TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM – Tài liệu text
TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (491.04 KB, 48 trang )
Bạn đang đọc: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM – Tài liệu text
TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM
1. Cơ hội và thách thức của thị trường bán lẻ Việt Nam
Cơ hội của thị trường bán lẻ Việt Nam
Sức thu hút của thị trường bán lẻ Việt Nam
Quy mô thị trường bán lẻ VN năm 2007 khoảng 20 tỉ USD và đạt tốc độ tăng
trưởng bình quân 8%/năm. Kênh bán lẻ hiện đại có tỉ trọng 13%, tuy nhiên tốc độ tăng
trưởng bình quân hàng năm rất cao – khoảng 30%. Sang năm 2008 với quy mô thị
trường trên 83 triệu dân, với doanh số là 55 tỷ USD, và có tổng trị giá thị trường bán lẻ
trị giá hơn 40 tỷ USD/ năm (số liệu của Tổng cục Thống kê). Chỉ số lòng tin của người
tiêu dùng (Consumer Confidence Index)- Việt Nam xếp thứ 5 trên toàn thế giới và
người tiêu dùng Việt Nam dẫn đầu thế giới về tiêu dùng hàng kỹ thuật cao. Riêng tại
TPHCM và Hà Nội, kênh bán lẻ hiện đại có tỉ trọng khoảng 28% (năm 2008) và dự
kiến lên đến 37% vào năm 2010.
Thị trường lớn
Việt Nam là một thị trường khá lớn, với gần 90 triệu dân, cơ cấu dân số rất trẻ
với khoảng 65% dân số trong độ tuổi lao động, trên 55% dân số dưới 45 tuổi, hơn một
nửa dân số có độ tuổi dưới 30 và thu nhập của người dân ngày càng cao, tốc độ tăng
trưởng hàng năm cao, và dự báo con số tương ứng năm 2018 là 95 triệu (70 triệu dân
thành thị). Người thành thị VN dẫn đầu về tiêu dùng hàng Hi-tech. Việt Nam có mức
tăng trưởng GDP cao và ổn định, theo đó nhu cầu tiêu dùng cũng ngày một tăng lên.
Năm ngoái, tăng trưởng GDP là 8,4% và tiêu dùng thông qua thương mại hơn 45 tỷ
USD. Số liệu thống kê gần đây nhất cho thấy, tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ và
doanh thu dịch vụ 6 tháng đầu năm 2008 ước tính đạt 447,3 nghìn tỷ đồng, tăng 30% so
với cùng kỳ năm trước. Qua đó cho thấy, tiềm năng phát triển hệ thống phân phối ở
nước ta là rất lớn.
Mặt khác sức hấp dẫn của thị trường bán lẻ VN còn do áp lực cạnh tranh giữa
các hệ thống bán lẻ chưa nhiều và VN có đến 65% dân số là người tiêu dùng trẻ, chi
tiêu mạnh tay. Tầng lớp trung lưu với thu nhập 250USD/tháng trở lên đang tăng nhanh.
Riêng tầng lớp trung lưu thu nhập trên 500USD/tháng chiếm trên 1/3 số hộ gia đình ở
thành thị. Chính vì thế, sức hút của thị trường bán lẻ VN tăng nhanh khi năm 2007, VN
xếp hạng 2 trên thế giới sau Ấn Độ, nhưng tháng 6.2008 – theo xếp hạng của Cty tư vấn
Mỹ A.T.Keaney (Tổ chức Nghiên cứu thị trường hàng đầu tại Hoa Kỳ), về chỉ số phát
triển kinh doanh bán lẻ toàn cầu thì Việt Nam đã đứng số 1, được coi là thị trường đầu
tư bán lẻ hấp dẫn nhất trong số 30 nước thuộc nhóm thị trường đang nổi lên. Trong
danh sách Top 10 thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất, sau Việt Nam là Ấn Độ, giữ vị trí thứ
ba là Nga và thứ tư là Trung Quốc; tiếp đến là Ai Cập, Morocco, Ả-rập Saudi, Chile,
Brazil và Thổ Nhĩ Kỳ. Trong các nước ASEAN, Malaysia đứng thứ 13, Indonesia ở vị
trí 15, Thái Lan là 24 và Philippines xếp thứ 26.
Theo các chuyên gia của A.T. Kearney, Việt Nam đạt được bước tiến ấn tượng
trong năm nay là nhờ kinh tế tăng trưởng mạnh, thể chế chính sách đang cải tiến theo
hướng thân thiện với nhà đầu tư nước ngoài và đặc biệt là nhu cầu của người tiêu dùng
về những mô hình bán lẻ hiện đại.
Theo Mike Moriarty, trưởng bộ phận nghiên cứu về tiêu dùng và bán lẻ của A.T.
Kearney, quy mô thị trường bản lẻ ở Việt Nam còn nhỏ, song vẫn rất hấp dẫn bởi áp lực
cạnh tranh chưa lớn, trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt trên dưới 8%. Bên cạnh
đó, người tiêu dùng Việt Nam thuộc hàng trẻ nhất ở châu Á và ngày càng mạnh tay chi
tiêu. A.T. Kearney bắt đầu công bố GRDI từ năm 2001, trong đó đánh giá về độ hấp dẫn
của thị trường bán lẻ ở những nền kinh tế mới nổi, dựa trên 25 yếu tố khách nhau, bao
gồm cả rủi ro kinh tế, chính trị, mức độ hấp dẫn cũng như bão hòa của thị trường bán lẻ
, mức bão hòa của thị trường bán lẻ và sự khác nhau giữa tăng trưởng tổng sản phẩm
nội địa (GDP) và tăng trưởng bán lẻ. Hiện nay không nước nào trong số 10 thị trường
bán lẻ hàng đầu năm 1995 còn giữ được ngôi vị của mình. Song Linh (theo Reuters,
The Economic Times)
Theo Bộ Công Thương, hiện nay một số tập đoàn, DN phân phối,bán lẻ quốc tế
đang hoàn thiện hồ sơ,chuẩn bị đăng ký kinh doanh tại Việt Nam như: Dairy Farm
(Singapore) đã nộp đơn xin thành lập DN 100% vốn; Lotte (Hàn Quốc) vào Việt Nam
qua hình thức liên doanh; 2 tập đoàn hàng đầu thế giới là Wal – Mart (Mỹ) và Carrefour
(Pháp) cũng đang bắt đầu để ý tới thị trường Việt Nam. Đây là những thông tin đáng
mừng cho sự phát triển của thị trường bán lẻ Việt Nam nhưng lại là đáng lo đối với các
doanh nghiệp bán lẻ trong nước bởi từ lúc này sự cạnh tranh sẽ gay gắt hơn bao giờ hết.
Các tập đoàn bán lẻ lớn của nước ngoài như Metro của Đức, Casino của Pháp,
Parkson… đều đã có mặt ở Việt Nam. Một tập đoàn bán lẻ của Canada cũng đã công bố
kế hoạch khai trương chuỗi cửa hàng tiện lợi mang tên Circle K ở Việt Nam.
Thế mạnh của các nhà bán lẻ Việt Nam:
Số lượng tăng nhanh chóng
Lớp DN mới, trẻ, được đào tạo tốt;
Năng động, sáng tạo; đa dạng hoạt động
Tiềm năng phát triển và cơ hội
Được quan tâm, hỗ trợ của Nhà nước và Hiệp hội ngành hàng
Hiểu biết về văn hóa, truyền thống, tâm lý của người tiêu dùng
Phản ứng kịp thời, nhanh nhạy trước biến động của thị trường.
Bước đầu sử dụng có hiệu quả các hoạt động.
Số lượng các DN nước ngoài và DN mới tham gia vào thị trường bán lẻ đã và sẽ
tăng lên: có cơ hội hợp tác, chia sẻ công nghệ, thông tin, kinh nghiệm.
Khi phát triển song song hai mô hình bán lẻ truyền thống và hiện đại:
Tiềm năng phát triển mạnh mẽ của bán lẻ hiện đại: phong cách sống mới;
thu nhập và tiêu dùng tăng lên; người tiêu dùng Việt Nam trong thời đại
hội nhập; đa dạng các loại hình bán lẻ hiện đại (từ siêu thị, đại siêu thị,
chuỗi cửa hàng chuyên doanh, tiện lợi… đến trung tâm thương mại tổng
hợp) vv …
Sức sống và sự thu hút của bán lẻ truyền thống ở Việt Nam: nét văn hoá
riêng, phong cách “cổ điển”, sản phẩm tươi mới và giá cả cạnh tranh,
người tiêu dùng ở khu vực nông thôn vv …
Hội nhập kinh tế quốc tế: Ứng dụng công nghệ thông tin; Thương mại
điện tử; Các phương thức bán hàng qua điện thoại, qua mạng…
Thách thức của thị trường bán lẻ Việt Nam
Bà Vũ Thị Nga, Trưởng ban Bảo vệ người tiêu dùng, cho biết: “Nhiều doanh
nghiệp kinh doanh hàng nhập lậu, không rõ nguồn gốc nên không thực hiện nghĩa vụ
bảo hành. Một số doanh nghiệp lại thực hiện nghĩa vụ bảo hành không đầy đủ như, vi
phạm thời gian sửa chữa, bắt người tiêu dùng phải chịu chi phí sửa chữa, vận
chuyển…”
Thị trường kinh doanh bán lẻ dù đang phát triển nhanh chóng nhưng phần lớn
vẫn chỉ tập trung ở khu vực thành thị. Loại hình kinh doanh bán lẻ hiện đại vẫn chưa
đến được nhiều với người tiêu dùng Việt Nam.
Tác dụng hỗ trợ nông dân, các cơ sở sản xuất và các doanh nghiệp sản xuất lớn
thay đổi cung cách sản xuất theo hướng bài bản chỉ là một phần nhỏ, mà bên cạnh đó,
việc các hệ thống siêu thị của nước ngoài đang và sẽ “làm mưa làm gió” trên thị trường
tiêu dùng trong nước là một điều hết sức nguy hại.
Thay mặt Hiệp hội bán lẻ Việt Nam, bà Loan khẳng định: “Trong thời gian tới,
phân phối bán lẻ truyền thống sẽ thu dần phạm vi hoạt động, vẫn tồn tại chợ truyền
thống, cửa hiệu tạp hóa, nhưng số lượng sẽ ít đi. Đồng thời phát triển các loại hình kinh
doanh mới cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin”.
Một vài chuyên gia đang dự đoán rằng suy thoái kinh tế sẽ “nghèo hóa” hàng
triệu người Việt Nam những người vừa thoát khỏi đói nghèo gần đây nhờ vào quá trình
phát triển và đô thị hóa nhanh chóng.
Ở phương diện người tiêu dùng, thu nhập trung bình mỗi hộ dân đang gia tăng
và trong khi những người giàu ngày càng giàu hơn thì có một tầng lớp trung lưu mới
nổi được hình thành.
Theo số liệu của ACNielsen, tổng giá trị tăng trưởng của ngành hàng tiêu dùng
nhanh là 20% trong tháng 12/2008 so với trước đó một năm và tỉ lệ tăng trưởng 4%
cách đây một năm. Lạc quan về viễn cảnh việc làm, giá cả thức ăn và năng lượng cho 6
tháng tới có thể nói đang ngày càng phân cực và những người đi mua sắm ngày càng
thắt lưng buộc bụng hơn trong một vài tháng đầu năm 2009 theo Nielsen Vietnam
Omnibus tháng 1-2/2009, chi tiêu dịp Tết trong năm nay đã giảm so với cùng kỳ năm
trước với hầu như 50% trong tổng số cho biết họ đã cắt giảm chi tiêu ít hơn trong Tết
này so với Tết năm ngoái. Có một điều thú vị là 10% cho biết họ chi tiêu nhiều hơn
trong những ngày nghỉ lễ Tết năm nay. Và 40% số người Việt Nam được khảo sát cho
biết họ quan tâm tới giá cả hơn so với trước. Người tiêu dùng nói rằng mọi thứ trở nên
đắt đỏ hơn và họ có ít tiền mặt hơn để tiêu xài cho dịp Tết vừa qua. 1/3 người dân chi
tiêu giảm xuống đối với những ngành hàng tiêu dùng nhanh (FMCG) ngoại trừ thực
phẩm và nói rằng họ giảm chi tiêu ở tất các các kênh mua sắm siêu thị, chợ và tiệm tạp
hóa. Người tiêu dùng Việt Nam còn cho biết trong vòng 6 tháng tới, họ sẽ giảm mức chi
tiêu đối với những ngành hàng không phải ăn uống như đồ dùng trong nhà, hàng điện
tử, hàng chăm sóc mặt và quần áo và cả các hoạt động giải trí. Hơn phân nửa số người
được khảo sát nói rằng họ sẽ giảm chi tiêu tiền điện thoại, tiền điện, xăng dầu và chi phí
sinh hoạt nói chung. Hơn một nửa có ý định sẽ giảm chi tiêu trong 6 tháng tới với
ngành hàng thức ăn nhanh và nước ngọt có ga. (Vneconomy.vn)
Trong thời gian qua, chúng ta có giảm thiểu một chút do lạm phát nhưng về lâu
dài, thị trường Việt Nam vẫn là thị trường nóng bỏng.
Thương mại thế giới sẽ suy giảm xuống mức gần 9%, theo dự báo của Tổ chức
thương mại thế giới (WTO). Bị tác động mạnh mẽ nhất sẽ là các nước phát triển,
thương mại sẽ bị rơi xuống 10%. Các nước nghèo xuất khẩu sẽ giảm 2-3%, WTO cảnh
báo tình trạng suy thoái kinh tế sẽ còn tiếp tục suy sụp, nhưng những quyết định thương
mại sẽ là “một công cụ tiềm năng” để phục hồi, tổng giám đốc WTO, Pascal Lamy
nhận định: Đây là lần suy giảm thương mại lớn nhất kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai,
đồng thời ông kêu gọi các nhà lãnh đạo toàn thế giới đấu tranh chống lại chủ nghĩa bảo
hộ.
Thương mại là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu được thảo luận tại
cuộc họp của các quan chức chính phủ các nước G20 tại London vào ngày 2.3 vừa qua.
Ngài Lamy cảnh báo rằng việc sử dụng biện pháp bảo hộ đã tăng lên, với những hậu
quả nguy hiểm: “ hàng nghìn việc làm liên quan đến thương mại đã bị mất. Chính phủ
phải tránh để đưa tình trạng này trở nên tồi tệ hơn khi trở lại với phương pháp bảo hộ,
một phương pháp không thật sự bảo vệ được quốc gia nào và đe dọa nghiêm trọng hơn
tới việc làm”
2. Thực tế thị trường bán lẻ Việt Nam
Nhận định về các doanh nghiệp bán lẻ trong nước
Việt Nam mới chỉ có một số đơn vị có phương thức kinh doanh và phân phối
tương đối chuyên nghiệp như: Tổng công ty Thương mại Sài Gòn Satra với 40 doanh
nghiệp (DN) trực thuộc, Tổng công ty thương mại Hà Nội, chuỗi siêu thị Citimax,
Fivimart, hệ thống Maxi Mart, CoopMart…
Thực tế cho thấy các đơn vị bán lẻ trong nước còn chưa nhiều, lại thiếu tính
chuyên nghiệp và vốn ít; hệ thống hậu cần như kho bãi, xe chuyên dùng, nguồn hàng
rời rạc, thiếu đồng bộ và chưa đạt chuẩn; hạ tầng giao thông kém…Hầu hết các nhà
phân phối bán lẻ đều ở quy mô nhỏ, yếu về năng lực, hạn chế về mặt hàng phục vụ,
nguồn nhân lực chưa được đào tạo cơ bản…Vì thế, việc mở thị trường bán lẻ cho các
doanh nghiệp nước ngoài với trình độ văn minh thương mại cao là một thách thức rất
lớn để tồn tại và phát triển.
Bên cạnh đó, Chính phủ hầu như chưa phát huy được vai trò của mình trong việc
định hướng cũng như giúp đỡ các doanh nghiệp trong nước. Điển hình là việc cấp giấy
phép hoạt động cho các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài nhìn lại ta sẽ thấy hầu hết
những siêu thị, trung tâm thương mại nước ngoài đều chọn được những vị trí đẹp nhất,
gần vị trí trung tâm, nơi tập trung dân cư, giao thông thuận tiện, mặt bằng rộng.
Khó khăn đối với doanh nghiệp và hộ kinh doanh Việt Nam đó là năng lực cạnh
tranh của từng doanh nghiệp yếu vì đại bộ phận các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, trình
độ quản lý lạc hậu, phương thức kinh doanh chưa tiên tiến, cơ sở hạ tầng kinh doanh
chưa hiện đại, chiến lược kinh doanh chưa được quan tâm đúng mức.
Các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam còn thiếu kinh nghiệm trong đào tạo, tổ chức
cung ứng…
Đồng thời, tính liên kết giữa các doanh nghiệp yếu như: liên kết dọc giữa nhà
sản xuất-nhà bán buôn-nhà bán lẻ; liên kết ngang giữa nhà bán buôn với nhà bán buôn,
nhà bán lẻ với nhà bán lẻ; liên kết giữa nhà phân phối với các nhà cung ứng dịch vụ
ngân hàng…
Đối với DN bán lẻ Việt Nam trong những năm qua, chúng ta rất tiến bộ và tăng
trưởng đáng khích lệ. Cụ thể, từ hình thức bán lẻ truyền thống chúng ta đã bắt nhịp hình
thức bán lẻ hiện đại thông qua các siêu thị, trung tâm thương mại, trung tâm mua sắm,
các chuỗi cửa hàng mang tính chuyên ngành như may mặc, điện máy, nội thất… Trong
những hình thức như vậy thì các DN Việt Nam cũng cần nỗ lực phấn đấu hết sức để làm
sao học tập những điểm mạnh, ưu điểm của hệ thống phân phối của các nhà bán lẻ nước
ngoài.
Với phẩm chất của DN Việt Nam, trong thời kỳ hội nhập với rất nhiều doanh
nhân trẻ, năng động, được đào tạo bài bản và với một quyết tâm cùng với sự khéo léo.
Đặc biệt đối với DN bán lẻ chúng ta có lợi thế là hiểu biết về văn hóa, lịch sử, truyền
thống cũng như tập quán mua sắm, tiêu dùng của người Việt Nam cùng sự linh hoạt của
các DN vừa và nhỏ trong lĩnh vực này. Mặc dù sẽ gặp nhiều khó khăn và thách thức rất
lớn nhưng DN trong nước sẽ khẳng định được mình.
Một câu hỏi được đặt ra là tại sao các nhà sản xuất trong nước và nước ngoài lại
phải tìm đến các nhà phân phối và bán lẻ nước ngoài như Diethlem, Metro, Big C,
Lotte, v.v. thay vì các đối tác trong nước?
Câu trả lời đó chính là chất lượng và hiệu quả phân phối. Các doanh nghiệp này
đã thực hiện chuyên nghiệp và hữu hiệu các chức năng cơ bản và quan trọng của kênh
phân phối đó là nghiên cứu, chiêu thị, tiếp xúc, làm thích ứng, đàm phán, kho vận, đầu
tư và chấp nhận rủi ro. Ngoài ra, các nhà phân phối và bán lẻ này sở hữu 3 chữ E rất
quan trọng đó là sự thông thạo (expertise), vốn (equity) và kinh nghiệm toàn cầu
(experience) trong lãnh vực phân phối và bán lẻ. Các nhà phân phối và bán lẻ Việt Nam
chỉ phân phối và bán lẻ trong lãnh thổ Việt Nam do vậy thiếu sự thông thạo về các mô
hình phân phối và bán lẻ đã và đang áp dụng trên thế giới. Cùng với sự thiếu thông thạo
là sự thiếu hiểu biết về thông tin của các nhà phân phối và bán lẻ nước ngoài. So với các
đồng nghiệp nước ngoài, các nhà phân phối và bán lẻ Việt Nam không có tiềm lực tài
chính đủ mạnh vì chỉ tham gia phân phối và bán lẻ tại thị trường Việt Nam. Mặc khác,
họ lại hoạt động độc lập và thiếu sự liên kết do vậy không huy động được nguồn tài
chính đủ mạnh để cạnh tranh. Cuối cùng đó là thiếu kinh nghiệm trong quản lý phân
phối và bán lẻ cũng như trình độ nhân lực phục vụ cho ngành phân phối và bán lẻ còn
yếu kém.
Nhìn bề ngoài ta có thể nhận thấy sự bùng nổ của các nhà phân phối và bán lẻ
Việt Nam với sự gia tăng với tốc độ chóng mặt về số lượng các cửa hiệu (stores) của
CoopMart, Vinatex, Hapro, G7, Citimart, v.v. nhằm chiếm lĩnh những mặt bằng tốt
chuẩn bị đón đầu với làn sóng của các nhà phân phối và bán lẻ nước ngoài tuy nhiên sẽ
là chưa đủ và không hiệu quả nếu các doanh nghiệp này không hoàn thiện thực chất các
yếu tố 3E kể trên.
Nếu không nhìn vào tên, có lẽ chẳng ai nhận ra sự khác biệt giữa các siêu thị
Co.op Mart, Big C hoặc Citimart…Nhỏ hơn một chút là các hệ thống: Hapro,
Maximark… Tuy nhiên, những hệ thống này cũng chưa cho thấy lý do để thuyết phục
khách hàng đến với họ mà không phải là những siêu thị khác. Dường như những siêu
thị của Việt Nam chỉ đơn thuần tạo nên nơi mua sắm có gắn máy lạnh, nhiều hàng hoá
và… phải xếp hàng khi thanh toán. Thấp hơn một chút nữa là các cửa hàng tiện dụng.
Tại Việt Nam, chúng ta biết đến các hệ thống như Shop & Go, Fresh Mart (Tập đoàn
CP, Thái Lan), G7 Mart… Ngoài ra, tại thị trường Việt Nam tồn tại những mô hình bán
lẻ theo kiểu chuyên biệt: Nguyễn Kim, Best Caring, Viễn Thông A…Đây có thể là một
xu hướng khả dĩ để đương đầu với sự cạnh tranh khốc liệt. Bởi chính độ chuyên biệt đã
xác định rõ nhóm khách hàng. Chẳng hạn, tới Nguyễn Kim nghĩa là khách hàng muốn
mua hàng điện máy gia dụng. Sự chuyên biệt hoá sẽ góp phần hình thành chân dung
khách hàng mục tiêu. Tuy nhiên, dường như sự khác biệt giữa các đối thủ cùng phân
khúc này cũng thật sự chưa rõ ràng. Một loại hình nữa là: trung tâm thương mại. Với
nhữngn tên tuổi: Diamond Plaza, Zen Plaza, Parkson… tập trung vào nhóm khách hàng
cao cấp ở những đô thị lớn. Chính nhóm này sẽ cạnh tranh quyết liệt với nhau để tồn
tại. Đây là nhóm có đội quản lý chuyên nghiệp, chất lượng, dịch vụ và thương hiệu lớn.
