng một văn bản quản lý nhà nước đơn cử ? – Văn bản quản lý nhà nước là những quyết định hành động và thông tin quản lý thànhvăn ( được văn bản hóa ) do những cơ quan QLNN soạn thảo, phát hành theo thẩmquyền, trình tự, thủ tục, thể thức nhất định Giao hàng tiềm năng hoạt động giải trí của những cơquan, đặc biệt quan trọng là trách nhiệm kiểm soát và điều chỉnh những mối quan hệ xã hội, quan hệ pháp lýtrong quản lý nhà nước, quan hệ giữa những cơ quan NN với những tổ chức triển khai và côngdân. – Đặc điểm của tính năng xã hội + Được phát hành từ nhu yếu quản lý xã hội, là phương tiện đi lại để QLNN, QLXH ; + Phản ánh và kiểm soát và điều chỉnh những quan hệ phát sinh trong thực tiễn đời sống ; 21 + Văn bản QLNN có vai trò tích cực trong việc thiết kế xây dựng và giữ gìn những địnhchế ( cỗ máy ) xã hội tương thích với nhu yếu của sự tân tiến chung ; + Văn bản cũng hoàn toàn có thể phá vỡ những quan hệ xã họi cũ được hình thành hoặctạo nên những quan hệ mới ; + Các văn bản có năng lực góp thêm phần thôi thúc hoặc ngưng trệ sự phát triểncủa quan hệ xã hội. – Phân tích những điều kiện kèm theo để văn bản QLNN triển khai được những tính năng xãhội ( Sách trang 354 ), những góc nhìn : + Văn bản được phát hành đúng tiềm năng ( tính khả thi, tương thích với nhu cầucủa xã hội ) ; + Nội dung văn bản phải đơn cử ; + văn bản phải bảo vệ những nhu yếu về thể thức ( thể thức văn bản kg phảiđơn thuần là hình thức mà còn mang tính nội dung, tương quan đến giá trị thông tincủa văn bản ) ; + Văn bản phải sử dụng thuật ngữ và văn phong hài hòa và hợp lý, đơn thuần, dễ hiểu ; + Văn bản phải tương thích với tính năng sử dụng ; + văn bản phải được phát hành đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục ( tínhhợp pháp ) – Minh họạ bằng một văn bản đơn cử : nghiên cứu và phân tích sơ lược ví dụ đã cung ứng những nhu yếu trên haychưa. + Văn bản quy phạm pháp quy dưới luật ( văn bản lập quy ) : Thông tư, Quyết định, Chỉthị + Văn bản hành chính thường thì : Công văn, Thông báo, Báo cáo, Tờ trình, Biên bản, Đềán, Phương án, Kế hoạch, Chương trình, những loại giấy ( giấy mời, giấy đi đường, giấy ủynhiệm … ), những loại phiếu ( phiếu theo dõi xử lí văn bản, phiếu gửi … ) Câu 9. Phân tích ý nghĩa của những thông tin hầu hết tiềm ẩn trongvăn bản quản lý nhà nước và minh họa bằng một văn bản quản lý đơn cử. * Văn bản quản lý nhà nước là những quyết định hành động và thông tin quản lý thànhvăn ( được văn bản hóa ) do những cơ quan QLNN phát hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hình thức nhất định và được nhà nước bảo vệ thi hành bằng nhiều hìnhthức khác nhau nhằm mục đích kiểm soát và điều chỉnh những mối quan hệ quản lý nội bộ nhà nước hoặcgiữa những cơ quan NN với những tổ chức triển khai và công dân. * Chức năng thông tin của văn bản QLNNChức năng thông tin là thuộc tính cơ bản quan trọng, thực chất của văn bản, lànguyên nhân hình thành văn bản và là cơ sở để thực thi những tính năng khác. Chứcnăng thông tin của văn bản bộc lộ ở những mặt sau : – Ghi lại