Diễn biến lạm phát quý I năm 2022, sức ép các tháng còn lại của năm và giải pháp

Trong nước, kinh tế tiếp tục đà tăng trưởng trong điều kiện bình thường mới với tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I năm 2022 ước tính tăng 5,03% so với cùng kỳ năm trước. Nhu cầu sản xuất hàng hóa phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu cùng với tác động của giá hàng hóa thế giới đã đẩy giá một số hàng hóa tăng lên nhưng nhìn chung mặt bằng giá vẫn cơ bản được kiểm soát tốt. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) quý I/2022 tăng 1,92% so với cùng kỳ năm trước, tuy cao hơn mức tăng 0,29% của quý I/2021 nhưng thấp hơn mức tăng của quý I các năm 2017-2020. Lạm phát của Việt Nam trong quý I năm nay không tăng cao như nhiều quốc gia khác trên thế giới chủ yếu do một số nguyên nhân: 
– Danh mục hàng hóa và dịch vụ đại diện tính CPI của các quốc gia khác nhau do phụ thuộc vào tập quán tiêu dùng, đồng thời cơ cấu chi tiêu dùng của hộ gia đình cũng không đồng nhất. Mỹ và châu Âu chi tiêu dùng cho các nhóm nhà ở, điện, nước, khí đốt, giao thông, văn hóa, giải trí chiếm tỷ trọng lớn trong khi Việt Nam chủ yếu chi tiêu dùng cho lương thực, thực phẩm (chiếm tỷ trọng 27,68%). Cuộc xung đột giữa Nga và Ucraina đã khiến giá dầu thô, khí đốt tự nhiên và khí tự nhiên hóa lỏng tăng nhanh hơn trong thời gian vừa qua. Mỹ và các nước phương Tây có tỷ trọng chi tiêu dùng các nhóm hàng này lớn nên tỷ lệ lạm phát cao hơn Việt Nam. 
– Việt Nam là quốc gia có nguồn cung ứng các mặt hàng lương thực, thực phẩm dồi đào, bên cạnh việc đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân còn xuất khẩu ra thế giới nên giá cả khá ổn định. Nhóm thực phẩm quý I/2022 giảm 1,2% so với cùng kỳ năm trước, làm CPI giảm 0,26 điểm phần trăm. Trong đó, giá thịt lợn giảm 21,55%; mỡ ăn giảm 22,6% và giá thịt chế biến giảm 4,63%. Giá thịt lợn giảm sâu chủ yếu do Việt Nam đã sản xuất được vaccine dịch tả lợn châu Phi nên chủ động trong phòng ngừa dịch khiến nguồn cung đảm bảo, trong khi giá thức ăn chăn nuôi đang tăng cao làm cho các hộ chăn nuôi phải bán sớm cắt lỗ. Bên cạnh đó, giá dịch vụ giáo dục giảm 4,24% do một số địa phương miễn giảm học phí từ học kỳ I năm học 2021-2022 làm CPI giảm 0,23 điểm phần trăm. Nhiều hộ gia đình trong quý I đã giảm giá hỗ trợ người thuê nhà trong tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp khiến giá thuê nhà ở giảm 15,14%. 
– Để chủ động ứng phó với những thách thức trước áp lực lạm phát gia tăng, trong thời gian qua Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt các bộ, ngành, địa phương thực hiện đồng bộ các giải pháp bình ổn giá, hạn chế những tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế – xã hội. Các chính sách, giải pháp tài chính tiền tệ được ban hành kịp thời đã giảm áp lực đáng kể lên mặt bằng giá như: Ổn định lãi suất cho vay ở mức thấp; giảm thuế giá trị gia tăng với một số nhóm hàng hóa, dịch vụ từ 10% xuống còn 8% từ ngày 01/02/2022; giảm 50% mức thuế bảo vệ môi trường đối với nhiên liệu bay từ ngày 01/01 đến hết 31/12/2022; giảm mức thu 37 khoản phí, lệ phí trong 6 tháng đầu năm 2022. Đồng thời, công tác điều hành giá xăng dầu theo sát diễn biến giá thế giới, nguồn cung xăng dầu được chỉ đạo khắc phục kịp thời. Các địa phương tăng cường quản lý giá trên địa bàn, nhiều doanh nghiệp tích cực tham gia chương trình bình ổn giá.  

