Tiểu luận Lạm phát và biện pháp kiềm chế, kiểm soát lạm phát ở Việt nam hiện nay – Tài liệu text

Tiểu luận Lạm phát và biện pháp kiềm chế, kiểm soát lạm phát ở Việt nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (444.5 KB, 29 trang )

TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ

Nhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học Thương Mại -Trang 1-
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
TIỂU LUẬN
MÔN: KINH TẾ VĨ MÔ
Đề tài:“Lạm phát và biện pháp kiềm chế,
kiểm soát lạm phát ở Việt Nam hiện nay”.
Nhóm thực hiện: Nhóm 10
Lớp: HK5
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ

LỜI NÓI ĐẦU
Dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chình và suy thoái kinh tế toàn cầu
cùng với những tồn tại, yếu kém nội tại của nền kinh tế, trong 2 năm qua nền kinh tế
nước ta đã có những biến động về phương diện kinh tế vĩ mô. Do đó chỉ riêng từ quý
1/2008 đến quý 4/2008 đã có 2 lần thay đổi rất lớn về chính sách và mục tiêu phát triển
kinh tế.
Những lo ngại về nguy cơ lạm phát lại được nhiều người quan tâm trong thời
gian gần đây. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11 tăng tăng 0.55%, cao hơn khá nhiều
so với mức 0.15% của tháng trước. Tính ra 10 tháng đầu năm CPI tăng 5.07%, đây là
mức không cao so với một số năm gần đây. Tuy nhiên, lạm phát đang có dấu hiệu quay
trở lại.
Vừa qua Ngân hàng nhà nước (NHNN) thực hiện những chính sách quyết liệt
như: điều chỉnh lãi suất cơ bản, lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn. Các biện
pháp này có mục đích ngăn chặn nguy cơ về lạm phát và bong bóng tài sản. Quỹ tiền
tệ Quốc tế (IMF) và một số tổ chức cũng đưa ra cảnh báo lạm phát của Việt Nam có
thể lên 2 con số trong năm 2010. Nhiều chuyên gia kinh tế trong nước cũng cảnh báo
những bất ổn vĩ mô do lạm phát cao có thể xảy ra vào năm tới.
Như vậy, ngoài vấn đề tỷ giá thì lạm phát nổi lên như một vấn đề kinh tế vĩ mô

được quan tâm.
Ngoài lời nói đầu và kết luận bài tiểu luận gồm 4 phần chính:
Phần I : Những vấn đề cơ bản về lạm phát
Phần II : Thực trạng và các yếu tố tác động đến lạm phát ở Việt Nam
Phần III : Các biện pháp kiềm chế lạm phát của Chính Phủ
Phần IV : Các giải pháp kiểm soát lạm phát mà NHNN đã thực hiện

Nhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học Thương Mại -Trang 2-
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ

PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LẠM PHÁT
1. Khái niệm
Lạm phát là sự tăng lên liên tục của mức giá trung bình theo thời gian.
Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trung bình hay giảm sức mua của
đồng tiền.
Trong phạm vi toàn cầu, khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự
phá giá tiền tệ so với các loại tiền khác.
2. Diễn biến lạm phát ở Việt Nam trong thời gian qua
Ta có bảng số liệu tỷ lệ lạm phát từ 2002 đến 2010 (Đơn vị %)
Chỉ tiêu 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Tỷ lệ tăng GDP 7.08 7.24 7.7 8.4 8.17 8.48 6.23 5.32 6.7
Tỷ lệ lạm phát 4.0 3.0 9.5 8.4 6.6 12.63 19.89 6.52 10.5
3. Nguyên nhân gây lạm phát
Lạm phát ở Việt Nam do nhiều nguyên nhân như nền kinh tế chủ yếu là nông
nghiệp vốn yếu kém, lạc hậu lại mất cân đối cơ cấu, phụ thuộc nhiều vào yếu tố bên
ngoài như: Vốn đầu tư, nguyên nhiên vật liêu công nghiệp, các dây chuyền sản xuất
tiên tiến cụ thể chúng tôi đi phân tích nguyên nhân gây ra lạm phát trong những năm
gần đây.
* Lạm phát do chi phí đẩy
Do giá của các yếu tố đầu vào tăng cao đặc biệt là giá các yếu tố đầu vào cơ bản

như vốn đầu tư, nguyên nhiên vật liệu, giá xăng dầu, lương thực thực phẩm thiết
yếu “4 tháng đầu năm 2008 so với cùng kỳ năm 2007, giá xăng dầu thế giới đã tăng
51,24%, phôi thép tăng 43%, phân bón tăng 67%, giá ngô tăng 31%, đậu tương tăng
87%, lúa mì tăng 130% ), trong khi đó 70% nhập khẩu của Việt Nam là các mặt hàng
nguyên nhiên vật liệu, máy móc thiết bị phục vụ sản xuất trong nước; nhiều mặt hàng
có tỷ trọng nhập khẩu cao như: xăng dầu (98%), phôi thép (65% – 70%), nguyên liệu
sản xuất thuốc (60%), phụ thuộc hoàn toàn vào giá thế giới”.
* Lạm phát do cầu kéo

Nhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học Thương Mại -Trang 3-
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ

Sự mở rộng mạnh mẽ của nhu cầu chi tiêu, đầu tư tư nhân và công cộng là nhân
tố làm cho tổng cầu tăng nhanh. Giá tăng (theo quy luật cung – cầu).
+ Thị trường đầu tư toàn XH năm 2007 là 493,6 nghìn tỉ chiếm 43% GDP với
số vốn trực tiếp nước ngoài thực tế đạt 6,4 tỉ USD cao hơn 77% so với năm 2006.
+ Chi tiêu ngân sách chính phủ ngày càng lớn. Tổng chi ngân sách nhà nước
năm 2007 là 399,4 nghìn tỉ đồng vựơt khoảng 11,7% so với dự toán năm. Bội chi ngân
sách nhà nước 56,5 nghìn tỉ đồng bằng 4,95% GDP.
* Lạm phát do tiền tệ
Cung ứng lượng tiền quy ước vượt quá mức mà nền kinh tế đòi hỏi, chính sách
tiền tệ được mở rộng trong thời gian dài.
Quản lý tiền mặt kém hiệu quả: – Tính tới cuối T6/2007 lượng tiền mặt trong
lưu thông và tiền gửi ngân hàng ở VN đã tăng 21,1% so với đầu năm.
Cung tiền ở VN tăng mạnh năm 2007 như đã nói ở trên chủ yếu là do vốn nước
ngoài chảy vào tăng đột biến từ đó buộc ngân hàng nhà nước phải đóng vai trò người
mua ngoại tệ cuối cùng và đưa thêm tiền vào lưu thông cùng với chính sách NEO tỉ
giá đồng USD nên ngân hàng nhà nước đã tăng dự trữ ngoại hối từ 11,5 tỉ USD năm
2006 lên 21,6 tỉ USD năm 2007.
* Một số nguyên nhân khác

Do sự tích tụ lạm phát từ những năm trước đó cộng với chính sách kinh tế vĩ
mô của những năm trước chưa triệt để, lạm phát tích tụ và tăng cao vào những năm
2007 – 2008.
Vòng xoáy lạm phát: Do sự tăng lên liên tục của tổng cung và tổng cầu trong
dài hạn nên tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đồng thời kéo theo sự gia tăng không
ngừng của mức giá. Nhưng tổng cung (năng lực sản xuất) tăng chậm hơn so với mức
độ tăng của tổng cầu nên đã đẩy mức giá tăng cao hơn đáng kể.
Do VN gia nhập WTO, đang trong quá trình hội nhập sâu và rộng nên cũng
chịu ảnh hưởng từ nhiều nền kinh tế khác.

Nhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học Thương Mại -Trang 4-
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ

PHẦN II: THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG
ĐẾN LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM
1. Diễn biến lạm phát ở Việt Nam thời gian qua
Trong quá khứ Việt Nam có thời gian phải chịu lạm phát phi mã, với mức sụt
giá của tiền đồng lên đỉnh hơn 700% vào năm 1987. Kể từ năm 1993, lạm phát đã
được khống chế khá tốt và thường dưới 2 con số.
Giai đoạn từ năm 1999 đến 2001 là thời kỳ lạm phát thấp nhất của Việt Nam.
Trong khoảng thời gian này, CPI lần lượt chỉ ở mức 0.1%, -0.6% và 0.8%. Thời kỳ này
gắn liền với giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997 – 1998.
Lạm phát ở Việt Nam bắt đầu tăng cao từ năm 2004, cùng với giai đoạn bùng
nổ của kinh tế thế giới và việc tăng giá của nhiều loại hàng hóa. Năm 2007, chỉ số CPI
tăng đến 12.6% và đặc biệt tăng cao vào những tháng cuối năm.
Năm 2008 là một năm đáng nhớ đối với kinh tế vĩ mô cũng như tình hình lạm
phát ở Việt Nam. CPI đã liên tục tăng cao từ đầu năm, và mức cao nhất của CPI tính
theo năm của năm 2008 đã lên đến 30%. Kết thúc năm 2008, chỉ số CPI tăng 19.89%,
tính theo trung bình năm tăng 22.97%.
Năm 2009, suy thoái của kinh tế thế giới khiến sức cầu suy giảm, giá nhiều

hàng hóa cũng xuống mức khá thấp, lạm phát trong nước được khống chế. CPI năm
2009 tăng 6.52%, thấp hơn đáng kể so với những năm gần đây. Tuy vậy, mức tăng này
nếu so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới lại cao hơn khá nhiều.
Năm 2010, chính phủ đặt mục tiêu kiểm soát CPI cuối kỳ khoảng 7%. Mục tiêu
này có thể không được hoàn thành khi 2 tháng đầu năm CPI đã tăng 3.35%. Ngoài ra,
nền kinh tế hiện nay vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố có thể dẫn đến lạm phát cao trong
những tháng sắp tới.

Nhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học Thương Mại -Trang 5-
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ

Lạm phát và giá cả
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 02/2010 được Tổng cục Thống kê (TCTK)
công bố tăng 1.96% so với tháng trước đó. Đây là mức tăng CPI cao nhất trong vòng
17 tháng qua. Số liệu thống kê này cùng với quyết định điều chỉnh tỷ giá hối đoái, giá
xăng dầu, giá điện, nước, than… Tháng 9/2010 chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng đến
1.31% và tháng 10 tăng 1.05%. Việc điều chỉnh tăng thuế nhập khẩu hơn 111 mặt
hàng từ ngày 23/10/2010, trong đó có nhiều mặt hàng là lương thực, thực phẩm tăng
thêm 5-10%, sẽ ảnh hưởng đến giá thực phẩm trong thời gian tới. Ngoài ra,việc lũ lụt
tại miền Trung liên tục xảy ra cũng phần nào tác động đến giá cả một số mặt hàng thực
phẩm tăng cao trong những tháng cuối năm. Một nhóm hàng cũng thường có xu hướng
sẽ tăng giá về cuối năm khi nhu cầu tăng cao là vật liệu xây dựng nhiều khả năng cũng
sẽ là nhân tố tác động mạnh đến CPI tháng cuối năm. Tuy nhiên,việc nhóm hàng
nguyên vật liệu xây dựng sẽ tăng ở mức nào còn tùy thuộc vào giá cả trên thế giới và
việc biến động của tỷ giá. Tính đến tháng 10,CPI 10 tháng đã là 7,58% .

Nhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học Thương Mại -Trang 6-
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ

* Như vậy, lạm phát cả năm 2010 sẽ là 11,75%, ứng với CPI tháng 12/2010 so

với tháng 12/2009, vượt qua mức chỉ tiêu kế hoạch về lạm phát đặt ra cho năm nay.
Lạm phát bình quân năm là 9,19%.
Diễn biến CPI các tháng trong 2 năm 2009 – 2010

Nhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học Thương Mại -Trang 7-
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ

Có thể nói năm 2010 lạm phát có những diễn biến phức tạp. Từ đầu năm đến
cuối tháng 8 chỉ số giá tiêu dùng diễn biến theo chiều hướng ổn định ở mức tương đối
thấp, trừ hai tháng đầu năm CPI ở mức cao do ảnh hưởng bởi những tháng Tết. Tuy
nhiên, lạm phát đã thực sự trở thành mối lo ngại từ tháng 9 khi CPI bắt đầu xu hướng
tăng cao, đến hết tháng 11 CPI tăng tới 9,58%
Lạm phát và giá cả của năm 2010 tăng cao xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Thứ
nhất, sự phục hồi của nền kinh tế làm cho nhu cầu các loại hàng hóa dịch vụ đều tăng
cao, cộng với thiên tai, lũ lụt ở các tỉnh miền Trung lại càng làm tăng nhu cầu về lương
thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng Thứ hai, giá của một số mặt hàng nhập khẩu của
nước ta trên thị trường thế giới tăng lên do sự phục hồi của kinh tế toàn cầu làm tăng
chi phí sản xuất của nhiều doanh nhiệp. Thứ ba, việc điều chỉnh tỷ giá làm đồng tiền
nội tệ mất giá làm cho chi phí nhập khẩu tăng lên đẩy mặt bằng giá nhiều hàng hóa
tăng theo. Bên cạnh đó những nguyên nhân cơ bản gây ra lạm phát cao ở Việt Nam
những năm trước vẫn còn. Đó là sự thiếu kỷ luật tài chính trong đầu tư công và trong
hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và tập đoàn lớn. Do vậy, kích cầu
đầu tư thông qua nới lỏng tín dụng cho các DNNN và tập đoàn cùng với thiếu sự thẩm
định và giám sát thận trọng cũng góp phần kích hoạt cho lạm phát trở lại. Sự điều
chỉnh tăng lãi suất cơ bản của ngân hàng nhà nước và sự gia tăng lãi suất cho vay của
các ngân hàng thương mại ở những tháng cuối năm 2010 sẽ tiếp tục gây sức ép làm
tăng lạm phát không chỉ những tháng cuối năm mà có thể cả trong năm 2011.
2. Các yếu tố tác động đến lạm phát ở Việt Nam
* Xét về nguyên nhân chủ quan, lạm phát của ta đã được tích tụ nhiều năm ở 3
lĩnh vực chủ yếu:

Cơ cấu kinh tế đang bộc lộ những vấn đề không hợp lý với những biểu hiện cụ
thể như đầu tư dàn trải, lượng tiền lớn tung ra lưu thông nhưng hàng hoá sản xuất ra
không tương xứng, quan hệ cung cầu hàng-tiền bị phá vỡ. Nhập siêu liên tục tăng với
số lớn làm cho cán cân thương mại, cán cân thanh toán ngày càng thâm hụt. Đây là
nguyên nhân sốc gây ra lạm phát. Về chính sách tài khoá trong vòng 10 năm liên tục,
chúng ta bội chi ngân sách so với GDP ở mức cao 5%, năm 2007 là 5,8% cộng với
tình trạng thất thu ngân sách không được giải quyết triệt để và chi hành chính không

Nhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học Thương Mại -Trang 8-
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ

được kiểm soát chặt chẽ, gây lãng phí, thất thoát. Đây cũng là một kênh gây áp lực lạm
phát quan trọng.
Chính sách tiền tệ mà biểu hiện cụ thể là chính sách tín dụng, quản lý ngoại hối
và thực hiện các công cụ của nghiệp vụ thị trường mở điều hành không nhuần nhuyễn,
còn những bất cập…Tất cả những hạn chế này không những làm cho nhiều giải pháp
chống lạm phát đúng không được triển khai có kết quả mà còn gây ra tình trạng khắc
phục lạm phát chậm, thậm chí có lĩnh vực còn làm cho lạm phát tăng lên.
Lâu nay, khi xác định yếu tố và giải pháp kiềm chế lạm phát, nhiều người vẫn
nhấn mạnh đến yếu tố tiền tệ – tín dụng. Điều đó không sai, nhưng tiền tệ – tín dụng
thường là tác nhân và cũng là sự bộc lộ, là biểu hiện của lạm phát (sự mất giá của đồng
tiền), còn nguyên nhân sâu xa chính là đầu tư không có hiệu quả, chi tiêu vượt số làm
ra, bội chi ngân sách quá cao. Vì vậy, thu – chi ngân sách là một kênh quan trọng, cần
được quan tâm nhiều hơn. Cùng với việc tăng thu, giảm bội chi, cần phải quan tâm tới
tiết kiệm chi đầu tư công, chi tiêu công.
* Ngoài ra sự gia tăng giá cả và chi phí của các nhân tố “đầu vào”
Từ đầu năm 2010, giá một số mặt hàng chủ chốt tăng giảm thất thường mà chủ
yếu là tăng lên (như xăng đã tăng thêm từ 550 – 590đ/lít từ ngày 21/2/2010, điện tăng
6.8% từ 1/3/2010, kể cả giá than và cả giá tàu hỏa, tiền lương tăng từ 1/5/2001), có thể
sẽ tác động mạnh tới CPI năm 2010 của Việt Nam (đến đầu tháng 6/2010, tuy giá xăng

có giảm 500đ/lít, do giá dầu trên thị trường thế giới giảm, nhưng dường như các mặt
hàng khác không giảm hoặc giảm không đáng kể). Mặt khác, do tác động của chính
sách tài chính – tiền tệ, nên các NHTM vẫn tìm cách tăng lãi suất huy động và cho vay,
kết hợp với Nhà nước có chủ trương bãi bỏ các khoản miễn giảm nghĩa vụ tài chính
cho doanh nghiệp, tăng thu thuế (dự kiến thuế tài nguyên), những điều nàysẽ ít nhiều
làm tăng chi phí sản xuất “đầu vào”, do đó tăng giá đầu ra các hàng hóa và dịch vụ
cung ứng từ nguồn trong nước.

Nhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học Thương Mại -Trang 9-
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ

Nhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học Thương Mại -Trang 10-
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ

PHẦN III: CÁC BIỆN PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT CỦA
CHÍNH PHỦ
1. Thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ động, linh hoạt trong việc sử dụng các công
cụ chính sách tiền tệ theo nguyên tắc thị trường, kiểm soát chặt chẽ tổng phương tiện
thanh toán và tổng dư nợ tín dụng nhưng phải bảo đảm tính thanh khoản của nền kinh
tế và hoạt động của các ngân hàng, tổ chức tín dụng, tạo điều kiện cho sản xuất hàng
hoá và xuất khẩu phát triển.
Sử dụng linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ để giảm dần lãi suất huy động
theo hướng thực hiện chính sách lãi suất thực dương. Tăng cường kiểm soát và giám
sát chặt chẽ hoạt động của các ngân hàng thương mại để bảo đảm việc tuân thủ đúng
các quy định về huy động, cho vay và chất lượng tín dụng. Kịp thời phát hiện, xử lý
các vi phạm theo đúng quy định của pháp luật để giảm thiểu rủi ro trong hoạt động
ngân hàng.
2. Kiểm soát chặt chẽ, nâng cao hiệu quả chi tiêu công

Điều hành chính sách tài khóa theo hướng tiết kiệm chi tiêu thường xuyên, nâng
cao hiệu quả vốn đầu tư từ ngân sách; cắt giảm đầu tư công và chi phí thường xuyên
của các cơ quan sử dụng ngân sách, kiểm soát chặt chẽ đầu tư của các doanh nghiệp
nhà nước, cố gắng giảm tỷ lệ thâm hụt ngân sách. Đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước
và đầu tư của doanh nghiệp nhà nước hiện chiếm khoảng 45% tổng đầu tư xã hội. Cắt
giảm nguồn đầu tư này sẽ làm giảm áp lực về cầu, giảm nhập siêu, góp phần nâng cao
hiệu quả của nền kinh tế. Chính phủ sẽ quy định cụ thể tỷ lệ vốn đầu tư và chi phí hành
chính phải cắt giảm và yêu cầu các bộ, địa phương xác định các công trình kém hiệu
quả, các công trình chưa thực sự cần thiết để có sự điều chỉnh thích hợp. Điều này sẽ
được thực hiện một cách kiên quyết ngay trong việc phân bổ lại và cân đối nguồn vốn.
Cũng trên tinh thần đó, Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Chủ tịch UBND các
tỉnh, thành phố với tư cách là đại diện chủ sở hữu nhà nước, rà soát chặt chẽ các hạng
mục đầu tư của doanh nghiệp nhà nước, kiên quyết cắt bỏ các công trình đầu tư kém

Nhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học Thương Mại -Trang 11-
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ

hiệu quả. Đồng thời, tạo điều kiện và tập trung vốn cho những công trình sắp hoàn
thành, những công trình đầu tư sản xuất hàng hoá thuộc mọi thành phần kinh tế đẩy
nhanh tiến độ, sớm đưa vào sản xuất.
3. Tập trung sức phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ,
bảo đảm cân đối cung cầu về hàng hóa.
Tập trung sức phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, khắc phục nhanh
hậu quả của thời tiết và dịch bệnh để tăng sản lượng lương thực, thực phẩm. Hiện nay,
tiềm năng tăng trưởng của nước ta còn rất lớn, nhất là khi Việt Nam đã là thành viên
đầy đủ của Tổ chức Thương mại thế giới, đầu tư nước ngoài và đầu tư tư nhân tăng
mạnh, thị trường xuất khẩu được mở rộng, vì vậy, phát triển sản xuất là giải pháp gốc,
tạo hiệu quả nhiều mặt, vừa tăng nguồn cung cho thị trường trong nước và xuất khẩu,
góp phần kiềm chế lạm phát, giảm nhập siêu, vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, lại
không gây phản ứng phụ. Triển khai việc tu bổ các công trình hồ chứa, đê điều, công

trình thủy lợi nhằm chủ động đối phó với thiên tai trong mùa bão, lũ sắp tới để đảm
bảo an toàn lao động cho sản xuất và đời sống.
Để thực hiện yêu cầu này, Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho các bộ trưởng, chủ
tịch UBND các tỉnh và thành phố chỉ đạo quyết liệt, kịp thời tháo gỡ các khó khăn,
vướng mắc về vốn, về thị trường, về thủ tục hành chính, thúc đẩy sản xuất phát triển.
Đồng thời, có trách nhiệm cùng Chính phủ kiềm giữ giá cả các mặt hàng thiết yếu,
như: lương thực, thuốc chữa bệnh, xăng dầu, sắt thép, xi măng, phân bón, Chủ động
đề ra và áp dụng phương án khắc phục tình trạng thiếu điện và bảo đảm điện cho sản
xuất.
4. Đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu, giảm nhập siêu.
Bộ Công Thương chủ trì đề xuất các giải pháp cải cách thủ tục hành chính liên
quan đến hoạt động xuất khẩu để giảm chi phí cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao
khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam đi đôi với việc áp dụng các hàng
rào kỹ thuật và các biện pháp nhập khác phù hợp với các cam kết quốc tế của nước ta
để giảm nhập siêu, kể cả việc tăng thuế nhập khẩu những mặt hàng không thiết yếu.
Hỗ trợ công tác xúc tiến thương mại đối với hàng xuất khẩu; đẩy mạnh hoạt động xúc
tiến tại các thị trường truyền thống và mở rộng thị trường mới để tăng xuất khẩu. Tăng

Nhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học Thương Mại -Trang 12-
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ

cường các giải pháp khuyến khích sản xuất trong nước để thay thế hàng nhập khẩu,
thúc đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ và du lịch. Phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn để đề xuất cơ chế, chính sách bảo đảm nguồn cung lương thực, thực
phẩm trên thị trường nội địa, bảo đảm an ninh lương thực và kiềm chế sự tăng giá quá
mức của nhóm hàng này.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá phù
hợp với chủ trương đẩy mạnh xuất khẩu. Có cơ chế và chỉ đạo các ngân hàng thương
mại mua hết ngoại tệ cho các doanh nghiệp xuất khẩu, xử lý kịp thời các ách tắc về tín
dụng, đáp ứng nhu cầu vay vốn hợp lý cho xuất khẩu.

Bộ Tài chính chủ động, linh hoạt trong việc sử dụng công cụ thuế để tăng thuế
xuất khẩu ở mức hợp lý đối với than, dầu thô. Điều chỉnh tăng thuế nhập khẩu, thuế
tiêu thụ đặc biệt ở mức hợp lý đối với một số mặt hàng tiêu dùng không thiết yếu như:
ô tô nguyên chiếc, linh kiện lắp ráp ô tô dưới 12 chỗ ngồi, một số mặt hàng điện tử,
điện lạnh, xe và linh kiện lắp ráp xe hai bánh gắn máy, rượu, bia để thực hiện mục tiêu
giảm nhập siêu nhưng vẫn bảo đảm phù hợp với cam kết hội nhập, áp dụng các hàng
rào kỹ thuật và các biện pháp khác cần thiết, phù hợp với các cam kết quốc tế để hạn
chế các mặt hàng thuộc diện không khuyến khích nhập khẩu.
5. Triệt để thực hành tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dung.
Hiện nay, tình trạng lãng phí trong sản xuất và tiêu dùng diễn ra khá phổ biến ở
các cơ quan, đơn vị. Tiềm năng tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng là rất lớn. Vì vậy,
Chính phủ yêu cầu các cơ quan nhà nước cắt giảm 10% chi tiêu hành chính, các doanh
nghiệp phải rà soát tất cả các khoản chi nhằm hạ giá thành và phí lưu thông. Chính phủ
kêu gọi mọi người, mọi nhà triệt để tiết kiệm tiêu dùng, nhất là nhiên liệu, năng lượng.
Đây là giải pháp vừa có tác dụng giảm sức ép về cầu, giảm nhập siêu, vừa góp phần
nâng cao hiệu quả của cả nền sản xuất xã hội.
6. Tăng cường công tác quản lý thị trường chống đầu cơ buôn lậu và gian
lận thương mại, kiểm soát việc chấp hành pháp luật nhà nước về giá.
Tăng cường công tác quản lý thị trường, kiểm soát việc chấp hành pháp luật
nhà nước về giá. Kiên quyết không để xảy ra tình trạng lạm dụng các biến động trên
thị trường để đầu cơ, nâng giá, nhất là các mặt hàng thiết yếu cho sản xuất và tiêu

Nhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học Thương Mại -Trang 13-
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ

dùng, như: xăng dầu, sắt thép, xi măng, thuốc chữa bệnh, lương thực, thực phẩm…
ngăn chặn tình trạng buôn lậu qua biên giới, đặc biệt là buôn lậu xăng dầu, khoáng
sản.
Các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phải thường xuyên kiểm tra giá
bán tại các mạng lưới bán lẻ và các đại lý bán lẻ của doanh nghiệp mình. Chính phủ đã

chỉ đạo các tổng công ty nhà nước phải gương mẫu đi đầu trong việc thực hiện yêu cầu
này và chịu trách nhiệm trước Chính phủ về hoạt động của hệ thống bán lẻ và đại lý
bán lẻ của doanh nghiệp. Chính phủ cũng yêu cầu các hiệp hội ngành hàng tham gia
tích cực, ủng hộ các chủ trương và giải pháp bình ổn thị trường, giá cả.
7. Tăng cường các biện pháp hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất của nhân
dân, mở rộng việc thực hiện các chính sách về an sinh xã hội.
Trước tình hình giá cả tăng cao, ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân, nhất là
vùng nghèo, hộ nghèo, vùng bị thiên tai, người lao động có thu nhập thấp. Chính phủ
đã chủ trương mở rộng các chính sách về an sinh xã hội.
Chính phủ quyết định tăng 20% mức lương tối thiểu cho người lao động thuộc
khối cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội
từ ngày 1 tháng 1 năm 2008. Chính phủ quy định điều chỉnh mức lương tối thiểu theo
hướng tăng lên đối với lao động Việt Nam làm việc cho doanh nghiệp vốn đầu tư nước
ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại
Việt Nam, lao động làm việc ở công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại,
hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động.
Riêng với người lao động đã qua học nghề (kể cả lao động do doanh nghiệp tự
dạy nghề), mức lương tối thiểu quy định cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu
vùng. Ngoài ra, khoảng 1,8 triệu người về hưu và người hưởng trợ cấp bảo hiểm xã
hội đã được tăng lương 20%, hơn 1,5 triệu người có công đã được điều chỉnh trợ cấp
lên 20% so với mức chuẩn hiện hành.
Mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 289/QĐ-TTg về một
số chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách, hộ nghèo, hộ
cận nghèo và ngư dân. Theo đó, thực hiện cấp bằng tiền tương đương 5 lít dầu
hoả/năm (dầu thắp sáng) cho các hộ là đồng bào dân tộc thiểu số, chính sách và hộ

Nhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học Thương Mại -Trang 14-
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ

nghèo ở những nơi chưa có điện, điều chỉnh mức hỗ trợ mua bảo hiểm y tế cho người

nghèo lên 130.000 đồng/người/năm; hỗ trợ 50% mệnh giá thẻ bảo hiểm y tế đối với
thành viên thuộc hộ cận nghèo tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện; hỗ trợ ngư dân mua
mới, đóng mới hay thay máy tàu sang loại tiêu hao ít nhiên liệu hơn; hỗ trợ về kinh phí
và bảo hiểm tai nạn cho thuyền viên làm việc theo hợp đồng trên các tàu cá, tàu dịch
vụ; hỗ trợ về dầu cho ngư dân là chủ sở hữu tàu đánh bắt hải sản hoặc tàu cung ứng
dịch vụ cho hoạt động khai thác hải sản.
Chính phủ quyết định giữ ổn định mức thu học phí, viện phí và tiếp tục cho sinh
viên, học sinh đại học, cao đẳng, học nghề có hoàn cảnh khó khăn được vay ưu đãi để
học tập. Tiếp tục xuất gạo dự trữ quốc gia cấp không thu tiền cho hộ đồng bào bị thiên
tai, thiếu đói. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện các chương trình mục tiêu
quốc gia, các giải pháp hỗ trợ khác đối với các vùng khó khăn, vùng bị thiên tai. Điều
quan trọng cần chú ý là phải xây dựng cơ chế và kiểm tra việc thực thi, bảo đảm nguồn
hỗ trợ của Nhà nước đến đúng đối tượng, không bị thất thoát, tham nhũng.
8. Đẩy mạnh công tác thông tin và tuyên truyền.
Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức chỉ đạo công tác thông tin tuyên truyền
nhằm tạo sự đồng thuận cao trong tất cả các cấp, các ngành, địa phương, doanh nghiệp
và trong các tầng lớp nhân dân để thực hiện các mục tiêu và giải pháp đã đề ra nhằm
đưa nền kinh tế vượt qua khó khăn, phát triển ổn định.
Nhiệm vụ đặt ra là rất nặng nề, khó khăn thách thức rất gay gắt nhưng thời cơ,
thuận lợi và tiềm năng tăng trưởng của nền kinh tế nước ta còn rất lớn và rất cơ bản.
Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan
thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn
cứ chức năng, nhiệm vụ được giao và mục tiêu, các giải pháp trên, có kế hoạch tổ chức
thực hiện ngay trong tháng 4 năm 2008.
Các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin chính xác, ủng hộ các chủ trương,
chính sách của Nhà nước trên lĩnh vực nhạy cảm này, tránh những thông tin sai sự thật
có tính kích động, gây tâm lý bất an trong xã hội.

Nhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học Thương Mại -Trang 15-
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ

PHẦN IV: CÁC GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT LẠM PHÁT
MÀ NHNN ĐÃ THỰC HIỆN
Trước việc lạm phát tăng quá cao ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của
dân chúng, NHNN đã thực hiện các biện pháp thắt chặt tiền tệ với mong muốn nhanh
chóng đưa chỉ số giá tiêu dùng giảm xuống, bao gồm: tăng Dự trữ bắt buộc (DTBB) 2
lần từ 5%-10%-11% đối với VNĐ và từ 8%-10%-11% đối với ngoại tệ, đồng thời mở
rộng kỳ hạn tiền gửi phải thực hiện DTBB từ <24 tháng thành tất cả các kỳ hạn; Tăng
tất cả các mức lãi suất cơ bản từ 8,25%-8,75%, lãi suất tái cấp vốn từ 6,5%-7,5%, lãi
suất tái chiết khấu từ 4,5%-6%; liên tục hút tiền về trên Thị trường mở; NHNN phát
hành tín phiếu bắt buộc khoảng trên 20 nghìn tỷ đồng bắt đầu từ 19/3/2008 với kỳ hạn
12 tháng, lãi suất 7,58%; Tiếp tục thực hiện chuyển khoảng 50 nghìn tỷ đồng từ tiền
gửi kho bạc về Ngân hàng Nhà nước; Trong quý IV/2007, NHNN thực hiện hạn chế
tối đa mua ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng để hạn chế tổng phương tiện thanh
toán tăng cao; Thắt chặt cho vay chứng khoán ở mức 3%/tổng dư nợ, sau đó tiếp tục
kiểm soát mức cho vay đầu tư chứng khoán không vượt quá 20% vốn điều lệ, đồng
thời tăng hệ số rủi ro đối với cho vay đầu tư chứng khoán từ 150% lên 250% theo
Quyết định 03 ngày 1/2/2008
Tóm lại Chính phủ đã có những quyết sách đúng hướng tập trung vào năm khu
vực then chốt nhất, cấp bách nhất hiện nay đó là: áp dụng các biện pháp đồng bộ cả về
cơ chế chính sách và tín dụng nhằm ổn định thị trường bất động sản vốn có nguy cơ
ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống ngân hàng; các biện pháp vực dậy thị trường
chứng khoán, củng cố lòng tin của công chúng và các nhà đầu tư vào khả năng giải
quyết các vấn đề tài chính của Chính phủ theo nguyên tắc thị trường; củng cố và tăng
cường tính thanh khoản của các ngân hàng thương mại; giảm bớt sức ép chi phí sản
xuất vốn đang rất căng thẳng của các doanh nghiệp, bao gồm kiểm soát giá đầu vào,
giá độc quyền, từng bước giảm lãi suất cho vay theo đà giảm lạm phát, đẩy mạnh mua
ngoại tệ cho doanh nghiệp xuất khẩu và các nhà đầu tư nước ngoài; có chính sách cụ
thể kể cả chính sách tín dụng nhằm phục hồi và phát triển sản xuất nông nghiệp, tăng

Nhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học Thương Mại -Trang 16-
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ

cung về lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng thiết yếu, tiến tới ổn định giá cả các
mặt hàng này, coi đây là mục tiêu quan trọng nhất của tiến trình chống lạm phát
1. Chính sách tiền tệ là một trong những công cụ chủ yếu
Dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chình và suy thoái kinh tế toàn cầu
cùng với những tồn tại, yếu kém nội tại của nền kinh tế, trong 2 năm qua nền kinh tế
nước ta đã có những biến động về phương diện kinh tế vĩ mô.
Do đó chỉ riêng từ quý 1/2008 đến quý 4/2008 đã có 2 lần thay đổi rất lớn về chính
sách và mục tiêu phát triển kinh tế: Đứng trước áp lực lạm phát, mà dấu hiệu rõ nét từ
Quý 4/2007, cùng với tác động tiêu cực,do gia tăng đột biến giá cả một số hàng hóa
trên thị trường thế giới, tháng 3.2008 chính phủ đã chuyển mục tiêu và chính sách từ
sự theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao sang chính sách ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn
định kinh tế vĩ mô với 8 nhóm giải pháp. Kết quả từ tháng 6.2008 chỉ số CPI của nền
kinh tế đã có xu hướng giảm dần và kinh tế vĩ mô có dấu hiệu ổn định hơn. Nhưng sau
15.9.2008, thời điểm thực sự nổ ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, cùng với sự
suy thoái khá sâu về kinh tế, đã tác động rất tiêu cực đến nhiều lãnh vực trong hoạt
động kinh tế của nước ta và từ đầu quý 4/2008 nền kinh tế có dấu hiệu thiểu phát do
sức cầu giảm.Một lần nữa mục tiêu và chính sách kinh tế phải thay đổi: chuyển từ ưu
tiên kiềm chế lạm phát sang ngăn chặn suy giảm kinh tế, kích cầu đầu tư và tiêu dùng
với 5 nhóm giải pháp đang thực hiện đến nay.
Có thể nói trong vòng chưa đầy một năm nền kinh tế đã có 2 bước ngoặt về sử
dụng chính sách kinh tế vĩ mô để thích nghi với tình hình cụ thể, trong đó có thể nói
vai trò quyết định là sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ. Điểm qua vai trò của
chính sách tiền tệ đã thực thi trong 2 bước ngoặt trên để qua đó làm rõ vai trò của nó
trong giai đoạn sau thời kỳ suy giảm.
1.1. Lý luận và thực tiễn sử dụng chính sách tiền tệ như một trong những
công cụ chủ yếu để điều tiết kinh tế vĩ mô:
Về lý thuyết, kinh tế vĩ mô thường tập trung vào 4 mục tiêu chính:

(1) Tốc độ tăng trưởng kinh tế phản ánh qua tốc độ tăng trưởng GDP hay GNP
cùng với chỉ tiêu GDP/người vào những mốc thời gian nhất định. Đây là mục tiêu bao
trùm nhất của kinh tế vĩ mô phản ảnh chung nhất về thành tựu phát triển của một nền

Nhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học Thương Mại -Trang 17-
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ

kinh tế. Tuy chỉ báo này chưa phản ảnh đầy đủ chất lượng của một nền kinh tế, nhưng
luôn luôn là chỉ báo quan trọng nhất để đánh giá sự thành công hay thất bại của một
nền kinh tế.
(2) Kiểm soát giá cả thông qua chỉ báo CPI hay thường nói là kiểm soát lạm
phát là chỉ báo quan trọng nhất phản ảnh tính ổn định của kinh tế vĩ mô. Chỉ báo này
còn được sử dụng như một công cụ giải quyết mối quan hệ giữa mục tiêu tăng trưởng
kinh tế với an sinh xã hội.
(3) Tạo việc làm mới cho xã hội, kiểm soát tỷ lệ thất nghiệp là chỉ báo vừa phản
ảnh tình trạng của nền kinh tế, vừa phản ảnh tính ổn định về mặt an sinh xã hội. Thông
thường ở các nước đây là chỉ báo rất quan trọng không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà còn
có ý nghĩa chính trị phản ánh năng lực quản lý điều hành của một chính phủ.
(4) Tăng xuất khẩu ròng (lấy kim ngạch xuất khẩu – kim ngạch nhập khẩu);
nhất là đối với những nền kinh tế hướng về xuất khẩu.
Bốn mục tiêu nêu trên được sử dụng khá phổ biến ở các nước như là những
mục tiêu cơ bản của kinh tế vĩ mô. Những mục tiêu này cũng chính là những sản phẩm
đầu ra của quan hệ tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế. Vai trò của nhà nước thông
qua các chính sách và giải pháp kinh tế để tác động đến tổng cung và tổng cầu nhằm
tạo được “đầu ra” theo ý muốn, với nguyên tắc: nhà nước không tác động trực tiếp vào
chủ thể tạo cung hay tạo cầu, mà tác động vào thị trường (sự vận động của tổng cung
và tổng cầu được xem như “hộp đen”) và chính thị trường sẽ tác động đến các chủ thể
của nền kinh tế (người sản xuất, người tiêu dùng). Để thực hiện 4 mục tiêu nêu trên,
nhà nước thường sử dụng 4 nhóm chính sách hay còn gọi là các nhóm công cụ điều
tiết kinh tế vĩ mô:

– Chính sách tài khóa bao gồm các chính sách thuế và chi tiêu của chính phủ.
Đây là những chính sách quan trọng nhất vì nó không chỉ tác động đến tổng cung và
tổng cầu của nền kinh tế mà còn có ý nghĩa dẫn dắt, định hướng thị trường. Chính sách
tài khóa thường rất linh hoạt để điều chỉnh kịp thời các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Ví dụ
chính sách tăng thuế để hạn chế tiêu dùng.
– Nhóm các chính sách tiền tệ được ngân hàng trung ương sử dụng để điều tiết
thị trường tài chính, mà trọng tâm là thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát ổn định giá

Nhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học Thương Mại -Trang 18-
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ

cả. Thông thường chính sách tiền tệ có ảnh hưởng mạnh nhất đến điều chỉnh tổng cầu
của nền kinh tế thông qua các công cụ như: lãi suất, hối đoái,dự trữ bắt buộc, tái chiết
khấu, các nghiệp vụ của thị trường mở…
– Chính sách chi tiêu nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng và
điều tiết khối cầu của nền kinh tế. Chính sách này được sử dụng thường xuyên trong
trường hợp nền kinh tế ở trong tình trạng lạm phát hoặc giảm phát.
– Chính sách ngoại thương nhằm điều chỉnh quan hệ xuất nhập khẩu, bảo đảm
mục tiêu tăng xuất khẩu ròng; đồng thời cũng điều tiết tổng cung và tổng cầu nội địa
của nền kinh tế.
Bốn nhóm công cụ chính sách nêu trên tùy theo tính chất của một nền kinh tế
và trong mỗi giai đoạn nhất định được điều chỉnh nhằm bảo đảm phục vụ có hiệu quả
cho các mục tiêu kinh tế vĩ mô.
Mục tiêu và công cụ chính sách kinh tế vĩ mô được khái quát theo sơ đồ dưới
đây:

Nhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học Thương Mại -Trang 19-
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ

1.2. Thực tiễn sử dụng công cụ chính sách tiền tệ ở nước ta

Từ sự phân tích lý thuyết như trên đối chiếu với thực tiễn ở nước ta cho thấy,
trong 2 năm qua Chính phủ đã sử dụng khá linh hoạt các công cụ chính sách kinh tế vĩ
mô để điều chỉnh các mục tiêu kinh tế-xã hội, đặc biệt là chính sách tài khóa và chính
sách tiền tệ, cụ thể như sau:
+ Trong năm 2008, để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện an
sinh xã hội, trong 8 nhóm giải pháp thực hiện từ tháng 3 năm 2008, thì nổi bật và có
tác dụng nhanh nhất là chính sách tiền tệ. Với tình hình lạm phát cao (trên 2%/tháng)
Chính phủ thực hiện chính sách siết chặt tiền tệ, thông qua các công cụ của Ngân hàng
TW như tăng lãi xuất cơ bản, tăng dự trữ bắt buộc đối với ngân hàng thương mại, thực
hiện tín phiếu bắt buộc đối với một số tổ chức tín dụng chủ yếu, hạn chế việc chiết
khấu các loại giấy tờ có giá nhằm kéo giảm tốc độ tăng dư nợ tín dụng của các ngân
hàng thương mại, giảm tổng cung tiền trong lưu thông dẫn đến giảm tổng cầu của
nền kinh tế, tạo sự thăng bằng mới trong quan hệ giữa Tổng cung – Tổng cầu. Khi một
nền kinh tế lâm vào tình trạng lạm phát, thì có nhiều nguyên nhân, bao gồm trực tiếp
và gián tiếp, nhưng luôn luôn được thể hiện qua tiền tệ, nên “toa thuốc tiền tệ” có tác
dụng nhanh nhất.
+ Từ đầu năm 2009, nền kinh tế nước ta có tốc độ tăng trưởng suy giảm khá
mạnh (GDP quý 1/2008 tăng 7,4% nhưng quý 1/2009 chỉ còn 3,1%), mục tiêu kinh tế
vĩ mô là ngăn chặn suy giảm, nên phải áp dụng các giải pháp để tăng tổng cầu của nền
kinh tế. Một lần nữa chính sách tiền tệ được sử dụng như công cụ chủ yếu để phục vụ
mục tiêu kinh tế. Trong 5 nhóm giải pháp chính phủ thực thi từ tháng 12/2008 đến nay,
thì nổi bật vẫn là việc sử dụng công cụ của chính sách tiền tệ như: nới lỏng chính sách
tín dụng, hạ lãi xuất cơ bản, hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với ngân hàng thương mại, trả
nợ tín phiếu bắt buộc, tái chiết khấu và tái cấp vốn qua nghiệp vụ thị trường mở, mở
rộng biên độ tỷ giá VND để kích thích sự gia tăng tổng cầu của nền kinh tế, qua đó
làm tăng cả tổng cung. Để thực hiện gói kích thích kinh tế với quy mô 8 tỷ USD, mà
chính phủ công bố, thì cho đến nay việc thực hiện bù lãi xuất 4% cho các doanh
nghiệp thuộc đối tượng vay vốn lưu động vẫn là chính sách có nhiều tác dụng nhất.

Nhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học Thương Mại -Trang 20-

TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ

+ Năm 2010: chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2010 đã tăng 1,05%. So với
tháng 12/2009, CPI tháng 10 tăng 7,58%, chỉ để lại khoảng hẹp 0,42% cho hai tháng
cuối năm phấn đấu chốt vào mức tăng 8% cả năm như Chính phủ đã dự kiến. So với
cùng kỳ năm ngoái, CPI tháng này tăng 9,66%. Còn bình quân 10 tháng năm 2010,
CPI đã tăng 8,75%. Để kiềm chế vững chắc các động thái lạm phát theo mục tiêu đề ra
trong những tháng cuối năm và thời gian tới, Chính phủ hiện đã có chỉ đạo thực hiện
đồng bộ những nhiệm vụ chủ yếu và các nhóm giải pháp lớn để khôi phục phát triển
kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, ngăn ngừa nguy cơ tái lạm phát
cao. Để hỗ trợ tăng trưởng, Chính phủ sử dụng tất cả các công cụ tác động vào các
thành tố: chi tiêu công (G), tiêu dùng (C), đầu tư (I) và xuất khẩu nhằm cải thiện nhập
siêu, hướng tới xuất khẩu ròng (NX) thông qua chính sách tiền tệ và chính sách tài
khóa; một công cụ nữa cũng được Chính phủ Việt Nam đặc biệt quan tâm đó là thông
tin – truyền thông.
Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 03/2010/TT-NHNN quy định
tăng tỉ giá bình quân liên ngân hàng giữa USD và VND tăng thêm 603 đồng kể từ
ngày 11/2/2010, tăng thêm 3,3% so với tỉ giá ngày trước đó. Tăng tỉ giá ngoại tệ, trước
hết đối với USD, như một động thái cần thiết, khó tránh khỏi trong điều chỉnh chính
sách tiền tệ năm 2010 nhằm làm giảm áp lực tiêu cực của chênh lệch tỷ giá giữa đồng
VND với đồng USD và các đồng ngoại tệ khác trên thị trường chính thức và thị trường
tự do, cũng như để phù hợp cơ chế quản lý tỷ giá chung trên thế giới và xu hướng
giảm giá các đồng tiền này trong thời gian qua. Về tổng quát và lâu dài, việc điều
chỉnh tỷ giá này có tác động tốt nhằm hạn chế, giải toả tình trạng găm giữ, cũng như
kỳ vọng đầu cơ, góp phần cân đối theo nguyên tắc thị trường cung – cầu về ngoại tệ,
kích thích xuất khẩu và tăng cường sản xuất trong nước, từ đó góp phần kiềm chế
vững chắc lạm phát. Đối với chính sách tài khoá: Trong kế hoạch phát triển KT-XH
năm 2010, tổng vốn đầu tư xã hội được xác định lên tới 41% GDP, một tỷ lệ kỷ lục
trong nhiều năm qua; trong đó chi đầu tư từ ngân sách nhà nước (NSNN) chiếm
khoảng 17%, bằng khoảng 22% tổng dự toán chi NSNN năm 2010. Chính việc tăng

đầu tư này sẽ dẫn đến tăng nhập khẩu

Nhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học Thương Mại -Trang 21-
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ

2. Chính sách tiền tệ trong giai đoạn “hậu khủng hoảng”
2.1. Kinh tế toàn cầu bước vào thời kỳ “hậu khủng hoảng”
Theo dõi diễn biến tình hình kinh tế thế giới từ đầu năm đến nay cho thấy, cuộc
khủng hoảng tài chính toàn cầu chắc chắn không dẫn đến một cuộc đại khủng hoảng
kinh tế như thời kỳ 1929-1933, mà đã có nhiều người lo lắng.Tác động của khủng
hoảng tài chính đã dẫn đến suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng đến nay có thể tin rằng,
sự suy giảm đã chạm đáy.
Thật vậy, đối với thị trường tài chính,thì đáy của khủng hoảng đã không lập lại
sau ngày 10/3/2009, ngày có các chỉ số của các thị trường chứng khoán Mỹ đạt mức
thấp nhất. Đối với suy giảm kinh tế thì hầu hết các nền kinh tế chịu ảnh hưởng lớn
nhất đều tin rằng đã đến đáy: Ba nền kinh tế lớn Mỹ, EU và Nhật bản đã có dấu hiệu
tăng trưởng dương; tỷ lệ thất nghiệp giảm; các nền kinh tế khác như Hàn quốc,
Singapore đang có sự phục hồi ngoạn mục. Trung quốc, ấn độ, Indonesia đang tập
trung tăng tốc trở lại với đầy tham vọng của thời kỳ hậu khủng hoảng.
Có thể nói: Thế giới đang thực sự bước vào thời kỳ hậu khủng hoảng. Các quốc
gia đang nỗ lực thực hiện các chiến lược riêng của mình; một cuộc chạy đua mới đang
diễn ra, mặc dù tốc độ phục hồi chung của nền kinh tế toàn cầu rất chậm và phần nào
đó trì trệ cho đến giữa năm tới, khi niềm tin của nhà đầu tư và tính ổn định của nền tài
chính được củng cố.
2.2. Kinh tế Việt Nam đang phục hồi
Với đặc điểm của một nền kinh tế có độ mở cao, cùng với đặc điểm của một
nền kinh tế mang nặng tính chất gia công, tỷ trọng giá trị gia tăng thấp trong cơ cấu giá
trị sản phẩm, nên chịu tác động rất lớn của thị trường thế giới. Tuy nền kinh tế nước ta
không chịu tác động trực tiếp của khủng hoảng tài chính toàn cầu; hệ thống tài chính-
tín dụng giữ được ổn định, nhưng sự tăng trưởng kinh tế trong nước vẫn chịu ảnh

hưởng bởi mức độ phục hồi của thị trường thế giới. Tuy nhiên, nếu xét về hệ thống tài
chính-tín dụng, thì thời điểm khó khăn nhất đã rơi vào quý 2/2008, còn tăng trưởng
kinh tế khó khăn nhất cũng đã rơi vào quý 1/2009. Phần thời gian còn lại của năm nay
và năm 2010 có thể xem là thời kỳ phục hồi, nên các chính sách kinh tế thực hiện vào

Nhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học Thương Mại -Trang 22-
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ

thời kỳ này có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ cho giai đoạn này, mà tạo tiền đề phát
triển cho giai đoạn “tăng tốc” tiếp theo.
2.3. Vai trò của chính sách tiền tệ thời kỳ sau suy giảm
Như đã nói ở trên, nền kinh tế toàn cầu đang bước vào giai đoạn hậu suy giảm
và mỗi quốc gia đều đang nỗ lực trong một cuộc chạy đua mới trong quá trình toàn cầu
hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng hơn. Đối với nền kinh tế nước ta,
dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, bài học
được rút ra quan trọng là: Sự bất cập của Mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều
ngang, chủ yếu dựa vào sự tăng vốn đầu tư, sử dụng lao động rẻ, khai thác tài nguyên
thô và gia công hàng xuất khẩu, thể hiện qua các chỉ báo như: hệ số ICOR, VA/GO,
cơ cấu hàng xuất khẩu, năng suất lao động, tổng yếu tố của tăng trưởng. Do đó, vấn đề
trọng tâm của giai đoạn “sau suy giảm” là: Tổ chức lại nền kinh tế nhằm chuyển nền
kinh tế từ tính chất gia công sang sản xuất; tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu; chuyển
nền kinh tế từ lệ thuộc sang tương thuộc trong quá trình hội nhập nhằm xác lập vị thế
của nền kinh tế Viêt nam trong thời kỳ “hậu khủng hoảng” với sự dự báo sẽ diễn ra
cuộc chạy đua nhằm thay đổi trật tự kinh tế quốc tế trong quan hệ toàn cầu và khu vực.
Dĩ nhiên, để thực hiện mục tiêu tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng nâng cao
sức cạnh tranh nêu trên, nhà nước cần sử dụng cả hệ thống công cụ quản lý nhà nước
về kinh tế như: hệ thống pháp luật điều chỉnh mọi hoạt động của đời sống kinh tế;
công cụ quy hoạch và kế hoạch; 4 công cụ điều tiết vĩ mô; lực lượng kinh tế nhà nước,
những công cụ chính sách tiền tệ có tầm quan trọng đặc biệt đối với đặc điểm của nền
kinh tế nước ta, được nhìn ở các giác độ tác động đến mục tiêu tăng trưởng và ổn định

kinh tế vĩ mô. Thật vậy, hiện nay và có lẽ trong nhiều năm tới, nguồn vốn cho nền kinh
tế chủ yếu vẫn được huy động và phân bố qua hệ thống ngân hàng và các định chế tín
dụng trung gian phi ngân hàng, mà các định chế này đều vận hành theo sự điều tiết của
chính sách tiền tệ. Do đó, chính sách tiền tệ có ý nghĩa quyết định đối với sự vận động
của dòng vốn đầu tư và ngay cả chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Trên thực tế,
chính sách tiền tệ đóng vai trò chủ yếu, không chỉ trong việc hỗ trợ doanh nghiệp về
nguồn vốn lưu động, mà đang tạo điều kiện cho doanh nghiệp nào có chiến lược kinh
doanh tốt có thể tận dụng để thực hiện chiến lược phát triển dài hạn, thông qua đầu tư

Nhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học Thương Mại -Trang 23-
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ

phát triển sản phẩm mới. Chính sách tiền tệ vẫn là công cụ chủ yếu để ổn định giá cả,
thực thiện chính sách ngoại thương thông qua sự điều hành chính sách tỷ giá và bảo
đảm tính thanh khoản trong thanh toán quốc tế.
Tóm lại, với vai trò là công cụ chủ yếu tác động đến sự vận động của tổng cung
và tồng cầu của nền kinh tế. Chính sách tiền tệ của nước ta trong thời gian gần đây đã
được chính phủ sử dụng một cách linh hoạt trong việc kiềm chế lạm phát và đang góp
phần quan trọng trong việc ngăn chặn suy giảm kinh tế hiện nay.Trong thời kỳ sau suy
giảm, chính sách tiền tệ chính là công cụ để hỗ trợ các doanh nghiệp tái cấu trúc nhằm
nâng cao sức cạnh tranh, thông qua việc sử dụng linh hoạt và hiệu quả các công cụ tiền
tệ của NHNN.
3. Các giải pháp trong thời gian tới
Thứ nhất: Tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ một cách chặt chẽ, thận trọng; sử
dụng linh hoạt và hiệu quả các công cụ chính sách tiền tệ: xem xét việc tăng dự trữ bắt
buộc; tiếp tục áp dụng biện pháp mua tín phiếu Ngân hàng Nhà nước bắt buộc đã công
bố; kiểm soát tốc độ tăng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán một cách hợp lý,
trong đó mức tăng trưởng tín dụng tối đa 30%; kiểm soát cho vay bất động sản, kinh
doanh chứng khoán và cho vay tiêu dùng.
Thứ hai: Thực hiện hỗ trợ vốn cho các ngân hàng thương mại để đảm bảo khả

năng thanh toán.
Thứ ba: Tiếp tục mua ngoại tệ của các nhà đầu tư trên cơ sở nguồn cung ứng đã
được Chính phủ phê duyệt một mặt để bổ sung dự trữ ngoại hối nhà nước, mặt khác
nhằm đáp ứng đủ vốn cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu.
Thứ tư: Tiếp tục điều hành tỷ giá giữa đồng tiền Việt Nam với đồng Đô la Mỹ
nói riêng và các loại ngoại tệ nói chung theo hướng cân đối các mục tiêu xuất nhập
khẩu, sản xuất trong nước và nhập siêu; mở rộng biên độ giao động của tỷ giá lên
±2%.
Thứ năm: Nghiên cứu trình Chính phủ về cơ chế kiểm soát luồng vốn gián tiếp
và vấn đề các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài mua cổ phiếu bằng ngoại tệ; Tiếp tục
triển khai Quyết định số 98/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Để án
nâng cao tính chuyển đổi của đồng Việt Nam, khắc phục tình trạng đô la hoá trong nền

Nhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học Thương Mại -Trang 24-
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ

kinh tế; Dự báo tình hình cung cầu ngoại tệ trên thị trường trong và ngoài nước và đề
xuất các giải pháp phòng ngừa các rủi ro trong trường hợp luồng vốn đảo chiều.
4. Việt Nam hồi phục cho chu kỳ mới
Đánh giá về tình hình kinh tế vĩ mô sau khi kết thúc quý I/2010, phần lớn các
chuyên gia kinh tế tại Hội thảo mới đây do báo Đầu tư tổ chức, đều cho rằng: Việt
Nam đang trong giai đoạn đầu của chu kỳ hồi phục kinh tế. Tuy nhiên, bối cảnh kinh
tế của doanh nghiệp trong nước đã khác: Các chính sách kích thích kinh tế đã chấm
dứt; giá nguyên vật liệu trên thế giới đã xác lập mặt bằng cao; lãi suất cho vay duy trì
ở mức cao từ quý IV/2009 Như vậy, nhiều doanh nghiệp đã mất đi lợi thế để có thể
tạo ra lợi nhuận đột biến trong năm 2010.
Các chuyên gia cũng thống nhất rằng: Tăng trưởng là yếu tố tiên quyết để cải
thiện mức sống và điều kiện của một quốc gia còn nghèo như Việt Nam. Tuy nhiên,
nếu duy trì tăng trưởng dựa trên tích tụ những bất ổn vĩ mô thì sự tăng trưởng đó cũng
chỉ mang tính ngắn hạn mà thôi.

Trong ngắn hạn, những bất ổn vĩ mô vẫn là một cản trở lớn cho tăng trưởng
kinh tế và cải thiện môi trường kinh doanh. Trong trung và dài hạn, những vấn đề cơ
bản như cấu trúc nền kinh tế, sự phát triển của khu vực doanh nghiệp tư nhân, khả
năng kết hợp và điều hành chính sách, sẽ là những trở ngại làm chậm quá trình tăng
trưởng của Việt Nam.
Có những ý kiến cho rằng tăng trưởng chiều rộng, dựa nhiều vào khai thác tài
nguyên, là giai đoạn không tránh khỏi đối với những nước mới nhập vào quỹ đạo phát
triển hiện đại. Song thực tiễn không hoàn toàn như vậy: Nhật bản, Hàn Quốc, Đài
Loan, Singapore đưa ra những kinh nghiệm hoàn toàn ngược lại. Những quốc gia đi
sau, nếu biết học hỏi và rút kinh nghiệm trong quá trình xây dựng chiến lược phát
triển, càng không nhất định phải như vậy.
Cho đến tận bây giờ, ngay cả khi những hậu qủa của cách tăng trưởng “nóng”
thời gian qua đã bộc lộ rõ ràng thì, như một vị giáo sư kinh tế nước ngoài: “thật đáng
buồn là vẫn chưa thấy có dấu hiệu gì chứng tỏ Việt Nam thực sự muốn leo lên những
nấc thang cao hơn trên chuỗi giá trị gia tăng toàn cầu và khu vực”.

Nhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học Thương Mại -Trang 25-
được chăm sóc. Ngoài lời nói đầu và Tóm lại bài tiểu luận gồm 4 phần chính : Phần I : Những yếu tố cơ bản về lạm phátPhần II : Thực trạng và những yếu tố ảnh hưởng tác động đến lạm phát ở Việt NamPhần III : Các giải pháp kiềm chế lạm phát của Chính PhủPhần IV : Các giải pháp trấn áp lạm phát mà NHNN đã thực hiệnNhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học TM – Trang 2 – TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔPHẦN I : NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LẠM PHÁT1. Khái niệmLạm phát là sự tăng lên liên tục của mức giá trung bình theo thời hạn. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trung bình hay giảm nhu cầu mua sắm củađồng tiền. Trong khoanh vùng phạm vi toàn thế giới, khi so sánh với những nền kinh tế khác thì lạm phát là sựphá giá tiền tệ so với những loại tiền khác. 2. Diễn biến lạm phát ở Việt Nam trong thời hạn quaTa có bảng số liệu tỷ suất lạm phát từ 2002 đến 2010 ( Đơn vị % ) Chỉ tiêu 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010T ỷ lệ tăng GDP 7.08 7.24 7.7 8.4 8.17 8.48 6.23 5.32 6.7 Tỷ lệ lạm phát 4.0 3.0 9.5 8.4 6.6 12.63 19.89 6.52 10.53. Nguyên nhân gây lạm phátLạm phát ở Việt Nam do nhiều nguyên do như nền kinh tế đa phần là nôngnghiệp vốn yếu kém, lỗi thời lại mất cân đối cơ cấu tổ chức, nhờ vào nhiều vào yếu tố bênngoài như : Vốn góp vốn đầu tư, nguyên nhiên vật liêu công nghiệp, những dây chuyền sản xuất sản xuấttiên tiến đơn cử chúng tôi đi nghiên cứu và phân tích nguyên do gây ra lạm phát trong những nămgần đây. * Lạm phát do ngân sách đẩyDo giá của những yếu tố nguồn vào tăng cao đặc biệt quan trọng là giá những yếu tố nguồn vào cơ bảnnhư vốn góp vốn đầu tư, nguyên nhiên vật tư, giá xăng dầu, lương thực thực phẩm thiếtyếu “ 4 tháng đầu năm 2008 so với cùng kỳ năm 2007, giá xăng dầu quốc tế đã tăng51, 24 %, phôi thép tăng 43 %, phân bón tăng 67 %, giá ngô tăng 31 %, đậu tương tăng87 %, lúa mì tăng 130 % ), trong khi đó 70 % nhập khẩu của Việt Nam là những mặt hàngnguyên nhiên vật tư, máy móc thiết bị Giao hàng sản xuất trong nước ; nhiều mặt hàngcó tỷ trọng nhập khẩu cao như : xăng dầu ( 98 % ), phôi thép ( 65 % – 70 % ), nguyên liệusản xuất thuốc ( 60 % ), nhờ vào trọn vẹn vào giá quốc tế ”. * Lạm phát do cầu kéoNhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học TM – Trang 3 – TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔSự lan rộng ra can đảm và mạnh mẽ của nhu yếu tiêu tốn, góp vốn đầu tư tư nhân và công cộng là nhântố làm cho tổng cầu tăng nhanh. Giá tăng ( theo quy luật cung – cầu ). + Thị trường góp vốn đầu tư toàn XH năm 2007 là 493,6 nghìn tỉ chiếm 43 % GDP vớisố vốn trực tiếp quốc tế thực tiễn đạt 6,4 tỉ USD cao hơn 77 % so với năm 2006. + Chi tiêu ngân sách cơ quan chính phủ ngày càng lớn. Tổng chi ngân sách nhà nướcnăm 2007 là 399,4 nghìn tỉ đồng vựơt khoảng chừng 11,7 % so với dự trù năm. Bội chi ngânsách nhà nước 56,5 nghìn tỉ đồng bằng 4,95 % GDP. * Lạm phát do tiền tệCung ứng lượng tiền quy ước vượt quá mức mà nền kinh tế yên cầu, chính sáchtiền tệ được lan rộng ra trong thời hạn dài. Quản lý tiền mặt kém hiệu suất cao : – Tính tới cuối T6 / 2007 lượng tiền mặt tronglưu thông và tiền gửi ngân hàng nhà nước ở việt nam đã tăng 21,1 % so với đầu năm. Cung tiền ở việt nam tăng mạnh năm 2007 như đã nói ở trên đa phần là do vốn nướcngoài chảy vào tăng đột biến từ đó buộc ngân hàng nhà nước nhà nước phải đóng vai trò ngườimua ngoại tệ ở đầu cuối và đưa thêm tiền vào lưu thông cùng với chủ trương NEO tỉgiá đồng USD nên ngân hàng nhà nước nhà nước đã tăng dự trữ ngoại hối từ 11,5 tỉ USD năm2006 lên 21,6 tỉ USD năm 2007. * Một số nguyên do khácDo sự tích tụ lạm phát từ những năm trước đó cộng với chủ trương kinh tế vĩmô của những năm trước chưa triệt để, lạm phát tích tụ và tăng cao vào những năm2007 – 2008. Vòng xoáy lạm phát : Do sự tăng lên liên tục của tổng cung và tổng cầu trongdài hạn nên vận tốc tăng trưởng kinh tế cao, đồng thời kéo theo sự ngày càng tăng khôngngừng của mức giá. Nhưng tổng cung ( năng lượng sản xuất ) tăng chậm hơn so với mứcđộ tăng của tổng cầu nên đã đẩy mức giá tăng cao hơn đáng kể. Do việt nam gia nhập WTO, đang trong quy trình hội nhập sâu và rộng nên cũngchịu ảnh hưởng tác động từ nhiều nền kinh tế khác. Nhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học TM – Trang 4 – TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔPHẦN II : THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNGĐẾN LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM1. Diễn biến lạm phát ở Việt Nam thời hạn quaTrong quá khứ Việt Nam có thời hạn phải chịu lạm phát phi mã, với mức sụtgiá của tiền đồng lên đỉnh hơn 700 % vào năm 1987. Kể từ năm 1993, lạm phát đãđược khống chế khá tốt và thường dưới 2 số lượng. Giai đoạn từ năm 1999 đến 2001 là thời kỳ lạm phát thấp nhất của Việt Nam. Trong khoảng chừng thời hạn này, CPI lần lượt chỉ ở mức 0.1 %, – 0.6 % và 0.8 %. Thời kỳ nàygắn liền với giai đoạn hậu khủng hoảng cục bộ kinh tế tài chính Đông Á năm 1997 – 1998. Lạm phát ở Việt Nam khởi đầu tăng cao từ năm 2004, cùng với quá trình bùngnổ của kinh tế quốc tế và việc tăng giá của nhiều loại sản phẩm & hàng hóa. Năm 2007, chỉ số CPItăng đến 12.6 % và đặc biệt quan trọng tăng cao vào những tháng cuối năm. Năm 2008 là một năm đáng nhớ so với kinh tế vĩ mô cũng như tình hình lạmphát ở Việt Nam. CPI đã liên tục tăng cao từ đầu năm, và mức cao nhất của CPI tínhtheo năm của năm 2008 đã lên đến 30 %. Kết thúc năm 2008, chỉ số CPI tăng 19.89 %, tính theo trung bình năm tăng 22.97 %. Năm 2009, suy thoái và khủng hoảng của kinh tế quốc tế khiến sức cầu suy giảm, giá nhiềuhàng hóa cũng xuống mức khá thấp, lạm phát trong nước được khống chế. CPI năm2009 tăng 6.52 %, thấp hơn đáng kể so với những năm gần đây. Tuy vậy, mức tăng nàynếu so với những vương quốc trong khu vực và trên quốc tế lại cao hơn khá nhiều. Năm 2010, cơ quan chính phủ đặt tiềm năng trấn áp CPI cuối kỳ khoảng chừng 7 %. Mục tiêunày hoàn toàn có thể không được hoàn thành xong khi 2 tháng đầu năm CPI đã tăng 3.35 %. Ngoài ra, nền kinh tế lúc bấy giờ vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố hoàn toàn có thể dẫn đến lạm phát cao trongnhững tháng sắp tới. Nhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học TM – Trang 5 – TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔLạm phát và giá cảChỉ số giá tiêu dùng ( CPI ) tháng 02/2010 được Tổng cục Thống kê ( TCTK ) công bố tăng 1.96 % so với tháng trước đó. Đây là mức tăng CPI cao nhất trong vòng17 tháng qua. Số liệu thống kê này cùng với quyết định hành động kiểm soát và điều chỉnh tỷ giá hối đoái, giáxăng dầu, giá điện, nước, than … Tháng 9/2010 chỉ số giá tiêu dùng ( CPI ) tăng đến1. 31 % và tháng 10 tăng 1.05 %. Việc kiểm soát và điều chỉnh tăng thuế nhập khẩu hơn 111 mặthàng từ ngày 23/10/2010, trong đó có nhiều loại sản phẩm là lương thực, thực phẩm tăngthêm 5-10 %, sẽ ảnh hưởng tác động đến giá thực phẩm trong thời hạn tới. Ngoài ra, việc lũ lụttại miền Trung liên tục xảy ra cũng phần nào ảnh hưởng tác động đến giá thành một số ít loại sản phẩm thựcphẩm tăng cao trong những tháng cuối năm. Một nhóm hàng cũng thường có xu hướngsẽ tăng giá về cuối năm khi nhu yếu tăng cao là vật tư thiết kế xây dựng nhiều năng lực cũngsẽ là tác nhân tác động ảnh hưởng mạnh đến CPI tháng cuối năm. Tuy nhiên, việc nhóm hàngnguyên vật tư kiến thiết xây dựng sẽ tăng ở mức nào còn tùy thuộc vào Ngân sách chi tiêu trên quốc tế vàviệc dịch chuyển của tỷ giá. Tính đến tháng 10, CPI 10 tháng đã là 7,58 %. Nhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học TM – Trang 6 – TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ * Như vậy, lạm phát cả năm 2010 sẽ là 11,75 %, ứng với CPI tháng 12/2010 sovới tháng 12/2009, vượt qua mức chỉ tiêu kế hoạch về lạm phát đặt ra cho năm nay. Lạm phát trung bình năm là 9,19 %. Diễn biến CPI những tháng trong 2 năm 2009 – 2010N hóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học TM – Trang 7 – TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔCó thể nói năm 2010 lạm phát có những diễn biến phức tạp. Từ đầu năm đếncuối tháng 8 chỉ số giá tiêu dùng diễn biến theo khunh hướng không thay đổi ở mức tương đốithấp, trừ hai tháng đầu năm CPI ở mức cao do tác động ảnh hưởng bởi những tháng Tết. Tuynhiên, lạm phát đã thực sự trở thành mối lo lắng từ tháng 9 khi CPI mở màn xu hướngtăng cao, đến hết tháng 11 CPI tăng tới 9,58 % Lạm phát và giá thành của năm 2010 tăng cao xuất phát từ nhiều nguyên do. Thứnhất, sự phục sinh của nền kinh tế làm cho nhu yếu những loại sản phẩm & hàng hóa dịch vụ đều tăngcao, cộng với thiên tai, lũ lụt ở những tỉnh miền Trung lại càng làm tăng nhu yếu về lươngthực, thực phẩm, vật tư kiến thiết xây dựng Thứ hai, giá của một số ít loại sản phẩm nhập khẩu củanước ta trên thị trường quốc tế tăng lên do sự hồi sinh của kinh tế toàn thế giới làm tăngchi phí sản xuất của nhiều doanh nhiệp. Thứ ba, việc kiểm soát và điều chỉnh tỷ giá làm đồng tiềnnội tệ mất giá làm cho ngân sách nhập khẩu tăng lên đẩy mặt phẳng giá nhiều hàng hóatăng theo. Bên cạnh đó những nguyên do cơ bản gây ra lạm phát cao ở Việt Namnhững năm trước vẫn còn. Đó là sự thiếu kỷ luật kinh tế tài chính trong góp vốn đầu tư công và tronghoạt động của những doanh nghiệp nhà nước ( DNNN ) và tập đoàn lớn lớn. Do vậy, kích cầuđầu tư thông qua thả lỏng tín dụng thanh toán cho những DNNN và tập đoàn lớn cùng với thiếu sự thẩmđịnh và giám sát thận trọng cũng góp thêm phần kích hoạt cho lạm phát trở lại. Sự điềuchỉnh tăng lãi suất vay cơ bản của ngân hàng nhà nước nhà nước và sự ngày càng tăng lãi suất vay cho vay củacác ngân hàng nhà nước thương mại ở những tháng cuối năm 2010 sẽ liên tục gây sức ép làmtăng lạm phát không chỉ những tháng cuối năm mà hoàn toàn có thể cả trong năm 2011.2. Các yếu tố ảnh hưởng tác động đến lạm phát ở Việt Nam * Xét về nguyên do chủ quan, lạm phát của ta đã được tích tụ nhiều năm ở 3 nghành hầu hết : Cơ cấu kinh tế đang thể hiện những yếu tố không hài hòa và hợp lý với những bộc lộ cụthể như góp vốn đầu tư giàn trải, lượng tiền lớn tung ra lưu thông nhưng hàng hoá sản xuất rakhông tương ứng, quan hệ cung và cầu hàng-tiền bị phá vỡ. Nhập siêu liên tục tăng vớisố lớn làm cho cán cân thương mại, cán cân giao dịch thanh toán ngày càng thâm hụt. Đây lànguyên nhân sốc gây ra lạm phát. Về chủ trương tài khoá trong vòng 10 năm liên tục, tất cả chúng ta bội chi ngân sách so với GDP ở mức cao 5 %, năm 2007 là 5,8 % cộng vớitình trạng thất thu ngân sách không được xử lý triệt để và chi hành chính khôngNhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học TM – Trang 8 – TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔđược trấn áp ngặt nghèo, gây tiêu tốn lãng phí, thất thoát. Đây cũng là một kênh gây áp lực đè nén lạmphát quan trọng. Chính sách tiền tệ mà bộc lộ đơn cử là chủ trương tín dụng thanh toán, quản trị ngoại hốivà thực thi những công cụ của nhiệm vụ thị trường mở quản lý không thuần thục, còn những chưa ổn … Tất cả những hạn chế này không những làm cho nhiều giải phápchống lạm phát đúng không được tiến hành có tác dụng mà còn gây ra thực trạng khắcphục lạm phát chậm, thậm chí còn có nghành còn làm cho lạm phát tăng lên. Lâu nay, khi xác lập yếu tố và giải pháp kiềm chế lạm phát, nhiều người vẫnnhấn mạnh đến yếu tố tiền tệ – tín dụng thanh toán. Điều đó không sai, nhưng tiền tệ – tín dụngthường là tác nhân và cũng là sự thể hiện, là bộc lộ của lạm phát ( sự mất giá của đồngtiền ), còn nguyên do sâu xa chính là góp vốn đầu tư không có hiệu suất cao, tiêu tốn vượt số làmra, bội chi ngân sách quá cao. Vì vậy, thu – chi ngân sách là một kênh quan trọng, cầnđược chăm sóc nhiều hơn. Cùng với việc tăng thu, giảm bội chi, cần phải chăm sóc tớitiết kiệm chi góp vốn đầu tư công, tiêu tốn công. * Ngoài ra sự gia tăng giá cả và ngân sách của những tác nhân “ nguồn vào ” Từ đầu năm 2010, giá một số ít loại sản phẩm chủ chốt tăng giảm thất thường mà chủyếu là tăng lên ( như xăng đã tăng thêm từ 550 – 590 đ / lít từ ngày 21/2/2010, điện tăng6. 