những thông tin quản lý. – Truyền đạt thông tin quản lý từ nơi này đến nơi khác trong mạng lưới hệ thống quản lýhay giữa mạng lưới hệ thống với bên ngoài. – Giúp cho cơ quan thu nhận thông tin cần cho hoạt động giải trí quản lý. – Giúp những cơ quan giải quyết và xử lý, nhìn nhận những thông tin thu được trải qua hệ thốngtruyền đạt thông tin khác. 22 * Ý nghĩa của những thông tin đa phần tiềm ẩn trong văn bản QLNN : Giá trị của văn bản được bảo vệ bởi thông tin tiềm ẩn trong đó. Đếnlượt mình, giá trị thông tin trong văn bản phụ thuộc vào vào tính đúng chuẩn, mức độ đầyđủ và sự trùng lặp cái mới của những thông tin mà văn bản mang lại cho quá trìnhquản lý. Thông tin trong văn bản thường gồm 3 loại : thông tin quá khứ, thông tinhiện hành, thông tin Dự kiến. – tin tức văn bản quá khứ tương quan đến những vấn đề đã được giải quyếttrong quy trình hoạt động giải trí đã qua của cơ quan quản lý. Tất nhiên, không phải mọithông tin văn bản quá khứ đều có giá trị ngang nhau so với hoạt động giải trí hiện hànhcủa những cơ quan. Chỉ có 1 số ít thông tin trong đó cần dữ gìn và bảo vệ lâu bền hơn dưới dạngvăn bản. – tin tức văn bản hiện hành tương quan đến những vấn đề và quy trình quảnlý đang xảy ra hàng ngày trong những cơ quan QLNN. Ý nghĩa của những loại thông tinhiện hành được xét theo mục tiêu hoạt động giải trí, công dụng, trách nhiệm đang thực hiệnhàng ngày của cơ quan. Tính phong phú của thông tin văn bản hiện hành phản ánhhoạt động phong phú của những cơ quan cũng như trách nhiệm khác nhau mà mỗi hệ thốngcơ quan phải thực thi trong quy trình QLNN. – tin tức Dự kiến phải được phản ánh trong văn bản là những thông tinmang tính kế hoạch tương lai, những dự báo kế hoạch hoạt động giải trí mà cỗ máy quản lýcần dựa vào đó để hoạch định phương hướng hoạt động giải trí. * Minh họa bằng một văn bản đơn cử : – Tên cơ quan phát hành văn bản : Cho biết vị trí của cơ quan phát hành tronghệ thống tổ chức triển khai cỗ máy nhà nước. – Địa danh, ngày tháng năm phát hành văn bản : Giúp cho nơi nhận văn bảntheo dõi được khu vực cơ quan phát hành nhằm mục đích liên hệ thanh toán giao dịch công tacst huậnlợi và theo dõi được thời hạn phát hành. – Trích yếu văn bản : Thể hiện tổng quát, đúng chuẩn nội dung đa phần của vănbản, giúp cho xác lập nhanh gọn nội dung hầu hết của văn bản, thuận tiện vàosổ và theo dõi xử lý việc làm, tra tìm khi thiết yếu. – Căn cứ phát hành văn bản : Xác định rõ những địa thế căn cứ trực tiếp tương quan đếnnội dung của văn bản gồm : địa thế căn cứ pháp lý, cawncuws thẩm quyền, nguyên do phát hành. – Nội dung kiểm soát và điều chỉnh : Đây là phần trọng tâm của văn bản giúp cho đốitượng thực thi hiểu rõ nội dung của văn bản. – Điều khoản thi hành : + Hiệu lực của văn bản : Nêu thời gian khởi đầu hoặc số lượng giới hạn thời hạn vănbản có hiệu lực thực thi hiện hành thi hành. + Xử lý văn bản cũ : Hiểu rõ, đơn cử những văn bản hoặc pháp luật nào bị bãibỏ hàng loạt hay một phần. + Các chủ thể có tương quan : Nêu những đối tượng người dùng chịu nghĩa vụ và trách