Ai đã đặt tên cho dòng sông?

Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực huyền bí, và cũng có lúc nó trở nên êm ả dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng .

eqHSSivJ.jpgPhóng to
Cầu Trường Tiền – sông Hương

Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống 50% cuộc sống của mình như một cô gái Digan phóng khoáng và man dại. Rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan góc, một tâm hồn tự do và trong sáng. Nhưng chính rừng già nơi đây, với cấu trúc đặc biệt quan trọng hoàn toàn có thể lý giải được về mặt khoa học, đã tương khắc và chế ngự sức mạnh bản năng ở người con gái của mình để khi ra khỏi rừng, sông Hương nhanh gọn mang một vẻ đẹp êm ả dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hóa truyền thống xứ sở .
Nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó, tôi nghĩ rằng người ta sẽ không hiểu một cách khá đầy đủ thực chất của sông Hương với cuộc hành trình dài gian nan mà nó đã vượt qua, không hiểu thấu phần tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông hình như không muốn thể hiện, đã đóng kín lại ở cửa rừng và ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng .

Phải nhiều thế kỷ qua, người tình mong đợi mới đến đánh thức người con gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại. Nhưng ngay từ đầu vừa ra khỏi vùng núi, sông Hương đã chuyển dòng một cách liên tục, vòng những khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó.

Từ ngã ba Tuần, sông Hương theo hướng nam – bắc qua điện Hòn Chén ; vấp Ngọc Trản, nó chuyển hướng sang tây – bắc, vòng qua thềm đất bãi Nguyệt Biều, Lương Quán rồi bất thần vẽ một hình cung thật tròn về phía đông – bắc, ôm lấy chân đồi Thiên Mụ, xuôi dần về Huế. Từ Tuần về đây, sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn, vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản, để sắc nước trở nên xanh thẳm, và từ đó nó trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách, với những điểm trên cao đột khởi như Vọng Cảnh, Tam Thai, Lưu Bảo mà từ đó, người ta luôn luôn nhìn thấy dòng sông mềm như tấm lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé vừa bằng con thoi .
Những ngọn đồi này tạo nên những mảng phản quang nhiều sắc tố trên nền trời tây – nam thành phố, “ sớm xanh, trưa vàng, chiều tím ” như người Huế thường miêu tả. Giữa đám quần sơn lô xô ấy, là giấc ngủ nghìn năm của những vua chúa được phong kín trong lòng những rừng thông u tịch, và niềm tự tôn âm u của những lăng tẩm đồ sộ tỏa lan khắp cả một vùng thượng lưu “ bốn bề núi phủ mây phong – mảnh trăng thiên cổ, bóng tùng vạn niên ”. Đó là vẻ đẹp trầm mặc nhất của sông Hương, như triết lý, như cổ thụ, lê dài mãi đến lúc mặt nước yên bình của nó gặp tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga tận bờ bên kia, giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà …
Từ đấy, như đã tìm đúng đường về, sông Hương sung sướng hẳn lên giữa những biền bãi xanh tươi của vùng ngoại ô Kim Long, kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng tây-nam – hướng đông bắc, phía đó, nơi cuối đường, nó đã nhìn thấy chiếc cầu trăng của thành phố in ngần trên nền trời, bé nhỏ như những vành trăng non .
Giáp mặt thành phố ở Cồn Giã Viên, sông Hương uốn một nhánh cung rất nhẹ sang đến Cồn Hến ; đường cong ấy làm cho dòng sông mềm hẳn đi, như một tiếng “ vâng ” không nói ra của tình yêu. Và như vậy, giống như sông Xen của Paris, sông Đanuýp của Buđapet, sông Hương nằm ngay giữa lòng thành phố yêu quý của mình ; Huế trong toàn diện và tổng thể vẫn giữ nguyên dạng một đô thị cổ, trải dọc hai bờ sông .
Đầu và cuối ngõ thành phố, những nhánh sông đào mang nước sông Hương tỏa đi khắp phố phường với những cây đa, cây dừa cổ thụ tỏa vầng lá u sầm xuống xóm thuyền xúm xít ; từ những nơi ấy, vẫn lập lòe trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ mà không một thành phố tân tiến nào còn nhìn thấy được. Những chi lưu ấy cùng với hai hòn hòn đảo nhỏ trên sông đã làm giảm hẳn lưu tốc của dòng nước, khiến cho sông Hương khi đi qua thành phố đã trôi đi chậm, thật chậm, cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh .
Tôi đã đến Leningrad, có lúc đứng nhìn sông Nêva cuốn trôi những đám băng lô xô nhấp nháy trăm màu dưới ánh sáng của mặt trời mùa xuân ; mỗi phiến băng chở một con hải âu nghịch ngợm đứng co lên một chân, thú vị với chiếc thuyền xinh đẹp của chúng ; và đoàn tàu tốc hành lạ lùng ấy với những hành khách tí hon của nó băng băng lướt qua trước hoàng cung Peterburg cũ để ra bể Bantich .
Tôi vừa từ trong khói lửa miền Nam đến đây, lâu năm xa Huế, và chính Leningrad đã thức tỉnh trong tâm hồn tôi giấc mơ lộng lẫy của tuổi dại ; ôi tôi muốn hóa làm một con chim nhỏ đứng co một chân trên con tàu thủy tinh để đi ra biển. Tôi tất tả vẫy tay, nhưng sông Nêva đã chảy nhanh quá, không kịp cho lũ hải âu nói một điều gì với người bạn của chúng đang ngẩn ngơ trông theo .