Bản thân nhóm này cũng có nhiều chiêu thức marketing để thu hút khách hàng mục tiêu
của mình. Trong khi đó, Metro Cash & Carry có thể được xem là mô hình cung cấp sỉ
những mặt hàng thiết yếu khác biệt nhất hiện nay ở Việt Nam.
Metro làm marketing bài bản, chuẩn mực. Họ xác định nhóm khách hàng của
mình rất rõ ràng bằng cách xác lập 90.000 hội viên. Đây là nhóm khách hàng có thu
nhập trung bình cao. Quan trọng là Metro kết hợp với nhà cung cấp để có mực giá rẻ
nhất có thể. Đó là lý do mà Metro dường như không có đối thủ tại Việt Nam.
Tóm lại, các nhà bán lẻ Việt Nam ít nhiều cũng đã có sự chuẩn bị về công tác
marketing. Tuy nhiên, những chuẩn bị của họ dường như chưa đủ mà chỉ cần nhìn vào
cách định vị khách hàng cũng có thể nhận thấy nhiều nỗi lo.
Điểm yếu của các DN phân phối ở Việt Nam là tính chuyên nghiệp chưa cao, do
chỉ có khoảng 4-5% nhân lực được đào tạo chuyên ngành. 60-70% DN phân phối chưa
sử dụng công nghệ thông tin vào lĩnh vực quản lý và khoảng 20% đơn vị mới xây dựng
website với nội dung đơn giản, ít được cập nhật.
Theo một nghiên cứu mới đây của Tập đoàn IBM, thách thức lớn nhất mà ngành
bán lẻ VN đang phải đối mặt là sự xuất hiện của nhật kí điện tử (blog), diễn đàn trực
tuyến và thế giới ảo…Cụ thể, ông Andrew Ma, Giám đốc phụ trách Giải pháp ngành
bán lẻ của IBM Châu Á – Thái Bình Dương trong một hội thảo về ngành bán lẻ VN mới
đây đã cho hay, với sự xuất hiện của blog, diễn đàn trực tuyến, internet…đã làm cho
phạm vi và cách thức tiếp xúc khách hàng của doanh nghiệp (DN) bán lẻ trở nên đa
dạng và rộng hơn – sự thuận tiện mọi lúc mọi nơi và công nghệ ảo hóa đã và đang tác
động mạnh đến ngành bán lẻ VN, tương lai của ngành nằm ở khả năng hợp nhất thực tế
và môi trường ảo của DN để đáp ứng nhu cầu khách hàng. Nói về tác động của internet
tới ngành bán lẻ ông Andrew Ma cho biết hiện tại trên thế giới đã có nhiều DN áp dụng
công nghệ ảo hóa vào kinh doanh, tiến hành tạo mẫu và phát triển sản phẩm trên nền
sản phẩm Cuộc sống thứ hai (Second Life) như thiết lập mạng internet 3 chiều, khởi
động mạng internet 3D, kinh doanh ảo EBO và các môi trường ảo khác.
Theo đó, ban đầu chỉ có vài DN gia nhập thế giới ảo như Sony, Reebok,
Nissan… nhưng đến nay đã có rất nhiều hãng áp dụng thành công công nghệ ảo hóa
vào kinh doanh bán lẻ, tăng cao lợi nhuận như Sears, Adidas, American Apparel, Apple
và Samsung. Tại VN, theo khảo sát của IBM, các hệ thống bán lẻ lớn như Metro
CashCary, Big C, Parkson… đã vận hành các giải pháp công nghệ tiến tiến dành cho
ngành bán lẻ, còn các DN VN hiện chỉ có một số tiến hành dùng thí điểm. Riêng đối với
việc gia nhập kinh doanh trong thế giới ảo thì vẫn còn xa lạ tại thị trường VN.
“Chúng tôi cho rằng đây là thời điểm để DN bán lẻ VN đánh giá lại thị trường,
xác định rõ đối thủ cạnh tranh của mình là ai để kịp thời chọn các giải pháp kinh doanh
theo xu hướng bán lẻ hiện đại” – ông Andrew Ma nói.
“Đây là cơ hội đồng thời cũng là thách thức mới của DN, bởi đối thủ cạnh tranh
bây giờ có thể là bất kỳ ai, ở bất cứ nơi đâu. Khách hàng ngày càng có nhiều thông tin,
đòi hỏi cao hơn và có sức mạnh lớn hơn” – ông Andrew Ma cho biết thêm.
Bên cạnh đó, IBM cho rằng sự xuất hiện các chuỗi cửa hàng chuyên biệt và sự
có mặt của các tập đoàn bán lẻ toàn cầu tại thị trường VN cũng góp phần thay đổi diện
mạo thị trường. Các cửa hàng VN muốn cạnh tranh buộc phải cải tiến dây chuyền cung
ứng, cải tiến qui trình kinh doanh để nâng cao năng suất, hiệu quả.
DN bán lẻ nước ngoài có tính chuyên nghiệp rất cao. Họ sử dụng công nghệ hiện
đại, có tiềm lực về tài chính mạnh, có hệ thống hỗ trợ tốt…
Thuận lợi và khó khăn của nghành bán lẻ Việt Nam.
Thuận lợi.
Hiện kênh phân phối truyền thống đang chiếm khoảng trên 85% lưu chuyển
hàng hóa bán lẻ.
Về dài hạn, tỷ lệ này giảm dần nhưng về tuyệt đối sẽ tăng lên. Đây là dư địa cho
các doanh nghiệp, hộ kinh doanh Việt Nam vì các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài chủ yếu vào khai thác thị trường thông qua kênh phân phối hiện đại (trung tâm
thương mại, đại siêu thị, siêu thị…). Đặc điểm của phân phối (nhất là bán lẻ) là tính
phân tán cao và gắn với địa điểm bán lẻ cụ thể, với địa bàn dân cư cụ thể.
Với mạng lưới các điểm bán lẻ khá dày đặc, phân bố khắp nơi đang trở thành
một lợi thế cho doanh nghiệp và hộ kinh doanh Việt Nam. Hơn ai hết, các doanh nghiệp
và hộ kinh doanh Việt Nam gắn bó về văn hóa, hiểu biết về tập quán, nhu cầu của người
tiêu dùng Việt Nam và có cơ hội để học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến, phương thức
kinh doanh hiện đại cũng như có thêm động lực trong việc đổi mới và phát triển kinh
doanh.
Hơn nữa, trong cam kết, để có thời gian cho doanh nghiệp Việt Nam chuẩn bị,
Chính phủ đã thực hiện việc mở cửa theo lộ trình, áp dụng kiểm tra nhu cầu kinh tế khi
cấp phép từ cơ sở bán lẻ thứ hai trở lên đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,
không mở cửa hoặc mở cửa theo lộ trình đối với một số hàng hóa.
Để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng cho các DN, Hiệp hội các
nhà bán lẻ Việt Nam đã ra mắt vào ngày 5/10/2007 với khoảng 130 DN tham gia. Vai
trò của Hiệp hội là đảm bảo môi trường kinh doanh cho các nhà sản xuất, cung cấp
hàng hóa dịch vụ cho các nhà bán lẻ, bảo vệ quyền và ích chính đáng cho DN hội viên;
bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng…
Khó khăn của các doanh nghiệp nước ngoài:
Thị trường bán lẻ Việt Nam với quy mô khoảng 20 tỷ USD và thu nhập đầu
người dưới 1.000 USD/năm; Quy mô thị trường nhỏ, thời gian thu hồi vốn chậm sẽ cản
bước tiến của những doanh nghiệp nước ngoài. Bên cạnh đó, cuộc khủng hoảng tài
chính toàn cầu khiến sức mua sụt giảm mạnh trên toàn thế giới, trong đó có cả Việt
Nam. Các doanh nghiệp phân phối lớn hiện phải đối phó với những khó khăn do cuộc
khủng hoảng tài chính đưa lại và sẽ không để mắt đến những thị trường mới trong một
vài năm tới.
Thông thường hệ thống bán lẻ muốn phát triển phải có vị trí kinh doanh thuận
tiện là mặt đường đồng nghĩa với việc phải có tiềm lực tài chính rất mạnh, đó là chưa
kể các nhà bán lẻ nước ngoài muốn thiết lập các chuỗi siêu thị tại Việt Nam. Vấn đề này
thật không đơn giản vì phân bổ đất đai cho hạ tầng thương mại của Việt Nam còn chật
hẹp, giá thuê lại quá cao. Tại các tòa nhà thương mại cao cấp ở trung tâm với giá thuê
dao động 65 – 150 USD/m2/tháng, tại các vị trí không trung tâm có giá thuê khoảng 25 –
60 USD/m2/tháng.
Phát triển của thị trường bán lẻ Việt Nam
Một loạt sự kiện trong nước và thế giới đang diễn ra khẳng định một điều: người
bán lẻ, người tiêu dùng Việt Nam đang là tâm điểm của thế giới kinh doanh hiện nay.
Nhiều nhà đầu tư đang nhắm đến Việt Nam…
Ngày 01.01.2009 là thời điểm mà Việt Nam mở cửa thị trường bán lẻ theo lộ
trình cam kết khi gia nhập WTO của Việt Nam. Dư luận “đồn đoán” nhiều về số phận
của các doanh nghiệp phân phối, bán lẻ trong nước sẽ bị ảnh hưởng, khi các doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài được tham gia vào lĩnh vực này. Tuy nhiên, theo phân tích
của các chuyên gia thương mại trong và ngoài nước cho thấy sẽ không có biến động lớn
trên thị trường ngay sau ngày mở cửa.
Các doanh nghiệp phân phối, bán lẻ trong nước nói chung, có lợi thế rất lớn về
“sân nhà” với sự thông thuộc, am hiểu một cách sâu sắc văn hóa, thói quen tiêu dùng
của người địa phương, trong khi “nhập gia tùy tục” không phải là chuyện đơn giản mà
những “vị khách lạ” có thể làm tốt trong ngày một ngày hai; ngoài ra các doanh nghiệp
phân phối, bán lẻ Việt Nam còn rất nhiều không gian để phát triển khi mà các đại gia
bán lẻ nước ngoài chỉ tập trung vào những tỉnh, thành phố lớn. Vì vậy, nếu biết tận dụng
thế mạnh này, liên tục tiếp cận, nắm bắt nhu cầu ngày càng cao và khắt khe của khách
hàng, tiến hành đồng bộ các giải pháp để trang bị những điều kiện cần thiết có thể thỏa
mãn được những nhu cầu đó, thì các doanh nghiệp phân phối, bán lẻ Việt Nam hoàn
toàn có cơ hội và khả năng thích ứng.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp phân phối, bán lẻ Việt Nam có lợi thế vượt trội
khi phát triển mô hình cửa hàng tiện lợi; còn các doanh nghiệp nước ngoài khó có khả
năng thao túng phân khúc thị trường này do có nhiều hạn chế từ hiểu biết về tập quán,
về thị hiếu, thu nhập đến thời gian đầu tư và thu hồi vốn, địa điểm bán lẻ,… trong khi
các doanh nghiệp phân phối, bán lẻ Việt Nam lại rất dễ thực hiện thông qua việc cải tạo,
mua đứt, thuê hoặc sáp nhập cửa hàng, kể cả các bà buôn thúng, bán mẹt, chỉ cần cải
tạo các cơ sở đó thành điểm bán lẻ tiện lợi đã có mạng lưới bán lẻ rộng khắp, do đó
tương lai các doanh nghiệp phân phối, bán lẻ Việt Nam có nhiều thuận lợi để tồn tại và
phát triển.
Kết quả khảo sát người tiêu dùng tại Hà Nội và TPHCM của AGROINFO cho
thấy, các nhà bán lẻ trong nước đang đáp ứng tốt hơn sự kỳ vọng của người tiêu dùng
trong một số tiêu chí. Trường hợp của chuỗi siêu thị Co.opMart là một ví dụ điển hình.
Chuỗi siêu thị Co.opMart được người tiêu dùng đánh giá khá cao khi đáp ứng được
phần lớn các tiêu chí mà họ kỳ vọng nhiều như giá cả cạnh tranh, thanh toán nhanh gọn,
gần nhà và thuận tiện về giao thông so với các tập đoàn bán lẻ nước ngoài là Metro
Cash & Carry và Big C. Điều này rõ ràng là một tín hiệu đáng mừng cho ngành kinh
doanh bán lẻ của Việt Nam trong bối cảnh thị trường sắp tới.
2.2.2.2 Khó khăn.
Khó khăn đối với doanh nghiệp và hộ kinh doanh Việt Nam đó là năng lực cạnh
tranh của từng doanh nghiệp yếu vì đại bộ phận các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, trình
độ quản lý lạc hậu, phương thức kinh doanh chưa tiên tiến, cơ sở hạ tầng kinh doanh
chưa hiện đại, chiến lược kinh doanh chưa được quan tâm đúng mức.
Đồng thời, tính liên kết giữa các doanh nghiệp yếu như: liên kết dọc giữa nhà
sản xuất-nhà bán buôn-nhà bán lẻ; liên kết ngang giữa nhà bán buôn với nhà bán buôn,
nhà bán lẻ với nhà bán lẻ; liên kết giữa nhà phân phối với các nhà cung ứng dịch vụ
ngân hàng…trong đó các doanh nghiệp Việt Nam có 3 điểm yếu lớn sau:
Tài chính: Đây là yếu tố không cần bàn cãi nhiều.
Hậu cần (logistics): Kinh doanh siêu thị hiện đại đòi hỏi một hệ thống hậu cần
chuyên nghiệp. Tổng giám đốc của Metro Cash&Carry cho biết Metro đã chi gần 20-25
triệu euro trang bị hệ thống cung ứng hàng (kho lạnh, xe chuyên dụng, thiết bị kiểm tra,
bảo quản hàng hóa…) theo chuẩn của Metro toàn cầu và chi gần 800.000 euro cho công
tác huấn luyện. Trong khi đó, ở các siêu thị của Việt Nam, các giám đốc siêu thị vẫn còn
tranh cãi với nhau về việc trung tâm phân phối hoặc nhà cung cấp không giao đủ hàng
bán trong dịp lễ, Tết mà chưa có biện pháp nào để khắc phục tình trạng này. Việc điều
phối các xe giao hàng đúng loại, đúng nơi, đúng thời điểm vẫn còn được điều hành,
quản lý khá đơn giản. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh mà còn
làm gia tăng chi phí lao động cũng như quản lý.
Tính chuyên nghiệp: Kinh doanh bán lẻ hiện đại đòi hỏi nhà quản lý có những
công cụ hỗ trợ để đưa ra các quyết định. Đối với một hệ thống siêu thị, bộ phận mua
hàng đóng vai trò khá quan trọng. Chuyên viên mua hàng chuyên nghiệp có thể điều
đình với nhà cung cấp trên tất cả mọi phương diện từ giá cả, số lượng, thời gian giao
nhận hàng, các chương trình tiếp thị, khuyến mãi, quy cách bao bì, đóng gói… Thậm chí
họ có thể tư vấn lại cho nhà cung cấp nên sản xuất hàng như thế nào, tiếp thị, quảng bá
ra sao… Tuy nhiên, ở khâu này, dường như các chuyên viên mua hàng của các nhà bán
lẻ nước ngoài tỏ ra lấn lướt. Giám đốc một doanh nghiệp dệt may kể rằng ông chào
hàng ở Metro, bộ phận mua hàng ở đây trình bày cho ông xem tất cả những quy chuẩn
của ngành hàng, mẫu mã, màu sắc, kích cỡ, phần trăm cho tiếp thị quảng cáo, những
điều khoản hỗ trợ của bên mua và những yêu cầu với nhà cung cấp… Tất cả được vi
tính hóa, cập nhật và trình bày rõ ràng, minh bạch cho nhà cung cấp tham khảo. Trong
khi đó, khi ông làm việc với các siêu thị Việt Nam, quá trình thương lượng diễn ra rất
sơ sài. Cho nên khi bộ phận mua hàng từ chối bán hàng của doanh nghiệp, ông hoàn
toàn cảm thấy không thể nào “tâm phục, khẩu phục”.
Từ ba điểm yếu lớn nhất này của hệ thống bán lẻ Việt Nam, có thể thấy trong
một tương lai không xa, việc doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam bị chi phối và mất dần thị
phần về tay các nhà bán lẻ nước ngoài là điều khó tránh khỏi.
Sự đổ bộ của các doanh nghiệp nước ngoài:
Tập đoàn Best Denki, một trong 5 “đại gia” bán lẻ điện máy lớn nhất Nhật Bản
đã “tăm tia” thị trường Việt Nam. Best Denki hiện sở hữu 570 chuỗi siêu thị tại Nhật và
40 siêu thị ở Singapore, Malaysia, Hồng Kông (Trung Quốc), Indonesia, …Với kinh
nghiệm 55 năm thành lập và gần hai năm hoạt động theo phương thức nhượng quyền
Xem thêm: Thời điểm vàng săn đồ giảm giá ở Nhật: Cách tiết kiệm được nhiều tiền nhất! – tsunagu Local
thương mại với một DN Việt Nam, Best Denki đã sẵn sàng liên doanh để trực tiếp tham
gia thị trường này. Ông C.J. Raij, Giám đốc bộ phận kinh doanh tiếp thị và phát triển thị
trường nước ngoài của Best Denki cho biết, với mong muốn trực tiếp đầu tư và được
tham gia kinh doanh tại thị trường bán lẻ điện máy ở Việt Nam, Best Denki và các đối
tác vừa kết thúc giai đoạn đàm phán và đang hoàn tất thủ tục, chuẩn bị thành lập liên
doanh trong lĩnh vực này.
Ngoài ra, không thể không kể đến những tên tuổi đã có mặt và chiếm thị phần
đáng kể ở thị trường bán lẻ Việt Nam như: South Asia Investments Pte (Singapore), hệ
thống siêu thị Big C (Pháp), Metro Cash & Carry (Đức), Zen Plaza (Nhật Bản),
Diamond Plaza (Hàn Quốc), Parkson (Tập đoàn Lion, Malaysia),… Các tập đoàn này
không chỉ tập trung tại các thành phố có sức mua lớn như TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội mà
còn mở rộng phạm vi hoạt động đến các tỉnh thành tại miền Trung, miền Tây… Metro
Cash & Carry – nhà phân phối lớn thứ 5 thế giới, một trong hai tập đoàn phân phối có
mặt đầu tiên tại Việt Nam – mới đây đã đưa 2 trung tâm phân phối tại Hải Phòng và Đà
Nẵng vào hoạt động, nâng tổng số trung tâm phân phối của tập đoàn này tại VN lên con
số 7. Big C sau khi khai trương siêu thị ở Hà Nội cũng đang tiếp tục kế hoạch đầu tư
120 triệu USD để mở các siêu thị tại Cần Thơ, Đà Nẵng và mở thêm nhiều siêu thị tại
Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh; Tập đoàn Parkson cũng có dự định xây dựng 10 trung tâm
mua sắm…
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hiện nay một số tập đoàn bán lẻ hàng đầu thế giới
đã đến khảo sát thị trường và bày tỏ ý định đầu tư vào Việt Nam, trong đó có tập đoàn
bán lẻ hàng đầu thế giới với doanh số gần 40 tỷ USD là Tesco (Anh). Ngoài ra, hai nhà
bán lẻ nổi tiếng là WalMart và Carrefoul cũng đang “lăm le” đầu tư. Theo ông Tham
Tuck Choy, Tổng giám đốc Parkson tại Việt Nam: “Với hơn 80 triệu dân, trong đó đa
phần là giới trẻ, thu nhập của người dân ngày càng cao, nhu cầu tiêu dùng đa dạng…,
Việt Nam luôn được đánh giá là thị trường đầy tiềm năng”.
2. PHÂN TÍCH 4 MÔ HÌNH BÁN LẺ ĐẶC TRƯNG TẠI VIỆT NAM
1. Siêu thị – siêu thị Coop Mart
Sơ lược về Coop Mart
Theo Bộ Công Thương, hoạt động dịch vụ phân phối, bán lẻ, đóng góp khoảng
15% GDP cả nước hàng năm. Với hơn 90 triệu dân và hàng chục triệu du khách mỗi
năm, thị trường bán lẻ Việt Nam khá lớn và hấp dẫn đối với các nhà phân phối nước
ngoài.
Hệ thống Co.opMart là chuỗi siêu thị bán lẻ trực thuộc Saigon Co.op, đơn vị
này hiện đang sở hữu 47 siêu thị bao gồm 22 siêu thị tại TP.HCM và và 25 siêu thị tại
các tỉnh, thành phố lớn khác trong cả nước. Các siêu thị Co.opMart có đặc điểm chung
là thân thiện, gần gũi với khách hàng, mang đến cho khách hàng sự tiện lợi và nhiều
dịch vụ tăng thêm. Có thể ví Saigon Co-op và chuỗi siêu thị Co.opMart như một cô gái
được mến thương, không vì nhan sắc lộng lẫy, gia tài kết sù, học vấn siêu hạng,.. nhưng
là nét bình dị, duyên dáng, đảm đang, ân cần, đầy tình người, đượm phong cách VN,..
Thương hiệu Co.opMart đã trở thành một trong những thương hiệu có tên tuổi trên thị
trường hệ thống bán lẻ bởi việc luôn cố gắng hoàn thiện để đem đến sự phục vụ tốt hơn
cho khách hàng. Với gam màu xanh đỏ trắng (Mart màu đỏ, nhỏ nổi bật trên nền màu
xanh của chữ Co.op, hai chữ ấy kết hợp hài hòa trên nền màu trắng) tạo nên một phong
cách riêng,độcđáo cho thương hiệu. Ngoài ra, với slogan (khẩu hiệu): “Bạn của mọi
nhà” và “Nơi mua sắm đáng tin cậy” nó đã trở nên có sức sống thật sự, tồn tại trong “bộ
nhớ” của người tiêu dùng chứ không chỉ trên băng rôn, tờ bướm quảng cáo hay các bản
tin hàng hoá thông thường.
