Kinh Trung Bộ (Majjhima Nikàya)

ĐẠI TẠNG KINH

VIỆT NAM

KINH
TRUNG BỘ
PL. 2556 – 1992
trungbo-biatrungbo-bia

Giới thiệu Trung Bộ Kinh
Hòa thượng Thích Minh Châu

1. Lời Nói Đầu

(trong bản in lần thứ nhất năm 1973)
Thích ( trong bản in lần thứ nhất năm 1973 )
Tập Kinh Trung Bộ (Majjhima Nikàya) gồm 152 kinh tất cả, chia thành 3 tập : tập I, gồm 50 Kinh đầu, tập II gồm 50 Kinh tiếp và tập III, gồm 52 Kinh chót.

Sau khi dịch xong Kinh Trường Bộ (Digha Nikàya), Vu Lan 2516 (23-8-1972), tôi dịch tiếp Kinh Trung Bộ.

Tôi dựa theo nguyên bản Pàli của Hội Pàli Text Society để phiên dịch và dùng ba bản dịch làm tài liệu. Tài liệu thứ nhất là những ghi chú bằng tiếng Anh và chữ Hán, tôi đã tự mình ghi vào bản Pàli, từng chữ, từng hàng, từng trang một, khi tôi theo học bản Pàli này, từ năm 1952 đến năm 1955 tại Hội Dharmaduta Vidhyalaya ở Colombo, Tích Lan, do Ngài Pannananda diễn giảng. Bản tài liệu thứ hai là bản dịch “The Middle Length Sayings” của Cô L. B. Horner, hội Pàli Text Society, một khu công trình dịch thuật rất chu toàn; và bản thứ ba là bản dịch ra tiếng Nhật của bộ Nam truyền Đại Tạng Kinh. Thỉnh thoảng tôi tìm hiểu thêm các bản kinh Hán Tạng tương đương nếu thấy thiết yếu.

Vấn đề tìm được Hán tự tương đương với chữ Pàli, thật là một yếu tố nan giải. Như biết Pancak Khandha là năm uẩn, Rùpa là Sắc, Vedanà là Thọ, Sannà là Tưởng, Sankhàrà là Hành và Vinnàna là Thức, thời dịch vừa gọn, vừa nhanh. Nhưng nếu gặp những danh từ chưa có chữ Hán tương đương là cả một yếu tố thật khó khăn và nan giải.

Các bài Kinh chữ Hán tương đương trong bộ Trung A Hàm không giúp đỡ được nhiều. Ngài Sanghadeva (Tăng Già Đề Bà) dịch Trung A Hàm vào năm 398 sau kỷ nguyên, nên nhiều danh từ Ngài dùng không được các dịch giả về sau như Ngài Huyền Trang đồng ý. Như Vedana, Ngài Sanghadeva dịch là Giác, về sau dịch là Thọ; Savitakka, Savicara, Ngài dịch là Hữu giác, Hữu quán, về sau dịch là Hữu tầm, Hữu tứ; Phassa Ngài dịch là Cánh Lạc, về sau dịch là Xúc. Cho nên, bản Hán Tạng nhiều khi tối nghĩa và dễ phát sinh hiểu lầm, nếu tất cả chúng ta không có bản Pàli tương đương.

Chúng tôi dịch Kinh Pàli, không vì mục tiêu muốn ủng hộ hay không muốn ủng hộ một học phái nào, một lập trường nào. Mục đích của chúng tôi chỉ muốn trình làng những Kinh điển có thể được xem là nguyên thủy hay gần nguyên thủy nhất, để người đọc có thể tìm hiểu và khám phá lời dạy chân chính của đức Phật, khỏi qua ống kính của một học phái nào, dầu là Ấn Độ, Trung Hoa hay Nước Ta. Chúng tôi cũng không có nghĩa vụ và trách nhiệm nêu lên cho fan hâm mộ rõ, đoạn nào là nguyên thủy, đoạn nào không phải nguyên thủy. Chỉ có người đọc, sau khi tự mình đọc, từ mình tìm hiểu và khám phá, tự mình suy tư, tự mình quan sát, tự mình chứng nghiệm trên bản thân, mới có thể tự mình tìm hiểu và khám phá và thấy đoạn nào là thật sự nguyên thủy. Trách nhiệm tìm hiểu và khám phá, chứng nghiệm cá thể là nghĩa vụ và trách nhiệm của người đọc, không phải của người dịch, vì Đạo Phật là Đạo đến để mà thấy chớ không phải Đạo đến để nhờ người thấy hộ, Đạo của người có mắt (Cakkhumato), không phải Đạo của người nhắm mắt; Đạo của người thấy, của người biết (Passato Jànato), không phải là Đạo của người không thấy, không biết (Apassato Ajànato). Nên chỉ có người đọc mới có thể tự mình thấy, tự mình hiểu và tự mình chứng nghiệm.