nhiệm chínhtrong việc tiến hành, triển khai phối hợp … so với văn bản được phát hành. 23 + Nơi nhận : Mục này xác lập rõ những cơ quan, tổ chức triển khai hoặc cá thể có tráchnhiệm thi hành việc làm được đề cập trong văn bản. + Dấu độ mật hoặc / và mức độ khẩn : Giúp hiểu rõ mức độ mật, khẩn của vănbản. – Các yếu tố hướng dẫn khoanh vùng phạm vi thông dụng, dự thảo và tài liệu hoi nghị. Câu 10. Hãy nêu những điều kiện kèm theo bảo vệ tính hiệu lực thực thi hiện hành, hiệu suất cao của vănbản quản lý nhà nước ; ví dụ minh họa bằng một văn bản quản lý nhà nước cụthể. * Văn bản quản lý nhà nước là những quyết định hành động và thông tin quản lý thànhvăn ( được văn bản hóa ) do những cơ quan QLNN phát hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hình thức nhất định và được nhà nước bảo vệ thi hành bằng nhiều hìnhthức khác nhau nhằm mục đích kiểm soát và điều chỉnh những mối quan hệ quản lý nội bộ nhà nước hoặcgiữa những cơ quan NN với những tổ chức triển khai và công dân. * Đặc điểm của văn bản quản lý NN – Phản ánh công dụng, trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan phát hành ; – Thẩm quyền phát hành những loại văn bản quản lý nhà nước theo đúng quyđịnh của lao lý được cơ quan chức năng có thẩm quyền lao lý thống nhất ; – Văn bản quản lý nhà nước có nhiều loại khác nhau và chúng đều có nhữngchức năng đơn cử, có nhu yếu riêng khi soạn thảo. – Giữa những văn bản hình thành trong hoạt động giải trí quản lý nhà nước luôn luôncó mối liên hệ ngặt nghèo với nhau và thường tạo thành những mạng lưới hệ thống với những đặctrưng riêng không liên quan gì đến nhau ( ngành, nghành nghề dịch vụ ) – Đặc điểm đơn cử : + Về chủ thể phát hành : văn bản quản lý nhà nước do những cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền soạn thảo và phát hành. Chỉ có những văn bản do người đúngthẩm quyền phát hành mới có ý nghĩa pháp lý. Không phải chủ thể nào cũng được phát hành mọi loại văn bản quản lý mà chỉđược phát hành những loại văn bản nhất định trong khoanh vùng phạm vi thẩm quyền để thựchiện công dụng trách nhiệm của mình. Ví dụ : những cơ quan thuộc nhà nước không có quyền phát hành văn bản quyphạm pháp lý. Tổng cục, Cục, Vụ thuộc Bộ không có quyền phát hành Thông tưmà chỉ có Bộ chủ quản mới có quyền đó. + Về mục tiêu phát hành : văn bản quản lý nhà nước được phát hành nhằmmục đích triển khai những trách nhiệm, công dụng của Nhà nước. + Đối tượng vận dụng : Văn bản quản lý Nhà nước mang tính công quyền, đượcban hành để ảnh hưởng tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, là cơ sở pháp lý quan trọngcho những hoạt động giải trí đơn cử của những cơ quan, tổ chức triển khai, cá thể. + Về trình tự phát hành, hình thức văn bản : Văn bản quản lý nhà nước đòihỏi phải được kiến thiết xây dựng, phát hành theo thủ tục pháp lý lao lý và được trìnhbày theo hình thức luật định. Mỗi loại văn bản thường được sử dụng trong nhữngtrường hợp nhất định và có phương pháp trình diễn riêng. Sử dụng đúng hình thức vănbản sẽ góp thêm phần tạo ra sự thống