Sản phẩm kinh doanh
Hệ thống siêu thị Co.op Mart kinh doanh gần 30.000 mặt hàng, bao gồm: Thực
phẩm tươi sống tươi ngon, thực phẩm công nghệ đa dạng, đồ dùng phong phú với nhiều
mẫu mã mới, hàng may mặc thời trang, chất lượng, giá phải chăng, cùng với dịch vụ
khách hàng phong phú, tiện lợi và sự thân thiện của nhân viên Co.opMart là lý do
Co.opMart trở thành “Nơi mua sắm đáng tin cậy, bạn của mọi nhà” là kênh thông tin
phản hồi nhanh diễn biến giá cả thị trường cho các cơ quan điều hành thành phố, trở
thành nhà bán lẻ chuyên nghiệp nhất trong hệ thống bán lẻ Việt Nam. Các siêu thị của
Co.opMart đều mang đặc điểm chung là thân thiện, gần gũi với khách hàng, mang đến
cho khách hàng sự tiện lợi và nhiều dịch vụ tăng thêm. Với phương châm “Hàng hóa
chất lượng, giá cả phải chăng, phục vụ ân cần”,Co.opMart đã thâm nhập thị trường cả
nước bằng phong cách Saigon kết hợp với từng nét đặc thù của địa phương, tập hợp
giữa tập trung và sự linh hoạt, sáng tạo và cải tiến không ngừng của mỗi đơn vị, mỗi cá
nhân. Thế nên, càng ngày Co.opMart càng được nhiều khách hàng chọn lựa để đến mua
sắm và thư giãn cùng gia đình mỗi ngày. http://www.daithanh.net.vn/index.php?
option=com_content&view=article&id=107&Itemid=56〈=vi
Trung bình mỗi siêu thị nước ngoài ở VN hiện kinh doanh 40.000-50.000 mặt
hàng khác nhau, trong khi tại các siêu thị trong nước con số này chỉ 25.000-30.000 mặt
hàng. Sự đa dạng trong chủng hàng của các siêu thị ngoại thường nhỉnh hơn siêu thị
trong nước ở ngành hàng lẫn nhãn hàng. Ví dụ như mặt hàng gia vị hạt tiêu.Trên quầy
gia vị của siêu thị Big C có đến gần 10 loại tiêu khác nhau như tiêu sọ, tiêu xanh, tiêu
hạt mịn, tiêu cay, tiêu nhập khẩu… Ngay trong cùng một loại tiêu cũng có đến 2-3 nhà
cung cấp khác nhau. Trong khi đó, tại siêu thị Co.op Mart khách hàng chỉ có hai sự lựa
chọn: tiêu sọ hoặc tiêu đen đóng gói sẵn.
Co.opMart đã chứng tỏ mình xứng đáng là một hệ thống bán lẻ hàng đầu Việt
Nam. Với mục tiêu là chuộng hàng nội, thúc đẩy tinh thần Người Việt Nam dùng hàng
Việt Nam, dùng hàng nội để thay thế cho hàng ngoại nhập cho nên khoảng 80% trong
số hơn 20.000 mặt hàng thường xuyên có trong chuỗi siêu thị là hàng Việt Nam chất
lượng tốt, giá cả phù hợp với mặt bằng thu nhập chung của xã hội và thậm chí không
cao hơn các cửa hàng tạp hóa. Nếu trước đây doanh thu hàng Việt Nam của toàn hệ
thống siêu thị Co.op Mart chỉ khoảng 70%, thì nay đã trên 90%. Như vậy có thể thấy
hàng sản xuất trong nước đã thuyết phục được người tiêu dùng. “Khác với sự lấn lướt
của hàng ngoại những năm trước, tỉ trọng hàng nội tăng dần cùng thời gian, trong nhiều
nhóm hàng, hàng Việt còn đóng vai trò chủ đạo. Chẳng hạn ở ngành vải sợi, 95% quần
áo trẻ em, trung niên, giới trẻ đều là hàng nội, hàng ngoại chỉ xuất hiện ở dòng áo thun
nam, trong khi trước đây cơ cấu ngành hàng này 40% là hàng ngoại, với tỷ trọng chiếm
đến 90% số lượng mặt hàng, chiếm 95% doanh thu trong hệ thống, hàng Việt đang ngày
càng chiếm ưu thế tại chuỗi siêu thị Co.opMart, Co.op Food và cửa hàng Co.op.”, Bà
Bùi Hạnh Thu – phó tổng giám đốc Saigon Co.op cho hay.
– Thực phẩm tươi sống và chế biến nấu chín: Đây là 1 trong những nét đặc
trưng của Hệ thống Co.opMart, với tiêu chí: phục vụ nhanh và đáp ứng nhu cầu về giảm
bớt thời gian cho các bà nội trợ. Hệ thống Co.opMart cung cấp cho người nội trợ những
sản phẩm ngon, sạch và tiện lợi, bao gồm:
• Thực phẩm sơ chế và tẩm ướp.
• Thực phẩm chế biến nấu chín.
• Rau an toàn.
• Trái cây.
Các nguồn hàng mà Co.opMart lựa chọn kỹ để bán cho quý khách được thu
mua trực tiếp từ chợ cá Phan Thiết, rau an toàn Đà Lạt, Rau ấp Đình Củ Chi, rau Hưng
Phát, rau Sao Việt… việc hợp tác giữa nông dân, ngư dân và hệ thống Co.opMart đem
lại lợi thế cạnh tranh lớn cho các mặt hàng kinh doanh tại hệ thống với giá tốt nhất và
sản phẩm có chất lượng đảm bảo.
Trái cây được mua từ nhiều nguồn khác nhau, từ những quả nho tươi, cam
vàng nhập từ Mỹ, Uc hay đến những trái cây từ các vùng miền của Việt Nam như : ổi,
sari, sầu riêng, xoài cát Hòa Lộc, …phong phú và đa dạng trong từng chủng loại.
Hàng hóa được trưng bày tại khu vực dành riêng trong các tủ lạnh, tủ mát và tủ
cấp đông ở nhiệt độ luôn ổn định để đảm bảo cho hàng hóa luôn tươi ngon và bắt mắt.
Bên cạnh đó, hàng hóa luôn được nhân viên chăm sóc thường xuyên và sẵn sàng tư vấn
cho khách hàng lựa chọn những thực phẩm ngon, cách nấu các món ăn phục vụ cho
thực đơn hàng ngày.
– Thực phẩm công nghệ: Co.opmart có những nhà cung cấp và các đối tác
chiến lược như Bibica, Vissan, Pepsi Co, Dầu Tường An, Đồ Hộp Hạ Long,… Đó là
Bánh kẹo Kinh Đô, Bột ngọt Ajinomoto, Đường Biên Hòa, Nước suối Lavie, Dầu ăn
Neptune, Nước ngọt Pepsi, Sữa Vinamilk, Sữa Cô gái hà Lan, Thực phẩm đóng hộp
Vissan…Hệ thống Co.opMart luôn đảm bảo cung cấp những mặt hàng thiết yếu phục
vụ cho nhu cầu hàng ngày của quý khách hàng.
Quy trình mua hàng và kiểm soát chất lượng hàng hóa luôn được chú trọng,
với các hàng hóa thuộc nhóm thực phẩm, việc đảm bảo hạn sử dụng, nhãn hàng hóa và
thông tin hướng dẫn sử dụng luôn được quan tâm.
– Hóa phẩm: Nhiều chủng loại hàng hóa từ những nhà cung cấp hàng đầu như
Unilever, P&G, Mỹ phẩm Saigon, Mỹ Hảo… luôn đem lại những mặt hàng thiết yếu
phục vụ hàng ngày cho ngừơi tiêu dùng. Các sản phẩm như Bột giặt, nước xả, dầu gội,
sữa tắm, xà bông, nước rửa chén …. hàng tuần đều có các chương trình khuyến mãi
dành riêng cho người tiêu dùng với nhiều giải thưởng hấp dẫn. Ngoài các sản phẩm
thông dụng, Co.opMart còn có những sản phẩm chăm sóc chuyên biệt hơn cho các nhu
cầu đa dạng của khách hàng. Bạn có thể tìm thấy trên các kệ hóa phẩm những sản phẩm
như : Gel dưỡng tóc, thuốc nhuộm tóc, kem dưỡng da tay, sữa dưỡng thể, kem dưỡng
gót chân hay các sản phẩm chăm sóc răng miệng.
Việc hình thành các khu vực bán hàng phục vụ cho ba mẹ và em bé, Mỹ phẩm
dành cho Nam giới là nét mới của hệ thống Co.opMart, hàng hóa được trưng bày đẹp,
phong phú hợp lý tạo thuận lợi cho việc mua sắm. Đội ngũ nhân viên tư vấn của Saigon
Co.op và chính nhà cung cấp luôn sẵn sàng phục vụ khách hàng ngay tại thời điểm mua
hàng, các thông tin hàng hóa và sử dụng sản phẩm được cung cấp chi tiết và kịp thời
giúp khách hàng đễ dàng lựa chọn sản phẩm sử dụng.
– Hàng may mặc: Các thương hiệu hàng đầu Việt Nam như Việt Tiến, Việt
Thắng, Piere Cardin, An Phước và các nhà cung cấp sản phẩm may mặc nổi tiếng khác
đều có mặt tại khu may mặc của Co.opMart để đáp ứng nhu cầu mặc đẹp của quý khách
hàng. Hàng hóa đẹp, chất lượng cao, giá cả hợp lý và chủng loại phong phú. Các
chương trình khuyến mãi thường xuyên đem lại nhiều quyền lợi cho người tiêu dùng.
Đội ngũ nhân viên phục vụ và các nhân viên của nhà cung cấp sẵn sàng tư vấn
giúp khách hàng lựa chọn những kiểu quần áo hợp thời trang, cùng với các dịch vụ
cộng thêm không thu phí như cắt lai, thu nới size. Khu trưng bày các sản phẩm may
mặc được đầu tư rất chuyên nghiệp với quầy kệ đẹp, tiện lợi cho việc lựa chọn mua
sắm.
-Đồ dùng: Hàng hóa chất lượng, giá cả phải chăng đó là những tiêu chí lựa
chọn hàng đầu để Co.opMart lựa chọn phục vụ cho khách hàng, với các thương hiệu
nổi tiếng: Happy Cook, Nhôm Kim Hằng, Supor, Phalê Việt Tiệp, Nhựa Phát Thành…
Hàng hóa đa dạng, phong phú với hàng ngàn chủng lọai hàng hóa, đáp ứng nhu cầu
ngày càng đa dạng của người tiêu dùng.
Hàng hoá trong khu đồ dùng được trưng bày theo từng nhóm các sản phẩm
phục vụ các tiện ích của gia đình như : đồ dùng gia đình, trang bị cho nhà bếp, thuận
tiện cho việc mua sắm và lựa chọn cho căn bếp của gia đình. Các bà nội trợ thích trang
trí còn có thể tìm thấy nhiều sản phẩm xinh xắn, kiểu dáng lạ, đẹp, bắt mắt để chăm
chút cho căn nhà của mình như: tô, dĩa, chén kiểu bằng gốm sứ, thủy tinh, phalê, bình
hoa, bộ ly, các loại đồ kiểu độc đáo với mẫu mã đa dạng phong phú, thường xuyên cập
nhật hàng mới sẽ làm cho buổi mua sắm của quý khách thêm thú vị. Các sản phẩm phục
vụ cho việc trang trí căn nhà của người tiêu dùng : các sản phẩm phale, hoa trưng bày.
-Nhãn hàng Co.opMart: Việc xây dựng hơn 300 sản phẩm dưới nhãn hiệu
Coop Mart (7/2010) cũng góp phần tạo nên dấu ấn thương hiệu.Việc cung cấp các mặt
hàng thực phẩm tươi sống và chế biến của các nhà cung cấp đạt tiêu chuẩn và đồng thời
tạo ra hàng trăm mặt hàng riêng, mang thương hiệu Co.opMart, như canh chua gà lá
giang, cá rô, lóc kho tộ, mướp đắng, cà chua nhồi thịt, cá bống, cá diêu hồng, lươn om…
thời trang SGC và mạnh nhất là các mặt hàng thực phẩm khô, đông lạnh và chế biến sẵn
nhãn hiệu Co.opMart luôn thỏa mãn, đáp ứng nhu cầu mua sắm đa dạng của người tiêu
dùng, phù hợp bữa ăn gia đình trong tuần và cuối tuần, được các bà nội trợ ưa thích.
(http://daidoanket.vn/index.aspx?Menu=1368&Chitiet=13498&Style=1)
Saigon Co.op đã xây dựng hình ảnh Co.opMart là một siêu thị hiện đại văn
minh của phương thức bán hàng tự chọn, vừa có nét giản dị gần gũi trong kinh doanh
và các dịch vụ đi kèm. Sự khác biệt mà các nhà bán lẻ Việt Nam nói chung và
Co.opMart nói riêng đã khai thác khá thành công là: Mô hình kết hợp giữa tự chọn và
có phục vụ, sự có mặt của nhân viên mậu dịch giúp đỡ, tư vấn cho khách hàng chọn lựa
sản phẩm phù hợp, điều này không có tại các cửa hàng tự chọn các nước khác; Phục vụ
tận nhà cũng được xem như một ưu việt của các siêu thị; Lựa chọn mặt hàng kinh
doanh phù hợp với thị hiếu, khẩu vị từng vùng với giá cả hợp lý phù hợp với khả năng
thanh toán của đa số người dân cũng là sự khác biệt cơ bản của siêu thị.
Thị trường mục tiêu
Theo bà Loan, hàng hóa đến tay người tiêu dùng chủ yếu vẫn qua hệ thống chợ
(khoảng 40%) và qua hệ thống các cửa hàng bán lẻ độc lập (khoảng 44%). Hàng hóa
qua hệ thống phân phối hiện đại như siêu thị, cửa hàng tiện lợi… chỉ mới chiếm khoảng
10% vì phần lớn hệ thống phân phối còn rất non trẻ, còn lại là 6% là do nhà sản xuất
trực tiếp bán thẳng. Như vậy, kênh mua sắm truyền thống vẫn tiếp tục đóng vai trò then
chốt trong đời sống hàng ngày của người Việt Nam, chiếm 68% doanh thu từ các tiệm
tạp hóa cả nước. Rõ ràng kênh mua sắm truyền thống vẫn giữ được chỗ đứng riêng và
các kênh thương mại bán lẻ hiện đại sẽ cần chiến đấu đề giành được một phần của
miếng bánh đó. (http://vneconomy.vn/201008130854051P0C19/tieu-thu-hang-viet-van-manh-ai-nay-
lam.htm)
Quy mô thị trường ngày càng mở rộng hơn, hiện VN có gần 400 siêu thị, trung
tâm thương mại nhưng có tới hơn 8.000 chợ các loại, sự chênh lệch là rất lớn. Và bình
quân mỗi hệ thống siêu thị có 2.000-3.000 nhà cung cấp hàng hóa là các DN, cơ sở sản
xuất trong nước. Siêu thị đang trở thành kênh quảng bá thương hiệu quan trọng cho
hàng VN và là một trong những mục tiêu mà nhiều DN nhắm tới. Người dân đang dần
chuyển thói quen từ mua, bán ở chợ truyền thống sang các trung tâm thương mại và
siêu thị. Thêm nữa, Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
nên hình thức phân phối không qua chợ sẽ trở nên phổ biến hơn bao giờ hết.
http://daibieunhandan.vn/?TabId=66&CatID=27&ContentID=95430
Mô hình chuỗi siêu thị Co.opMart là sự kết hợp giữa chợ truyền thống với
phong cách bán hàng văn minh, hiện đại. Định vị của Co.op Mart là trở thành người bạn
thân thiết của người tiêu dùng và để tạo nét đặc trưng cho Co.opMart, Saigon Co.op đã
phân khúc khách hàng mà Co.opMart nhắm đến là tầng lớp dân cư có thu nhập trung
bình và thấp, khách hàng đã lập gia đình là chủ yếu và cán bộ công nhân viên- đối
tượng chiếm số đông của xã hội, ngoài ra Co.opMart còn nhắm đến những bà nội trợ
bận rộn với công việc ít có thời gian nấu nướng cho bữa ăn của gia đình. Xác định thị
trường mục tiêu của Coop Mart là thành phố. Hồ Chí Minh, các thành phố và thị xã, thị
trấn có đông dân cư trong cả nước. Do đó, việc phát triển Coop Mart có chọn lọc theo
thứ tự, ưu tiên cho những địa bàn có tiềm lực kinh tế mạnh, sức mua cao. Đến nay
Saigon Coop đã phát triển 47 siêu thị, trong đó 22 ở thành phố và 25 ở các tỉnh thành
khác trong cả nước.
Những đối tượng khách hàng đến với hệ thống siêu thị Co.opMart là ai?
o Đa số là những người nội trợ đủ mọi thành phần lứa tuổi.
o Họ thường là những người có thu nhập trung bình khá trở lên.
o Họ là những người không thích sự ồn ào náo nhiệt của việc mua sắm ngoài
chợ
o Họ không thích trả giá
o Họ là những người mua sắm bốc đồng, vì có thể họ đến siêu thị là đi cùng
với bạn bè, hoặc chỉ để ngắm nhưng có thể một mặt hàng nàođó khiến họ
không thể kiềm lại cái cảm giác thích mua sắm bốc đồng của mình.
o Họ là những người bận rộn.
o Họ là những người quan tâm đến vệ sinh an toàn thực phẩm.
o Họ thường ở khu vực thành phố.
Dẫn lời bà Nguyễn Thị Hạnh: hiện nay doanh số kinh doanh hàng Việt Nam
của chúng tôi ngày càng tăng, có nghĩa là chúng tôi đã xác định đối tượng phục vụ chủ
yếu của hệ thống siêu thị Co.op Mart là những người có thu nhập trung bình – khá. Đây
là đối tượng tiêu dùng vừa quan tâm đến chất lượng hàng hoá, vừa đòi hỏi hàng hoá
phải có giá cả hợp lý. Chúng tôi đánh giá hiện nay hàng sản xuất trong nước có chất
lượng tốt và giá cả có thể đáp ứng được khả năng chi tiêu của đa số người tiêu dùng
Việt Nam. Đó là chiến lược kinh doanh chính của chúng tôi. Vì vậy, khi triển khai
chương trình “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, thì chúng tôi nhận thấy
rất phù hợp với tiêu chí kinh doanh của hệ thống siêu thị Co.op Mart từ khi thành lập
đến nay. Và chúng tôi tin rằng điều này sẽ không ảnh hưởng nhiều đến doanh số. Điều
mà chúng tôi quan tâm nhất là luôn nhắc nhở, và đồng thời cũng yêu cầu nhà cung cấp
cam kết, đảm bảo ổn định chất lượng, mặt khác cũng cần phải thường xuyên cải tiến
mẫu mã hàng hoá, có giá cả hợp lý để giữ vững được niềm tin của người tiêu dùng. Để
từ đó người tiêu dùng Việt Nam sẽ ngày càng sử dụng hàng sản xuất trong nước nhiều
hơn.
Cũng theo bà Hạnh:” Việc các tập đoàn bán lẻ hàng đầu thâm nhập vào thị
trường Việt Nam tạo ra sự cạnh tranh có thể nói là rất gay gắt đối với các doanh nghiệp
bán lẻ trong nước, trong đó có SaiGon Co.op. Chính vì vậy mà ngay từ rất lâu rồi chúng
tôi đã chuẩn bị một chiến lược cho mình. Một trong những điều mà chúng tôi nghĩ rằng
nó là lợi thế và thế mạnh của mình đó là chúng tôi đã đầu tư phát triển thương hiệu từ
hơn 10 năm nay, hiện nay có thể nói người tiêu dùng Việt Nam đã quen với thương hiệu
Co.op Mart… Tôi đánh giá cao tiềm năng của thị trường nông thôn, vì trên 70% dân cư
đang sống ở đây. Vì vậy đây là một thị trường rất hấp dẫn, và sắp tới chúng tôi sẽ phát
triển hệ thống siêu thị Co.op Mart ở các địa phương của các tỉnh, thành phố. Thực tế,
hiện nay có một số tỉnh chưa thật sự mang lại hiệu quả đầu tư như mong muốn, song
chúng tôi vẫn xem đây là chiến lược lâu dài. Ngoài việc phục vụ mục đích kinh doanh,
với vai trò là một tổ chức kinh tế tập thể, chúng tôi xem đó là nhiệm vụ chính trị quan
trọng cần phải hoàn thành. Mỗi khi đầu tư vào một địa bàn mới, chúng tôi mong muốn
đem đến cho người tiêu dùng một phương tiện mua sắm hiện đại, an toàn, văn minh
hơn, và tôi mong muốn các siêu thị Co.op Mart trong tương lai có thể thay đổi thói quen
mua sắm ở các chợ truyền thống của người dân.”
Hệ thống siêu thị Coop Mart được đông đảo người tiêu dùng tin yêu, tín nhiệm
và đang từng bước vươn ra chiếm lĩnh thị trường trong cả nước, đã khẳng định được vị
trí Nhà bán lẻ hàng đầu tại Việt Nam liên tiếp năm năm liền; nằm trong Top 500 Nhà
bán lẻ hàng đầu châu Á – Thái Bình Dương 6 năm liền (2004-2009)theo bình chọn của
Tạp chí Bán lẻ châu Á. Đây là niềm tự hào của hệ thống siêu thị HTX thành phố Hồ
Chí Minh và phong trào HTX Việt Nam. Thời gian tới nỗ lực và thử thách sẽ còn lớn
hơn những gì đã trải qua, do đó phải chuẩn bị đối phó với các biến động chưa lường hết
trong bối cảnh hộp nhập, đòi hỏi phải chấp nhận quy luật cạnh tranh của thị trường để
tiến lên. Dựa trên truyền thống của Đơn vị Anh hùng, Saigon Coop kiên quyết giữ vững
là mô hình, là biểu tượng có tính thuyết phục nhất cho sự phát triển phong trào HTX cả
nước và phong trào HTX châu Á-Thái Bình Dương.
Chiến lược Marketing
P1: Product
Co.opMart đã chủ động hợp tác cùng với các doanh nghiệp, nhà sản xuất, hợp
tác xã và nông dân trong việc sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm hàng tiêu dùng cũng
như nông sản khác nhau. Không chỉ Co.opMart mà nhiều siêu thị khác đánh giá hiện
nay hàng sản xuất trong nước có chất lượng tốt và giá cả có thể đáp ứng được khả năng
chi tiêu của đa số người tiêu dùng Việt Nam. Thế nên chiến lược của Co.opMart là đưa
hàng Việt vào trong siêu thị, khuyến khích ngưởi Việt dùng hàng Việt. Phù hợp với nhu
cầu của khách hàng trong thị trường mục tiêu là vừa quan tâm đến chất lượng hàng hoá,
vừa đòi hỏi hàng hoá phải có giá cả hợp lý. Co.opMart hướng đến đa phần là các khách
hàng đã lập gia đình và các khách hàng trẻ, bận rộn với công việc. Vì vậy, bên cạnh các
sản phẩm truyền thống của 1 siêu thị, Co.op Mart còn mở rộng hệ thống nhà ăn ngay tại
siêu thị của mình, cũng như cung cấp các món ăn đã làm sẵn hoặc đã qua chế biến khá
đa dạng và phong phú, mang đến sự lựa chọn thỏa mái cho các bà nội trợ cũng như các
khách hàng không có nhiều thời gian nấu nướng cho bữa ăn của gia đình.