Thật sự tất cả chúng ta chỉ có một nghĩa vụ và trách nhiệm, tìm đọc và tìm hiểu và khám phá những lời Phật dạy thật sự là những lời dạy của đức Phật, và vì nghĩa vụ và trách nhiệm ấy chúng tôi đã nỗ lực phiên dịch Kinh Tạng Pàli ra Việt ngữ. Chúng ta chỉ cần đọc, cần suy tư chính chắn và rồi chính tất cả chúng ta tự ý thức đâu là những lời dạy trung thực của đức Bổn sư tất cả chúng ta.

Tỷ kheo Thích Minh Châu
Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn, 1973

2. Lời Giới Thiệu

(trong bản in năm 1986)

Chúng tôi cho in lần thứ hai Kinh Trung Bộ Tập I, II, và III, với những mục tiêu chính như sau :

Chúng tôi in Kinh Trung Bộ từ năm 1973 đến năm 1975, được phiên dịch trong khoảng chừng 1970 đến 1975 nên bản dịch có nhiều thiếu sót. Trước hết một số danh từ như Adassan trước dịch là “không hiểu rõ”, nay dịch lại là “không được thấy”; Sanjànàti trước dịch là “chấp nhận”, nay dịch là “tưởng tri”; Parijànàti trước dịch là “hiểu rõ”, nay dịch là “liễu tri”; Abhijànàti, trước dịch là “biết rõ”, nay dịch lại là “thắng tri”; Pajànàti, trước dịch là “hiểu rõ”, nay dịch lại là “Tuệ tri”.

Một danh từ nữa cũng hay dùng sai, có thể gây hiểu lầm như chữ Kàmaguna, Hán dịch là “Dục công đức”, mà công đức thường có nghĩa tốt đẹp, trong khi nghĩa chữ guna là làm “tăng trưởng lòng dục”. Nên chúng tôi dịch là “Dục tăng trưởng”. Danh từ dịch sai khá nhiều, nên bản in lần này dịch lại cho đúng hơn. Một sự cố gắng nữa của chúng tôi là Việt hóa một số danh từ để gần với bản sắc dân tộc hơn. Như trước dịch Trung Bộ Kinh, nay sửa lại Kinh Trung Bộ. Trước dịch kinh “Nhứt thiết lậu học”, nay sửa lại kinh “Tất cả lậu hoặc”. Trước dịch kinh “Bố dụ” nay đổi lại kinh “Ví dụ tấm vải”. Trước dịch là “Ngưu giác lâm tiểu kinh” nay dịch lại “Tiểu kinh Rừng sừng bò”.

Còn đối với danh từ Pàli về tên người, tên địa danh, chúng tôi chưa tìm ra được một công thức thích hợp, nên nay chúng tôi thả lỏng yếu tố này. Ví dụ, chữ Sàvatthi, chữ Hán là Xá Vệ, dịch âm phải là Xa-vat-thi, chúng tôi chưa theo lối dịch âm được, vì cách đọc chữ Pàli có nhiều điểm giống như tiếng Việt, nên nhiều khi chúng tôi giữ tiếng Pàli. Chữ Sàriputta, theo hán dịch là Xá-lợi-Phất, theo dịch âm phải là Xa-ri-put-ta, nhưng chúng tôi vẫn giữ Sàriputta. Còn theo Hán dịch thời quá xa với nguyên bản Pàli hay Sanskrit, chỉ ai quen với chữ Hán Tạng thời đọc và hiểu được. Đây chưa nói đến một số danh từ thuật ngữ chuyên môn, nhất là dùng để diễn đạt tiến trình đưa đến chứng quả Niết bàn, hoặc không tìm được, hoặc chưa tìm được danh từ thuật ngữ chuyên môn bên Hán Tạng, thành thử một số thuật ngữ chỉ được sử dụng tạm thời, chờ đợi sự gạn lọc của thời hạn hay sự bổ khuyết của chư học giả mười phương, mới có khả năng xử lý yếu tố nan giải này.

