Thị trường tiền tệ Việt Nam – thực trạng và giải pháp – Tài liệu text

Thị trường tiền tệ Việt Nam – thực trạng và giải pháp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (136.33 KB, 7 trang )

LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường tiền tệ Việt Nam đã được hình thành và từng bước hoàn thiện gắn liền với
tiến trình đổi mới và phát triển nền kinh tế đất nước. Cho đến nay, mặc dù thị trường tiền tệ
Việt Nam chưa thực sự phát triển, nhưng nó đã đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết
cung cầu về nguồn vốn ngắn hạn nhằm hỗ trợ cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ, đời sống của các chủ thể trong nền kinh tế. Đặc biệt, thị trường đã thực hiện chức năng
cân đối, điều hòa nguồn vốn giữa các ngân hàng, góp phần hỗ trợ cho các ngân hàng đảm
bảo khả năng thanh toán, hoạt động an toàn và hiệu quả. Thông qua các hoạt động trên thị
trường tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thực hiện điều tiết tiền tệ nhằm
thực thi chính sách tiền tệ quốc gia. Có thể khẳng định rằng, thị trường tiền tệ Việt Nam đã
góp phần nhất định trong quá trình phát triển kinh tế đất nước, nhất là quá trình chuyển đổi
sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và từng bước hội nhập kinh tế
quốc tế.
Tuy nhiên, so với lịch sử phát triển thị trường tiền tệ các nước trên thế giới, thị trường
tiền tệ Việt Nam vẫn còn non trẻ và nhiều bất cập, cần đẩy nhanh hoàn thiện để phát triển.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX và Nghị quyết Hội
nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X xác định phát triển thị trường tài
chính có vai trò quan trọng trong việc phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường. Do đó việc
đánh giá đúng thực trạng các kết quả đạt được, các hạn chế của thị trường tiền tệ Việt Nam
trong thời gian qua và đề ra mục tiêu, định hướng, giải pháp phát triển thị trường trong
những năm tới có ý nghĩa rất lớn để tiếp tục hoàn thiện thị trường tiền tệ, đáp ứng yêu cầu
của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Xuất phát từ những lý do trên, nhóm học viên cao học lớp ngày 3 – khóa 17, chọn đề
tài: “Thị trường tiền tệ Việt Nam – thực trạng và giải pháp” làm chủ đề nghiên cứu của
nhóm.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là:
– Đánh giá thực trạng những kết quả đạt được và những hạn chế trong quá trình hình
thành và phát triển thị trường tiền tệ Việt Nam trong 15 năm qua (7/1993 -5/2008);
– Xác định nguyên nhân của những tồn tại, yếu kém của thị trường tiền tệ Việt Nam
hiện nay;
Thị trường tiền tệ Việt Nam – Thực trạng và Giải pháp Nhóm 5

– Đưa ra mục tiêu, định hướng và giải pháp thực hiện phát triển thị trường tiền tệ
Việt Nam từ nay đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2015.
Phương pháp nghiên cứu, thu thập dữ liệu:
Nhóm sử dụng phương pháp phân tích định tính dựa trên cơ sở nguồn dữ liệu thứ cấp
thu thập từ tài liệu tạp chí chuyên ngành và báo cáo thống kê chuyên ngành ngân hàng.
Cấu trúc bài viết: ngoài phần mở đầu và phần kết luận bài viết gồm 3 phần:
Phần 1: Cơ sở lý thuyết: Phần này nêu và phân tích một số khái niệm cơ bản về thị
trường tiền tệ;
Phần 2: Thực trạng thị trường tiền tệ Việt Nam: Phần này tập trung đánh giá những kết
quả đạt được và tồn tại, hạn chế trong quá trình hình thành và phát triển thị trường tiền tệ
Việt Nam giai đoạn 7/1993 – 5/2008. Trong đó, tập trung vào các ngiệp vụ thị trường chủ
yếu: thị trường liên ngân hàng, thị trường mở, thị trường đấu thầu trái phiếu chính phủ.