Thủ tục đưa hàng vào bán tại Co.opMart rất rõ ràng và từng chủng loại hàng
hóa như thực phẩm tươi sống, thực phẩm khô, hàng đồ chơi, vải sợi… phải thỏa mãn
các điều kiện: Hàng hóa hợp thị hiếu người tiêu dùng, đầy đủ quy định về chất lượng,
vệ sinh an toàn thực phẩm, nhãn mác, bao bì, hàng hóa đủ để đáp ứng nhu cầu, có thể
giao hàng nhiều tỉnh thành.
Ðể đa dạng hóa nguồn hàng, mặt hàng, trong đó chú trọng kinh doanh các sản
phẩm do các nhà sản xuất trong nước làm ra, Co.opMart đã chọn lọc 1.000 nhà cung
cấp, trong tổng số 2.000 nhà mua hàng theo các dạng sỉ, lẻ, gối đầu, ứng trước, gia
công, tùy khách mà có chế độ khuyến mãi với giá cả linh hoạt… Bộ phận mua hàng và
nghiệp vụ mua hàng được chuẩn hóa theo chức năng và chuyên nghiệp trong chọn lọc,
xét duyệt chủng loại hàng hóa, tổ chức thu mua tận gốc và tiếp nhận hàng hóa từ các
tỉnh, các nhà cung cấp. Thực hiện tốt chính sách kinh doanh, trong đó ưu tiên mua hàng
của doanh nghiệp trong nước, Co.opMart thường xuyên có 500 nhà cung cấp cho năm
ngành hàng: hóa phẩm, thực phẩm chế biến công nghệ, đồ dùng gia đình, may mặc, như
HTX rau Anh Ðào (Ðà Lạt), thủy hải sản Sài Gòn, Agifish, Vissan, Trường An, Happy
Cook, Việt Tiến, Nhà Bè, Thành Công, Vinamilk, Kinh Ðô, P/S, v.v. Các nhà cung cấp
sẵn sàng hạ giá từ 5 đến 10%, theo yêu cầu của Co.opMart. Ngoài ra Co.opMart còn
triển khai và thực hiện có hiệu quả chiến lược giá, chiến lược hàng hóa và mua hàng
cùng với việc xây dựng các tiêu chí đầu tư xây dựng các Co.opMart. Co.opMart còn ưu
tiên những DN có chính sách kinh doanh năng động, có chính sách giá tốt cho khách
hàng, ưu tiên hàng sản xuất địa phương…
Quy trình mua hàng và kiểm soát chất lượng hàng hóa luôn được chú trọng,
với các hàng hóa thuộc nhóm thực phẩm, việc đảm bảo hạn sử dụng, nhãn hàng hóa và
thông tin hướng dẫn sử dụng luôn được quan tâm. Với các mặt hàng thực phẩm tươi
sống và chế biến, Co.opMart chú trọng khai thác nguồn hàng của các nhà cung cấp đạt
tiêu chuẩn đồng thời tạo ra hàng trăm mặt hàng riêng, mang thương hiệu Co.opMart,
như canh chua gà lá giang, cá rô, lóc kho tộ, mướp đắng, cà chua nhồi thịt, cá bống, cá
diêu hồng, lươn om… phù hợp bữa ăn gia đình trong tuần và cuối tuần, được các bà nội
trợ ưa thích.
Khi được hỏi thì có 94% khách hàng quan tâm đến chất lượng sản phẩm được
bán tại siêu thị. Điều này hoàn toàn phù hợp với những mong muốn của người tiêu
dùng về các loại thực phẩm có giá cả hợp lý và đảm bảo được về mặt chất lượng. Vì thế
nên để bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng, Co.opMart ký hợp đồng với Trung tâm 3,
thường xuyên kiểm tra an toàn thực phẩm trong các siêu thị. Triển khai các hoạt động
quảng bá, phát tài liệu, cẩm nang mua sắm đến tận nhà của hàng chục nghìn khách hàng
thân thiết. http://www.tgvn.com.vn/print Content.aspx?ID=4123
Chính sách chất lượng
1. Hệ thống Co.opMart – Nơi mua sắm đáng tin cậy – Bạn của mọi nhà
Với mục tiêu mục tiêu chất lượng:“hàng hóa chất lượng, giá cả phải chăng,
phục vụ ân cần, luôn mang lại giá trị tăng thêm cho khách hàng”.
• Hàng hóa phong phú và chất lượng.
• Giá cả phải chăng.
• Phục vụ ân cần.
• Luôn đem lại các giá trị tăng thêm cho khách hàng.
“Xây dựng thương hiệu doanh nghiệp được chúng tôi quan tâm ngay từ khi
thành lập Saigon Co-op đến nay. Cách đây 14 năm, Saigon Co-op đã đi đầu trong việc
hình thành hệ thống siêu thị bán lẻ, và ở khía cạnh phục vụ chu đáo, đem lại lợi ích cho
khách hàng.” Dẫn lời của bà Thu.
2. Saigon Co.op luôn ưu tiên chọn những sản phẩm của nhà sản xuất có
chứng chỉ ISO-9000 hoặc một hệ thống quản lý chất lượng tương đương, tối thiểu là
nhà sản xuất có hàng Việt Nam chất lượng cao do người tiêu dùng bình chọn.
3. Saigon Co.op là mái nhà thân yêu của toàn thể cán bộ nhân viên. Mọi hoạt động
của Co.opmart luôn hướng đến cộng đồng xã hội.
Nhằm nâng cao chất lượng phục vụ quản lý, xây dựng hình ảnh Coop Mart nơi
mua sắm tiện lợi an toàn và thân thiện thông qua việc không ngừng cải tiến đầu tư, đổi
mới trang thiết bị phục vụ kinh doanh như hệ thống thang máy, thang cuốn, tủ đông, tủ
lạnh, kho mát, cổng từ chống trộm, thiết bị chống sét lan truyền, camera quan sát, cải
tạo và lắp đặt mới hệ thống đèn tiết kiệm năng lượng, hệ thống tủ trữ thực phẩm. Tổng
kinh phí đầu tư mỗi năm lên đến hàng trăm tỷ đồng.
Để đảm bảo vệ sinh an toản thực phẩm, hệ thống Co.opMart thiết lập một bộ
phận kiểm soát xuyên suốt từ trước, trong và sau bán hàng. Bên cạnh đó, định kỳ Hệ
thống Co.opMart còn ký hợp đồng tư vấn và dịch vụ với các cơ quan chức năng như
Chi cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng, Trung tâm y tế dự phòng và Trung tâm dịch
vụ phân tích thí nghiệm tiến hành lấy mẫu hàng hóa phân tích các chỉ tiêu lý tính, hóa
tính và vi sinh. Với hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001 : 2000,
chứng chỉ HACCP công tác đảm bảo chất lượng và VSATTP, Co.opMart luôn hướng
đến mục tiêu bảo vệ sức khỏe và đem lại bữa ăn ngon cho người tiêu dùng.
Với nhân viên của siêu thị
Nhân viên bán hàng: vui vẻ, thân thiện, ân cần, nhã nhặn, trung thực bạn có
thể hỏi hỏi nhân viên về một món hàng hay thực phẩm họ sẽ hướng dẫn một cách cặn
kẽ hay đưa ra những lời khuyên đúng đắn. Cũng có thể tự do lựa chọn hàng hóa mà
không sợ bị người bán hàng khó chịu vì bị mất mở hàng hoặc trả giá quá sát…, được
ngắm thỏa thích và học cách sử dụng những mặt hàng mới từ các nhân viên bán hàng.
Ngoài ra, với bộ đồng phục xanh dương phù hợp với thương hiệu Co.opMart đã tạo cho
nhân viên một phong cách chuyên nghiệp, lịch sự.
Nhân viên quản lý: phong cách làm việc năng động do sự bổ sung liên tục nhân
sự trẻ giữ các chức vụ chủ chốt, từ Giám Đốc siêu thị, Trưởng, phó phòng chuyên môn
cho đến thành viên trong Ban Tổng Giám Đốc (điều này có được nhờ sự ra đời khá đều
đặn của các Co.opMart, góp phần tạo nên sự năng động trong toàn bộ máy); của việc ”
bảo toàn lực lượng ” hay nói cách khác là không bị mất chất xám khi cử người sang các
liên doanh hay đưa đi đào tạo ở nước ngoài. Chính vì điều này sẽ làm cho khách hàng
tin tưởng vào hệ thống bán hàng, bởi hệ thống này đã được phản lý bởi những người có
chuyên môn.
Với chiến lược thu hút và có chính sách đãi ngộ để giữ nhân tài qua việc mạnh
dạn trả lương cao theo năng lực chuyên môn; đề bạt cán bộ trẻ qua thử thách và đào tạo
vào các cương vị quản lý; khuyến khích lực lượng trẻ tình nguyện đi xây dựng Coop
Mart tỉnh và có chính sách ưu đãi; chú ý rèn luyện nhân viên mới vừa có tầm vừa có
tâm theo mục tiêu lý tưởng của tổ chức HTX. SaigonCoop tranh thủ sự trợ giúp của
phong trào HTX quốc tế, các chương trình đào tạo của Chính phủ, của các tổ chức nước
ngoài, các trường đại học và trung cấp kinh tế tại thành phố, mỗi đợt có 10-15 khoá học
với tổng số lượt cán bộ nhân viên tham gia từ 500-700 người. Đến nay SaigonCoop có
2 tiến sĩ, 12 thạc sĩ và hơn 25% số cán bộ nhân viên tốt nghiệp đại học.
Máy móc thiết bị, phục vụ bán hàng:
Máy tính tiền: Hệ thống máy tính tiền hiệnđạiđọc qua hệ thống mã vạch, mỗi
mặt hàng chỉ được tính trong vài giây, do đó khách hàng không cần phải chờ đợi lâu để
có được mặt hàng mà mình mua. Hiện nay, Co.opMartđã tăng cường 2-4 quầy thu ngân
phụ cho mỗi siêu thị. Mặt khác, Co.opMart còn bố trí một quầy thu ngân riêng cho
những khách hàng mua dưới 10 sản phẩm, tăng cường lực lượng xếp hàng vào bao để
thu ngân hoạtđộng nhanh tay hơn, tổ chức đóng gói sẵn một số sản phẩm, đồng thời bố
trí người điều phối hài hoà lượng khách hàng thanh toán tại các quầy.
Máy lạnh: Hệ thống máy lạnh được đặt khắp cả trong siêu thị. Bạn có thể mua
sắm bất kỳ lúc nào mà không sợ bị nóng hay bị lạnh, vì nó được lan tỏa khắp các khu
vực, gian hàng, tạo không khí mát lạnh, dễ chịu cho người mua.
Máy camera: Trong siêu thị, có lắp đặt camera quan sát, bố trí nhân viên bảo
vệ giả làm khách mua hàng trà trộn trong siêu thị, lắp đặt bộ từ bằng nhựa hoặc tem
chống trộm bằng từ tính đính trên sản phẩm. Loại bọ từ và tem từ tính này sẽ được một
cổng từ kiểm soát trong phạm vi phát sóng từ ở khoảng cách 0,9-1,5m, đặt ngay cổng ra
vào của khu vực hàng tự chọn. Nếu khách hàng quên thanh toán hoặc cất giấu các sản
phẩm có gắn bọ từ – tem từ trong người, khi đi ngang qua cổng từ, còi báo động sẽ kêu
“tít tít”. Đối với hàng quần áo thường chọn hình thức gắn bọ từ bằng nhựa (tag) lên sản
phẩm. Bọ từ nhựa là một miếng nhựa, được giữ bằng một đinh ghim. Muốn tháo bọ
nhựa ra khỏi sản phẩm phải dùng đến thiết bị. Riêng các sản phẩm tiêu dùng khác như
thực phẩm, hóa mỹ phẩm, chọn cách dán tem từ có hình dán bên ngoài rất giống với
tem của mã hàng, nhưng nếu đưa tay sờ lên mặt tem thì mới thấy cộm vì bên dưới loại
tem này có gắn thiết bị cảm ứng từ. Như vậy, khách hàng có thể yên tâm về hệ thống
bảo mật, tránh tình trạng trộm cắp làm cho một số người lo ngại, không dám đi mua
sắm.
Thời gian phục vụ: Từ 8 giờ sángđến 10 giờ tối (cả chủ nhật và ngày lễ). Như
vậy khách hàng có thể lựa chọn thời gian hợp phù hợp nhất để đi mua sắm.
Cách trình bày khu hàng: : Với việc trưng bày hàng hóa theo Concept
Co.opMart, hàng hóa luôn được trưng bày với tiêu chí : dễ thấy, dễ lấy và dễ chọn mua.
Mỗi line hàng đều có bảng hướng dẫn nên rất dễ dàng cho việc quan sát và lựa chọn
mua hàng. Xây dựng Concept Coop Mart là hệ thống ý tưởng kinh doanh và các quy
định chuẩn về kinh doanh siêu thị Coop Mart làm nền tảng cho việc phát triển chuỗi
siêu thị, vừa tăng cường quản lý mua và phân phối tập trung, đồng thời vẫn phát huy
tính chủ động của giám đốc siêu thị trong điều hành hoạt động bán ra và quản lý cán bộ
nhân viên. Các phương pháp quản lý tiên tiến như ISO, HACCP cũng đã được cấp giấy
chứng nhận. Ứng dụng hệ thống điện toán quản lý mới toàn diện, với kinh phí hơn 2
triệu USD, cho phép nối mạng quản lý chuỗi siêu thị Coop Mart trên toàn quốc.Cùng hệ
thống phân phối lớn của nó với một thương hiệu tốt sẽ được khá một trở ngại cho bất
kỳ nhà bán lẻ đến Việt Nam.
Tầng trệt: mỹ phẩm, giày dép, hoa quả, thực phẩm từ thực phẩm tươi sốngđến
thực phẩm chế biến, đồ khô,… Còn có các món ăn được chế biến, đầu tư phong phú,
các bà nội trợ tha hồ lựa chọn cho bữa cơm gia đình vừa ngon lại vừa thuận tiện về thời
gian. Nếu khách hàng chưa ăn sáng có thể lưa chọn một trong những món ăn đã được
bán sẵn ở tầng này.
Tầng 1: quần áo may sẵn, vải vóc; hàng điện,điện tử; dụng cụ nhà bếp, đồ nội
thất, hàng nhựa gia dụng… Chưa hết, còn có nhà sách, khu giải trí cho trẻ em. Khách
hàng có thể yên tâm vừa lựa chọn những mẫu áo,đồ dùng gia đình vừa có thể cho chúng
chơi những trò chơi để chúng khỏi quấy rầy đến những người bên cạnh..
Sản phẩm mang nhãn hàng riêng của hệ thống Co.opMart và các sản phẩm có
mặt trong siêu thị được sản xuất từ các nhà máy đạt tiêu chuẩn kỹ thuật – chất lượng
theo quy định của cơ quan quản lý nhà nước, chính siêu thị chịu trách nhiệm với người
tiêu dùng để người tiêu dùng an tâm vào chất lượng hàng hóa mà mình đã lựa chọn.
Bên cạnh đó, trong thời gian vừa qua, Saigon Co.op cũng tập trung vào hoạt động kinh
doanh chủ đạo, không đầu tư dàn trải; tăng cường nguồn nhân lực và quản lý chặt chẽ
nguồn vốn, chi phí…
P2: price
Mục tiêu của Co.opMart là cung cấp sản phẩm bán lẻ theo giá sỉ. Trong số
20.000 mặt hàng thường xuyên có trong siêu thị là hàng Việt Nam chất lượng tốt, giá cả
phù hợp với mặt bằng thu nhập chung của xã hội và thậm chí không cao hơn các cửa
hàng tạp hóa. Điều này giúp cho Co.op Mart trở thành “bạn của mọi nhà” vì khi được
hỏi thì có đến 97,4% người tiêu dùng được hỏi quan tâm đến vấn đề giá cả trong các
siêu thị. http://www.tgvn.com.vn/printContent.aspx?ID=4123
Thế mạnh các mặt hàng mang nhãn riêng của Co.opMart là giá cạnh tranh và
chất lượng tốt. Viêc đưa ra các nhãn hiêu riêng giúp Co.opMart có thể thực hiện được
“chiến lược giá rẻ”. Có thể nói đây là lợi thế cạnh tranh giữa các siêu thị với nhau trong
nỗ lực thu hút khách hàng. Một DN kinh doanh trong ngành hàng thực phẩm cho biết,
trước đây, khi siêu thị Co.opMart chưa có nhãn hàng riêng cùng sản phẩm với họ, sản
lượng tiêu thụ của công ty này chiếm 70%, các nhãn hàng khác 30%. Nhưng hiện nay
sản lượng của công ty giảm xuống còn 30%, các nhãn hàng khác khác 20%. Sở dĩ có sự
chênh lệch mức tiêu thụ khá cao giữa nhà sản xuất với Co.opMart là do sản phẩm mang
nhãn hàng riêng của Co.opMart có giá bán rẻ hơn sản phẩm cùng loại từ 3 – 20%. Theo
bà Phạm Thị Thanh Tuyền, Giám đốc hàng nhãn riêng siêu thị Co.opMart: “Lợi thế của
Co.opMart là không mất chi phí marketing hoặc một số phí khác như phí thuê nhân viên
tiếp thị như các nhà sản xuất khác nên giá bán rẻ hơn. Thế nhưng, lợi thế này vẫn chưa
được khai thác đúng mức, chẳng hạn như hàng hoá của các công ty thành viên bán
trong siêu thị Satra vẫn không rẻ hơn, hoặc có nhiều ưu đãi hơn so với nơi khác. Ngay
cả với Co.opmart, nhiều nguồn cung cấp hàng hoá cho hệ thống này ở các tỉnh và
TP.HCM là khác nhau, nên chưa thể khai thác tốt lợi thế quy mô để có mức giá rẻ hơn
cho người tiêu dùng”.
Ví dụ mặt hàng trứng hiện có ba nhà cung cấp chính là Công ty Ba Huân, Vĩnh
Thành Đạt và CP và hiện nay có thêm nhãn hàng của Co.opMart. Cả bốn sản phẩm này
tương đương nhưng giá bán của Co.opMart chỉ 19.000 đồng/vỉ/10 trứng, trong khi các
nhãn hàng khác là 21.000 đồng”.Thậm chí, trứng của Vĩnh Thành Đạt – đơn vị gia công
trứng cho Co.opMart đóng mác riêng cũng phải cạnh tranh về giá với trứng của
Co.opMart. Trong khi đó, việc Co.opMart làm nhãn hàng riêng, theo bà Tuyền giải
thích là do “siêu thị muốn hỗ trợ, tiếp sức cho những DN đi sau, có thị phần nhỏ”.Tuy
nhiên, chính sách này lại đang là nỗi lo của Công ty Ba Huân – một đối tác cung cấp
hàng lâu năm của Co.opMart. Công ty này mới đầu tư hàng chục tỷ đồng để nhập hai
dây chuyền hiện đại để xử lý trứng gia cầm nên việc bị thu hẹp tỷ lệ tại siêu thị có thể
dẫn đến dư thừa công suất. Vì vậy, nhiều DN đề nghị được tự quyết định giá bán đối
với những mặt hàng cùng loại với hàng nhãn hiệu riêng của các siêu thị. Không chỉ chịu
sự cạnh tranh về giá, nhiều DN cũng chia sẻ bức xúc về những bất lợi khi “đối đầu” với
chính nhà phân phối của mình. Ngay cả vị trí trưng bày hàng, nhiều DN trình bày:
“Nhóm thực phẩm, khâu trưng bày hàng tại siêu thị Big C và Metro sòng phẳng hơn vì
họ cho nhà cung cấp thuê hẳn một line riêng với diện tích giống nhau. Còn một số siêu
thị khác, sản phẩm của các nhà cung cấp phải chen chúc nhau với số lượng ít hơn trên
diện tích rất nhỏ so với hàng của siêu thị”.