Gần tất cả chúng ta hơn, Kinh Trung Bộ này đã nằm trong chương trình học của Trường Cao Cấp Phật Học Nước Ta, và Tăng Ni Sinh cần có Kinh sách để học hỏi điều tra và nghiên cứu, cho nên cho in lại Kinh Trung Bộ là cung ứng nhu cầu cấp bách này. Ngoài ra Kinh Trung Bộ đang được nhiều nhà học giả, nhiều Phật tử nghiên cứu và điều tra và khám phá, vì tất cả chúng ta có thể nói Kinh Trung Bộ không những là cốt lõi trong Kinh Tạng Pàli mà còn diễn đạt rất súc tích và đầy đủ những định nghĩa cơ bản các danh từ đạo Phật và còn diễn đạt rất phong phú và đa dạng và đa dạng những pháp môn tu tập đưa đến Niết bàn. Chưa học Kinh Trung Bộ là chưa nắm được tinh hoa của Đạo Phật nguyên thủy. Chưa nghiên cứu và điều tra Kinh Trung Bộ rất có thể rơi vào những lệch lạc định nghĩa các danh từ chuyên môn trong đạo Phật mà Đức Phật đã dày công định nghĩa, mỗi khi Ngài thuyết giảng

giáo lý

của Ngài.

Chúng tôi chỉ có thể nói một cách vắn tắt là Kinh Trung Bộ đặt nặng về phần Chánh Tri Kiến và các chiêu thức tu hành, nhất là những tiến trình tu chứng đi từ Giới, Định, Tuệ, Giải thoát, Giải thoát tri kiến. Còn Kinh Trường Bộ đặt nặng phần lịch sử vẻ vang, có tánh cách đối ngoại đối với Bà La Môn, du sĩ ngoại đạo, Kỳ na giáo… Tăng Chi Bộ đặt nặng phần phân tích giáo lý theo pháp số từ số 1 đến số 11. Tương Ưng Bộ đặt nặng phần phân tích giáo lý theo đề tài. Còn đọc Kinh Trung Bộ tất cả chúng ta đi sâu vào phần giáo lý và phần hành trì, đặt nặng về những phản ứng tâm ý tế nhị của người tu hành khi đạt đến những quả vị tối cao.

Công trình phiên dịch của tôi, một mặt cung ứng sở nguyện xuất dương tu học của tôi, một mặt thiết kế xây dựng những tài liệu điều tra và nghiên cứu đạo Phật cho các Học giả và Phật tử Nước Ta. Lẽ dĩ nhiên trong nghĩa vụ và trách nhiệm hiện tại của tôi, sự phiên dịch đòi hỏi nhiều cố gắng nỗ lực, nhiều dụng công kiên trì và liên tục, nhưng chúng tôi đã được tưởng thưởng xứng đáng, khi được tận hưởng những Pháp Lạc do Chánh Pháp đem lại trong khi phiên dịch. Pháp Lạc này ẩn chứa trong từng chữ từng câu, tiềm tàng trong từng câu văn giọng nói, và chính Pháp Lạc đã nuôi dưỡng và khích lệ chúng tôi rất nhiều trong công tác phiên dịch này.

Càng dịch, chúng tôi càng thấy rõ ác ý của các nhà Bà La Môn đã dùng danh từ Tiểu Thừa để gán vào những lời dạy thực sự nguyên thủy của đức Phật và khiến cho các Phật tử không dám đọc, không dám học, không dám tu những pháp môn ấy. Càng dịch, càng thấy rõ dụng tâm hiểm độc của các vị Bà La Môn, đã khôn khéo xuyên tạc đạo Phật, khiến cho những giáo lý cơ bản, những tinh hoa cao đẹp nhất của tư tưởng quả đât, đã bị những tư tưởng tà giáo xen lẫn, bị ruồng bỏ, bị che dấu, không được biết đến, không được học hỏi tu hành. Nhưng chân lý bao giờ cũng là chân lý, mặt trời bao giờ cũng là mặt trời. Những lời ba hoa của Ma Vương, các cuộc đo tài của những ngọn đèn lẻ tẻ mù mờ, lời lẽ bập bẹ của những kẻ mới tập tểnh đi vào con đường Triết lý, tất cả cũng chỉ là cuồng vọng đen tối, được ánh sáng tỏa nắng rực rỡ của chân lý quét sạch.