Phần 3: Mục tiêu, định hướng và giải pháp phát triển thị trường tiền tệ Việt Nam từ nay
đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2015: Phần này đưa ra các mục tiêu, định hướng và giải
pháp phát triển thị trường tiền tệ Việt Nam cần hoàn thiện đến năm 2010 và định hướng
phát triển đến năm 2015.
Những người tham gia bài viết này gồm:
1. Trần Văn Phước
2. Lê Quốc Khánh
3. Trần Văn Thanh
4. Lê Quốc Thành
5. Nguyễn Xuân Tân
6. Nguyễn Văn Hương
7. Lê Thị Thanh Huyền
8. Nguyễn Chí Linh
9. Phạm Yến Vy
10. Phachantha Aphawhone
GVHD: Vũ Thị Minh Hằng Trang 2
Thị trường tiền tệ Việt Nam – Thực trạng và Giải pháp Nhóm 5
Phần 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1. Khái niệm thị trường tiền tệ
– “Thị trường tiền tệ là thị trường mua bán các loại giấy tờ có giá ngắn hạn có kỳ hạn
dưới một năm, là nơi đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn cho nền kinh tế” (Sử Đình Thành và
Vũ Thị Minh Hằng, 2006: 488).
– Ở nước ta, thị trường tiền tệ mới hình thành, công cụ giao dịch trên thị trường tiền tệ
còn ít nên luật pháp cho phép các giấy tờ có giá dài hạn được phép giao dịch trên thị trường
tiền tệ. Theo điều 9, luật sửa đổi một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước (2003) định
nghĩa: “Thị trường tiền tệ là thị trường vốn ngắn hạn, nơi mua, bán ngắn hạn các giấy tờ
có giá, bao gồm tín phiếu kho bạc, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước, chứng chỉ tiền gửi và
các giấy tờ có giá khác”.
2. Các loại thị trường tiền tệ
Thị trường tiền tệ được phân loại căn cứ vào cách thức tổ chức hoặc loại công cụ.
2.1. Phân loại theo cơ cấu tổ chức:
Thị trường tiền tệ bao gồm:
– Thị trường tiền tệ cổ điển: là thị trường vay vốn ngắn hạn giữa các tổ chức tín dụng
(TCTD) đặt dưới sự quản lý của ngân hàng trung ương (NHTW). Hàng ngày, tại đây hình
thành lãi suất chỉ đạo thị trường tiền tệ, như: lãi suất LIBOR trên thị trường tiền tệ London
(London Inter Banking Offered rate), lãi suất PIBOR trên thị trường tiền tệ Paris (Paris Inter
Banking Offered rate), SIBOR (thị trường tiền tệ Singapore)…
– Thị trường tiền tệ mới: đây là thị trường các trái phiếu ngắn hạn, cơ cấu của nó gồm 2
cấp:
+ Thị trường tiền tệ sơ cấp: là thị trường tiền tệ chuyên phát hành các loại trái phiếu
ngắn hạn lần đầu.
+ Thị trường tiền tệ thứ cấp: là thị trường tiền tệ tổ chức mua bán lại các trái phiếu
đã phát hành ở thị trường sơ cấp.
+ Thị trường mở (Openmarket operation): là thị trường mua bán các loại chứng
khoán nhà nước ngắn hạn như: tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ,… nhằm điều tiết
cung cầu tiền tệ trong nền kinh tế. Tức thông qua thị trường mở, NHTW có thể làm cho
“tiền dự trữ” của các ngân hàng thương mại (viết tắt NHTM) tăng lên hoặc giảm xuống, từ
đó tác động đến khả năng cung cấp tín dụng của NHTM làm ảnh hưởng đến khối lượng tiền

tệ của nền kinh tế.
GVHD: Vũ Thị Minh Hằng Trang 3
Thị trường tiền tệ Việt Nam – Thực trạng và Giải pháp Nhóm 5
2.2. Phân loại theo đối tượng tham gia: Thị trường tiền tệ bao gồm:
– Thị trường tín dụng ngắn hạn giữa các NHTM (hay thị trường liên ngân hàng –
Interbank): Thị trường này dưới sự điều hành của NHTW nhằm mục đích điều tiết vốn
trong hệ thống NHTM đồng thời tạo điều kiện cho NHTW thực hiện vai trò là người cho
vay cuối cùng.