8 % từ 1/3/2010, kể cả giá than và cả giá tàu hỏa, tiền lương tăng từ 1/5/2001 ), có thểsẽ ảnh hưởng tác động mạnh tới CPI năm 2010 của Việt Nam ( đến đầu tháng 6/2010, tuy giá xăngcó giảm 500 đ / lít, do giá dầu trên thị trường quốc tế giảm, nhưng có vẻ như những mặthàng khác không giảm hoặc giảm không đáng kể ). Mặt khác, do ảnh hưởng tác động của chínhsách kinh tế tài chính – tiền tệ, nên những NHTM vẫn tìm cách tăng lãi suất vay kêu gọi và cho vay, phối hợp với Nhà nước có chủ trương bãi bỏ những khoản miễn giảm nghĩa vụ và trách nhiệm tài chínhcho doanh nghiệp, tăng thu thuế ( dự kiến thuế tài nguyên ), những điều nàysẽ ít nhiềulàm tăng chi phí sản xuất “ nguồn vào ”, do đó tăng giá đầu ra những sản phẩm & hàng hóa và dịch vụcung ứng từ nguồn trong nước. Nhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học TM – Trang 9 – TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔNhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học TM – Trang 10 – TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔPHẦN III : CÁC BIỆN PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT CỦACHÍNH PHỦ1. Thực hiện chủ trương tiền tệ chặt chẽNgân hàng Nhà nước Việt Nam dữ thế chủ động, linh động trong việc sử dụng những côngcụ chủ trương tiền tệ theo nguyên tắc thị trường, trấn áp ngặt nghèo tổng phương tiệnthanh toán và tổng dư nợ tín dụng thanh toán nhưng phải bảo vệ tính thanh toán của nền kinhtế và hoạt động giải trí của những ngân hàng nhà nước, tổ chức triển khai tín dụng thanh toán, tạo điều kiện kèm theo cho sản xuất hànghoá và xuất khẩu tăng trưởng. Sử dụng linh động những công cụ chủ trương tiền tệ để giảm dần lãi suất vay huy độngtheo hướng thực thi chủ trương lãi suất vay thực dương. Tăng cường trấn áp và giámsát ngặt nghèo hoạt động giải trí của những ngân hàng nhà nước thương mại để bảo vệ việc tuân thủ đúngcác pháp luật về kêu gọi, cho vay và chất lượng tín dụng thanh toán. Kịp thời phát hiện, xử lýcác vi phạm theo đúng lao lý của pháp lý để giảm thiểu rủi ro đáng tiếc trong hoạt độngngân hàng. 2. Kiểm soát ngặt nghèo, nâng cao hiệu suất cao tiêu tốn côngĐiều hành chính sách tài khóa theo hướng tiết kiệm chi phí tiêu tốn tiếp tục, nângcao hiệu suất cao vốn góp vốn đầu tư từ ngân sách ; cắt giảm góp vốn đầu tư công và ngân sách thường xuyêncủa những cơ quan sử dụng ngân sách, trấn áp ngặt nghèo góp vốn đầu tư của những doanh nghiệpnhà nước, cố gắng nỗ lực giảm tỷ suất thâm hụt ngân sách. Đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nướcvà góp vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước hiện chiếm khoảng chừng 45 % tổng góp vốn đầu tư xã hội. Cắtgiảm nguồn góp vốn đầu tư này sẽ làm giảm áp lực đè nén về cầu, giảm nhập siêu, góp thêm phần nâng caohiệu quả của nền kinh tế. nhà nước sẽ lao lý đơn cử tỷ suất vốn góp vốn đầu tư và ngân sách hànhchính phải cắt giảm và nhu yếu những bộ, địa phương xác lập những khu công trình kém hiệuquả, những khu công trình chưa thực sự thiết yếu để có sự kiểm soát và điều chỉnh thích hợp. Điều này sẽđược thực thi một cách nhất quyết ngay trong việc phân chia lại và cân đối nguồn vốn. Cũng trên niềm tin đó, nhà nước nhu yếu những Bộ trưởng, quản trị Ủy Ban Nhân Dân cáctỉnh, thành phố với tư cách là đại diện thay mặt chủ sở hữu nhà nước, thanh tra rà soát ngặt nghèo những hạngmục góp vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước, nhất quyết cắt bỏ những khu công trình góp vốn đầu tư kémNhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học TM – Trang 11 – TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔhiệu quả. Đồng thời, tạo điều kiện kèm theo và tập trung chuyên sâu vốn cho những khu công trình sắp hoànthành, những khu công trình đầu tư sản xuất hàng hoá thuộc mọi thành phần kinh tế đẩynhanh tiến trình, sớm đưa vào sản xuất. 3. Tập trung sức tăng trưởng sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, bảo vệ cân đối cung và cầu về sản phẩm & hàng hóa. Tập trung sức tăng trưởng sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, khắc phục nhanhhậu quả của thời tiết và dịch bệnh để tăng sản lượng lương thực, thực phẩm. Hiện nay, tiềm năng tăng trưởng của nước ta còn rất lớn, nhất là khi Việt Nam đã là thành viênđầy đủ của Tổ chức Thương mại quốc tế, góp vốn đầu tư quốc tế và góp vốn đầu tư tư nhân tăngmạnh, thị trường xuất khẩu được lan rộng ra, vì thế, tăng trưởng sản xuất là giải pháp gốc, tạo hiệu suất cao nhiều mặt, vừa tăng nguồn cung cho thị trường trong nước và xuất khẩu, góp thêm phần kiềm chế lạm phát, giảm nhập siêu, vừa thôi thúc tăng trưởng kinh tế, lạikhông gây phản ứng phụ. Triển khai việc trùng tu những khu công trình hồ chứa, đê điều, côngtrình thủy lợi nhằm mục đích dữ thế chủ động đối phó với thiên tai trong mùa bão, lũ sắp tới để đảmbảo an toàn lao động cho sản xuất và đời sống. Để triển khai nhu yếu này, nhà nước đã giao trách nhiệm cho những bộ trưởng liên nghành, chủtịch Ủy Ban Nhân Dân những tỉnh và thành phố chỉ huy kinh khủng, kịp thời tháo gỡ những khó khăn vất vả, vướng mắc về vốn, về thị trường, về thủ tục hành chính, thôi thúc sản xuất tăng trưởng. Đồng thời, có nghĩa vụ và trách nhiệm cùng nhà nước kiềm giữ Chi tiêu những loại sản phẩm thiết yếu, như : lương thực, thuốc chữa bệnh, xăng dầu, sắt thép, xi-măng, phân bón, Chủ độngđề ra và vận dụng giải pháp khắc phục thực trạng thiếu điện và bảo vệ điện cho sảnxuất. 4. Đẩy mạnh xuất khẩu, trấn áp ngặt nghèo nhập khẩu, giảm nhập siêu. Bộ Công Thương chủ trì yêu cầu những giải pháp cải cách thủ tục hành chính liênquan đến hoạt động giải trí xuất khẩu để giảm ngân sách cho doanh nghiệp, góp thêm phần nâng caokhả năng cạnh tranh đối đầu của hàng xuất khẩu Việt Nam song song với việc vận dụng những hàngrào kỹ thuật và những giải pháp nhập khác tương thích với những cam kết quốc tế của nước tađể giảm nhập siêu, kể cả việc tăng thuế nhập khẩu những mặt hàng không thiết yếu. Hỗ trợ công tác làm việc triển khai thương mại so với hàng xuất khẩu ; tăng cường hoạt động giải trí xúctiến tại những thị trường truyền thống cuội nguồn và lan rộng ra thị trường mới để tăng xuất khẩu. TăngNhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học TM – Trang 12 – TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔcường những giải pháp khuyến khích sản xuất trong nước để thay thế sửa chữa hàng nhập khẩu, thúc đẩy mạnh những hoạt động giải trí dịch vụ và du lịch. Phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn để yêu cầu chính sách, chủ trương bảo vệ nguồn cung lương thực, thựcphẩm trên thị trường trong nước, bảo vệ bảo mật an ninh lương thực và kiềm chế sự tăng giá quámức của nhóm hàng này. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì điều hành quản lý chủ trương tiền tệ, tỷ giá phùhợp với chủ trương tăng cường xuất khẩu. Có chính sách và chỉ huy những ngân hàng nhà nước thươngmại mua hết ngoại tệ cho những doanh nghiệp xuất khẩu, giải quyết và xử lý kịp thời những ách tắc về tíndụng, cung ứng nhu yếu vay vốn hài hòa và hợp lý cho xuất khẩu. Bộ Tài chính dữ thế chủ động, linh động trong việc sử dụng công cụ thuế để tăng thuếxuất khẩu ở mức hài hòa và hợp lý so với than, dầu thô. Điều chỉnh tăng thuế nhập khẩu, thuếtiêu thụ đặc biệt quan trọng ở mức hài hòa và hợp lý so với 1 số ít loại sản phẩm tiêu dùng không thiết yếu như : xe hơi nguyên chiếc, linh phụ kiện lắp ráp xe hơi dưới 12 chỗ ngồi, một số ít loại sản phẩm điện tử, điện lạnh, xe và linh phụ kiện lắp ráp xe hai bánh gắn máy, rượu, bia để thực thi mục tiêugiảm nhập siêu nhưng vẫn bảo vệ tương thích với cam kết hội nhập, vận dụng những hàngrào kỹ thuật và những giải pháp khác thiết yếu, tương thích với những cam kết quốc tế để hạnchế những mẫu sản phẩm thuộc diện không khuyến khích nhập khẩu. 5. Triệt để thực hành thực tế tiết kiệm chi phí trong sản xuất và tiêu dung. Hiện nay, thực trạng tiêu tốn lãng phí trong sản xuất và tiêu dùng diễn ra khá thông dụng ởcác cơ quan, đơn vị chức năng. Tiềm năng tiết kiệm chi phí trong sản xuất và tiêu dùng là rất lớn. Vì vậy, nhà nước nhu yếu những cơ quan nhà nước cắt giảm 10 % tiêu tốn hành chính, những doanhnghiệp phải thanh tra rà soát tổng thể những khoản chi nhằm mục đích hạ giá tiền và phí lưu thông. Chính phủkêu gọi mọi người, mọi nhà triệt để tiết kiệm chi phí tiêu dùng, nhất là nguyên vật liệu, nguồn năng lượng. Đây là giải pháp vừa có tính năng giảm sức ép về cầu, giảm nhập siêu, vừa góp phầnnâng cao hiệu suất cao của cả nền sản xuất xã hội. 6. Tăng cường công tác làm việc quản trị thị trường chống đầu tư mạnh buôn lậu và gianlận thương mại, trấn áp việc chấp hành pháp lý nhà nước về giá. Tăng cường công tác làm việc quản trị thị trường, trấn áp việc chấp hành pháp luậtnhà nước về giá. Kiên quyết không để xảy ra thực trạng lạm dụng những dịch chuyển trênthị trường để đầu tư mạnh, nâng giá, nhất là những mẫu sản phẩm thiết yếu cho sản xuất và tiêuNhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học TM – Trang 13 – TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔdùng, như : xăng dầu, sắt thép, xi-măng, thuốc chữa bệnh, lương thực, thực phẩm … ngăn ngừa thực trạng buôn lậu qua biên giới, đặc biệt quan trọng là buôn lậu xăng dầu, khoángsản. Các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phải liên tục kiểm tra giábán tại những mạng lưới kinh doanh nhỏ và những đại lý kinh doanh nhỏ của doanh nghiệp mình. nhà nước đãchỉ đạo những tổng công ty nhà nước phải gương mẫu đi đầu trong việc triển khai yêu cầunày và chịu nghĩa vụ và trách nhiệm trước nhà nước về hoạt động giải trí của mạng lưới hệ thống kinh doanh nhỏ và đại lýbán lẻ của doanh nghiệp. nhà nước cũng nhu yếu những hiệp hội ngành hàng tham giatích cực, ủng hộ những chủ trương và giải pháp bình ổn thị trường, giá thành. 7. Tăng cường những giải pháp tương hỗ không thay đổi đời sống và sản xuất của nhândân, lan rộng ra việc triển khai những chủ trương về phúc lợi xã hội. Trước tình hình giá thành tăng cao, tác động ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân, nhất làvùng nghèo, hộ nghèo, vùng bị thiên tai, người lao động có thu nhập thấp. Chính phủđã chủ trương lan rộng ra những chủ trương về phúc lợi xã hội. nhà nước quyết định hành động tăng 20 % mức lương tối thiểu cho người lao động thuộckhối cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức triển khai chính trị, tổ chức triển khai chính trị – xã hộitừ ngày 1 tháng 1 năm 2008. nhà nước pháp luật kiểm soát và điều chỉnh mức lương tối thiểu theohướng tăng lên so với lao động Việt Nam thao tác cho doanh nghiệp vốn góp vốn đầu tư nướcngoài, cơ quan, tổ chức triển khai quốc tế, tổ chức triển khai quốc tế và cá thể người quốc tế tạiViệt Nam, lao động thao tác ở công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ mái ấm gia đình, cá thể và những tổ chức triển khai khác của Việt Nam có dịch vụ thuê mướn lao động. Riêng với người lao động đã qua học nghề ( kể cả lao động do doanh nghiệp tựdạy nghề ), mức lương tối thiểu pháp luật cao hơn tối thiểu 7 % so với mức lương tối thiểuvùng. Ngoài ra, khoảng chừng 1,8 triệu người về hưu và người hưởng trợ cấp bảo hiểm xãhội đã được tăng lương 20 %, hơn 1,5 triệu người có công đã được kiểm soát và điều chỉnh trợ cấplên 20 % so với mức chuẩn hiện hành. Mới đây, Thủ tướng nhà nước đã phát hành quyết định hành động số 289 / QĐ-TTg về mộtsố chủ trương tương hỗ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chủ trương, hộ nghèo, hộcận nghèo và ngư dân. Theo đó, thực thi cấp bằng tiền tương tự 5 lít dầuhoả / năm ( dầu thắp sáng ) cho những hộ là đồng bào dân tộc thiểu số, chủ trương và hộNhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học TM – Trang 14 – TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔnghèo ở những nơi chưa có điện, kiểm soát và điều chỉnh mức tương hỗ mua bảo hiểm y tế cho ngườinghèo lên 130.000 đồng / người / năm ; tương hỗ 50 % mệnh giá thẻ bảo hiểm y tế đối vớithành viên thuộc hộ cận nghèo tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện ; tương hỗ ngư dân muamới, đóng mới hay thay máy tàu sang loại tiêu tốn ít nguyên vật liệu hơn ; tương hỗ về kinh phívà bảo hiểm tai nạn đáng tiếc cho thuyền viên thao tác theo hợp đồng trên những tàu cá, tàu dịchvụ ; tương hỗ về dầu cho ngư dân là chủ sở hữu tàu đánh bắt cá món ăn hải sản hoặc tàu cung ứngdịch vụ cho hoạt động giải trí khai thác món ăn hải sản. nhà nước quyết định hành động giữ không thay đổi mức thu học phí, viện phí và liên tục cho sinhviên, học viên ĐH, cao đẳng, học nghề có thực trạng khó khăn vất vả được vay khuyến mại đểhọc tập. Tiếp tục xuất gạo dự trữ vương quốc cấp không thu tiền cho hộ đồng bào bị thiêntai, thiếu đói. Đồng thời, liên tục tăng cường việc thực thi những chương trình mục tiêuquốc gia, những giải pháp tương hỗ khác so với những vùng khó khăn vất vả, vùng bị thiên tai. Điềuquan trọng cần quan tâm là phải thiết kế xây dựng chính sách và kiểm tra việc thực thi, bảo vệ nguồnhỗ trợ của Nhà nước đến đúng đối tượng người tiêu dùng, không bị thất thoát, tham nhũng. 