Mỹ A.T.Keaney ( Tổ chức Nghiên cứu thị trường số 1 tại Hoa Kỳ ), về chỉ số pháttriển kinh doanh thương mại bán lẻ toàn thế giới thì Việt Nam đã đứng số 1, được coi là thị trường đầutư bán lẻ mê hoặc nhất trong số 30 nước thuộc nhóm thị trường đang nổi lên. Trongdanh sách Top 10 thị trường bán lẻ mê hoặc nhất, sau Việt Nam là Ấn Độ, giữ vị trí thứba là Nga và thứ tư là Trung Quốc ; tiếp đến là Ai Cập, Morocco, Ả-rập Saudi, Chile, Brazil và Thổ Nhĩ Kỳ. Trong những nước ASEAN, Malaysia đứng thứ 13, Indonesia ở vịtrí 15, Vương Quốc của nụ cười là 24 và Philippines xếp thứ 26. Theo những chuyên viên của A.T. Kearney, Việt Nam đạt được bước tiến ấn tượngtrong năm nay là nhờ kinh tế tài chính tăng trưởng mạnh, thể chế chủ trương đang nâng cấp cải tiến theohướng thân thiện với nhà đầu tư quốc tế và đặc biệt quan trọng là nhu yếu của người tiêu dùngvề những quy mô bán lẻ văn minh. Theo Mike Moriarty, trưởng bộ phận điều tra và nghiên cứu về tiêu dùng và bán lẻ của A.T.Kearney, quy mô thị trường bản lẻ ở Việt Nam còn nhỏ, tuy nhiên vẫn rất mê hoặc bởi áp lựccạnh tranh chưa lớn, trong khi vận tốc tăng trưởng kinh tế tài chính đạt xấp xỉ 8 %. Bên cạnhđó, người tiêu dùng Việt Nam thuộc hàng trẻ nhất ở châu Á và ngày càng mạnh tay chitiêu. A.T. Kearney mở màn công bố GRDI từ năm 2001, trong đó nhìn nhận về độ hấp dẫncủa thị trường bán lẻ ở những nền kinh tế tài chính mới nổi, dựa trên 25 yếu tố khách nhau, baogồm cả rủi ro đáng tiếc kinh tế tài chính, chính trị, mức độ mê hoặc cũng như bão hòa của thị trường bán lẻ, mức bão hòa của thị trường bán lẻ và sự khác nhau giữa tăng trưởng tổng sản phẩmnội địa ( GDP ) và tăng trưởng bán lẻ. Hiện nay không nước nào trong số 10 thị trườngbán lẻ số 1 năm 1995 còn giữ được ngôi vị của mình. Song Linh ( theo Reuters, The Economic Times ) Theo Bộ Công Thương, lúc bấy giờ một số ít tập đoàn lớn, Doanh Nghiệp phân phối, bán lẻ quốc tếđang triển khai xong hồ sơ, sẵn sàng chuẩn bị ĐK kinh doanh thương mại tại Việt Nam như : Dairy Farm ( Nước Singapore ) đã nộp đơn xin xây dựng Doanh Nghiệp 100 % vốn ; Lotte ( Nước Hàn ) vào Việt Namqua hình thức liên kết kinh doanh ; 2 tập đoàn lớn số 1 quốc tế là Wal – Mart ( Mỹ ) và Carrefour ( Pháp ) cũng đang mở màn chú ý tới thị trường Việt Nam. Đây là những thông tin đángmừng cho sự tăng trưởng của thị trường bán lẻ Việt Nam nhưng lại là đáng lo so với cácdoanh nghiệp bán lẻ trong nước bởi từ lúc này sự cạnh tranh đối đầu sẽ nóng bức hơn khi nào hết. Các tập đoàn lớn bán lẻ lớn của quốc tế như Metro của Đức, Casino của Pháp, Parkson … đều đã xuất hiện ở Việt Nam. Một tập đoàn lớn bán lẻ của Canada cũng đã công bốkế hoạch khai trương mở bán chuỗi shop thuận tiện mang tên Circle K ở Việt Nam. Thế mạnh của những nhà bán lẻ Việt Nam : Số lượng tăng nhanh gọn Lớp DN mới, trẻ, được huấn luyện và đào tạo tốt ; Năng động, phát minh sáng tạo ; phong phú hoạt động giải trí Tiềm năng tăng trưởng và thời cơ Được chăm sóc, tương hỗ của Nhà nước và Thương Hội ngành hàng Hiểu biết về văn hóa truyền thống, truyền thống cuội nguồn, tâm ý của người tiêu dùng Phản ứng kịp thời, nhạy bén trước dịch chuyển của thị trường. Bước đầu sử dụng có hiệu suất cao những hoạt động giải trí. Số lượng những Doanh Nghiệp quốc tế và Doanh Nghiệp mới tham gia vào thị trường bán lẻ đã và sẽtăng lên : có thời cơ hợp tác, san sẻ công nghệ tiên tiến, thông tin, kinh nghiệm tay nghề. Khi tăng trưởng song song hai quy mô bán lẻ truyền thống cuội nguồn và văn minh : Tiềm năng tăng trưởng can đảm và mạnh mẽ của bán lẻ văn minh : phong thái sống mới ; thu nhập và tiêu dùng tăng lên ; người tiêu dùng Việt Nam trong thời đạihội nhập ; phong phú những mô hình bán lẻ tân tiến ( từ siêu thị nhà hàng, đại nhà hàng, chuỗi shop chuyên doanh, tiện nghi … đến TT thương mại tổnghợp ) vv … Sức sống và sự lôi cuốn của bán lẻ truyền thống cuội nguồn ở Việt Nam : nét văn hoáriêng, phong thái “ cổ xưa ”, mẫu sản phẩm tươi mới và Chi tiêu cạnh tranh đối đầu, người tiêu dùng ở khu vực nông thôn vv … Hội nhập kinh tế tài chính quốc tế : Ứng dụng công nghệ thông tin ; Thương mạiđiện tử ; Các phương pháp bán hàng qua điện thoại cảm ứng, qua mạng … Thách thức của thị trường bán lẻ Việt NamBà Vũ Thị Nga, Trưởng ban Bảo vệ người tiêu dùng, cho biết : “ Nhiều doanhnghiệp kinh doanh thương mại hàng nhập lậu, không rõ nguồn gốc nên không triển khai nghĩa vụbảo hành. Một số doanh nghiệp lại triển khai nghĩa vụ và trách nhiệm Bảo hành không khá đầy đủ như, viphạm thời hạn sửa chữa thay thế, bắt người tiêu dùng phải chịu ngân sách thay thế sửa chữa, vậnchuyển … ” Thị trường kinh doanh thương mại bán lẻ dù đang tăng trưởng nhanh gọn nhưng phần lớnvẫn chỉ tập trung chuyên sâu ở khu vực thành thị. Loại hình kinh doanh thương mại bán lẻ văn minh vẫn chưađến được nhiều với người tiêu dùng Việt Nam. Tác dụng tương hỗ nông dân, những cơ sở sản xuất và những doanh nghiệp sản xuất lớnthay đổi cung cách sản xuất theo hướng chuyên nghiệp và bài bản chỉ là một phần nhỏ, mà cạnh bên đó, việc những mạng lưới hệ thống nhà hàng siêu thị của quốc tế đang và sẽ “ làm mưa làm gió ” trên thị trườngtiêu dùng trong nước là một điều rất là nguy cơ tiềm ẩn. Thay mặt Thương Hội bán lẻ Việt Nam, bà Loan chứng minh và khẳng định : “ Trong thời hạn tới, phân phối bán lẻ truyền thống lịch sử sẽ thu dần khoanh vùng phạm vi hoạt động giải trí, vẫn sống sót chợ truyềnthống, cửa hiệu tạp hóa, nhưng số lượng sẽ ít đi. Đồng thời tăng trưởng những mô hình kinhdoanh mới cùng với sự tăng trưởng của công nghệ thông tin “. Một vài chuyên viên đang Dự kiến rằng suy thoái và khủng hoảng kinh tế tài chính sẽ “ nghèo hóa ” hàngtriệu người Việt Nam những người vừa thoát khỏi đói nghèo gần đây nhờ vào quá trìnhphát triển và đô thị hóa nhanh gọn. Ở phương diện người tiêu dùng, thu nhập trung bình mỗi hộ dân đang gia tăngvà trong khi những người giàu ngày càng giàu hơn thì có một những tầng lớp trung lưu mớinổi được hình thành. Theo số liệu của ACNielsen, tổng giá trị tăng trưởng của ngành hàng tiêu dùngnhanh là 20 % trong tháng 12/2008 so với trước đó một năm và tỉ lệ tăng trưởng 4 % cách đây một năm. Lạc quan về viễn cảnh việc làm, Chi tiêu thức ăn và nguồn năng lượng cho 6 tháng tới hoàn toàn có thể nói đang ngày càng phân cực và những người đi shopping ngày càngthắt sống lưng buộc bụng hơn trong một vài tháng đầu năm 2009 theo Nielsen VietnamOmnibus tháng 1-2 / 2009, tiêu tốn dịp Tết trong năm nay đã giảm so với cùng kỳ nămtrước với hầu hết 50 % trong tổng số cho biết họ đã cắt giảm tiêu tốn ít hơn trong Tếtnày so với Tết năm ngoái. Có một điều mê hoặc là 10 % cho biết họ tiêu tốn nhiều hơntrong những ngày nghỉ lễ Tết năm nay. Và 40 % số người Việt Nam được khảo sát chobiết họ chăm sóc tới Chi tiêu hơn so với trước. Người tiêu dùng nói rằng mọi thứ trở nênđắt đỏ hơn và họ có ít tiền mặt hơn để tiêu xài cho dịp Tết vừa mới qua. 1/3 người dân chitiêu giảm xuống so với những ngành hàng tiêu dùng nhanh ( FMCG ) ngoại trừ thựcphẩm và nói rằng họ giảm tiêu tốn ở tất những những kênh shopping nhà hàng, chợ và tiệm tạphóa. Người tiêu dùng Việt Nam còn cho biết trong vòng 6 tháng tới, họ sẽ giảm mức chitiêu so với những ngành hàng không phải siêu thị nhà hàng như vật dụng trong nhà, hàng điệntử, hàng chăm nom mặt và quần áo và cả những hoạt động giải trí vui chơi. Hơn phân nửa số ngườiđược khảo sát nói rằng họ sẽ giảm tiêu tốn tiền điện thoại cảm ứng, tiền điện, xăng dầu và chi phísinh hoạt nói chung. Hơn 50% có dự tính sẽ giảm tiêu tốn trong 6 tháng tới vớingành hàng thức ăn nhanh và nước ngọt có ga. ( Vneconomy. vn ) Trong thời hạn qua, tất cả chúng ta có giảm thiểu một chút ít do lạm phát kinh tế nhưng về lâudài, thị trường Việt Nam vẫn là thị trường nóng bỏng. Thương mại quốc tế sẽ suy giảm xuống mức gần 9 %, theo dự báo của Tổ chứcthương mại thế giới ( WTO ). Bị ảnh hưởng tác động can đảm và mạnh mẽ nhất sẽ là những nước tăng trưởng, thương mại sẽ bị rơi xuống 10 %. Các nước nghèo xuất khẩu sẽ giảm 2-3 %, WTO cảnhbáo thực trạng suy thoái và khủng hoảng kinh tế tài chính sẽ còn liên tục suy sụp, nhưng những quyết định hành động thươngmại sẽ là “ một công cụ tiềm năng ” để phục sinh, tổng giám đốc WTO, Pascal Lamynhận định : Đây là lần suy giảm thương mại lớn nhất kể từ Chiến tranh quốc tế thứ hai, đồng thời ông lôi kéo những nhà chỉ huy toàn quốc tế đấu tranh chống lại chủ nghĩa bảohộ. Thương mại là một trong những yếu tố quan trọng số 1 được luận bàn tạicuộc họp của những quan chức cơ quan chính phủ những nước G20 tại London vào ngày 2.3 vừa mới qua. Ngài Lamy cảnh báo nhắc nhở rằng việc sử dụng giải pháp bảo lãnh đã tăng lên, với những hậuquả nguy khốn : “ hàng nghìn việc làm tương quan đến thương mại đã bị mất. Chính phủphải tránh để đưa thực trạng này trở nên tồi tệ hơn khi trở lại với chiêu thức bảo lãnh, một giải pháp không thật sự bảo vệ được vương quốc nào và rình rập đe dọa nghiêm trọng hơntới việc làm ” 2. Thực tế thị trường bán lẻ Việt NamNhận định về những doanh nghiệp bán lẻ trong nướcViệt Nam mới chỉ có 1 số ít đơn vị chức năng có phương pháp kinh doanh thương mại và phân phốitương đối chuyên nghiệp như : Tổng công ty Thương mại TP HCM Satra với 40 doanhnghiệp ( Doanh Nghiệp ) thường trực, Tổng công ty thương mại TP.HN, chuỗi siêu thị nhà hàng Citimax, Fivimart, mạng lưới hệ thống Maxi Mart, CoopMart … Thực tế cho thấy những đơn vị chức năng bán lẻ trong nước còn chưa nhiều, lại thiếu tínhchuyên nghiệp và vốn ít ; mạng lưới hệ thống phục vụ hầu cần như kho bãi, xe chuyên dùng, nguồn hàngrời rạc, thiếu đồng nhất và chưa đạt chuẩn ; hạ tầng giao thông vận tải kém … Hầu hết những nhàphân phối bán lẻ đều ở quy mô nhỏ, yếu về năng lượng, hạn chế về mẫu sản phẩm ship hàng, nguồn nhân lực chưa được giảng dạy cơ bản … Vì thế, việc mở thị trường bán lẻ cho cácdoanh nghiệp quốc tế với trình độ văn minh thương mại cao là một thử thách rấtlớn để sống sót và tăng trưởng. Bên cạnh đó, Chính phủ hầu như chưa phát huy được vai trò của mình trong việcđịnh hướng cũng như trợ giúp những doanh nghiệp trong nước. Điển hình là việc cấp giấyphép hoạt động giải trí cho những doanh nghiệp bán lẻ quốc tế nhìn lại ta sẽ thấy hầu hếtnhững nhà hàng siêu thị, TT thương mại quốc tế đều chọn được những vị trí đẹp nhất, gần vị trí TT, nơi tập trung chuyên sâu dân cư, giao thông vận tải thuận tiện, mặt phẳng rộng. Khó khăn so với doanh nghiệp và hộ kinh doanh thương mại Việt Nam đó là năng lượng cạnhtranh của từng doanh nghiệp yếu vì đại bộ phận những doanh nghiệp có quy mô nhỏ, trìnhđộ quản trị lỗi thời, phương pháp kinh doanh thương mại chưa tiên tiến và phát triển, hạ tầng kinh doanhchưa tân tiến, kế hoạch kinh doanh thương mại chưa được chăm sóc đúng mức. Các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam còn thiếu kinh nghiệm tay nghề trong đào tạo và giảng dạy, tổ chứccung ứng … Đồng thời, tính link giữa những doanh nghiệp yếu như : link dọc giữa nhàsản xuất-nhà bán buôn-nhà bán lẻ ; link ngang giữa nhà bán sỉ với nhà bán sỉ, nhà bán lẻ với nhà bán lẻ ; link giữa nhà phân phối với những nhà cung ứng dịch vụngân hàng … Đối với Doanh Nghiệp bán lẻ Việt Nam trong những năm qua, tất cả chúng ta rất văn minh và tăngtrưởng đáng khuyến khích. Cụ thể, từ hình thức bán lẻ truyền thống lịch sử tất cả chúng ta đã bắt nhịp hìnhthức bán lẻ văn minh trải qua những siêu thị nhà hàng, TT thương mại, TT shopping, những chuỗi shop mang tính chuyên ngành như may mặc, điện máy, nội thất bên trong … Trongnhững hình thức như vậy thì những Doanh Nghiệp Việt Nam cũng cần nỗ lực phấn đấu rất là để làmsao học tập những điểm mạnh, ưu điểm của mạng lưới hệ thống phân phối của những nhà bán lẻ nướcngoài. Với phẩm chất của Doanh Nghiệp Việt Nam, trong thời kỳ hội nhập với rất nhiều doanhnhân trẻ, năng động, được huấn luyện và đào tạo chuyên nghiệp và với một quyết tâm cùng với sự khôn khéo. Đặc biệt so với Doanh Nghiệp bán lẻ tất cả chúng ta có lợi thế là hiểu biết về văn hóa truyền thống, lịch sử vẻ vang, truyềnthống cũng như tập quán shopping, tiêu dùng của người Việt Nam cùng sự linh động củacác Doanh Nghiệp vừa và nhỏ trong nghành nghề dịch vụ này. Mặc dù sẽ gặp nhiều khó khăn vất vả và thử thách rấtlớn nhưng Doanh Nghiệp trong nước sẽ khẳng định chắc chắn được mình. Một câu hỏi được đặt ra là tại sao những đơn vị sản xuất trong nước và quốc tế lạiphải tìm đến những nhà phân phối và bán lẻ quốc tế như Diethlem, Metro, chợ giao thương Big C, Lotte, v.v. thay vì những đối tác chiến lược trong nước ? Câu vấn đáp đó chính là chất lượng và hiệu suất cao phân phối. Các doanh nghiệp nàyđã triển khai chuyên nghiệp và hữu hiệu những tính năng cơ bản và quan trọng của kênhphân phối đó là nghiên cứu và điều tra, chiêu thị, tiếp xúc, làm thích ứng, đàm phán, kho vận, đầutư và gật đầu rủi ro đáng tiếc. Ngoài ra, những nhà phân phối và bán lẻ này chiếm hữu 3 chữ E rấtquan trọng đó là sự thông thuộc ( expertise ), vốn ( equity ) và kinh nghiệm tay nghề toàn thế giới ( experience ) trong lãnh vực phân phối và bán lẻ. Các nhà phân phối và bán lẻ Việt Namchỉ phân phối và bán lẻ trong chủ quyền lãnh thổ Việt Nam do vậy thiếu sự thông thuộc về những môhình phân phối và bán lẻ đã và đang vận dụng trên quốc tế. Cùng với sự thiếu thông thạolà sự thiếu hiểu biết về thông tin của những nhà phân phối và bán lẻ quốc tế. So với cácđồng nghiệp quốc tế, những nhà phân phối và bán lẻ Việt Nam không có tiềm lực tàichính đủ mạnh vì chỉ tham gia phân phối và bán lẻ tại thị trường Việt Nam. Mặc khác, họ lại hoạt động giải trí độc lập và thiếu sự link do vậy không kêu gọi được nguồn tàichính đủ mạnh để cạnh tranh đối đầu. Cuối cùng đó là thiếu kinh nghiệm tay nghề trong quản trị phânphối và bán lẻ cũng như trình độ nhân lực ship hàng cho ngành phân phối và bán lẻ cònyếu kém. Nhìn hình thức bề ngoài ta hoàn toàn có thể nhận thấy sự bùng nổ của những nhà phân phối và bán lẻViệt Nam với sự ngày càng tăng với vận tốc chóng mặt về số lượng những cửa hiệu ( stores ) củaCoopMart, Vinatex, Hapro, G7, Citimart, v.v. nhằm mục đích sở hữu những mặt phẳng tốtchuẩn bị đón đầu với làn sóng của những nhà phân phối và bán lẻ quốc tế tuy nhiên sẽlà chưa đủ và không hiệu suất cao nếu những doanh nghiệp này không hoàn thành xong thực ra cácyếu tố 3E kể trên. Nếu không nhìn vào tên, có lẽ rằng chẳng ai nhận ra sự độc lạ giữa những siêu thịCo. op Mart, chợ giao thương Big C hoặc Citimart … Nhỏ hơn một chút ít là những mạng lưới hệ thống : Hapro, Maximark … Tuy nhiên, những mạng lưới hệ thống này cũng chưa cho thấy nguyên do để thuyết phụckhách hàng đến với họ mà không phải là những ẩm thực ăn uống khác. Dường như những siêuthị của Việt Nam chỉ đơn thuần tạo nên nơi shopping có gắn máy lạnh, nhiều hàng hoávà … phải xếp hàng khi giao dịch thanh toán. Thấp hơn một chút ít nữa là những shop tiện lợi. Tại Việt Nam, tất cả chúng ta biết đến những mạng lưới hệ thống như Shop và Go, Fresh Mart ( Tập đoànCP, Đất nước xinh đẹp Thái Lan ), G7 Mart … Ngoài ra, tại thị trường Việt Nam sống sót những quy mô bánlẻ theo kiểu chuyên biệt : Nguyễn Kim, Best Caring, Viễn Thông A … Đây hoàn toàn có thể là mộtxu hướng khả dĩ để đương đầu với sự cạnh tranh đối đầu quyết liệt. Bởi chính độ chuyên biệt đãxác định rõ nhóm người mua. Chẳng hạn, tới Nguyễn Kim nghĩa là người mua muốnmua hàng điện máy gia dụng. Sự chuyên biệt hoá sẽ góp thêm phần hình thành chân dungkhách hàng tiềm năng. Tuy nhiên, có vẻ như sự độc lạ giữa những đối thủ cạnh tranh cùng phânkhúc này cũng thật sự chưa rõ ràng. Một mô hình nữa là : TT thương mại. Vớinhữngn tên tuổi : Diamond Plaza, Zen Plaza, Parkson … tập trung chuyên sâu vào nhóm khách hàngcao cấp ở những đô thị lớn. Chính nhóm này sẽ cạnh tranh đối đầu kinh khủng với nhau để tồntại. Đây là nhóm có đội quản trị chuyên nghiệp, chất lượng, dịch vụ và tên thương hiệu lớn. Bản thân nhóm này cũng có nhiều chiêu thức marketing để lôi cuốn người mua mục tiêucủa mình. Trong khi đó, Metro Cash và Carry hoàn toàn có thể được xem là quy mô phân phối sỉnhững mẫu sản phẩm thiết yếu độc lạ nhất lúc bấy giờ ở Việt Nam. Metro làm marketing chuyên nghiệp và bài bản, chuẩn mực. Họ xác lập nhóm người mua củamình rất rõ ràng bằng cách xác lập 90.000 hội viên. Đây là nhóm người mua có thunhập trung bình cao. Quan trọng là Metro tích hợp với nhà cung ứng để có mực giá rẻnhất hoàn toàn có thể. Đó là nguyên do mà Metro có vẻ như không có đối thủ cạnh tranh tại Việt Nam. Tóm lại, những nhà bán lẻ Việt Nam không ít cũng đã có sự chuẩn bị sẵn sàng về công tácmarketing. Tuy nhiên, những chuẩn bị sẵn sàng của họ có vẻ như chưa đủ mà chỉ cần nhìn vàocách xác định người mua cũng hoàn toàn có thể nhận thấy nhiều nỗi lo. Điểm yếu của những Doanh Nghiệp phân phối ở Việt Nam là tính chuyên nghiệp chưa cao, dochỉ có khoảng chừng 4-5 % nhân lực được giảng dạy chuyên ngành. 