Tốc độ tăng/giảm CPI tháng 3 và quý I các năm giai đoạn 2018-2022 (%)

 

dien bien lam phat quy i nam 2022 suc ep cac thang con lai cua nam va giai phap

 

Sức ép lạm phát tăng cao, các giải pháp kiềm chế 

Mặt bằng giá trong nước quý I/2022 vẫn cơ bản được kiểm soát tốt nhưng áp lực lạm phát trong những tháng còn lại của năm là rất lớn. Kinh tế thế giới đang trong giai đoạn phục hồi khi dịch Covid-19 được kiểm soát khiến tổng cầu tăng nhanh. Ở trong nước, với đà tăng trưởng của quý I, cùng với tác động của gói hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng, trong đó tập trung cho đầu tư hạ tầng, kinh tế Việt Nam có khả năng sẽ phục hồi mạnh hơn trong các quý tiếp theo. Các hoạt động du lịch, dịch vụ vui chơi, giải trí, ăn uống ngoài gia đình sẽ khôi phục trở lại, khi đó nhu cầu tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ tăng đẩy giá cả lên cao vào các tháng tiếp theo, tạo áp lực cho lạm phát. 
Nền kinh tế Việt Nam có độ mở lớn gần 200% nhưng nguồn nguyên, nhiên vật liệu sản xuất hàng hóa sử dụng trong nước và xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu nên rủi ro nhập khẩu lạm phát không thể tránh khỏi[1]. Hiện nay, giá hàng hóa trên thế giới đang tăng mạnh, đặc biệt thị trường cung cấp nguyên vật liệu chính cho Việt Nam là Trung Quốc tiếp tục thực hiện chính sách Zero Covid, hạn chế xuất nhập khẩu đường bộ, các doanh nghiệp phải tìm cách chuyển sang nhập khẩu bằng đường biển, đường hàng không, dẫn đến tăng thời gian vận chuyển và chi phí rất lớn. Việc nhập khẩu nguyên liệu với mức giá cao sẽ ảnh hưởng đến chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm, từ đó đẩy giá hàng hóa tiêu dùng trong nước lên cao. Thêm vào đó, chiến sự Nga – Ucraina đang làm tình trạng đứt gãy chuỗi cung ứng trở nên trầm trọng hơn.
Đặc biệt, giá xăng dầu đang tạo áp lực rất lớn đến chi phí sản xuất của doanh nghiệp và tiêu dùng của người dân. Trong quý I, giá xăng dầu trong nước tăng 48,81% so với cùng kỳ năm trước, tác động làm tăng 1,76 điểm phần trăm trong mức lạm phát chung của toàn nền kinh tế là 1,92%[2]. Bên cạnh đó, mặc dù là quốc gia có nguồn lương thực, thực phẩm dồi dào nhưng Việt Nam không tránh khỏi những ảnh hưởng từ giá thế giới khi nguồn cung phân bón và ngũ cốc dùng làm thức ăn chăn nuôi của các nước hiện nay đang sụt giảm mạnh làm cho chí phí sản xuất khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng cao[3]. Giá các dịch vụ liên quan đến du lịch, vui chơi giải trí, giáo dục, y tế… sẽ tăng do mở cửa nền kinh tế. Giá điện, nước nhiều khả năng tăng vào các tháng tiếp theo để đáp ứng nhu cầu sản xuất của doanh nghiệp và tiêu dùng của người dân[4]. Do vậy, giá đầu vào của các ngành, lĩnh vực tăng cao gây áp lực lạm phát chi phí đẩy cho nền kinh tế. 
Để bảo đảm kiểm soát tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2022 ở mức khoảng 4% theo mục tiêu Quốc hội đề ra, công tác quản lý, điều hành giá trong thời gian tới cần tiếp tục thực hiện một cách thận trọng, chủ động và linh hoạt, tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau: 
– Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương theo dõi chặt chẽ diễn biến giá cả, lạm phát trên thế giới, kịp thời cảnh báo các nguy cơ ảnh hưởng đến giá cả, lạm phát của Việt Nam. Đặc biệt, cần đánh giá, nhận định các mặt hàng, nguyên vật liệu nào có khả năng thiếu hụt tạm thời hay trong dài hạn để từ đó đưa ra được chính sách phù hợp. Kiểm soát giá nguyên, nhiên vật liệu đầu vào, tăng cường sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước dần thay thế nguồn nhập khẩu. Việc điều chỉnh giá các mặt hàng do nhà nước quản lý cần đúng thời điểm, đặc biệt trong thời điểm áp lực lạm phát đang cao như hiện nay thì không nên điều chỉnh giá dịch vụ y tế hay dịch vụ giáo dục theo lộ trình. 
– Đối với mặt hàng xăng dầu, Bộ Công Thương và Bộ Tài chính cần theo dõi sát diễn biến giá xăng dầu thế giới, đảm bảo nguồn cung xăng dầu cho hoạt động sản xuất và tiêu dùng ở trong nước, giảm bớt sự lệ thuộc và tác động tiêu cực của giá xăng dầu thế giới tăng cao đến sự ổn định và phát triển kinh tế. Xu hướng giá dầu thế giới được các tổ chức quốc tế dự báo sẽ tiếp tục ở mức cao, do đó cần chuẩn bị sẵn các kịch bản với các giải pháp tương ứng theo diễn biến của giá thế giới trong thời gian tới, sử dụng linh hoạt quỹ bình ổn kết hợp với các công cụ thuế, phí để bình ổn giá xăng dầu. 
– Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có các giải pháp hợp lý để bình ổn giá phân bón, thức ăn chăn nuôi, khuyến khích việc tăng tái đàn gia súc, diện tích nuôi thủy sản và cây trồng để đảm bảo nguồn cung cho nhu cầu tiêu dùng, mở cửa du lịch trong nước cũng như xuất khẩu. 
– Các địa phương cần chuẩn bị đầy đủ nguồn hàng nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu tiêu dùng của người dân, đặc biệt là các hàng hóa thiết yếu. Đồng thời, cần phải kiểm soát giá, niêm yết giá và sử dụng hiệu quả mạng lưới phân phối của các siêu thị để bình ổn giá. Ngoài ra, cần phải tăng cường kiểm tra, thanh tra thị trường, chống việc găm hàng, thổi giá, tránh tình trạng lợi dụng giá xăng dầu để tăng giá hàng hóa bất hợp lý. 
– Các công cụ chính sách tiền tệ cần được điều hành linh hoạt, đồng bộ (hạn chế tối đa nguồn tiền ra thị trường, quản lý và siết chặt cho vay đầu tư bất động sản) nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra, đồng thời góp phần hỗ trợ tháo gỡ khó khăn trong sản xuất kinh doanh và đời sống người dân chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19. 
– Tăng cường công tác thông tin, truyền thông nhằm đưa thông tin kịp thời, minh bạch, ổn định tâm lý người tiêu dùng, ổn định lạm phát kỳ vọng./.