8. Đẩy mạnh công tác làm việc thông tin và tuyên truyền. Bộ tin tức và Truyền thông tổ chức triển khai chỉ huy công tác làm việc thông tin tuyên truyềnnhằm tạo sự đồng thuận cao trong tổng thể những cấp, những ngành, địa phương, doanh nghiệpvà trong những những tầng lớp nhân dân để thực thi những tiềm năng và giải pháp đã đề ra nhằmđưa nền kinh tế vượt qua khó khăn vất vả, tăng trưởng không thay đổi. Nhiệm vụ đặt ra là rất nặng nề, khó khăn vất vả thử thách rất nóng bức nhưng thời cơ, thuận tiện và tiềm năng tăng trưởng của nền kinh tế nước ta còn rất lớn và rất cơ bản. nhà nước nhu yếu những Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quanthuộc nhà nước, quản trị Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố thường trực Trung ương căncứ công dụng, trách nhiệm được giao và tiềm năng, những giải pháp trên, có kế hoạch tổ chứcthực hiện ngay trong tháng 4 năm 2008. Các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin đúng mực, ủng hộ những chủ trương, chủ trương của Nhà nước trên nghành nhạy cảm này, tránh những thông tin sai sự thậtcó tính kích động, gây tâm ý không an tâm trong xã hội. Nhóm 10 – Lớp HK5 – Trường Đại Học TM – Trang 15 – TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔPHẦN IV : CÁC GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT LẠM PHÁTMÀ NHNN ĐÃ THỰC HIỆNTrước việc lạm phát tăng quá cao tác động ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống củadân chúng, NHNN đã triển khai những giải pháp thắt chặt tiền tệ với mong ước nhanhchóng đưa chỉ số giá tiêu dùng giảm xuống, gồm có : tăng Dự trữ bắt buộc ( DTBB ) 2 lần từ 5 % – 10 % – 11 % so với VNĐ và từ 8 % – 10 % – 11 % so với ngoại tệ, đồng thời mởrộng kỳ hạn tiền gửi phải triển khai DTBB từ < 24 tháng thành toàn bộ những kỳ hạn ; Tăngtất cả những mức lãi suất vay cơ bản từ 8,25 % - 8,75 %, lãi suất vay tái cấp vốn từ 6,5 % - 7,5 %, lãisuất tái chiết khấu từ 4,5 % - 6 % ; liên tục hút tiền về trên Thị Trường mở ; NHNN pháthành tín phiếu bắt buộc khoảng chừng trên 20 nghìn tỷ đồng khởi đầu từ 19/3/2008 với kỳ hạn12 tháng, lãi suất vay 7,58 % ; Tiếp tục triển khai chuyển khoảng chừng 50 nghìn tỷ đồng từ tiềngửi kho bạc về Ngân hàng Nhà nước ; Trong quý IV / 2007, NHNN thực thi hạn chếtối đa mua ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng nhà nước để hạn chế tổng phương tiện đi lại thanhtoán tăng cao ; Thắt chặt cho vay sàn chứng khoán ở mức 3 % / tổng dư nợ, sau đó tiếp tụckiểm soát mức cho vay góp vốn đầu tư sàn chứng khoán không vượt quá 20 % vốn điều lệ, đồngthời tăng thông số rủi ro đáng tiếc so với cho vay góp vốn đầu tư sàn chứng khoán từ 150 % lên 250 % theoQuyết định 03 ngày 1/2/2008 Tóm lại nhà nước đã có những quyết sách đúng hướng tập trung chuyên sâu vào năm khuvực then chốt nhất, cấp bách nhất lúc bấy giờ đó là : vận dụng những giải pháp đồng điệu cả vềcơ chế chủ trương và tín dụng thanh toán nhằm mục đích không thay đổi thị trường bất động sản vốn có nguy cơảnh hưởng nghiêm trọng đến mạng lưới hệ thống ngân hàng nhà nước ; những giải pháp vực dậy thị trườngchứng khoán, củng cố lòng tin của công chúng và những nhà đầu tư vào năng lực giảiquyết những yếu tố kinh tế tài chính của nhà nước theo nguyên tắc thị trường ; củng cố và tăngcường tính thanh toán của những ngân hàng nhà nước thương mại ; giảm bớt sức ép ngân sách sảnxuất vốn đang rất stress của những doanh nghiệp, gồm có trấn áp giá nguồn vào, giá độc quyền, từng bước giảm lãi suất vay cho vay theo đà giảm lạm phát, tăng cường muangoại tệ cho doanh nghiệp xuất khẩu và những nhà đầu tư quốc tế ; có chủ trương cụthể kể cả chủ trương tín dụng thanh toán nhằm mục đích hồi sinh và tăng trưởng sản xuất nông nghiệp, tăngNhóm 10 - Lớp HK5 – Trường Đại Học TM - Trang 16 - TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔcung về lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng thiết yếu, tiến tới không thay đổi Chi tiêu cácmặt hàng này, coi đây là tiềm năng quan trọng nhất của tiến trình chống lạm phát1. Chính sách tiền tệ là một trong những công cụ chủ yếuDưới ảnh hưởng tác động của cuộc khủng hoảng cục bộ tài chình và suy thoái và khủng hoảng kinh tế toàn cầucùng với những sống sót, yếu kém nội tại của nền kinh tế, trong 2 năm qua nền kinh tếnước ta đã có những dịch chuyển về phương diện kinh tế vĩ mô. Do đó chỉ riêng từ quý 1/2008 đến quý 4/2008 đã có 2 lần biến hóa rất lớn về chínhsách và tiềm năng tăng trưởng kinh tế : Đứng trước áp lực đè nén lạm phát, mà tín hiệu rõ nét từQuý 4/2007, cùng với ảnh hưởng tác động xấu đi, do ngày càng tăng đột biến giá thành 1 số ít hàng hóatrên thị trường quốc tế, tháng 3.2008 chính phủ nước nhà đã chuyển tiềm năng và chủ trương từsự theo đuổi tiềm năng tăng trưởng cao sang chủ trương ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổnđịnh kinh tế vĩ mô với 8 nhóm giải pháp. Kết quả từ tháng 6.2008 chỉ số CPI của nềnkinh tế đã có khuynh hướng giảm dần và kinh tế vĩ mô có tín hiệu không thay đổi hơn. Nhưng sau15. 9.2008, thời gian thực sự nổ ra cuộc khủng hoảng cục bộ kinh tế tài chính toàn thế giới, cùng với sựsuy thoái khá sâu về kinh tế, đã tác động ảnh hưởng rất xấu đi đến nhiều lãnh vực trong hoạtđộng kinh tế của nước ta và từ đầu quý 4/2008 nền kinh tế có tín hiệu thiểu phát dosức cầu giảm. Một lần nữa tiềm năng và chủ trương kinh tế phải đổi khác : chuyển từ ưutiên kiềm chế lạm phát sang ngăn ngừa suy giảm kinh tế, kích thích góp vốn đầu tư và tiêu dùngvới 5 nhóm giải pháp đang triển khai đến nay. Có thể nói trong vòng chưa đầy một năm nền kinh tế đã có 2 bước ngoặt về sửdụng chủ trương kinh tế vĩ mô để thích nghi với tình hình đơn cử, trong đó hoàn toàn có thể nóivai trò quyết định hành động là sử dụng những công cụ của chủ trương tiền tệ. Điểm qua vai trò củachính sách tiền tệ đã thực thi trong 2 bước ngoặt trên để qua đó làm rõ vai trò của nótrong quy trình tiến độ sau thời kỳ suy giảm. 1.1. Lý luận và thực tiễn sử dụng chủ trương tiền tệ như một trong nhữngcông cụ hầu hết để điều tiết kinh tế vĩ mô : Về triết lý, kinh tế vĩ mô thường tập trung chuyên sâu vào 4 tiềm năng chính : ( 1 ) Tốc độ tăng trưởng kinh tế phản ánh qua vận tốc tăng trưởng GDP hay GNPcùng với chỉ tiêu GDP / người vào những mốc thời hạn nhất định. Đây là tiềm năng baotrùm nhất của kinh tế vĩ mô phản ảnh chung nhất về thành tựu tăng trưởng của một nềnNhóm 10 - Lớp HK5 – Trường Đại Học TM - Trang 17 - TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔkinh tế. Tuy chỉ báo này chưa phản ảnh rất đầy đủ chất lượng của một nền kinh tế, nhưngluôn luôn là chỉ báo quan trọng nhất để nhìn nhận sự thành công xuất sắc hay thất bại của mộtnền kinh tế. ( 2 ) Kiểm soát giá thành trải qua chỉ báo CPI hay thường nói là trấn áp lạmphát là chỉ báo quan trọng nhất phản ảnh tính không thay đổi của kinh tế vĩ mô. Chỉ báo nàycòn được sử dụng như một công cụ xử lý mối quan hệ giữa tiềm năng tăng trưởngkinh tế với phúc lợi xã hội. ( 3 ) Tạo việc làm mới cho xã hội, trấn áp tỷ suất thất nghiệp là chỉ báo vừa phảnảnh thực trạng của nền kinh tế, vừa phản ảnh tính không thay đổi về mặt phúc lợi xã hội. Thôngthường ở những nước đây là chỉ báo rất quan trọng không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà còncó ý nghĩa chính trị phản ánh năng lượng quản trị điều hành quản lý của một cơ quan chính phủ. ( 4 ) Tăng xuất khẩu ròng ( lấy kim ngạch xuất khẩu – kim ngạch nhập khẩu ) ; nhất là so với những nền kinh tế hướng về xuất khẩu. Bốn tiềm năng nêu trên được sử dụng khá thông dụng ở những nước như thể nhữngmục tiêu cơ bản của kinh tế vĩ mô. Những tiềm năng này cũng chính là những sản phẩmđầu ra của quan hệ tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế. Vai trò của nhà nước thôngqua những chủ trương và giải pháp kinh tế để ảnh hưởng tác động đến tổng cung và tổng cầu nhằmtạo được “ đầu ra ” theo ý muốn, với nguyên tắc : nhà nước không ảnh hưởng tác động trực tiếp vàochủ thể tạo cung hay tạo cầu, mà ảnh hưởng tác động vào thị trường ( sự hoạt động của tổng cungvà tổng cầu được xem như “ hộp đen ” ) và chính thị trường sẽ tác động ảnh hưởng đến những chủ thểcủa nền kinh tế ( người sản xuất, người tiêu dùng ). Để thực thi 4 tiềm năng nêu trên, nhà nước thường sử dụng 4 nhóm chủ trương hay còn gọi là những nhóm công cụ điềutiết kinh tế vĩ mô : - Chính sách tài khóa gồm có những chủ trương thuế và tiêu tốn của chính phủ nước nhà. Đây là những chủ trương quan trọng nhất vì nó không chỉ ảnh hưởng tác động đến tổng cung vàtổng cầu của nền kinh tế mà còn có ý nghĩa dẫn dắt, khuynh hướng thị trường. Chính sáchtài khóa thường rất linh động để kiểm soát và điều chỉnh kịp thời những tiềm năng kinh tế vĩ mô. Ví dụchính sách tăng thuế để hạn chế tiêu dùng. - Nhóm những chủ trương tiền tệ được ngân hàng nhà nước TW sử dụng để điều tiếtthị trường kinh tế tài chính, mà trọng tâm là triển khai tiềm năng trấn áp lạm phát không thay đổi giáNhóm 10 - Lớp HK5 – Trường Đại Học TM - Trang 18 - TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔcả. Thông thường chủ trương tiền tệ có tác động ảnh hưởng mạnh nhất đến kiểm soát và điều chỉnh tổng cầucủa nền kinh tế trải qua những công cụ như : lãi suất vay, hối đoái, dự trữ bắt buộc, tái chiếtkhấu, những nhiệm vụ của thị trường mở … - Chính sách tiêu tốn nhằm mục đích kiểm soát và điều chỉnh mối quan hệ giữa tích góp và tiêu dùng vàđiều tiết khối cầu của nền kinh tế. Chính sách này được sử dụng tiếp tục trongtrường hợp nền kinh tế ở trong thực trạng lạm phát hoặc giảm phát. - Chính sách ngoại thương nhằm mục đích kiểm soát và điều chỉnh quan hệ xuất nhập khẩu, bảo đảmmục tiêu tăng xuất khẩu ròng ; đồng thời cũng điều tiết tổng cung và tổng cầu nội địacủa nền kinh tế. Bốn nhóm công cụ chủ trương nêu trên tùy theo đặc thù của một nền kinh tếvà trong mỗi quy trình tiến độ nhất định được kiểm soát và điều chỉnh nhằm mục đích bảo vệ Giao hàng có hiệu quảcho những tiềm năng kinh tế vĩ mô. Mục tiêu và công cụ chủ trương kinh tế vĩ mô được khái quát theo sơ đồ dướiđây : Nhóm 10 - Lớp HK5 – Trường Đại Học TM - Trang 19 - TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ1. 2. Thực tiễn sử dụng công cụ chủ trương tiền tệ ở nước taTừ sự nghiên cứu và phân tích triết lý như trên so sánh với thực tiễn ở nước ta cho thấy, trong 2 năm qua nhà nước đã sử dụng khá linh động những công cụ chủ trương kinh tế vĩmô để kiểm soát và điều chỉnh những tiềm năng kinh tế-xã hội, đặc biệt quan trọng là chủ trương tài khóa và chínhsách tiền tệ, đơn cử như sau : + Trong năm 2008, để kiềm chế lạm phát, không thay đổi kinh tế vĩ mô, triển khai ansinh xã hội, trong 8 nhóm giải pháp thực thi từ tháng 3 năm 2008, thì điển hình nổi bật và cótác dụng nhanh nhất là chủ trương tiền tệ. Với tình hình lạm phát cao ( trên 2 % / tháng ) nhà nước triển khai chủ trương siết chặt tiền tệ, trải qua những công cụ của Ngân hàngTW như tăng lãi xuất cơ bản, tăng dự trữ bắt buộc so với ngân hàng nhà nước thương mại, thựchiện tín phiếu bắt buộc so với một số ít tổ chức triển khai tín dụng thanh toán đa phần, hạn chế việc chiếtkhấu những loại sách vở có giá nhằm mục đích kéo giảm vận tốc tăng dư nợ tín dụng thanh toán của những ngânhàng thương mại, giảm tổng cung tiền trong lưu thông dẫn đến giảm tổng cầu củanền kinh tế, tạo sự cân đối mới trong quan hệ giữa Tổng cung - Tổng cầu. Khi mộtnền kinh tế lâm vào thực trạng lạm phát, thì có nhiều nguyên do, gồm có trực tiếpvà gián tiếp, nhưng luôn luôn được bộc lộ qua tiền tệ, nên “ toa thuốc tiền tệ ” có tácdụng nhanh nhất. + Từ đầu năm 2009, nền kinh tế nước ta có vận tốc tăng trưởng suy giảm khámạnh ( GDP quý 1/2008 tăng 7,4 % nhưng quý 1/2009 chỉ còn 3,1 % ), tiềm năng kinh tếvĩ mô là ngăn ngừa suy giảm, nên phải vận dụng những giải pháp để tăng tổng cầu của nềnkinh tế. Một lần nữa chủ trương tiền tệ được sử dụng như công cụ đa phần để phục vụmục tiêu kinh tế. Trong 5 nhóm giải pháp cơ quan chính phủ thực thi từ tháng 12/2008 đến nay, thì điển hình nổi bật vẫn là việc sử dụng công cụ của chủ trương tiền tệ như : thả lỏng chính sáchtín dụng, hạ lãi xuất cơ bản, hạ tỷ suất dự trữ bắt buộc so với ngân hàng nhà nước thương mại, trảnợ tín phiếu bắt buộc, tái chiết khấu và tái cấp vốn qua nhiệm vụ thị trường mở, mởrộng biên độ tỷ giá VND để kích thích sự ngày càng tăng tổng cầu của nền kinh tế, qua đólàm tăng cả tổng cung. Để thực thi gói kích thích kinh tế với quy mô 8 tỷ USD, màchính phủ công bố, thì cho đến nay việc thực thi bù lãi xuất 4 % cho những doanhnghiệp thuộc đối tượng người tiêu dùng vay vốn lưu động vẫn là chủ trương có nhiều tính năng nhất. Nhóm 10 - Lớp HK5 – Trường Đại Học TM - Trang 20 - TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ + Năm 2010 : chỉ số giá tiêu dùng ( CPI ) tháng 10/2010 đã tăng 1,05 %. So vớitháng 12/2009, CPI tháng 10 tăng 7,58 %, chỉ để lại khoảng chừng hẹp 0,42 % cho hai thángcuối năm phấn đấu chốt vào mức tăng 