Có người than kinh Pàli quá dài và có nhiều đoạn trùng điệp. Khi dịch Kinh, bao giờ tôi cũng phải kính trọng nguyên bản, và vì vậy chúng tôi không có thể tự ý lược bỏ những đoạn trùng điệp, dầu rằng nguyên bản Pàli chúng tôi phiên dịch cũng đã lược bỏ khá nhiều. Điều tất cả chúng ta nên nhớ là phần lớn Kinh điển được kiết tập trong các Đại hội Kiết tập và đều do chư Tăng tụng đọc lại những đoạn các vị ấy đã ghi nhớ, và lẽ dĩ nhiên khi tụng đọc không bao giờ có chuyện lược bỏ. Lại nữa đức Phật trong khi đi truyền giáo, mỗi Kinh đều được giảng toàn vẹn trong mỗi thực trạng đặc biệt quan trọng và chư Tăng ghi nhớ lại không bao giờ dám lược bỏ các đoạn đã được nghe. Do đó, có nhiều đoạn trùng điệp, khó lòng lược bỏ cho được. Dầu thế nào, các đoạn trùng điệp vẫn có sự tính năng cho người đọc, vì không gì tốt đẹp hơn là được nhắc đi nhắc lại nhiều lần những giáo lý quan trọng và những pháp tu cơ bản.

Chúng tôi nay chỉ chú trọng phiên dịch, và mong dịch cho được chu toàn và đầy đủ, để làm tài liệu nghiên cứu và điều tra và tu học cho các Phật tử và Học giả, chưa có một nhận xét, phê bình, so sánh so sánh gì. Mỗi bộ Kinh được dịch xong là những nguồn tài liệu văn hóa truyền thống rất là nhiều mẫu mã và quý giá cho các Học giả và các Phật tử, và hiện tại sự cố gắng duy nhất của chúng tôi là phân phối những tài liệu văn hóa truyền thống ấy.

Cho nên, với 5 bộ Kinh Trường Bộ, Kinh Trung Bộ, Kinh Tăng Chi, Kinh Tương Ưng, Kinh Tiểu Bộ, chúng tôi nghĩ là trình làng được những tài liệu khá đúng mực và đầy đủ để các nhà Học giả, Tăng Ni Phật tử, Sinh viên đi sâu được vào những Giáo lý và Giáo pháp cơ bản, thật sự là nguyên thủy của Đạo Phật.

Sài Gòn, ngày 8 tháng 11 năm 1986
Tỷ kheo Thích Minh Châu
Thiền viện Vạn Hạnh
(Bình Anson tổng hợp, 11/99)

Bài Đọc Thêm:
[(B) Đạo đức trong nếp sống của Phật tử. HT Thích Minh Châu ][(C) Nghĩa chữ “Không” trong đạo Phật Nguyên thủy. HT Thích Minh Châu][ (D) Lý Duyên khởi. HT Thích Thanh Từ ][(E) Kinh Thiên sứ. HT Thích Thanh Từ][(F) Giới thiệu Trung Bộ Kinh. Bình Anson]

Chân thành cám ơn Ts.