Quý I / 2022, kinh tế tài chính quốc tế hồi sinh, nhu yếu nguyên nhiên vật tư Giao hàng sản xuất tăng cao trong khi nguồn cung bị đứt gãy khiến giá thành sản phẩm & hàng hóa trên thị trường quốc tế có khuynh hướng tăng mạnh. Áp lực lạm phát tăng cao tại nhiều nước, gồm cả những nền kinh tế tài chính lớn và là đối tác chiến lược thương mại số 1 của Nước Ta như Mỹ, Nhật Bản, Nước Hàn và những nước châu Âu. Lạm phát của Mỹ tháng 02/2022 tăng 7,9 % so với cùng kỳ năm trước, cao nhất kể từ tháng 01/1982, lạm phát tại Anh lên mức cao nhất trong 30 năm qua ( tháng Hai tăng 6,2 % ). Lạm phát tháng 2/2022 của những nước khác thuộc khu vực châu Âu cũng tăng cao như : Pháp tăng 3,6 % so với cùng kỳ năm trước, Đức tăng 5,1 %, Tây Ban Nha tăng 7,6 %, I-ta-li-a tăng 5,7 % … Ở châu Á, Nhật Bản tháng thứ 6 liên tục có lạm phát tăng ( tháng Một tăng 0,5 %, tháng Hai tăng 0,9 % ), Nước Hàn tháng 2 tăng 3,7 %. Các nước thuộc khu vực ASEAN đều có mức lạm phát tháng Hai cao hơn Nước Ta như In-đô-nê-xi-a tăng 2,1 %, Ma-lai-xi-a tăng 2,2 %, Phi-li-pin tăng 3,0 %, Xin-ga-po tăng 4,3 %, xứ sở của những nụ cười thân thiện tăng 5,3 % … Thêm vào đó, xung đột giữa Nga và Ucraina cùng với những giải pháp trừng phạt kinh tế tài chính của Mỹ và những nước so với Nga, nước xuất khẩu khí đốt tự nhiên lớn nhất và xuất khẩu dầu mỏ lớn thứ hai trên quốc tế đã đẩy giá nguồn năng lượng toàn thế giới lên cao, đặc biệt quan trọng giảm mạnh nguồn cung cho những nước châu Âu vốn nhờ vào đáng kể vào việc nhập khẩu nguồn năng lượng từ Nga. Nga cũng là nước xuất khẩu phân bón và lúa mì quan trọng, thực trạng thiếu vắng hai mẫu sản phẩm này làm tăng giá lương thực toàn thế giới và gây áp lực đè nén lạm phát thêm trầm trọng. Trong nước, kinh tế tài chính liên tục đà tăng trưởng trong điều kiện kèm theo thông thường mới với tổng sản phẩm trong nước ( GDP ) quý I năm 2022 ước tính tăng 5,03 % so với cùng kỳ năm trước. Nhu cầu sản xuất sản phẩm & hàng hóa ship hàng tiêu dùng và xuất khẩu cùng với tác động ảnh hưởng của giá sản phẩm & hàng hóa quốc tế đã đẩy giá 1 số ít sản phẩm & hàng hóa tăng lên nhưng nhìn chung mặt phẳng giá vẫn cơ bản được trấn áp tốt. Chỉ số giá tiêu dùng ( CPI ) quý I / 2022 tăng 1,92 % so với cùng kỳ năm trước, tuy cao hơn mức tăng 0,29 % của quý I / 2021 nhưng thấp hơn mức tăng của quý I những năm 2017 – 2020. Lạm phát của Nước Ta trong quý I năm nay không tăng cao như nhiều vương quốc khác trên quốc tế đa phần do một số ít nguyên do : – Danh mục sản phẩm & hàng hóa và dịch vụ đại diện thay mặt tính CPI của những vương quốc khác nhau do nhờ vào vào tập