8 % cả năm như nhà nước đã dự kiến. So vớicùng kỳ năm ngoái, CPI tháng này tăng 9,66 %. Còn trung bình 10 tháng năm 2010, CPI đã tăng 8,75 %. Để kiềm chế vững chãi những hành động lạm phát theo mục tiêu đề ratrong những tháng cuối năm và thời hạn tới, nhà nước hiện đã có chỉ huy thực hiệnđồng bộ những trách nhiệm đa phần và những nhóm giải pháp lớn để Phục hồi phát triểnkinh tế, thôi thúc tăng trưởng, không thay đổi kinh tế vĩ mô, ngăn ngừa rủi ro tiềm ẩn tái lạm phátcao. Để tương hỗ tăng trưởng, nhà nước sử dụng tổng thể những công cụ tác động ảnh hưởng vào cácthành tố : tiêu tốn công ( G ), tiêu dùng ( C ), góp vốn đầu tư ( I ) và xuất khẩu nhằm mục đích cải tổ nhậpsiêu, hướng tới xuất khẩu ròng ( NX ) trải qua chủ trương tiền tệ và chủ trương tàikhóa ; một công cụ nữa cũng được nhà nước Việt Nam đặc biệt quan trọng chăm sóc đó là thôngtin - tiếp thị quảng cáo. Ngân hàng Nhà nước đã phát hành Thông tư số 03/2010 / TT-NHNN quy địnhtăng tỉ giá trung bình liên ngân hàng nhà nước giữa USD và VND tăng thêm 603 đồng kể từngày 11/2/2010, tăng thêm 3,3 % so với tỉ giá ngày trước đó. Tăng tỉ giá ngoại tệ, trướchết so với USD, như một hành động thiết yếu, khó tránh khỏi trong kiểm soát và điều chỉnh chínhsách tiền tệ năm 2010 nhằm mục đích làm giảm áp lực đè nén xấu đi của chênh lệch tỷ giá giữa đồngVND với đồng USD và những đồng ngoại tệ khác trên thị trường chính thức và thị trườngtự do, cũng như để tương thích chính sách quản trị tỷ giá chung trên quốc tế và xu hướnggiảm giá những đồng xu tiền này trong thời hạn qua. Về tổng quát và lâu dài hơn, việc điềuchỉnh tỷ giá này có ảnh hưởng tác động tốt nhằm mục đích hạn chế, giải toả thực trạng găm giữ, cũng nhưkỳ vọng đầu tư mạnh, góp thêm phần cân đối theo nguyên tắc thị trường cung - cầu về ngoại tệ, kích thích xuất khẩu và tăng cường sản xuất trong nước, từ đó góp thêm phần kiềm chếvững chắc lạm phát. Đối với chủ trương tài khoá : Trong kế hoạch tăng trưởng KT-XHnăm 2010, tổng vốn góp vốn đầu tư xã hội được xác lập lên tới 41 % GDP, một tỷ suất kỷ lụctrong nhiều năm qua ; trong đó chi góp vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước ( NSNN ) chiếmkhoảng 17 %, bằng khoảng chừng 22 % tổng dự toán chi NSNN năm 2010. Chính việc tăngđầu tư này sẽ dẫn đến tăng nhập khẩuNhóm 10 - Lớp HK5 – Trường Đại Học TM - Trang 21 - TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ2. Chính sách tiền tệ trong tiến trình “ hậu khủng hoảng cục bộ ” 2.1. Kinh tế toàn thế giới bước vào thời kỳ “ hậu khủng hoảng cục bộ ” Theo dõi diễn biến tình hình kinh tế quốc tế từ đầu năm đến nay cho thấy, cuộckhủng hoảng kinh tế tài chính toàn thế giới chắc như đinh không dẫn đến một cuộc đại khủng hoảngkinh tế như thời kỳ 1929 - 1933, mà đã có nhiều người lo ngại. Tác động của khủnghoảng kinh tế tài chính đã dẫn đến suy thoái và khủng hoảng kinh tế toàn thế giới, nhưng đến nay hoàn toàn có thể tin rằng, sự suy giảm đã chạm đáy. Thật vậy, so với thị trường kinh tế tài chính, thì đáy của khủng hoảng cục bộ đã không lập lạisau ngày 10/3/2009, ngày có những chỉ số của những kinh doanh thị trường chứng khoán Mỹ đạt mứcthấp nhất. Đối với suy giảm kinh tế thì hầu hết những nền kinh tế chịu tác động ảnh hưởng lớnnhất đều tin rằng đã đến đáy : Ba nền kinh tế lớn Mỹ, EU và Nhật bản đã có dấu hiệutăng trưởng dương ; tỷ suất thất nghiệp giảm ; những nền kinh tế khác như Hàn quốc, Nước Singapore đang có sự phục sinh ngoạn mục. Trung quốc, ấn độ, Indonesia đang tậptrung tăng cường trở lại với đầy tham vọng của thời kỳ hậu khủng hoảng cục bộ. Có thể nói : Thế giới đang thực sự bước vào thời kỳ hậu khủng hoảng cục bộ. Các quốcgia đang nỗ lực thực thi những kế hoạch riêng của mình ; một cuộc chạy đua mới đangdiễn ra, mặc dầu vận tốc hồi sinh chung của nền kinh tế toàn thế giới rất chậm và phần nàođó ngưng trệ cho đến giữa năm tới, khi niềm tin của nhà đầu tư và tính không thay đổi của nền tàichính được củng cố. 2.2. Kinh tế Việt Nam đang phục hồiVới đặc thù của một nền kinh tế có độ mở cao, cùng với đặc thù của mộtnền kinh tế mang nặng đặc thù gia công, tỷ trọng giá trị ngày càng tăng thấp trong cơ cấu tổ chức giátrị mẫu sản phẩm, nên chịu ảnh hưởng tác động rất lớn của thị trường quốc tế. Tuy nền kinh tế nước takhông chịu tác động ảnh hưởng trực tiếp của khủng hoảng cục bộ kinh tế tài chính toàn thế giới ; mạng lưới hệ thống tài chính-tín dụng giữ được không thay đổi, nhưng sự tăng trưởng kinh tế trong nước vẫn chịu ảnhhưởng bởi mức độ hồi sinh của thị trường quốc tế. Tuy nhiên, nếu xét về mạng lưới hệ thống tàichính-tín dụng, thì thời gian khó khăn vất vả nhất đã rơi vào quý 2/2008, còn tăng trưởngkinh tế khó khăn vất vả nhất cũng đã rơi vào quý 1/2009. Phần thời hạn còn lại của năm nayvà năm 2010 hoàn toàn có thể xem là thời kỳ hồi sinh, nên những chủ trương kinh tế triển khai vàoNhóm 10 - Lớp HK5 – Trường Đại Học TM - Trang 22 - TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔthời kỳ này có ý nghĩa rất quan trọng, không riêng gì cho tiến trình này, mà tạo tiền đề pháttriển cho quá trình “ tăng cường ” tiếp theo. 2.3. Vai trò của chủ trương tiền tệ thời kỳ sau suy giảmNhư đã nói ở trên, nền kinh tế toàn thế giới đang bước vào giai đoạn hậu suy giảmvà mỗi vương quốc đều đang nỗ lực trong một cuộc chạy đua mới trong quy trình toàn cầuhóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng hơn. Đối với nền kinh tế nước ta, dưới ảnh hưởng tác động của cuộc khủng hoảng cục bộ kinh tế tài chính và suy thoái và khủng hoảng kinh tế toàn thế giới, bài họcđược rút ra quan trọng là : Sự chưa ổn của Mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiềungang, hầu hết dựa vào sự tăng vốn góp vốn đầu tư, sử dụng lao động rẻ, khai thác tài nguyênthô và gia công hàng xuất khẩu, biểu lộ qua những chỉ báo như : thông số ICOR, VA / GO, cơ cấu tổ chức hàng xuất khẩu, hiệu suất lao động, tổng yếu tố của tăng trưởng. Do đó, vấn đềtrọng tâm của quá trình “ sau suy giảm ” là : Tổ chức lại nền kinh tế nhằm mục đích chuyển nềnkinh tế từ đặc thù gia công sang sản xuất ; tham gia vào chuỗi giá trị toàn thế giới ; chuyểnnền kinh tế từ chịu ràng buộc sang tương thuộc trong quy trình hội nhập nhằm mục đích xác lập vị thếcủa nền kinh tế Viêt nam trong thời kỳ “ hậu khủng hoảng cục bộ ” với sự dự báo sẽ diễn racuộc chạy đua nhằm mục đích biến hóa trật tự kinh tế quốc tế trong quan hệ toàn thế giới và khu vực. Dĩ nhiên, để thực thi tiềm năng tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng nâng caosức cạnh tranh đối đầu nêu trên, nhà nước cần sử dụng cả mạng lưới hệ thống công cụ quản trị nhà nướcvề kinh tế như : mạng lưới hệ thống pháp lý kiểm soát và điều chỉnh mọi hoạt động giải trí của đời sống kinh tế ; công cụ quy hoạch và kế hoạch ; 4 công cụ điều tiết vĩ mô ; lực lượng kinh tế nhà nước, những công cụ chủ trương tiền tệ có tầm quan trọng đặc biệt quan trọng so với đặc thù của nềnkinh tế nước ta, được nhìn ở những giác độ ảnh hưởng tác động đến tiềm năng tăng trưởng và ổn địnhkinh tế vĩ mô. Thật vậy, lúc bấy giờ và có lẽ rằng trong nhiều năm tới, nguồn vốn cho nền kinhtế hầu hết vẫn được kêu gọi và phân bổ qua mạng lưới hệ thống ngân hàng nhà nước và những định chế tíndụng trung gian phi ngân hàng nhà nước, mà những định chế này đều quản lý và vận hành theo sự điều tiết củachính sách tiền tệ. Do đó, chủ trương tiền tệ có ý nghĩa quyết định hành động so với sự vận độngcủa dòng vốn góp vốn đầu tư và ngay cả kế hoạch kinh doanh thương mại của doanh nghiệp. Trên trong thực tiễn, chủ trương tiền tệ đóng vai trò đa phần, không riêng gì trong việc tương hỗ doanh nghiệp vềnguồn vốn lưu động, mà đang tạo điều kiện kèm theo cho doanh nghiệp nào có kế hoạch kinhdoanh tốt hoàn toàn có thể tận dụng để thực thi kế hoạch tăng trưởng dài hạn, trải qua đầu tưNhóm 10 - Lớp HK5 – Trường Đại Học TM - Trang 23 - TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔphát triển loại sản phẩm mới. Chính sách tiền tệ vẫn là công cụ hầu hết để không thay đổi Ngân sách chi tiêu, thực thiện chủ trương ngoại thương trải qua sự quản lý chủ trương tỷ giá và bảođảm tính thanh toán trong giao dịch thanh toán quốc tế. Tóm lại, với vai trò là công cụ hầu hết tác động ảnh hưởng đến sự hoạt động của tổng cungvà tồng cầu của nền kinh tế. Chính sách tiền tệ của nước ta trong thời hạn gần đây đãđược chính phủ nước nhà sử dụng một cách linh động trong việc kiềm chế lạm phát và đang gópphần quan trọng trong việc ngăn ngừa suy giảm kinh tế lúc bấy giờ. Trong thời kỳ sau suygiảm, chủ trương tiền tệ chính là công cụ để tương hỗ những doanh nghiệp tái cấu trúc nhằmnâng cao sức cạnh tranh đối đầu, trải qua việc sử dụng linh động và hiệu suất cao những công cụ tiềntệ của NHNN. 3. Các giải pháp trong thời hạn tớiThứ nhất : Tiếp tục triển khai chủ trương tiền tệ một cách ngặt nghèo, thận trọng ; sửdụng linh động và hiệu suất cao những công cụ chủ trương tiền tệ : xem xét việc tăng dự trữ bắtbuộc ; liên tục vận dụng giải pháp mua tín phiếu Ngân hàng Nhà nước bắt buộc đã côngbố ; trấn áp vận tốc tăng tín dụng thanh toán và tổng phương tiện đi lại thanh toán giao dịch một cách hài hòa và hợp lý, trong đó mức tăng trưởng tín dụng thanh toán tối đa 30 % ; trấn áp cho vay bất động sản, kinhdoanh sàn chứng khoán và cho vay tiêu dùng. Thứ hai : Thực hiện tương hỗ vốn cho những ngân hàng nhà nước thương mại để bảo vệ khảnăng thanh toán giao dịch. Thứ ba : Tiếp tục mua ngoại tệ của những nhà đầu tư trên cơ sở nguồn đáp ứng đãđược nhà nước phê duyệt một mặt để bổ trợ dự trữ ngoại hối nhà nước, mặt khácnhằm phân phối đủ vốn cho những doanh nghiệp kinh doanh thương mại xuất nhập khẩu. Thứ tư : Tiếp tục quản lý và điều hành tỷ giá giữa đồng xu tiền Việt Nam với đồng Đô la Mỹnói riêng và những loại ngoại tệ nói chung theo hướng cân đối những tiềm năng xuất nhậpkhẩu, sản xuất trong nước và nhập siêu ; lan rộng ra biên độ giao động của tỷ giá lên ± 2 %. Thứ năm : Nghiên cứu trình nhà nước về chính sách trấn áp luồng vốn gián tiếpvà yếu tố những nhà đầu tư kế hoạch quốc tế mua CP bằng ngoại tệ ; Tiếp tụctriển khai Quyết định số 98/2007 / QĐ-TTg của Thủ tướng nhà nước phê duyệt Để ánnâng cao tính quy đổi của đồng Việt Nam, khắc phục thực trạng đô la hoá trong nềnNhóm 10 - Lớp HK5 – Trường Đại Học TM - Trang 24 - TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔkinh tế ; Dự báo tình hình cung và cầu ngoại tệ trên thị trường trong và ngoài nước và đềxuất những giải pháp phòng ngừa những rủi ro đáng tiếc trong trường hợp luồng vốn hòn đảo chiều. 4. Việt Nam phục sinh cho chu kỳ luân hồi mớiĐánh giá về tình hình kinh tế vĩ mô sau khi kết thúc quý I / 2010, hầu hết cácchuyên gia kinh tế tại Hội thảo mới gần đây do báo Đầu tư tổ chức triển khai, đều cho rằng : ViệtNam đang trong tiến trình đầu của chu kỳ luân hồi phục sinh kinh tế. Tuy nhiên, toàn cảnh kinhtế của doanh nghiệp trong nước đã khác : Các chủ trương kích thích kinh tế đã chấmdứt ; giá nguyên vật liệu trên quốc tế đã xác lập mặt phẳng cao ; lãi suất vay cho vay duy trìở mức cao từ quý IV / 2009 Như vậy, nhiều doanh nghiệp đã mất đi lợi thế để có thểtạo ra doanh thu đột biến trong năm 2010. Các chuyên viên cũng thống nhất rằng : Tăng trưởng là yếu tố tiên quyết để cảithiện mức sống và điều kiện kèm theo của một vương quốc còn nghèo như Việt Nam. Tuy nhiên, nếu duy trì tăng trưởng dựa trên tích tụ những không ổn định vĩ mô thì sự tăng trưởng đó cũngchỉ mang tính thời gian ngắn mà thôi. Trong thời gian ngắn, những không ổn định vĩ mô vẫn là một cản trở lớn cho tăng trưởngkinh tế và cải tổ thiên nhiên và môi trường kinh doanh thương mại. Trong trung và dài hạn, những yếu tố cơbản như cấu trúc nền kinh tế, sự tăng trưởng của khu vực doanh nghiệp tư nhân, khảnăng phối hợp và điều hành quản lý chủ trương, sẽ là những trở ngại làm chậm quy trình tăngtrưởng của Việt Nam. Có những quan điểm cho rằng tăng trưởng chiều rộng, dựa nhiều vào khai thác tàinguyên, là quy trình tiến độ không tránh khỏi so với những nước mới nhập vào quỹ đạo pháttriển tân tiến. Song thực tiễn không trọn vẹn như vậy : Nhật bản, Nước Hàn, ĐàiLoan, Nước Singapore đưa ra những kinh nghiệm tay nghề trọn vẹn ngược lại. Những vương quốc đisau, nếu biết học hỏi và rút kinh nghiệm tay nghề trong quy trình kiến thiết xây dựng kế hoạch pháttriển, càng không nhất định phải như vậy. Cho đến tận giờ đây, ngay cả khi những hậu qủa của cách tăng trưởng " nóng " thời hạn qua đã thể hiện rõ ràng thì, như một vị giáo sư kinh tế quốc tế : " thật đángbuồn là vẫn chưa thấy có tín hiệu gì chứng tỏ Việt Nam thực sự muốn leo lên nhữngnấc thang cao hơn trên chuỗi giá trị ngày càng tăng toàn thế giới và khu vực ". Nhóm 10 - Lớp HK5 – Trường Đại Học TM - Trang 25 -