Hai nghìn năm trước, có một người Hi Lạp tên là Hêracơlit, đã khóc suốt đời vì những dòng sông trôi đi qua nhanh, thế vậy! Lúc ấy, tôi nhớ lại con sông Hương của tôi; chợt thấy quý điệu chảy lặng lờ của nó khi ngang qua thành phố… Đấy là điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế, có thể cảm nhận được bằng thị giác qua trăm nghìn ánh hoa đăng bồng bềnh vào những đêm hội rằm tháng bảy từ điện Hòn Chén trôi về, qua Huế bỗng ngập ngừng như muốn đi muốn ở, chao nhẹ trên mặt nước như những vấn vương của một nỗi lòng.

Hình như trong khoảnh khắc chùng lại của sông nước ấy, sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya. Đã nhiều lần tôi tuyệt vọng khi nghe nhạc Huế giữa ban ngày hoặc trên sân khấu nhà hát. Quả đúng như vậy, hàng loạt nền âm nhạc cổ xưa Huế đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này, trong một khoang thuyền nào đó, giữa tiếng nước rơi bán âm của những mái chèo khuya .
Nguyễn Du đã bao năm lênh đênh trên quãng sông này, với một phiến trăng sầu và từ đó những bản đàn đã đi suốt đời Kiều. Tôi đã tận mắt chứng kiến một người nghệ nhân già, chơi đàn hết nửa thế kỷ, một buổi tối ngồi nghe con gái đọc Kiều, “ Trong như tiếng hạc bay qua – đục như tiếng suối mới sa nửa vời ” … Đến câu ấy, người nghệ nhân chợt nhổm dậy vỗ đùi, chỉ vào trang sách Nguyễn Du mà thốt lên : “ Đó chính là Tứ đại cảnh ! ” .
Rời khỏi kinh thành, sông Hương chếch về hướng chính bắc, ôm lấy hòn đảo Cồn Hến quanh năm mơ màng trong sương khói, đang xa dần thành phố để lưu luyến ra đi giữa màu xanh tươi của tre trúc và của những vườn cau vùng ngoại ô Vỹ Dạ. Và rồi, như sực nhớ lại một điều gì chưa kịp nói, nó bất thần đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông – tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị xã Bao Vinh xưa cổ. Đối với Huế, nơi đây chính là chỗ chia tay dõi xa ngoài mười dặm trường đình .
Riêng với sông Hương, vốn đang xuôi chảy giữa cánh đồng phù sa êm ái của nó, khúc quanh này thực giật mình biết bao. Có một cái gì rất lạ với tự nhiên và rất giống con người ở đây ; và để nhân cách hóa nó lên, tôi gọi đấy là nỗi vương vấn, cả một chút ít lẳng lơ kín kẽ của tình yêu. Và giống như nàng Kiều trong đêm tình tự, ở ngã rẽ sông này, sông Hương đã chí tình trở lại tìm Kim Trọng của nó, để nói một lời thề trước khi về biển cả : “ Còn non – còn nước – còn dài. Còn về – còn nhớ …. ”. Lời thề ấy vang vọng khắp lưu vực sông Hương thành giọng hò dân gian ; ấy là tấm lòng người dân nơi Châu Hóa xưa mãi mãi chung tình với quê nhà xứ sở .
“ Dòng sông và những đầm phá của nó, những dòng kênh uốn lượn qua thành phố cùng với tư thái của những ngôi nhà nằm giữa những khu vườn xanh tươi, toàn bộ mang lại cho Huế một vẻ trong sáng đầy thư thái, dành riêng cho cảm hứng nghệ thuật và thẩm mỹ và tri thức. Huế đã là và vẫn còn là một TT của nền văn hóa truyền thống Nước Ta … Vẻ đẹp của Huế và lịch sử dân tộc mà nó làm chứng đã ban cho thành phố Huế mang một sức mê hoặc về văn hóa truyền thống và du lịch có tầm vương quốc và quốc tế ” .
Không phải là một đoạn văn, đây là một văn kiện đúng mực của Liên Hiệp Quốc, do Ban thư ký của UNESCO soạn, đăng trên tạp chí Di Sản Văn Hóa số mới gần đây. Tuy nhiên, tôi đã đọc nó với sự rung động nghệ thuật và thẩm mỹ của tâm hồn : qua đây, tôi thấy hiện bóng khuôn mặt tươi tắn và điệu đàng của dòng sông thành phố giữa lòng quốc tế tân tiến. Người ta đã nhìn khắp Trái đất và đã không quên được nó, dòng sông Nước Ta bé nhỏ chỉ dài gần một trăm kilômet từ nguồn đến biển …