– Thị trường các công nợ ngắn hạn như: tín phiếu kho bạc, thương phiếu, kỳ phiếu ngân
hàng, chứng chỉ tiền gửi, các khế ước cho vay. .. bao gồm cả thị trường phát hành và thị
trường lưu thông, thị trường này biểu hiện cho sự phát triển thị trường tiền tệ.
– Thị trường hối đoái: là thị trường giao dịch các loại ngọai tệ và các phương tiện thanh
tóan có giá trị ngoại tệ, là một bộ phận quan trọng trong kết cấu thị trường tiền tệ. Thị
trường ngọai hối mang đặc trưng là tính quốc tế cao, hoạt động của nó đáp ứng những nhu
cầu về thương mại, đầu tư ngắn hạn trên bình diện quốc tế, đặc biệt là tạo điều kiện can
thiệp của NHTW nhằm đảm bảo sức mua đối ngoại của đồng tiền quốc gia.
Công cụ hoạt động thị trường hối đoái, gồm: hợp đồng giao ngay (Spot), hợp đồng hoán
đổi (Swap), hợp đồng kỳ hạn (Forward), hợp đồng quyền chọn (Option)…. nhờ đó đáp ứng
được phần lớn nhu cầu ngoại tệ cho các đơn vị, tổ chức và làm cho thị trường ngoại hối trở
nên nhộn nhịp hơn.
3. Các chủ thể tham gia thị trường tiền tệ
– Trong quá trình phát triển của thị trường tiền tệ, thị trường liên ngân hàng là hình thức
sơ khai của thị trường tiền tệ hoạt động với mục đích cân đối, điều hòa vốn giữa các NHTM
với các TCTD nhằm khai thông khả năng thanh toán cho các TCTD. Vì vậy, nếu xét theo
chiều ngang, thị trường tiền tệ biểu hiện quan hệ điều tiết vốn giữa các NHTM, các TCTD.
Còn nếu xét theo chiều dọc, thị trường tiền tệ biểu hiện mối quan hệ giữa NHTW và NHTM
qua con đường tái chiết khấu, trong đó lãi suất tái chiết khấu là một công cụ linh hoạt để
NHTW điều tiết vĩ mô nền kinh tế trong quá trình thực thi chính sách tiền tệ.
Ngày nay, quy mô họat động của thị trường tiền tệ được mở rộng về phạm vi điều tiết
vốn, theo đó các chủ thể tham gia trên thị trường đa dạng hơn.

Các chủ thể tham gia trên thị trường tiền tệ bao gồm:
– Chủ thể cung ứng nguồn vốn như: NHTW, NHTM, các TCTD khác… Việc đầu tư
nguồn vốn ngắn hạn trên thị trường này có độ rủi ro thấp, do trong thời gian ngắn giá cả
chứng khoán biến động không đáng kể.
– Chủ thể có nhu cầu về vốn như: NHTM, các đơn vị kinh tế khác, kho bạc nhà nước…
Thông qua thị trường tiền tệ, các chủ thể này có thể thu hút được nguồn vốn ngắn hạn dễ
dàng và chi phí thấp.
GVHD: Vũ Thị Minh Hằng Trang 4
Thị trường tiền tệ Việt Nam – Thực trạng và Giải pháp Nhóm 5
– Chủ thể trung gian môi giới, vừa đi vay và vừa cho vay như: NHTM, Công ty chuyên
môi giới.