60-70 % Doanh Nghiệp phân phối chưasử dụng công nghệ thông tin vào nghành quản trị và khoảng chừng 20 % đơn vị chức năng mới xây dựngwebsite với nội dung đơn thuần, ít được update. Theo một điều tra và nghiên cứu mới gần đây của Tập đoàn IBM, thử thách lớn nhất mà ngànhbán lẻ việt nam đang phải đương đầu là sự Open của nhật kí điện tử ( blog ), forum trựctuyến và quốc tế ảo … Cụ thể, ông Andrew Ma, Giám đốc đảm nhiệm Giải pháp ngànhbán lẻ của IBM Châu Á – Thái Bình Dương trong một hội thảo chiến lược về ngành bán lẻ việt nam mớiđây đã cho hay, với sự Open của blog, forum trực tuyến, internet … đã làm chophạm vi và phương pháp tiếp xúc người mua của doanh nghiệp ( Doanh Nghiệp ) bán lẻ trở nên đadạng và rộng hơn – sự thuận tiện mọi lúc mọi nơi và công nghệ tiên tiến ảo hóa đã và đang tácđộng mạnh đến ngành bán lẻ việt nam, tương lai của ngành nằm ở năng lực hợp nhất thực tếvà môi trường tự nhiên ảo của Doanh Nghiệp để cung ứng nhu yếu người mua. Nói về tác động ảnh hưởng của internettới ngành bán lẻ ông Andrew Ma cho biết hiện tại trên quốc tế đã có nhiều Doanh Nghiệp áp dụngcông nghệ ảo hóa vào kinh doanh thương mại, thực thi tạo mẫu và tăng trưởng mẫu sản phẩm trên nềnsản phẩm Cuộc sống thứ hai ( Second Life ) như thiết lập mạng internet 3 chiều, khởiđộng mạng internet 3D, kinh doanh thương mại ảo EBO và những thiên nhiên và môi trường ảo khác. Theo đó, khởi đầu chỉ có vài Doanh Nghiệp gia nhập quốc tế ảo như Sony, Reebok, Nissan … nhưng đến nay đã có rất nhiều hãng vận dụng thành công xuất sắc công nghệ tiên tiến ảo hóavào kinh doanh thương mại bán lẻ, tăng cao doanh thu như Sears, Adidas, American Apparel, Applevà Samsung. Tại việt nam, theo khảo sát của IBM, những mạng lưới hệ thống bán lẻ lớn như MetroCashCary, chợ giao thương Big C, Parkson … đã quản lý và vận hành những giải pháp công nghệ tiên tiến tiến tiến dành chongành bán lẻ, còn những Doanh Nghiệp việt nam hiện chỉ có 1 số ít thực thi dùng thử nghiệm. Riêng đối vớiviệc gia nhập kinh doanh thương mại trong quốc tế ảo thì vẫn còn lạ lẫm tại thị trường VN. “ Chúng tôi cho rằng đây là thời gian để Doanh Nghiệp bán lẻ việt nam nhìn nhận lại thị trường, xác lập rõ đối thủ cạnh tranh cạnh tranh đối đầu của mình là ai để kịp thời chọn những giải pháp kinh doanhtheo xu thế bán lẻ văn minh ” – ông Andrew Ma nói. “ Đây là thời cơ đồng thời cũng là thử thách mới của Doanh Nghiệp, bởi đối thủ cạnh tranh cạnh tranhbây giờ hoàn toàn có thể là bất kể ai, ở bất kỳ nơi đâu. Khách hàng ngày càng có nhiều thông tin, yên cầu cao hơn và có sức mạnh lớn hơn ” – ông Andrew Ma cho biết thêm. Bên cạnh đó, IBM cho rằng sự Open những chuỗi shop chuyên biệt và sựcó mặt của những tập đoàn lớn bán lẻ toàn thế giới tại thị trường việt nam cũng góp thêm phần biến hóa diệnmạo thị trường. Các shop việt nam muốn cạnh tranh đối đầu buộc phải nâng cấp cải tiến dây chuyền sản xuất cungứng, nâng cấp cải tiến qui trình kinh doanh thương mại để nâng cao hiệu suất, hiệu suất cao. DN bán lẻ quốc tế có tính chuyên nghiệp rất cao. Họ sử dụng công nghệ tiên tiến hiệnđại, có tiềm lực về kinh tế tài chính mạnh, có mạng lưới hệ thống tương hỗ tốt … Thuận lợi và khó khăn vất vả của nghành bán lẻ Việt Nam. Thuận lợi. Hiện kênh phân phối truyền thống cuội nguồn đang chiếm khoảng chừng trên 85 % lưu chuyểnhàng hóa bán lẻ. Về dài hạn, tỷ suất này giảm dần nhưng về tuyệt đối sẽ tăng lên. Đây là dư địa chocác doanh nghiệp, hộ kinh doanh thương mại Việt Nam vì những doanh nghiệp có vốn góp vốn đầu tư nướcngoài đa phần vào khai thác thị trường trải qua kênh phân phối văn minh ( trung tâmthương mại, đại nhà hàng, nhà hàng … ). Đặc điểm của phân phối ( nhất là bán lẻ ) là tínhphân tán cao và gắn với khu vực bán lẻ đơn cử, với địa phận dân cư đơn cử. Với mạng lưới những điểm bán lẻ khá chi chít, phân bổ khắp nơi đang trở thànhmột lợi thế cho doanh nghiệp và hộ kinh doanh thương mại Việt Nam. Hơn ai hết, những doanh nghiệpvà hộ kinh doanh thương mại Việt Nam gắn bó về văn hóa truyền thống, hiểu biết về tập quán, nhu yếu của ngườitiêu dùng Việt Nam và có thời cơ để học tập kinh nghiệm tay nghề quản trị tiên tiến và phát triển, phương thứckinh doanh văn minh cũng như có thêm động lực trong việc thay đổi và tăng trưởng kinhdoanh. Hơn nữa, trong cam kết, để có thời hạn cho doanh nghiệp Việt Nam chuẩn bị sẵn sàng, nhà nước đã thực thi việc Open theo lộ trình, vận dụng kiểm tra nhu yếu kinh tế tài chính khicấp phép từ cơ sở bán lẻ thứ hai trở lên so với doanh nghiệp có vốn góp vốn đầu tư quốc tế, không Open hoặc Open theo lộ trình so với một số ít sản phẩm & hàng hóa. Để tạo môi trường tự nhiên cạnh tranh đối đầu lành mạnh và bình đẳng cho những Doanh Nghiệp, Thương Hội cácnhà bán lẻ Việt Nam đã ra đời vào ngày 5/10/2007 với khoảng chừng 130 Doanh Nghiệp tham gia. Vaitrò của Thương Hội là bảo vệ môi trường tự nhiên kinh doanh thương mại cho những nhà phân phối, cung cấphàng hóa dịch vụ cho những nhà bán lẻ, bảo vệ quyền và ích chính đáng cho Doanh Nghiệp hội viên ; bảo vệ quyền hạn cho người tiêu dùng … Khó khăn của những doanh nghiệp quốc tế : Thị trường bán lẻ Việt Nam với quy mô khoảng chừng 20 tỷ USD và thu nhập đầungười dưới 1.000 USD / năm ; Quy mô thị trường nhỏ, thời hạn tịch thu vốn chậm sẽ cảnbước tiến của những doanh nghiệp quốc tế. Bên cạnh đó, cuộc khủng hoảng cục bộ tàichính toàn cầu khiến nhu cầu mua sắm sụt giảm mạnh trên toàn quốc tế, trong đó có cả ViệtNam. Các doanh nghiệp phân phối lớn hiện phải đối phó với những khó khăn vất vả do cuộckhủng hoảng kinh tế tài chính đưa lại và sẽ không để mắt đến những thị trường mới trong mộtvài năm tới. Thông thường mạng lưới hệ thống bán lẻ muốn tăng trưởng phải có vị trí kinh doanh thương mại thuậntiện là mặt đường đồng nghĩa tương quan với việc phải có tiềm lực kinh tế tài chính rất mạnh, đó là chưakể những nhà bán lẻ quốc tế muốn thiết lập những chuỗi nhà hàng siêu thị tại Việt Nam. Vấn đề nàythật không đơn thuần vì phân chia đất đai cho hạ tầng thương mại của Việt Nam còn chậthẹp, giá thuê lại quá cao. Tại những tòa nhà dịch vụ TM hạng sang ở TT với giá thuêdao động 65 – 150 USD / mét vuông / tháng, tại những vị trí không TT có giá thuê khoảng chừng 25 – 60 USD / mét vuông / tháng. Phát triển của thị trường bán lẻ Việt NamMột loạt sự kiện trong nước và quốc tế đang diễn ra chứng minh và khẳng định một điều : ngườibán lẻ, người tiêu dùng Việt Nam đang là điểm trung tâm của quốc tế kinh doanh thương mại lúc bấy giờ. Nhiều nhà góp vốn đầu tư đang nhắm đến Việt Nam … Ngày 01.01.2009 là thời gian mà Việt Nam Open thị trường bán lẻ theo lộtrình cam kết khi gia nhập WTO của Việt Nam. Dư luận ” đồn đoán ” nhiều về số phậncủa những doanh nghiệp phân phối, bán lẻ trong nước sẽ bị ảnh hưởng tác động, khi những doanhnghiệp 100 % vốn quốc tế được tham gia vào nghành nghề dịch vụ này. Tuy nhiên, theo phân tíchcủa những chuyên viên thương mại trong và ngoài nước cho thấy sẽ không có dịch chuyển lớntrên thị trường ngay sau ngày Open. Các doanh nghiệp phân phối, bán lẻ trong nước nói chung, có lợi thế rất lớn về ” sân nhà ” với sự thông thuộc, am hiểu một cách thâm thúy văn hóa truyền thống, thói quen tiêu dùngcủa người địa phương, trong khi ” nhập gia tùy tục ” không phải là chuyện đơn thuần mànhững ” vị khách lạ ” hoàn toàn có thể làm tốt trong ngày một ngày hai ; ngoài những những doanh nghiệpphân phối, bán lẻ Việt Nam còn rất nhiều khoảng trống để tăng trưởng khi mà những đại giabán lẻ quốc tế chỉ tập trung chuyên sâu vào những tỉnh, thành phố lớn. Vì vậy, nếu biết tận dụngthế mạnh này, liên tục tiếp cận, chớp lấy nhu yếu ngày càng cao và khắc nghiệt của kháchhàng, thực thi đồng nhất những giải pháp để trang bị những điều kiện kèm theo thiết yếu hoàn toàn có thể thỏamãn được những nhu yếu đó, thì những doanh nghiệp phân phối, bán lẻ Việt Nam hoàntoàn có thời cơ và năng lực thích ứng. Bên cạnh đó, những doanh nghiệp phân phối, bán lẻ Việt Nam có lợi thế vượt trộikhi tăng trưởng quy mô shop thuận tiện ; còn những doanh nghiệp quốc tế khó có khảnăng thao túng phân khúc thị trường này do có nhiều hạn chế từ hiểu biết về tập quán, về thị hiếu, thu nhập đến thời hạn góp vốn đầu tư và tịch thu vốn, khu vực bán lẻ, … trong khicác doanh nghiệp phân phối, bán lẻ Việt Nam lại rất dễ thực thi trải qua việc tái tạo, mua đứt, thuê hoặc sáp nhập shop, kể cả những bà buôn thúng, bán mẹt, chỉ cần cảitạo những cơ sở đó thành điểm bán lẻ tiện nghi đã có mạng lưới bán lẻ rộng khắp, do đótương lai những doanh nghiệp phân phối, bán lẻ Việt Nam có nhiều thuận tiện để sống sót vàphát triển. Kết quả khảo sát người tiêu dùng tại TP.HN và TP Hồ Chí Minh của AGROINFO chothấy, những nhà bán lẻ trong nước đang cung ứng tốt hơn sự kỳ vọng của người tiêu dùngtrong 1 số ít tiêu chuẩn. Trường hợp của chuỗi ẩm thực ăn uống Co. opMart là một ví dụ nổi bật. Chuỗi siêu thị nhà hàng Co. opMart được người tiêu dùng nhìn nhận khá cao khi phân phối đượcphần lớn những tiêu chuẩn mà họ kỳ vọng nhiều như giá thành cạnh tranh đối đầu, thanh toán giao dịch nhanh gọn, gần nhà và thuận tiện về giao thông vận tải so với những tập đoàn lớn bán lẻ quốc tế là MetroCash và Carry và Big C. Điều này rõ ràng là một tín hiệu đáng mừng cho ngành kinhdoanh bán lẻ của Việt Nam trong toàn cảnh thị trường sắp tới. 2.2.2. 2 Khó khăn. Khó khăn so với doanh nghiệp và hộ kinh doanh thương mại Việt Nam đó là năng lượng cạnhtranh của từng doanh nghiệp yếu vì đại bộ phận những doanh nghiệp có quy mô nhỏ, trìnhđộ quản trị lỗi thời, phương pháp kinh doanh thương mại chưa tiên tiến và phát triển, hạ tầng kinh doanhchưa tân tiến, kế hoạch kinh doanh thương mại chưa được chăm sóc đúng mức. Đồng thời, tính link giữa những doanh nghiệp yếu như : link dọc giữa nhàsản xuất-nhà bán buôn-nhà bán lẻ ; link ngang giữa nhà bán sỉ với nhà bán sỉ, nhà bán lẻ với nhà bán lẻ ; link giữa nhà phân phối với những nhà cung ứng dịch vụngân hàng … trong đó những doanh nghiệp Việt Nam có 3 điểm yếu lớn sau : Tài chính : Đây là yếu tố không cần bàn cãi nhiều. Hậu cần ( logistics ) : Kinh doanh nhà hàng siêu thị tân tiến yên cầu một mạng lưới hệ thống hậu cầnchuyên nghiệp. Tổng giám đốc của Metro Cash và Carry cho biết Metro đã chi gần 20-25 triệu euro trang bị mạng lưới hệ thống đáp ứng hàng ( kho lạnh, xe chuyên sử dụng, thiết bị kiểm tra, dữ gìn và bảo vệ sản phẩm & hàng hóa … ) theo chuẩn của Metro toàn thế giới và chi gần 800.000 euro cho côngtác huấn luyện và đào tạo. Trong khi đó, ở những siêu thị nhà hàng của Việt Nam, những giám đốc siêu thị nhà hàng vẫn còntranh cãi với nhau về việc TT phân phối hoặc nhà cung ứng không giao đủ hàngbán trong dịp lễ, Tết mà chưa có giải pháp nào để khắc phục thực trạng này. Việc điềuphối những xe giao hàng đúng loại, đúng nơi, đúng thời gian vẫn còn được quản lý, quản trị khá đơn thuần. Điều này không chỉ tác động ảnh hưởng đến hoạt động giải trí kinh doanh thương mại mà cònlàm ngày càng tăng ngân sách lao động cũng như quản trị. Tính chuyên nghiệp : Kinh doanh bán lẻ văn minh yên cầu nhà quản trị có nhữngcông cụ tương hỗ để đưa ra những quyết định hành động. Đối với một mạng lưới hệ thống ẩm thực ăn uống, bộ phận muahàng đóng vai trò khá quan trọng. Chuyên viên mua hàng chuyên nghiệp hoàn toàn có thể điềuđình với nhà cung ứng trên toàn bộ mọi phương diện từ Chi tiêu, số lượng, thời hạn giaonhận hàng, những chương trình tiếp thị, tặng thêm, quy cách vỏ hộp, đóng gói … Thậm chíhọ hoàn toàn có thể tư vấn lại cho nhà cung ứng nên sản xuất hàng như thế nào, tiếp thị, quảng bára sao … Tuy nhiên, ở khâu này, có vẻ như những nhân viên mua hàng của những nhà bánlẻ quốc tế tỏ ra lấn lướt. Giám đốc một doanh nghiệp dệt may kể rằng ông chàohàng ở Metro, bộ phận mua hàng ở đây trình diễn cho ông xem toàn bộ những quy chuẩncủa ngành hàng, mẫu mã, sắc tố, kích cỡ, Tỷ Lệ cho tiếp thị quảng cáo, nhữngđiều khoản tương hỗ của bên mua và những nhu yếu với nhà cung ứng … Tất cả được vitính hóa, update và trình diễn rõ ràng, minh bạch cho nhà phân phối tìm hiểu thêm. Trongkhi đó, khi ông thao tác với những ẩm thực ăn uống Việt Nam, quy trình thương lượng diễn ra rấtsơ sài. Cho nên khi bộ phận mua hàng phủ nhận bán hàng của doanh nghiệp, ông hoàntoàn cảm thấy không thể nào “ tâm phục, khẩu phục ”. Từ ba điểm yếu lớn nhất này của mạng lưới hệ thống bán lẻ Việt Nam, hoàn toàn có thể thấy trongmột tương lai không xa, việc doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam bị chi phối và mất dần thịphần về tay những nhà bán lẻ quốc tế là điều khó tránh khỏi. Sự đổ xô của những doanh nghiệp quốc tế : Tập đoàn Best Denki, một trong 5 “ triệu phú ” bán lẻ điện máy lớn nhất Nhật Bảnđã “ tăm tia ” thị trường Việt Nam. Best Denki hiện sở hữu 570 chuỗi ẩm thực ăn uống tại Nhật và40 nhà hàng ở Nước Singapore, Malaysia, Hồng Kông ( Trung Quốc ), Indonesia, … Với kinhnghiệm 55 năm xây dựng và gần hai năm hoạt động giải trí theo phương pháp nhượng quyềnthương mại với một Doanh Nghiệp Việt Nam, Best Denki đã sẵn sàng chuẩn bị liên kết kinh doanh để trực tiếp thamgia thị trường này. Ông C.J. Raij, Giám đốc bộ phận kinh doanh thương mại tiếp thị và tăng trưởng thịtrường quốc tế của Best Denki cho biết, với mong ước trực tiếp góp vốn đầu tư và đượctham gia kinh doanh thương mại tại thị trường bán lẻ điện máy ở Việt Nam, Best Denki và những đốitác vừa kết thúc quá trình đàm phán và đang hoàn tất thủ tục, sẵn sàng chuẩn bị xây dựng liêndoanh trong nghành nghề dịch vụ này. Ngoài ra, không hề không kể đến những tên tuổi đã xuất hiện và chiếm thị phầnđáng kể ở thị trường bán lẻ Việt Nam như : South Asia Investments Pte ( Nước Singapore ), hệthống nhà hàng Big C ( Pháp ), Metro Cash và Carry ( Đức ), Zen Plaza ( Nhật Bản ), Diamond Plaza ( Nước Hàn ), Parkson ( Tập đoàn Lion, Malaysia ), … Các tập đoàn lớn nàykhông chỉ tập trung chuyên sâu tại những thành phố có nhu cầu mua sắm lớn như TP. Hồ Chí Minh, Thành Phố Hà Nội màcòn lan rộng ra khoanh vùng phạm vi hoạt động giải trí đến những tỉnh thành tại miền Trung, miền Tây … MetroCash và Carry – nhà phân phối lớn thứ 5 quốc tế, một trong hai tập đoàn lớn phân phối cómặt tiên phong tại Việt Nam – mới gần đây đã đưa 2 TT phân phối tại TP. Hải Phòng và ĐàNẵng vào hoạt động giải trí, nâng tổng số TT phân phối của tập đoàn lớn này tại việt nam lên consố 7. Big C sau khi khai trương mở bán siêu thị nhà hàng ở TP. Hà Nội cũng đang liên tục kế hoạch đầu tư120 triệu USD để mở những ẩm thực ăn uống tại Cần Thơ, Thành Phố Đà Nẵng và mở thêm nhiều ẩm thực ăn uống tạiHà Nội và TP. Hồ Chí Minh ; Tập đoàn Parkson cũng có dự tính kiến thiết xây dựng 10 trung tâmmua sắm … Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, lúc bấy giờ 1 số ít tập đoàn lớn bán lẻ số 1 thế giớiđã đến khảo sát thị trường và bày tỏ dự tính góp vốn đầu tư vào Việt Nam, trong đó có tập đoànbán lẻ số 1 quốc tế với doanh thu gần 40 tỷ USD là Tesco ( Anh ). Ngoài ra, hai nhàbán lẻ nổi tiếng là WalMart và Carrefoul cũng đang “ nhăm nhe ” góp vốn đầu tư. Theo ông ThamTuck Choy, Tổng giám đốc Parkson tại Việt Nam : “ Với hơn 80 triệu dân, trong đó đaphần là giới trẻ, thu nhập của dân cư ngày càng cao, nhu yếu tiêu dùng phong phú …, Việt Nam luôn được nhìn nhận là thị trường đầy tiềm năng ”. 2. PHÂN TÍCH 4 MÔ HÌNH BÁN LẺ ĐẶC TRƯNG TẠI VIỆT NAM1. Siêu thị – nhà hàng Coop MartSơ lược về Coop MartTheo Bộ Công Thương, hoạt động giải trí dịch vụ phân phối, bán lẻ, góp phần khoảng15 % GDP cả nước hàng năm. Với hơn 90 triệu dân và hàng chục triệu hành khách mỗinăm, thị trường bán lẻ Việt Nam khá lớn và mê hoặc so với những nhà phân phối nướcngoài. Hệ thống Co. opMart là chuỗi ẩm thực ăn uống bán lẻ thường trực Saigon Co. op, đơn vịnày hiện đang sở hữu 47 nhà hàng gồm có 22 nhà hàng tại TP. Hồ Chí Minh và và 25 siêu thị nhà hàng tạicác tỉnh, thành phố lớn khác trong cả nước. Các nhà hàng siêu thị Co. opMart có đặc thù chunglà thân thiện, thân mật với người mua, mang đến cho người mua sự tiện nghi và nhiềudịch vụ tăng thêm. Có thể ví Saigon Co-op và chuỗi ẩm thực ăn uống Co. opMart như một cô gáiđược mến thương, không vì nhan sắc lộng lẫy, gia tài kết sù, học vấn ngoạn mục, .. nhưnglà nét bình dị, duyên dáng, đảm đang, ân cần, đầy tình người, đượm phong thái việt nam, .. Thương hiệu Co. opMart đã trở thành một trong những tên thương hiệu có tên tuổi trên thịtrường mạng lưới hệ thống bán lẻ bởi việc luôn cố gắng nỗ lực triển khai xong để đem đến sự Giao hàng tốt hơncho người mua. Với gam màu xanh đỏ trắng ( Mart màu đỏ, nhỏ điển hình nổi bật trên nền màuxanh của chữ Co. op, hai chữ ấy tích hợp hài hòa trên nền màu trắng ) tạo nên một phongcách riêng, độcđáo cho tên thương hiệu. Ngoài ra, với slogan ( khẩu hiệu ) : “ Bạn của mọinhà ” và ” Nơi shopping đáng an toàn và đáng tin cậy ” nó đã trở nên có sức sống thật sự, sống sót trong ” bộnhớ ” của người tiêu dùng chứ không chỉ trên băng rôn, tờ bướm quảng cáo hay những bảntin hàng hoá thường thì. Sản phẩm kinh doanhHệ thống nhà hàng siêu thị Co. op Mart kinh doanh thương mại gần 30.000 mẫu sản phẩm, gồm có : Thựcphẩm tươi sống tươi ngon, thực phẩm công nghệ tiên tiến phong phú, vật dụng phong phú và đa dạng với nhiềumẫu mã mới, hàng may mặc thời trang, chất lượng, giá phải chăng, cùng với dịch vụkhách hàng nhiều mẫu mã, thuận tiện và sự thân thiện của nhân viên cấp dưới Co. opMart là lý doCo. opMart trở thành “ Nơi shopping đáng an toàn và đáng tin cậy, bạn của mọi nhà ” là kênh thông tinphản hồi nhanh diễn biến giá thành thị trường cho những cơ quan điều hành quản lý thành phố, trởthành nhà bán lẻ chuyên nghiệp nhất trong mạng lưới hệ thống bán lẻ Việt Nam. Các nhà hàng củaCo. opMart đều mang đặc thù chung là thân thiện, thân thiện với người mua, mang đếncho người mua sự tiện nghi và nhiều dịch vụ tăng thêm. Với mục tiêu “ Hàng hóachất lượng, Chi tiêu phải chăng, ship hàng ân cần ”, Co. opMart đã xâm nhập thị trường cảnước bằng phong thái Saigon phối hợp với từng nét đặc trưng của địa phương, tập hợpgiữa tập trung chuyên sâu và sự linh động, phát minh sáng tạo và nâng cấp cải tiến không ngừng của mỗi đơn vị chức năng, mỗi cánhân. Thế nên, càng ngày Co. opMart càng được nhiều người mua lựa chọn để đến muasắm và thư giãn giải trí cùng mái ấm gia đình mỗi ngày. http://www.daithanh.net.