quán tiêu dùng, đồng thời cơ cấu chi tiêu dùng của hộ mái ấm gia đình cũng không như nhau. Mỹ và châu Âu chi tiêu dùng cho những nhóm nhà tại, điện, nước, khí đốt, giao thông vận tải, văn hóa truyền thống, vui chơi chiếm tỷ trọng lớn trong khi Nước Ta hầu hết chi tiêu dùng cho lương thực, thực phẩm ( chiếm tỷ trọng 27,68 % ). Cuộc xung đột giữa Nga và Ucraina đã khiến giá dầu thô, khí đốt tự nhiên và khí tự nhiên hóa lỏng tăng nhanh hơn trong thời hạn vừa mới qua. Mỹ và những nước phương Tây có tỷ trọng chi tiêu dùng những nhóm hàng này lớn nên tỷ lệ lạm phát cao hơn Nước Ta. – Nước Ta là vương quốc có nguồn đáp ứng những loại sản phẩm lương thực, thực phẩm dồi đào, bên cạnh việc cung ứng không thiếu nhu yếu tiêu dùng của người dân còn xuất khẩu ra quốc tế nên Chi tiêu khá không thay đổi. Nhóm thực phẩm quý I / 2022 giảm 1,2 % so với cùng kỳ năm trước, làm CPI giảm 0,26 điểm Xác Suất. Trong đó, giá thịt lợn giảm 21,55 % ; mỡ ăn giảm 22,6 % và giá thịt chế biến giảm 4,63 %. Giá thịt lợn giảm sâu hầu hết do Nước Ta đã sản xuất được vaccine dịch tả lợn châu Phi nên dữ thế chủ động trong phòng ngừa dịch khiến nguồn cung bảo vệ, trong khi giá thức ăn chăn nuôi đang tăng cao làm cho những hộ chăn nuôi phải bán sớm cắt lỗ. Bên cạnh đó, giá dịch vụ giáo dục giảm 4,24 % do 1 số ít địa phương miễn giảm học phí từ học kỳ I năm học 2021 – 2022 làm CPI giảm 0,23 điểm Tỷ Lệ. Nhiều hộ mái ấm gia đình trong quý I đã giảm giá tương hỗ người thuê nhà trong tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp khiến giá thuê nhà ở giảm 15,14 %. – Để dữ thế chủ động ứng phó với những thử thách trước áp lực đè nén lạm phát ngày càng tăng, trong thời hạn qua nhà nước đã chỉ huy kinh khủng những bộ, ngành, địa phương thực thi đồng điệu những giải pháp bình ổn giá, hạn chế những tác động ảnh hưởng xấu đi đến tăng trưởng kinh tế tài chính – xã hội. Các chủ trương, giải pháp kinh tế tài chính tiền tệ được phát hành kịp thời đã giảm áp lực đè nén đáng kể lên mặt phẳng giá như : Ổn định lãi suất vay cho vay ở mức thấp ; giảm thuế giá trị ngày càng tăng với 1 số ít nhóm sản phẩm & hàng hóa, dịch vụ từ 10 % xuống còn 8 % từ ngày 01/02/2022 ; giảm 50 % mức thuế bảo vệ môi trường tự nhiên so với nguyên vật liệu bay từ ngày 01/01 đến hết 31/12/2022 ; giảm mức thu 37 khoản phí, lệ phí trong 6 tháng đầu năm 2022. Đồng thời, công tác làm việc quản lý giá xăng dầu theo sát diễn biến giá quốc tế, nguồn cung xăng dầu được chỉ huy khắc phục kịp thời. Các địa phương tăng cường quản trị giá trên địa phận, nhiều doanh nghiệp tích cực tham gia chương trình bình ổn giá .