Hiển nhiên là sông Hương đã sống những thế kỷ quang vinh với nhiệm vụ lịch sử của nó, từ thuở nó còn là một dòng sông biên thùy xa xôi của đất nước các vua Hùng. Trong sách địa dư của Nguyễn Trãi, nó mang tên là Linh Giang, dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của Tổ quốc Đại Việt qua những thế kỷ trung đại. Thế kỷ 18, nó vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ; nó sống hết lịch sử bi tráng của thế kỷ 19 với máu của những cuộc khởi nghĩa, và từ đấy sông Hương đã đi vào thời đại Cách mạng Tháng Tám bằng những chiến công rung chuyển.

Sông Hương là vậy, dòng sông của thời hạn ngân vang, của sử viết giữa màu cỏ lá xanh tươi. Khi nghe lời gọi, nó biết cách tự biến đời mình làm một chiến công, để rồi nó trở lại với đời sống thông thường, làm một người con gái dịu dàng êm ả của quốc gia. Thỉnh thoảng, tôi vẫn còn gặp trong những ngày nàng đem áo ra phơi, một sắc áo cưới của Huế rất lâu rồi, rất xưa : màu áo lục điều với loại vải vân thưa màu xanh tràm lồng lên một màu đỏ ở bên trong, tạo thành một màu tím ẩn hiện, thấp thoáng theo bóng người, thuở ấy những cô dâu trẻ vẫn mặc sau tiết sương giáng. Đấy cũng chính là màu của sương khói trên sông Hương, giống như tấm voan huyền ảo của tự nhiên, sau đó ẩn giấu khuôn mặt thực của dòng sông …
Có một dòng thi ca về sông Hương, và tôi hy vọng đã nhận xét một cách công minh về nó khi nói rằng dòng sông ấy không khi nào tự lặp lại mình trong cảm hứng của những nghệ sĩ. Mỗi nhà thơ đều có một tò mò riêng về nó : từ xanh lè thường ngày, nó bỗng thay màu thực giật mình, “ dòng sông trắng – lá cây xanh ” trong cái nhìn tinh xảo của Tản Đà, từ tha thiết mơ màng nó chợt nhiên hùng tráng lên “ như kiếm dựng trời xanh ” trong khí phách của Cao Bá Quát ; từ nỗi quan hoài vạn cổ với bóng chiều bãng lãng trong hồn thơ Bà Huyện Thanh Quan, nó đột khởi thành sức mạnh Phục hồi của tâm hồn, trong thơ Tố Hữu. Và ở đây, một lần nữa, sông Hương quả thực là Kiều rất Kiều, trong cái nhìn thắm thiết tình người của tác giả Từ ấy .
Có một nhà thơ từ TP.HN đã đến đây, tóc bạc trắng, lặng ngắm dòng sông, ném mẩu thuốc lá xuống chân cầu, hỏi với trời, với đất, một câu thật bâng khuâng : Ai đã đặt tên cho dòng sông ? …