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=107&Itemid=56〈=viTrung bình mỗi nhà hàng quốc tế ở việt nam hiện kinh doanh thương mại 40.000 – 50.000 mặthàng khác nhau, trong khi tại những ẩm thực ăn uống trong nước số lượng này chỉ 25.000 – 30.000 mặthàng. Sự phong phú trong chủng hàng của những nhà hàng siêu thị ngoại thường nhỉnh hơn siêu thịtrong nước ở ngành hàng lẫn nhãn hàng. Ví dụ như loại sản phẩm gia vị hạt tiêu. Trên quầygia vị của nhà hàng siêu thị chợ giao thương Big C có đến gần 10 loại tiêu khác nhau như tiêu sọ, tiêu xanh, tiêuhạt mịn, tiêu cay, tiêu nhập khẩu … Ngay trong cùng một loại tiêu cũng có đến 2-3 nhàcung cấp khác nhau. Trong khi đó, tại ẩm thực ăn uống Co. op Mart người mua chỉ có hai sự lựachọn : tiêu sọ hoặc tiêu đen đóng gói sẵn. Co. opMart đã chứng tỏ mình xứng danh là một mạng lưới hệ thống bán lẻ số 1 ViệtNam. Với tiềm năng là chuộng hàng nội, thôi thúc ý thức Người Việt Nam dùng hàngViệt Nam, dùng hàng nội để thay thế sửa chữa cho hàng ngoại nhập cho nên vì thế khoảng chừng 80 % trongsố hơn 20.000 loại sản phẩm tiếp tục có trong chuỗi nhà hàng siêu thị là hàng Việt Nam chấtlượng tốt, giá thành tương thích với mặt phẳng thu nhập chung của xã hội và thậm chí còn khôngcao hơn những shop tạp hóa. Nếu trước đây lệch giá hàng Việt Nam của toàn hệthống ẩm thực ăn uống Co. op Mart chỉ khoảng chừng 70 %, thì nay đã trên 90 %. Như vậy hoàn toàn có thể thấyhàng sản xuất trong nước đã thuyết phục được người tiêu dùng. “ Khác với sự lấn lướtcủa hàng ngoại những năm trước, tỉ trọng hàng nội tăng dần cùng thời hạn, trong nhiềunhóm hàng, hàng Việt còn đóng vai trò chủ yếu. Chẳng hạn ở ngành vải sợi, 95 % quầnáo trẻ nhỏ, trung niên, giới trẻ đều là hàng nội, hàng ngoại chỉ Open ở dòng áo thunnam, trong khi trước đây cơ cấu tổ chức ngành hàng này 40 % là hàng ngoại, với tỷ trọng chiếmđến 90 % số lượng loại sản phẩm, chiếm 95 % lệch giá trong mạng lưới hệ thống, hàng Việt đang ngàycàng chiếm lợi thế tại chuỗi nhà hàng Co. opMart, Co. op Food và shop Co. op. ”, BàBùi Hạnh Thu – phó tổng giám đốc Saigon Co. op cho hay. – Thực phẩm tươi sống và chế biến nấu chín : Đây là 1 trong những nét đặctrưng của Hệ thống Co. opMart, với tiêu chuẩn : Giao hàng nhanh và cung ứng nhu yếu về giảmbớt thời hạn cho những bà nội trợ. Hệ thống Co. opMart cung ứng cho người nội trợ nhữngsản phẩm ngon, sạch và thuận tiện, gồm có : • Thực phẩm sơ chế và tẩm ướp. • Thực phẩm chế biến nấu chín. • Rau bảo đảm an toàn. • Trái cây. Các nguồn hàng mà Co. opMart lựa chọn kỹ để bán cho hành khách được thumua trực tiếp từ chợ cá Phan Thiết, rau an toàn Đà Lạt, Rau ấp Đình Củ Chi, rau HưngPhát, rau Sao Việt … việc hợp tác giữa nông dân, ngư dân và mạng lưới hệ thống Co. opMart đemlại lợi thế cạnh tranh đối đầu lớn cho những mẫu sản phẩm kinh doanh thương mại tại mạng lưới hệ thống với giá tốt nhất vàsản phẩm có chất lượng bảo vệ. Trái cây được mua từ nhiều nguồn khác nhau, từ những quả nho tươi, camvàng nhập từ Mỹ, Uc hay đến những trái cây từ những vùng miền của Việt Nam như : ổi, sari, sầu riêng, xoài cát Hòa Lộc, … đa dạng và phong phú và phong phú trong từng chủng loại. Hàng hóa được tọa lạc tại khu vực dành riêng trong những tủ lạnh, tủ mát và tủcấp đông ở nhiệt độ luôn không thay đổi để bảo vệ cho sản phẩm & hàng hóa luôn tươi ngon và đẹp mắt. Bên cạnh đó, sản phẩm & hàng hóa luôn được nhân viên cấp dưới chăm nom tiếp tục và chuẩn bị sẵn sàng tư vấncho người mua lựa chọn những thực phẩm ngon, cách nấu những món ăn ship hàng chothực đơn hàng ngày. – Thực phẩm công nghệ tiên tiến : Co. opmart có những nhà phân phối và những đối tácchiến lược như Bibica, Vissan, Pepsi Co, Dầu Tường An, Đồ Hộp Hạ Long, … Đó làBánh kẹo Kinh Đô, Bột ngọt Ajinomoto, Đường Biên Hòa, Nước suối Lavie, Dầu ănNeptune, Nước ngọt Pepsi, Sữa Vinamilk, Sữa Cô gái hà Lan, Thực phẩm đóng hộpVissan … Hệ thống Co. opMart luôn bảo vệ phân phối những mẫu sản phẩm thiết yếu phụcvụ cho nhu yếu hàng ngày của người sử dụng. Quy trình mua hàng và trấn áp chất lượng sản phẩm & hàng hóa luôn được chú trọng, với những sản phẩm & hàng hóa thuộc nhóm thực phẩm, việc bảo vệ hạn sử dụng, nhãn sản phẩm & hàng hóa vàthông tin hướng dẫn sử dụng luôn được chăm sóc. – Hóa phẩm : Nhiều chủng loại sản phẩm & hàng hóa từ những nhà phân phối số 1 nhưUnilever, P&G, Mỹ phẩm Saigon, Mỹ Hảo … luôn đem lại những loại sản phẩm thiết yếuphục vụ hàng ngày cho ngừơi tiêu dùng. Các mẫu sản phẩm như Bột giặt, nước xả, dầu gội, sữa tắm, xà bông, nước rửa chén …. hàng tuần đều có những chương trình khuyến mãidành riêng cho người tiêu dùng với nhiều phần thưởng mê hoặc. Ngoài những sản phẩmthông dụng, Co. opMart còn có những loại sản phẩm chăm nom chuyên biệt hơn cho những nhucầu phong phú của người mua. Bạn hoàn toàn có thể tìm thấy trên những kệ hóa phẩm những sản phẩmnhư : Gel dưỡng tóc, thuốc nhuộm tóc, kem dưỡng da tay, sữa dưỡng thể, kem dưỡnggót chân hay những loại sản phẩm chăm nom răng miệng. Việc hình thành những khu vực bán hàng ship hàng cho ba mẹ và em bé, Mỹ phẩmdành cho Nam giới là nét mới của mạng lưới hệ thống Co. opMart, sản phẩm & hàng hóa được tọa lạc đẹp, đa dạng chủng loại hài hòa và hợp lý tạo thuận tiện cho việc shopping. Đội ngũ nhân viên cấp dưới tư vấn của SaigonCo. op và chính nhà phân phối luôn chuẩn bị sẵn sàng ship hàng người mua ngay tại thời gian muahàng, những thông tin sản phẩm & hàng hóa và sử dụng mẫu sản phẩm được cung ứng chi tiết cụ thể và kịp thờigiúp người mua đễ dàng lựa chọn mẫu sản phẩm sử dụng. – Hàng may mặc : Các tên thương hiệu số 1 Việt Nam như Việt Tiến, ViệtThắng, Piere Cardin, An Phước và những nhà sản xuất mẫu sản phẩm may mặc nổi tiếng khácđều xuất hiện tại khu may mặc của Co. opMart để phân phối nhu yếu mặc đẹp của quý kháchhàng. Hàng hóa đẹp, chất lượng cao, giá thành hài hòa và hợp lý và chủng loại phong phú và đa dạng. Cácchương trình khuyến mại tiếp tục đem lại nhiều quyền hạn cho người tiêu dùng. Đội ngũ nhân viên cấp dưới ship hàng và những nhân viên cấp dưới của nhà sản xuất sẵn sàng chuẩn bị tư vấngiúp người mua lựa chọn những kiểu quần áo hợp thời trang, cùng với những dịch vụcộng thêm không thu phí như cắt lai, thu nới size. Khu tọa lạc những loại sản phẩm maymặc được góp vốn đầu tư rất chuyên nghiệp với quầy kệ đẹp, thuận tiện cho việc lựa chọn muasắm. – Đồ dùng : Hàng hóa chất lượng, Ngân sách chi tiêu phải chăng đó là những tiêu chuẩn lựachọn số 1 để Co. opMart lựa chọn Giao hàng cho người mua, với những thương hiệunổi tiếng : Happy Cook, Nhôm Kim Hằng, Supor, Phalê Việt Tiệp, Nhựa Phát Thành … Hàng hóa phong phú, đa dạng và phong phú với hàng ngàn chủng lọai sản phẩm & hàng hóa, phân phối nhu cầungày càng phong phú của người tiêu dùng. Hàng hoá trong khu vật dụng được tọa lạc theo từng nhóm những sản phẩmphục vụ những tiện ích của mái ấm gia đình như : vật dụng mái ấm gia đình, trang bị cho căn phòng nhà bếp, thuậntiện cho việc shopping và lựa chọn cho căn nhà bếp của mái ấm gia đình. Các bà nội trợ thích trangtrí còn hoàn toàn có thể tìm thấy nhiều mẫu sản phẩm xinh xắn, mẫu mã lạ, đẹp, đẹp mắt để chămchút cho căn nhà của mình như : tô, dĩa, chén kiểu bằng gốm sứ, thủy tinh, phalê, bìnhhoa, bộ ly, những loại đồ kiểu độc lạ với mẫu mã phong phú nhiều mẫu mã, liên tục cậpnhật hàng mới sẽ làm cho buổi shopping của hành khách thêm mê hoặc. Các mẫu sản phẩm phụcvụ cho việc trang trí căn nhà của người tiêu dùng : những mẫu sản phẩm phale, hoa tọa lạc. – Nhãn hàng Co. opMart : Việc kiến thiết xây dựng hơn 300 loại sản phẩm dưới nhãn hiệuCoop Mart ( 7/2010 ) cũng góp thêm phần tạo nên dấu ấn tên thương hiệu. Việc cung ứng những mặthàng thực phẩm tươi sống và chế biến của những nhà sản xuất đạt tiêu chuẩn và đồng thờitạo ra hàng trăm loại sản phẩm riêng, mang tên thương hiệu Co. opMart, như canh chua gà lágiang, cá rô, lóc kho tộ, mướp đắng, cà chua nhồi thịt, cá bống, cá diêu hồng, lươn om … thời trang SGC và mạnh nhất là những loại sản phẩm thực phẩm khô, ướp đông và chế biến sẵnnhãn hiệu Co. opMart luôn thỏa mãn nhu cầu, phân phối nhu yếu shopping phong phú của người tiêudùng, tương thích bữa ăn mái ấm gia đình trong tuần và cuối tuần, được những bà nội trợ ưa thích. ( http://daidoanket.vn/index.aspx?Menu=1368&Chitiet=13498&Style=1 ) Saigon Co. op đã kiến thiết xây dựng hình ảnh Co. opMart là một nhà hàng tân tiến vănminh của phương pháp bán hàng tự chọn, vừa có nét đơn giản và giản dị thân mật trong kinh doanhvà những dịch vụ đi kèm. Sự độc lạ mà những nhà bán lẻ Việt Nam nói chung vàCo. opMart nói riêng đã khai thác khá thành công xuất sắc là : Mô hình phối hợp giữa tự chọn vàcó ship hàng, sự xuất hiện của nhân viên cấp dưới mậu dịch trợ giúp, tư vấn cho người mua chọn lựasản phẩm tương thích, điều này không có tại những shop tự chọn những nước khác ; Phục vụtận nhà cũng được xem như một ưu việt của những nhà hàng ; Lựa chọn mẫu sản phẩm kinhdoanh tương thích với thị hiếu, khẩu vị từng vùng với giá thành hài hòa và hợp lý tương thích với khả năngthanh toán của hầu hết người dân cũng là sự độc lạ cơ bản của siêu thị nhà hàng. Thị trường mục tiêuTheo bà Loan, sản phẩm & hàng hóa đến tay người tiêu dùng đa phần vẫn qua mạng lưới hệ thống chợ ( khoảng chừng 40 % ) và qua mạng lưới hệ thống những shop bán lẻ độc lập ( khoảng chừng 44 % ). Hàng hóaqua mạng lưới hệ thống phân phối văn minh như nhà hàng, shop tiện nghi … chỉ mới chiếm khoảng10 % vì hầu hết mạng lưới hệ thống phân phối còn rất non trẻ, còn lại là 6 % là do nhà sản xuấttrực tiếp bán thẳng. Như vậy, kênh shopping truyền thống cuội nguồn vẫn liên tục đóng vai trò thenchốt trong đời sống hàng ngày của người Việt Nam, chiếm 68 % lệch giá từ những tiệmtạp hóa cả nước. Rõ ràng kênh shopping truyền thống lịch sử vẫn giữ được chỗ đứng riêng vàcác kênh thương mại bán lẻ văn minh sẽ cần chiến đấu đề giành được một phần củamiếng bánh đó. ( http://vneconomy.vn/201008130854051P0C19/tieu-thu-hang-viet-van-manh-ai-nay-lam.htm ) Quy mô thị trường ngày càng lan rộng ra hơn, hiện việt nam có gần 400 nhà hàng siêu thị, trungtâm thương mại nhưng có tới hơn 8.000 chợ những loại, sự chênh lệch là rất lớn. Và bìnhquân mỗi mạng lưới hệ thống siêu thị nhà hàng có 2 nghìn – 3.000 nhà phân phối sản phẩm & hàng hóa là những Doanh Nghiệp, cơ sở sảnxuất trong nước. Siêu thị đang trở thành kênh tiếp thị tên thương hiệu quan trọng chohàng việt nam và là một trong những tiềm năng mà nhiều Doanh Nghiệp nhắm tới. Người dân đang dầnchuyển thói quen từ mua, bán ở chợ truyền thống cuội nguồn sang những TT thương mại vàsiêu thị. Thêm nữa, Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới ( WTO ) nên hình thức phân phối không qua chợ sẽ trở nên thông dụng hơn khi nào hết. http://daibieunhandan.vn/?TabId=66&CatID=27&ContentID=95430Mô hình chuỗi nhà hàng Co. opMart là sự tích hợp giữa chợ truyền thống lịch sử vớiphong cách bán hàng văn minh, văn minh. Định vị của Co. op Mart là trở thành người bạnthân thiết của người tiêu dùng và để tạo nét đặc trưng cho Co. opMart, Saigon Co. op đãphân khúc người mua mà Co. opMart nhắm đến là những tầng lớp dân cư có thu nhập trungbình và thấp, người mua đã lập mái ấm gia đình là đa phần và cán bộ công nhân viên – đốitượng chiếm số đông của xã hội, ngoài những Co. opMart còn nhắm đến những bà nội trợbận rộn với việc làm ít có thời hạn nấu nướng cho bữa ăn của mái ấm gia đình. Xác định thịtrường tiềm năng của Coop Mart là thành phố. Hồ Chí Minh, những thành phố và thị xã, thịtrấn có đông dân cư trong cả nước. Do đó, việc tăng trưởng Coop Mart có tinh lọc theothứ tự, ưu tiên cho những địa phận có tiềm lực kinh tế tài chính mạnh, nhu cầu mua sắm cao. Đến naySaigon Coop đã tăng trưởng 47 nhà hàng siêu thị, trong đó 22 ở thành phố và 25 ở những tỉnh thànhkhác trong cả nước. Những đối tượng người dùng người mua đến với mạng lưới hệ thống ẩm thực ăn uống Co. opMart là ai ? o Đa số là những người nội trợ đủ mọi thành phần lứa tuổi. o Họ thường là những người có thu nhập trung bình khá trở lên. o Họ là những người không thích sự ồn ào náo nhiệt của việc shopping ngoàichợo Họ không thích trả giáo Họ là những người shopping bốc đồng, vì hoàn toàn có thể họ đến ẩm thực ăn uống là đi cùngvới bè bạn, hoặc chỉ để ngắm nhưng hoàn toàn có thể một loại sản phẩm nàođó khiến họkhông thể kiềm lại cái cảm xúc thích shopping bốc đồng của mình. o Họ là những người bận rộn. o Họ là những người chăm sóc đến vệ sinh bảo đảm an toàn thực phẩm. o Họ thường ở khu vực thành phố. Dẫn lời bà Nguyễn Thị Hạnh : lúc bấy giờ doanh thu kinh doanh thương mại hàng Việt Namcủa chúng tôi ngày càng tăng, có nghĩa là chúng tôi đã xác lập đối tượng người dùng Giao hàng chủyếu của mạng lưới hệ thống siêu thị nhà hàng Co. op Mart là những người có thu nhập trung bình – khá. Đâylà đối tượng người tiêu dùng tiêu dùng vừa chăm sóc đến chất lượng hàng hoá, vừa yên cầu hàng hoáphải có giá thành hài hòa và hợp lý. Chúng tôi nhìn nhận lúc bấy giờ hàng sản xuất trong nước có chấtlượng tốt và Ngân sách chi tiêu hoàn toàn có thể phân phối được năng lực tiêu tốn của đa phần người tiêu dùngViệt Nam. Đó là kế hoạch kinh doanh thương mại chính của chúng tôi. Vì vậy, khi triển khaichương trình “ Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam ”, thì chúng tôi nhận thấyrất tương thích với tiêu chuẩn kinh doanh thương mại của mạng lưới hệ thống siêu thị nhà hàng Co. op Mart từ khi thành lậpđến nay. Và chúng tôi tin rằng điều này sẽ không ảnh hưởng tác động nhiều đến doanh thu. Điềumà chúng tôi chăm sóc nhất là luôn nhắc nhở, và đồng thời cũng nhu yếu nhà cung cấpcam kết, bảo vệ không thay đổi chất lượng, mặt khác cũng cần phải liên tục cải tiếnmẫu mã hàng hoá, có giá thành hài hòa và hợp lý để giữ vững được niềm tin của người tiêu dùng. Đểtừ đó người tiêu dùng Việt Nam sẽ ngày càng sử dụng hàng sản xuất trong nước nhiềuhơn. Cũng theo bà Hạnh : ” Việc những tập đoàn lớn bán lẻ số 1 xâm nhập vào thịtrường Việt Nam tạo ra sự cạnh tranh đối đầu hoàn toàn có thể nói là rất nóng bức so với những doanh nghiệpbán lẻ trong nước, trong đó có SaiGon Co. op. Chính vì thế mà ngay từ rất lâu rồi chúngtôi đã chuẩn bị sẵn sàng một kế hoạch cho mình. Một trong những điều mà chúng tôi nghĩ rằngnó là lợi thế và thế mạnh của mình đó là chúng tôi đã góp vốn đầu tư tăng trưởng tên thương hiệu từhơn 10 năm nay, lúc bấy giờ hoàn toàn có thể nói người tiêu dùng Việt Nam đã quen với thương hiệuCo. op Mart … Tôi nhìn nhận cao tiềm năng của thị trường nông thôn, vì trên 70 % dân cưđang sống ở đây. Vì vậy đây là một thị trường rất mê hoặc, và sắp tới chúng tôi sẽ pháttriển mạng lưới hệ thống siêu thị nhà hàng Co. op Mart ở những địa phương của những tỉnh, thành phố. Thực tế, lúc bấy giờ có một số ít tỉnh chưa thật sự mang lại hiệu suất cao góp vốn đầu tư như mong ước, songchúng tôi vẫn xem đây là kế hoạch lâu dài hơn. Ngoài việc Giao hàng mục tiêu kinh doanh thương mại, với vai trò là một tổ chức triển khai kinh tế tài chính tập thể, chúng tôi xem đó là trách nhiệm chính trị quantrọng cần phải hoàn thành xong. Mỗi khi góp vốn đầu tư vào một địa phận mới, chúng tôi mong muốnđem đến cho người tiêu dùng một phương tiện đi lại shopping văn minh, bảo đảm an toàn, văn minhhơn, và tôi mong ước những nhà hàng siêu thị Co. op Mart trong tương lai hoàn toàn có thể biến hóa thói quenmua sắm ở những chợ truyền thống cuội nguồn của dân cư. ” Hệ thống nhà hàng siêu thị Coop Mart được phần đông người tiêu dùng tin yêu, tín nhiệmvà đang từng bước vươn ra sở hữu thị trường trong cả nước, đã chứng minh và khẳng định được vịtrí Nhà bán lẻ số 1 tại Việt Nam liên tục năm năm liền ; nằm trong Top 500 Nhàbán lẻ số 1 châu Á – Thái Bình Dương 6 năm liền ( 2004 – 2009 ) theo bầu chọn củaTạp chí Bán lẻ châu Á. Đây là niềm tự hào của mạng lưới hệ thống ẩm thực ăn uống HTX thành phố HồChí Minh và trào lưu HTX Việt Nam. Thời gian tới nỗ lực và thử thách sẽ còn lớnhơn những gì đã trải qua, do đó phải sẵn sàng chuẩn bị đối phó với những dịch chuyển chưa lường hếttrong toàn cảnh hộp nhập, yên cầu phải đồng ý quy luật cạnh tranh đối đầu của thị trường đểtiến lên. Dựa trên truyền thống lịch sử của Đơn vị Anh hùng, Saigon Coop nhất quyết giữ vữnglà quy mô, là hình tượng có tính thuyết phục nhất cho sự tăng trưởng trào lưu HTX cảnước và trào lưu HTX châu Á-Thái Tỉnh Bình Dương. Chiến lược MarketingP1 : ProductCo. opMart đã dữ thế chủ động hợp tác cùng với những doanh nghiệp, đơn vị sản xuất, hợptác xã và nông dân trong việc sản xuất và tiêu thụ những loại sản phẩm hàng tiêu