Cư sĩ

Bình Anson đã gửi tặng Thư Viện Hoa Sen ấn bản điện tử Revised 09-02-2003 (Tâm Diệu)
Tập Kinh ( Majjhima Nikàya ) gồm 152 kinh tổng thể, chia thành 3 tập : tập I, gồm 50, tập II gồm 50 Kinh tiếp và tập III, gồm 52 Kinh chót. Sau khi dịch xong Kinh ( Digha Nikàya ), Vu Lan 2516 ( 23-8-1972 ), tôi dịch tiếp KinhTôi dựa theo nguyên bản Pàli của Hội Pàli Text Society đểvà dùng ba bản dịch làmthứ nhất là những ghi chú bằng tiếng Anh và chữ Hán, tôi đã tự mình ghi vào bản Pàli, từng chữ, từng hàng, từng trang một, khi tôi theo học bản Pàli này, từ năm 1952 đến năm 1955 tại Hội Dharmaduta Vidhyalaya ở Colombo, , do Ngài Pannananda diễn giảng. liệu thứ hai là bản dịch ” The Middle Length Sayings ” của Cô L. B. Horner, hội Pàli Text Society, mộtdịch thuật rất ; và bản thứ ba là bản dịch ra tiếng Nhật của bộ Nam truyềntôicácHán Tạng tương tự nếu thấytìm được Hán tự tương tự với chữ Pàli, thật là mộtnan giải. Như biết Pancak Khandha là, Rùpa là Sắc, Vedanà là Thọ, Sannà là Tưởng, Sankhàrà là Hành và Vinnàna là Thức, thời dịch vừa gọn, vừa nhanh. Nhưng nếu gặp những danh từ chưa có chữ Hán tương tự là cả mộtthật khó khăn vất vả và nan giải. Cácchữ Hán tương tự trong bộkhông giúp sức được nhiều. Ngài Sanghadeva ( ) dịchvào năm 398 sau kỷ nguyên, nên nhiều danh từ Ngài dùng không được những dịch giả về sau như Ngài. Như Vedana, Ngài Sanghadeva dịch là Giác, về sau dịch là Thọ ; Savitakka, Savicara, Ngài dịch là Hữu giác, Hữu quán, về sau dịch là Hữu tầm, Hữu tứ ; Phassa Ngài dịch là Cánh Lạc, về sau dịch là Xúc. Cho nên, bản Hán Tạng nhiều khi tối nghĩa và dễ phát sinh, nếukhông có bản Pàli tương tự. Pàli, không vìmuốnhay không muốnmộtnào, mộtnào. củachỉ muốnnhữngcó thể được xem làhay gầnnhất, để người đọc có thểlời dạycủa, khỏi qua ống kính của mộtnào, dầu là, Trung Hoa haycũng không cónêu lên chorõ, đoạn nào là, đoạn nào không phải. Chỉ có người đọc, sau khi tự mình đọc, từ mình, tự mình suy tư, tự mình, tự mìnhtrên, mới hoàn toàn có thể tự mìnhvà thấy đoạn nào là thật sựlàcủa người đọc, không phải của người dịch, vìlà Đạo đến để mà thấy chớ không phải Đạo đến để nhờ người thấy hộ, Đạo của người có mắt ( Cakkhumato ), không phải Đạo của người nhắm mắt ; Đạo của người thấy, của người biết ( Passato Jànato ), không phải là Đạo của người không thấy, không biết ( Apassato Ajànato ). Nên chỉ có người đọc mới hoàn toàn có thể tự mình thấy, tự mình hiểu và tự mìnhThật sựchỉ có một, tìm đọc vànhữngthật sự là những lời dạy của, và vìấyđãPàli ra Việt ngữ. chỉ cần đọc, cần suy tư chính chắn và rồi chínhtựđâu là những lời dạycủasưcho in lần thứ hai KinhTập I, II, và III, với nhữngchính như sau : in Kinhtừ năm 1973 đến năm 1975, được1970 đến 1975 nên bản dịch có nhiều. Trước hết một số ít danh từ như Adassan trước dịch là ” không hiểu rõ “, nay dịch lại là ” không được thấy ” ; Sanjànàti trước dịch là ” đồng ý “, nay dịch là ” tưởng tri ” ; Parijànàti trước dịch là ” hiểu rõ “, nay dịch là ” liễu tri ” ; Abhijànàti, trước dịch là ” biết rõ “, nay dịch lại là ” thắng tri ” ; Pajànàti, trước dịch là ” hiểu rõ “, nay dịch lại là ” Tuệ tri “. Một danh từ nữa cũng hay dùng sai, hoàn toàn có thể gâynhư chữ Kàmaguna, Hán dịch là ” Dục công đức “, mànghĩa, trong khi nghĩa chữ guna là làm ” tăng trưởng lòng dục “. Nêndịch là ” Dục tăng trưởng “. Danh từ dịch sai khá nhiều, nên bản in lần này dịch lại cho đúng hơn. Mộtgắng nữa củalà Việt hóa một số ít danh từ để gần với truyền thống dân tộc bản địa hơn. Như