nhất cả về nội dung và hình thức của mạng lưới hệ thống vănbản, tạo điều kiện kèm theo thuận tiện cho việc điều tra và nghiên cứu, sử dụng triển khai văn bản. 24 + Về bảo vệ thi hành. Văn bản nhà nước mang tính quyền lực tối cao Nhà nước, bắt buộc những chủ thể khácphải triển khai và được bảo vệ triển khai bởi Nhà nước như hoạt động giải trí tổ chứctrực tiếp hoặc cưỡng chế. + Về văn phong. Văn bản quản lý nhà nước nhằm mục đích mục tiêu truyền đạt thông tin, mệnh lệnh từchủ thể quản lý đến đối tượng người dùng quản lý một cách không thiếu, đúng chuẩn nhất. Nó khôngcần biểu cảm nên mang đặc trưng văn phong riêng, khác với văn phong thẩm mỹ và nghệ thuật. Văn bản quản lý nhà nước thường mang tính phổ quát, đại chúng và không cần quáchi tiết như văn bản khoa học. * Điều kiện để văn bản QLNN bảo vệ tính hiệu lực thực thi hiện hành, hiệu suất cao ( Sáchtrang 354 ) – Đảm bảo nhu yếu về nội dung văn bản phải được phát hành đúng mục tiêu ( đúng đường lối, chủ trương, chủ trương của Đảng và nhu yếu quản lý xã hội … ) : Khi bắt tay vào soạn thảo, cần xác lập tiềm năng và số lượng giới hạn kiểm soát và điều chỉnh củavăn bản, tức là cần phải vấn đáp được những yếu tố : văn bản này phát hành để làm gì ? Giải quyết việc làm gì ? Mức độ xử lý đến đâu ? Kết quả của việc thực hiệnvăn bản là gì ? Do đó, cần nắm vững nội dung văn bản cần soạn thảo, phương thứcgiải quyết việc làm đưa ra phải rõ ràng, tương thích. Nội dung văn bản phải thiết thực, phân phối những nhu yếu thực tiễn đặt ra, tương thích với pháp lý hiện hành, không trái vớivăn bản cấp trên, có tính khả thi. Không những thế, văn bản được phát hành phảiphù hợp với công dụng, trách nhiệm, quyền hạn và khoanh vùng phạm vi hoạt động giải trí của cơ quan, tức là phải giải đáp được những yếu tố : văn bản sắp phát hành thuộc thẩm quyền pháplý của ai và thuộc loại nào ? Phạm vi ảnh hưởng tác động của văn bản đến đâu ? Trật tự pháp lýđược xác lập như thế nào ? Văn bản dự tính phát hành có gì xích míc với những vănbản của cơ quan hoặc của cơ quan khác ? Như vậy, người soạn thảo cần nắm vữngnghiệp vụ và kỹ thuật soạn thảo văn bản dựa trên kiến thức và kỹ năng cơ bản và hiểu biết vềquản lý hành chính và pháp lý. Tính mục tiêu của văn bản còn bộc lộ ở phươngdiện mức độ phản ánh những tiềm năng trong đường lối, chủ trương của cấp ủy Đảng, nghị quyết của cơ quan quyền lực cùng cấp và những văn bản của cơ quan quản lý nhànước cấp trên, vận dụng vào xử lý những việc làm đơn cử ở một ngành, một cấpnhất định. Vì vậy, cần nắm vững đường lối chính trị của Đảng để hoàn toàn có thể quy phạmhóa chủ trương thành pháp lý. Công tác này yên cầu xử lý hài hòa và hợp lý những quan hệgiữa Đảng và Nhà nước, giữa tập thể và cá thể, giữa cấp trên và cấp dưới, phảibảo đảm công tác làm việc bảo mật thông tin. – Văn bản phải bảo vệ tính khoa học : + Có đủ lượng thông tin quy phạm và thông tin thực tiễn thiết yếu. Chức năngthông tin là tính năng tổng quát của văn bản. Thông tin quản lý chuyển đạt qua vănbản được xem là đáng đáng tin cậy nhất. 25