dùng cũngnhư nông sản khác nhau. Không chỉ Co. opMart mà nhiều ẩm thực ăn uống khác nhìn nhận hiệnnay hàng sản xuất trong nước có chất lượng tốt và Chi tiêu hoàn toàn có thể phân phối được khả năngchi tiêu của đa phần người tiêu dùng Việt Nam. Thế nên kế hoạch của Co. opMart là đưahàng Việt vào trong nhà hàng, khuyến khích ngưởi Việt dùng hàng Việt. Phù hợp với nhucầu của người mua trong thị trường tiềm năng là vừa chăm sóc đến chất lượng hàng hoá, vừa yên cầu hàng hoá phải có Ngân sách chi tiêu hài hòa và hợp lý. Co. opMart hướng đến phần lớn là những kháchhàng đã lập mái ấm gia đình và những người mua trẻ, bận rộn với việc làm. Vì vậy, bên cạnh cácsản phẩm truyền thống lịch sử của 1 nhà hàng siêu thị, Co. op Mart còn lan rộng ra mạng lưới hệ thống nhà ăn ngay tạisiêu thị của mình, cũng như phân phối những món ăn đã làm sẵn hoặc đã qua chế biến kháđa dạng và nhiều mẫu mã, mang đến sự lựa chọn thỏa mái cho những bà nội trợ cũng như cáckhách hàng không có nhiều thời hạn nấu nướng cho bữa ăn của mái ấm gia đình. Thủ tục đưa hàng vào bán tại Co. opMart rất rõ ràng và từng chủng loại hànghóa như thực phẩm tươi sống, thực phẩm khô, hàng đồ chơi, vải sợi … phải thỏa mãncác điều kiện kèm theo : Hàng hóa hợp thị hiếu người tiêu dùng, rất đầy đủ pháp luật về chất lượng, vệ sinh bảo đảm an toàn thực phẩm, nhãn mác, vỏ hộp, sản phẩm & hàng hóa đủ để phân phối nhu yếu, có thểgiao hàng nhiều tỉnh thành. Ðể đa dạng hóa nguồn hàng, mẫu sản phẩm, trong đó chú trọng kinh doanh thương mại những sảnphẩm do những đơn vị sản xuất trong nước làm ra, Co. opMart đã tinh lọc 1.000 nhà cungcấp, trong tổng số 2000 nhà mua hàng theo những dạng sỉ, lẻ, gối đầu, ứng trước, giacông, tùy khách mà có chính sách khuyến mại với giá thành linh động … Bộ phận mua hàng vànghiệp vụ mua hàng được chuẩn hóa theo tính năng và chuyên nghiệp trong tinh lọc, xét duyệt chủng loại sản phẩm & hàng hóa, tổ chức triển khai thu mua tận gốc và tiếp đón sản phẩm & hàng hóa từ cáctỉnh, những nhà sản xuất. Thực hiện tốt chủ trương kinh doanh thương mại, trong đó ưu tiên mua hàngcủa doanh nghiệp trong nước, Co. opMart liên tục có 500 nhà cung ứng cho nămngành hàng : hóa phẩm, thực phẩm chế biến công nghệ tiên tiến, vật dụng mái ấm gia đình, may mặc, nhưHTX rau Anh Ðào ( Ðà Lạt ), thủy hải sản Hồ Chí Minh, Agifish, Vissan, Trường An, HappyCook, Việt Tiến, Nhà Bè, Thành Công, Vinamilk, Kinh Ðô, P. / S, v.v. Các nhà cung cấpsẵn sàng hạ giá từ 5 đến 10 %, theo nhu yếu của Co. opMart. Ngoài ra Co. opMart còntriển khai và thực thi có hiệu suất cao kế hoạch giá, kế hoạch sản phẩm & hàng hóa và mua hàngcùng với việc kiến thiết xây dựng những tiêu chuẩn góp vốn đầu tư thiết kế xây dựng những Co. opMart. Co. opMart còn ưutiên những Doanh Nghiệp có chủ trương kinh doanh thương mại năng động, có chủ trương giá tốt cho kháchhàng, ưu tiên hàng sản xuất địa phương … Quy trình mua hàng và trấn áp chất lượng sản phẩm & hàng hóa luôn được chú trọng, với những sản phẩm & hàng hóa thuộc nhóm thực phẩm, việc bảo vệ hạn sử dụng, nhãn sản phẩm & hàng hóa vàthông tin hướng dẫn sử dụng luôn được chăm sóc. Với những loại sản phẩm thực phẩm tươisống và chế biến, Co. opMart chú trọng khai thác nguồn hàng của những nhà sản xuất đạttiêu chuẩn đồng thời tạo ra hàng trăm loại sản phẩm riêng, mang tên thương hiệu Co. opMart, như canh chua gà lá giang, cá rô, lóc kho tộ, mướp đắng, cà chua nhồi thịt, cá bống, cádiêu hồng, lươn om … tương thích bữa ăn mái ấm gia đình trong tuần và cuối tuần, được những bà nộitrợ ưa thích. Khi được hỏi thì có 94 % người mua chăm sóc đến chất lượng loại sản phẩm đượcbán tại siêu thị nhà hàng. Điều này trọn vẹn tương thích với những mong ước của người tiêudùng về những loại thực phẩm có giá thành hài hòa và hợp lý và bảo vệ được về mặt chất lượng. Vì thếnên để bảo vệ sức khỏe thể chất người tiêu dùng, Co. opMart ký hợp đồng với Trung tâm 3, tiếp tục kiểm tra bảo đảm an toàn thực phẩm trong những siêu thị nhà hàng. Triển khai những hoạt độngquảng bá, phát tài liệu, cẩm nang shopping đến tận nhà của hàng chục nghìn khách hàngthân thiết. http://www.tgvn.com.vn/print Content. aspx ? ID = 4123C hính sách chất lượng1. Hệ thống Co. opMart – Nơi shopping đáng đáng tin cậy – Bạn của mọi nhàVới tiềm năng tiềm năng chất lượng : “ sản phẩm & hàng hóa chất lượng, Ngân sách chi tiêu phải chăng, Giao hàng ân cần, luôn mang lại giá trị tăng thêm cho người mua ”. • Hàng hóa đa dạng chủng loại và chất lượng. • Giá cả phải chăng. • Phục vụ ân cần. • Luôn đem lại những giá trị tăng thêm cho người mua. ” Xây dựng tên thương hiệu doanh nghiệp được chúng tôi chăm sóc ngay từ khithành lập Saigon Co-op đến nay. Cách đây 14 năm, Saigon Co-op đã đi đầu trong việchình thành mạng lưới hệ thống siêu thị nhà hàng bán lẻ, và ở góc nhìn ship hàng chu đáo, đem lại quyền lợi chokhách hàng. ” Dẫn lời của bà Thu. 2. Saigon Co. op luôn ưu tiên chọn những loại sản phẩm của nhà phân phối cóchứng chỉ ISO-9000 hoặc một mạng lưới hệ thống quản trị chất lượng tương tự, tối thiểu lànhà sản xuất có hàng Việt Nam chất lượng cao do người tiêu dùng bầu chọn. 3. Saigon Co. op là mái nhà thân yêu của toàn thể cán bộ nhân viên cấp dưới. Mọi hoạt độngcủa Co. opmart luôn hướng đến hội đồng xã hội. Nhằm nâng cao chất lượng Giao hàng quản trị, thiết kế xây dựng hình ảnh Coop Mart nơimua sắm tiện nghi bảo đảm an toàn và thân thiện trải qua việc không ngừng nâng cấp cải tiến góp vốn đầu tư, đổimới trang thiết bị ship hàng kinh doanh thương mại như mạng lưới hệ thống thang máy, thang cuốn, tủ đông, tủlạnh, kho mát, cổng từ chống trộm, thiết bị chống sét Viral, camera quan sát, cảitạo và lắp ráp mới mạng lưới hệ thống đèn tiết kiệm chi phí nguồn năng lượng, mạng lưới hệ thống tủ trữ thực phẩm. Tổngkinh phí góp vốn đầu tư mỗi năm lên đến hàng trăm tỷ đồng. Để bảo vệ vệ sinh an toản thực phẩm, mạng lưới hệ thống Co. opMart thiết lập một bộphận trấn áp xuyên suốt từ trước, trong và sau bán hàng. Bên cạnh đó, định kỳ Hệthống Co. opMart còn ký hợp đồng tư vấn và dịch vụ với những cơ quan chức năng nhưChi cục Tiêu chuẩn thống kê giám sát chất lượng, Trung tâm y tế dự trữ và Trung tâm dịchvụ nghiên cứu và phân tích thí nghiệm triển khai lấy mẫu sản phẩm & hàng hóa nghiên cứu và phân tích những chỉ tiêu lý tính, hóatính và vi sinh. Với mạng lưới hệ thống quản trị chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001 : 2000, chứng từ HACCP công tác làm việc bảo vệ chất lượng và VSATTP, Co. opMart luôn hướngđến tiềm năng bảo vệ sức khỏe thể chất và đem lại bữa ăn ngon cho người tiêu dùng. Với nhân viên cấp dưới của siêu thịNhân viên bán hàng : vui tươi, thân thiện, ân cần, nhã nhặn, trung thực bạn cóthể hỏi hỏi nhân viên cấp dưới về một món hàng hay thực phẩm họ sẽ hướng dẫn một cách cặnkẽ hay đưa ra những lời khuyên đúng đắn. Cũng hoàn toàn có thể tự do lựa chọn sản phẩm & hàng hóa màkhông sợ bị người bán hàng không dễ chịu vì bị mất mở hàng hoặc trả giá quá sát …, đượcngắm thỏa thích và học cách sử dụng những mẫu sản phẩm mới từ những nhân viên cấp dưới bán hàng. Ngoài ra, với bộ đồng phục xanh dương tương thích với tên thương hiệu Co. opMart đã tạo chonhân viên một phong thái chuyên nghiệp, lịch sự và trang nhã. Nhân viên quản trị : phong thái thao tác năng động do sự bổ trợ liên tục nhânsự trẻ giữ những chức vụ chủ chốt, từ Giám Đốc ẩm thực ăn uống, Trưởng, phó phòng chuyên môncho đến thành viên trong Ban Tổng Giám Đốc ( điều này có được nhờ sự sinh ra khá đềuđặn của những Co. opMart, góp thêm phần tạo nên sự năng động trong toàn bộ máy ) ; của việc ” bảo toàn lực lượng ” hay nói cách khác là không bị mất chất xám khi cử người sang cácliên doanh hay đưa đi huấn luyện và đào tạo ở quốc tế. Chính vì điều này sẽ làm cho khách hàngtin tưởng vào mạng lưới hệ thống bán hàng, bởi mạng lưới hệ thống này đã được phản lý bởi những người cóchuyên môn. Với kế hoạch lôi cuốn và có chủ trương đãi ngộ để giữ nhân tài qua việc mạnhdạn trả lương cao theo năng lượng trình độ ; đề bạt cán bộ trẻ qua thử thách và đào tạovào những cương vị quản trị ; khuyến khích lực lượng trẻ tình nguyện đi kiến thiết xây dựng CoopMart tỉnh và có chủ trương khuyến mại ; quan tâm rèn luyện nhân viên cấp dưới mới vừa có tầm vừa cótâm theo tiềm năng lý tưởng của tổ chức triển khai HTX. SaigonCoop tranh thủ sự trợ giúp củaphong trào HTX quốc tế, những chương trình huấn luyện và đào tạo của nhà nước, của những tổ chức triển khai nướcngoài, những trường ĐH và tầm trung kinh tế tài chính tại thành phố, mỗi đợt có 10-15 khoá họcvới tổng số lượt cán bộ nhân viên cấp dưới tham gia từ 500 – 700 người. Đến nay SaigonCoop có2 tiến sỹ, 12 thạc sĩ và hơn 25 % số cán bộ nhân viên cấp dưới tốt nghiệp ĐH. Máy móc thiết bị, ship hàng bán hàng : Máy tính tiền : Hệ thống máy tính tiền hiệnđạiđọc qua mạng lưới hệ thống mã vạch, mỗimặt hàng chỉ được tính trong vài giây, do đó người mua không cần phải chờ đón lâu đểcó được mẫu sản phẩm mà mình mua. Hiện nay, Co. opMartđã tăng cường 2-4 quầy thu ngânphụ cho mỗi nhà hàng siêu thị. Mặt khác, Co. opMart còn sắp xếp một quầy thu ngân riêng chonhững người mua mua dưới 10 mẫu sản phẩm, tăng cường lực lượng xếp hàng vào bao đểthu ngân hoạtđộng nhanh tay hơn, tổ chức triển khai đóng gói sẵn một số ít mẫu sản phẩm, đồng thời bốtrí người điều phối hài hoà lượng người mua thanh toán giao dịch tại những quầy. Máy lạnh : Hệ thống máy lạnh được đặt khắp cả trong ẩm thực ăn uống. Bạn hoàn toàn có thể muasắm bất kể khi nào mà không sợ bị nóng hay bị lạnh, vì nó được lan tỏa khắp những khuvực, quầy bán hàng, tạo không khí mát lạnh, thoải mái và dễ chịu cho người mua. Máy camera : Trong ẩm thực ăn uống, có lắp ráp camera quan sát, sắp xếp nhân viên cấp dưới bảovệ giả làm khách mua hàng trà trộn trong nhà hàng siêu thị, lắp ráp bộ từ bằng nhựa hoặc temchống trộm bằng từ tính đính trên mẫu sản phẩm. Loại bọ từ và tem từ tính này sẽ được mộtcổng từ trấn áp trong khoanh vùng phạm vi phát sóng từ ở khoảng cách 0,9 – 1,5 m, đặt ngay cổng ravào của khu vực hàng tự chọn. Nếu người mua quên giao dịch thanh toán hoặc cất giấu những sảnphẩm có gắn bọ từ – tem từ trong người, khi đi ngang qua cổng từ, còi báo động sẽ kêu “ tít tít ”. Đối với hàng quần áo thường chọn hình thức gắn bọ từ bằng nhựa ( tag ) lên sảnphẩm. Bọ từ nhựa là một miếng nhựa, được giữ bằng một đinh ghim. Muốn tháo bọnhựa ra khỏi mẫu sản phẩm phải dùng đến thiết bị. Riêng những mẫu sản phẩm tiêu dùng khác nhưthực phẩm, hóa mỹ phẩm, chọn cách dán tem từ có hình dán bên ngoài rất giống vớitem của mã hàng, nhưng nếu đưa tay sờ lên mặt tem thì mới thấy cộm vì bên dưới loạitem này có gắn thiết bị cảm ứng từ. Như vậy, người mua hoàn toàn có thể yên tâm về hệ thốngbảo mật, tránh thực trạng trộm cắp làm cho 1 số ít người quan ngại, không dám đi muasắm. Thời gian Giao hàng : Từ 8 giờ sángđến 10 giờ tối ( cả chủ nhật và đợt nghỉ lễ ). Nhưvậy người mua hoàn toàn có thể lựa chọn thời hạn hợp tương thích nhất để đi shopping. Cách trình diễn khu hàng : : Với việc tọa lạc sản phẩm & hàng hóa theo ConceptCo. opMart, sản phẩm & hàng hóa luôn được tọa lạc với tiêu chuẩn : dễ thấy, dễ lấy và dễ chọn mua. Mỗi line hàng đều có bảng hướng dẫn nên rất thuận tiện cho việc quan sát và lựa chọnmua hàng. Xây dựng Concept Coop Mart là mạng lưới hệ thống ý tưởng sáng tạo kinh doanh thương mại và những quyđịnh chuẩn về kinh doanh thương mại nhà hàng Coop Mart làm nền tảng cho việc tăng trưởng chuỗisiêu thị, vừa tăng cường quản trị mua và phân phối tập trung chuyên sâu, đồng thời vẫn phát huytính dữ thế chủ động của giám đốc nhà hàng trong quản lý hoạt động giải trí bán ra và quản trị cán bộnhân viên. Các giải pháp quản trị tiên tiến và phát triển như ISO, HACCP cũng đã được cấp giấychứng nhận. Ứng dụng mạng lưới hệ thống điện toán quản trị mới tổng lực, với kinh phí đầu tư hơn 2 triệu USD, được cho phép nối mạng quản trị chuỗi siêu thị nhà hàng Coop Mart trên toàn nước. Cùng hệthống phân phối lớn của nó với một tên thương hiệu tốt sẽ được khá một trở ngại cho bấtkỳ nhà bán lẻ đến Việt Nam. Tầng trệt : mỹ phẩm, giày dép, hoa quả, thực phẩm từ thực phẩm tươi sốngđếnthực phẩm chế biến, đồ khô, … Còn có những món ăn được chế biến, góp vốn đầu tư nhiều mẫu mã, những bà nội trợ tha hồ lựa chọn cho bữa cơm mái ấm gia đình vừa ngon lại vừa thuận tiện về thờigian. Nếu người mua chưa ăn sáng hoàn toàn có thể lưa chọn một trong những món ăn đã đượcbán sẵn ở tầng này. Tầng 1 : quần áo may sẵn, vải vóc ; hàng điện, điện tử ; dụng cụ phòng bếp, đồ nộithất, hàng nhựa gia dụng … Chưa hết, còn có nhà sách, khu vui chơi cho trẻ nhỏ. Kháchhàng hoàn toàn có thể yên tâm vừa lựa chọn những mẫu áo, vật dụng mái ấm gia đình vừa hoàn toàn có thể cho chúngchơi những game show để chúng khỏi quấy rầy đến những người bên cạnh .. Sản phẩm mang nhãn hàng riêng của mạng lưới hệ thống Co. opMart và những mẫu sản phẩm cómặt trong nhà hàng siêu thị được sản xuất từ những xí nghiệp sản xuất đạt tiêu chuẩn kỹ thuật – chất lượngtheo lao lý của cơ quan quản trị nhà nước, chính nhà hàng chịu nghĩa vụ và trách nhiệm với ngườitiêu dùng để người tiêu dùng yên tâm vào chất lượng sản phẩm & hàng hóa mà mình đã lựa chọn. Bên cạnh đó, trong thời hạn vừa mới qua, Saigon Co. op cũng tập trung chuyên sâu vào hoạt động giải trí kinhdoanh chủ yếu, không góp vốn đầu tư giàn trải ; tăng cường nguồn nhân lực và quản trị chặt chẽnguồn vốn, ngân sách … P2 : priceMục tiêu của Co. opMart là cung ứng loại sản phẩm bán lẻ theo giá sỉ. Trong số20. 000 loại sản phẩm liên tục có trong siêu thị nhà hàng là hàng Việt Nam chất lượng tốt, giá cảphù hợp với mặt phẳng thu nhập chung của xã hội và thậm chí còn không cao hơn những cửahàng tạp hóa. Điều này giúp cho Co. op Mart trở thành “ bạn của mọi nhà ” vì khi đượchỏi thì có đến 97,4 % người tiêu dùng được hỏi chăm sóc đến yếu tố Chi tiêu trong cácsiêu thị. http://www.tgvn.com.vn/printContent.aspx?ID=4123Thế mạnh những loại sản phẩm mang nhãn riêng của Co. opMart là giá cạnh tranh đối đầu vàchất lượng tốt. Viêc đưa ra những nhãn hiêu riêng giúp Co. opMart hoàn toàn có thể triển khai được “ kế hoạch giá rẻ ”. Có thể nói đây là lợi thế cạnh tranh đối đầu giữa những ẩm thực ăn uống với nhau trongnỗ lực lôi cuốn người mua. Một Doanh Nghiệp kinh doanh thương mại trong ngành hàng thực phẩm cho biết, trước đây, khi siêu thị nhà hàng Co. opMart chưa có nhãn hàng riêng cùng mẫu sản phẩm với họ, sảnlượng tiêu thụ của công ty này chiếm 70 %, những nhãn hàng khác 30 %. Nhưng hiện naysản lượng của công ty giảm xuống còn 30 %, những nhãn hàng khác khác 20 %. Sở dĩ có sựchênh lệch mức tiêu thụ khá cao giữa đơn vị sản xuất với Co. opMart là do loại sản phẩm mangnhãn hàng riêng của Co. opMart có giá bán rẻ hơn mẫu sản phẩm cùng loại từ 3 – 20 %. Theobà Phạm Thị Thanh Tuyền, Giám đốc hàng nhãn riêng nhà hàng Co. opMart : “ Lợi thế củaCo. opMart là không mất ngân sách marketing hoặc một số ít phí khác như phí thuê nhân viêntiếp thị như những đơn vị sản xuất khác nên giá bán rẻ hơn. Thế nhưng, lợi thế này vẫn chưađược khai thác đúng mức, ví dụ điển hình như hàng hoá của những công ty thành viên bántrong nhà hàng siêu thị Satra vẫn không rẻ hơn, hoặc có nhiều khuyễn mãi thêm hơn so với nơi khác. Ngaycả với Co. opmart, nhiều nguồn phân phối hàng hoá cho mạng lưới hệ thống này ở những tỉnh vàTP. HCM là khác nhau, nên chưa thể khai thác tốt lợi thế quy mô để có mức giá rẻ hơncho người tiêu dùng ”. Ví dụ loại sản phẩm trứng hiện có ba nhà phân phối chính là Công ty Ba Huân, VĩnhThành Đạt và CP và lúc bấy giờ có thêm nhãn hàng của Co. opMart. Cả bốn loại sản phẩm nàytương đương nhưng giá cả của Co. opMart chỉ 19.000 đồng / vỉ / 10 trứng, trong khi cácnhãn hàng khác là 21.000 đồng ”. Thậm chí, trứng của Vĩnh Thành Đạt – đơn vị chức năng gia côngtrứng cho Co. opMart đóng mác riêng cũng phải cạnh tranh đối đầu về giá với trứng củaCo. opMart. Trong khi đó, việc Co. opMart làm nhãn hàng riêng, theo bà Tuyền giảithích là do “ ẩm thực ăn uống muốn tương hỗ, tiếp sức cho những Doanh Nghiệp đi sau, có thị trường nhỏ ”. Tuynhiên, chủ trương này lại đang là nỗi lo của Công ty Ba Huân – một đối tác chiến lược cung cấphàng lâu năm của Co. opMart. Công ty này mới góp vốn đầu tư hàng chục tỷ đồng để nhập haidây chuyền hiện đại để giải quyết và xử lý trứng gia cầm nên việc bị thu hẹp tỷ suất tại siêu thị nhà hàng có thểdẫn đến dư thừa hiệu suất. Vì vậy, nhiều Doanh Nghiệp ý kiến đề nghị được tự quyết định hành động giá bán đốivới những mẫu sản phẩm cùng loại với hàng thương hiệu riêng của những ẩm thực ăn uống. Không chỉ chịusự cạnh tranh đối đầu về giá, nhiều Doanh Nghiệp cũng san sẻ bức xúc về những bất lợi khi “ cạnh tranh đối đầu ” vớichính nhà phân phối của mình. Ngay cả vị trí trưng bày hàng, nhiều Doanh Nghiệp trình diễn : “ Nhóm thực phẩm, khâu tọa lạc hàng tại nhà hàng chợ giao thương Big C và Metro sòng phẳng hơn vìhọ cho nhà cung ứng thuê hẳn một line riêng với diện tích quy hoạnh giống nhau. Còn 1 số ít siêuthị khác, mẫu sản phẩm của những nhà sản xuất phải chi chít nhau với số lượng ít hơn trêndiện tích rất nhỏ so với hàng của ẩm thực ăn uống ” .
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Thị Trường