trước dịch, nay sửa lại Kinh. Trước ” Nhứt thiết lậu học “, nay sửa lại kinh ” Tất cả lậu hoặc “. Trước ” Bố dụ ” nay đổi lại kinh ” Ví dụ tấm vải “. Trước dịch là ” Ngưutiểu kinh ” nay dịch lại ” Tiểu kinh Rừng sừng bò “. Còn so với danh từ Pàli về tên người, tên địa điểm, chưađược một, nên naythả lỏngnày. Ví dụ, chữ Sàvatthi, chữ Hán là, phát âm phải là Xa-vat-thi, chưa theo lối phát âm được, vì cách đọc chữ Pàli có nhiều điểm giống như tiếng Việt, nên nhiều khigiữ tiếng Pàli. Chữ Sàriputta, theo hán dịch là Xá-lợi-Phất, theo phát âm phải là Xa-ri-put-ta, nhưngvẫn giữ Sàriputta. Còn theo Hán dịch thời quá xa với nguyên bản Pàli hay Sanskrit, chỉ ai quen với chữ Hán Tạng thời đọc và hiểu được. Đây chưa nói đến 1 số ít danh từchuyên môn, nhất là dùng đểtiến trình đưa đến, hoặc không tìm được, hoặc chưa tìm được danh từchuyên môn bên Hán Tạng, một sốchỉ đượctạm thời, chờ đón sựcủahay sựcủa chư, mới có khả năngnan giải này. Gầnhơn, Kinhnày đã nằm tronghọc của Trường Cao Cấp, vàSinh cần có Kinh sách để, do đó cho in lại Kinhlànhu cầunày. Kinhđang được nhiều nhà, nhiềuvà, vìcó thể nói Kinhkhông những làtrongPàli mà cònrấtvà rất đầy đủ những định nghĩacác danh từvà cònrấtvà phong phú nhữngđưa đến. Chưa học Kinhlà chưa nắm đượccủa. ChưaKinhrất hoàn toàn có thể rơi vào những xô lệch định nghĩa những danh từ trình độ trongmàđãđịnh nghĩa, mỗi khi Ngàicủa Ngài. chỉ hoàn toàn có thể nói một cáchlà Kinhđặt nặng về phần Chánhvà những, nhất là những tiến trìnhđi từ Giới, Định, Tuệ ,. Còn Kinhđặt nặng phần, có tánh cách đối ngoại so với, du sĩ … đặt nặng phần phân tíchtheotừ số 1 đến số 11. đặt nặng phần phân tíchtheo đề tài. Cònđi sâu vào phầnvà phần, đặt nặng về nhữngcủa ngườikhinhữngcủa tôi, một mặtxuất dươngcủa tôi, một mặtnhữngcho cácvàtrongcủa tôi, sựđòi hỏi nhiều, nhiềuvà, nhưngđã được tưởng thưởng xứng danh, khi được tận thưởng nhữngdođem lại trong khinày chứa đựng trong từng chữ từng câu, tiềm tàng trong từng câu văn giọng nói, vàLạc đãvà khích lệrất nhiều trong công tácnày. Càng dịch, càng thấy rõcủa những nhàđã dùng danh từđể gán vào những lời dạy thực sựcủavà khiến cho cáckhông dám đọc, không dám học, không dám tu nhữngấy. Càng dịch, càng thấy rõcủa những vị, đã khôn khéo, khiến cho những, nhữngcao đẹp nhất của, đã bị những, bị, bị, không được biết đến, không được. Nhưngbao giờ cũng làbao giờ cũng là. Những lờicủa, những cuộc đo tài của nhữngmù mờ, lời lẽ bập bẹ của những kẻ mới tập tểnhTriết lý, tổng thể cũng chỉ là, được ánh sángcủaCó người than kinh Pàli quá dài và có nhiều đoạn trùng điệp. Khi, khi nào tôi cũng phảinguyên bản, vàkhông hoàn toàn có thể tự ý lược bỏ những đoạn trùng điệp, dầu rằng nguyên bản Pàlicũng đã lược bỏ khá nhiều. Điềunên nhớ là phần lớnđượctrong cácvà đều dotụng đọc lại những đoạn những vị ấy đã ghi nhớ, vàkhi tụng đọc không khi nào có chuyện lược bỏ. Lại nữatrong khi đi, mỗi Kinh đều được giảngtrong mỗivàghi nhớ lại không khi nào dám lược bỏ những đoạn đã được nghe. Do đó, có nhiều đoạn trùng điệp, khó lòng lược bỏ cho được. Dầu thế nào, những đoạn trùng điệpsựcho người đọc, vì không gìhơn là được nhắc đi nhắc lại nhiều lần nhữngquan trọng và những pháp tunay chỉ chú trọng, và mong dịch cho đượcvà vừa đủ, để làmvàcho cácvà, chưa có mộtgì. Mỗiđược dịch xong là những nguồnvà quý giá cho cácvà những, vàgắngcủalànhữngấy. Cho nên, với 5, Kinh, Kinh Tăng Chi, Kinh, Kinhnghĩ làđược nhữngkhávà khá đầy đủ để những nhà, Sinh viên đi sâu được vào nhữngvà, thật sự làcủa