Bàn về tình tiết “tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự trong vụ án cụ thể.
Nội dung vụ án:
Bạn đang đọc: Bàn về tình tiết “tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự trong vụ án cụ thể.
Hồ Văn T, sinh năm 1992, trú tại thôn A, xã B, huyện D, tỉnh G, bị bắt quả tang về hành vi trộm cắp gia tài với số tiền 15.000.000 đ ( mười lăm triệu đồng ) vào ngày 04/5/2021 tại Làng AG, xã B, huyện D, tỉnh G. T bị khởi tố tìm hiểu về tội trộm cắp gia tài theo lao lý tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự .
Quá trình tìm hiểu xác lập trước đó vào năm 2011, T bị Tòa án nhân dân huyện K xử phạt 18 tháng tù về tội “ Trộm cắp gia tài ”. Sau khi chấp hành xong hình phạt tù ( chưa chấp hành xong phần dân sự và án phí ) bản án của Tòa án nhân dân huyện K thì đến năm 2012 T lại liên tục phạm tội và liên tục bị Tòa án nhân dân huyện K, xử phạt 24 tháng tù về tội trộm cắp gia tài. Sau khi chấp hành xong hình phạt tù ( chưa chấp hành xong phần dân sự và án phí ) bản án của Tòa án nhân dân huyện K năm 2012 thì đến năm năm trước T lại liên tục phạm tội “ Trộm cắp gia tài ” và bị Tòa án nhân dân thành phố P tuyên phạt 4 ( bốn ) năm tù về tội “ Trộm cắp gia tài ” theo pháp luật tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. T đã chấp hành xong hàng loạt quyết định hành động của Bản án, cả phần dân sự và án phí hình sự. Đến ngày 04/5/2021, T lại triển khai hành vi trộm cắp gia tài và bị bắt quả tang như đã nêu trên .
Quá trình xử lý vụ án, về việc có vận dụng hay không vận dụng diễn biến “ tái phạm nguy hiểm ” lao lý tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự so với Hồ Văn T, còn có quan điểm khác nhau và có hai luồng quan điểm như sau :
Quan điểm thứ nhất:
Không áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự đối với Hồ Văn T, vì:
Mặc dù T có 03 tiền án đều về tội trộm cắp gia tài vào những năm 2011, 2012 và năm năm trước. Vào những năm 2011 và năm 2012, Hồ Văn T chưa chấp hành xong phần dân sự và phần án phí của 02 Bản án này. Đến năm năm trước, T vẫn chưa chấp hành nên Bản án vào năm năm trước, Tòa án nhân dân thành phố P đã vận dụng điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là diễn biến “ Tái phạm nguy hiểm ” so với T. Vì Bản án năm năm trước đã lấy diễn biến “ Tái phạm nguy hiểm ” để định khung hình phạt cho T và Bản án này T đã chấp hành xong hàng loạt, kể từ ngày 07/4/2018. Do đó, đến ngày 04/5/2021, T lại liên tục phạm thì lúc này T đã được đương nhiên được xóa án tích theo pháp luật tại Điều 70 Bộ luật hình sự. Từ những nghiên cứu và phân tích trên nên không liên tục vận dụng diễn biến “ tái phạm nguy hiểm ” so với Hồ Văn T so với lần phạm tội ngày 04/5/2021 là có cơ sở .
Quan điểm thứ hai:
Cần phải vận dụng điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự so với Hồ Văn T vì :
Hồ Văn T có 03 tiền án về tội trộm cắp gia tài vào những năm 2011, 2012 và năm năm trước. Mặc dù Bản án năm năm trước, T đã chấp hành tòa bộ hình phạt chính và những quyết định hành động khác của Bản ản. Tuy nhiên, đến lần phạm tội mới T vẫn chưa chấp hành phần dân sự và án phí hình sự của 02 bản án năm 2011 và năm 2012. Do đó, T chưa được xóa án tích theo lao lý tại Điều 69 và 70 Bộ luật hình sự năm năm ngoái. Vì vậy, cần phải liên tục vận dụng diễn biến “ Tái phạm nguy hiểm ” theo pháp luật tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự so với Hồ Văn T .
Tác giả đồng ý với quan điểm thứ nhất, bởi các lẽ sau:
Căn cứ Điều 73 Bộ luật Hình sự năm năm ngoái thì lao lý về cách tích thời hạn để xóa án tích được thực thi như sau :
“1. Thời hạn để xóa án tích quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật này căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên.
2. Người bị kết án chưa được xóa án tích mà thực hiện hành vi phạm tội mới và bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì thời hạn để xóa án tích cũ được tính lại kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo của bản án mới hoặc từ ngày bản án mới hết thời hiệu thi hành.”
Và Căn cứ vào Điều 70 Bộ luật Hình sự thì lao lý về trường hợp đương nhiên được xóa án tích nếu :
“1. Đương nhiên được xóa án tích được áp dụng đối với người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.
2. Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:
a) 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;
b) 02 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;
c) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;
d) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.”.
Đối chiếu với trường hợp nêu trên Hồ Văn T có 03 tiền án về tội trộm cắp gia tài. Trong trường hợp này mặc dầu 02 bản án vào những năm 2011 và năm 2012 T chưa chấp hành xong nhưng Bản án năm 2014 T đã chấp hành xong hàng loạt. Do đó, thời hạn tính để xóa án tích so với T là kể từ ngày T chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời hạn thử thách án treo của bản án mới, tức là kể từ ngày T chấp hành xong hình phạt chính của Bản án án năm năm trước. Như vậy, kể từ ngày 07/4/2018 đến ngày 07/4/2020, trong thời hạn 02 năm T không phạm tội mới. Đến ngày 05/4/2021, T mới phạm tội mới nên T đã được xóa án tích. Vì vậy, không vận dụng diễn biến “ Tái phạm nguy hiểm ” pháp luật tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự so với Hồ Văn T là đúng .
Trên đây, là quan điểm cá thể của bản thân tôi trong quy trình điều tra và nghiên cứu và vận dụng, mong nhận được quan điểm của quý đồng nghiệp và bạn đọc .
Trân trọng !
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Thủ Tục