4. Các nghiệp vụ trên thị trường tiền tệ
4.1. Nghiệp vụ vay và cho vay vốn ngắn hạn
Nghiệp vụ này diễn ra chủ yếu giữa các NHTM, xuất phát từ họat động kinh doanh tiền
tệ, tại một thời điểm nhất định một số NHTM tạm thời thừa vốn trong khi đó một số NHTM
khác rơi vào tình trạng thiếu vốn tạm thời. Do đó để đảm bảo cho khả năng thanh toán,
quan hệ điều tiết vốn giữa các NHTM diễn ra thông qua các hình thức sau:
– Cho vay bằng tiền mặt: Khi NHTM thiếu hụt vốn tạm thời, có thể đi vay tại một
NHTM khác đang thừa vốn tạm thời tại thời điểm đó để đảm bảo khả năng thanh toán. Giao
dịch liên ngân hàng chủ yếu dưới hình thức tín chấp hoặc đảm bảo bằng số dư tiền gửi đối
ứng tại ngân hàng cho vay…; Thời hạn cho vay rất ngắn: hàng ngày (qua đêm), định kỳ 1
tuần, 2 tuần, tháng…
– Cho vay dưới hình thức cầm cố hoặc chiết khấu các chứng từ có giá: Khi có nhu cầu
lớn về vốn, các NHTM đã vay các TCTD khác nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu thì
NHTW có thể hỗ trợ bằng các nghiệp vụ sau:
+ Tái chiết khấu chứng từ có giá: NHTW sẽ nhận chiết khấu lại những chứng từ có
giá mà trước đây NHTM đã chiết khấu cho khách hàng.
+ Bảo chứng lại: NHTW sẽ cho NHTM vay vốn trên cơ sở cầm cố các chứng từ có
giá mà trước đây NHTM đã nhận cầm cố từ khách hàng.
4.2. Nghiệp vụ mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn

Công cụ chủ yếu của nghiệp vụ này là các loại trái phiếu ngắn hạn được phát hành từ thị
trường tiền tệ sơ cấp và bán lại ở thị trường thứ cấp.
Nghiệp vụ này phát sinh trong trường hợp một số chủ thể kinh tế cần bổ sung vốn bằng
tiền của mình nên phát hành một lượng trái phiếu ngắn hạn ra thị trường, trong khi một số
chủ thế khác đang muốn sinh lợi cho khoản vốn nhàn rỗi của mình bằng con đường kinh
doanh trên thị trường tiền tệ, họ sẽ mua bán trái phiếu ngắn hạn. Ở nghiệp vụ này, ngoài trái
phiếu ngắn hạn thì còn có kỳ phiếu thương mại, khế ước nợ, kỳ phiếu ngân hàng, các lọai
thư tín dụng…. Và đặc biệt là họat động của thị trường mở – thực hiện việc mua bán ngắn
hạn dưới 1 năm các giấy tờ có giá trị như tín phiếu, trái phiếu kho bạc. Thông qua nghiệp
vụ này, NHTW điều tiết cung cầu về tiền tệ: tùy theo mục tiêu từng thời kỳ mà NHTW bơm
tiền hay rút bớt tiền ra khỏi lưu thông.
GVHD: Vũ Thị Minh Hằng Trang 5
– Đưa ra tiềm năng, khuynh hướng và giải pháp thực thi tăng trưởng thị trường tiền tệViệt Nam từ nay đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm năm ngoái. Phương pháp nghiên cứu và điều tra, thu thập dữ liệu : Nhóm sử dụng giải pháp nghiên cứu và phân tích định tính dựa trên cơ sở nguồn tài liệu thứ cấpthu thập từ tài liệu tạp chí chuyên ngành và báo cáo giải trình thống kê chuyên ngành ngân hàng nhà nước. Cấu trúc bài viết : ngoài phần khởi đầu và phần Kết luận bài viết gồm 3 phần : Phần 1 : Cơ sở kim chỉ nan : Phần này nêu và nghiên cứu và phân tích một số ít khái niệm cơ bản về thịtrường tiền tệ ; Phần 2 : Thực trạng thị trường tiền tệ Việt Nam : Phần này tập trung chuyên sâu nhìn nhận những kếtquả đạt được và sống sót, hạn chế trong quy trình hình thành và tăng trưởng thị trường tiền tệViệt Nam tiến trình 7/1993 – 5/2008. Trong đó, tập trung chuyên sâu vào những ngiệp vụ thị trường chủyếu : thị trường liên ngân hàng nhà nước, thị trường mở, thị trường đấu thầu trái phiếu chính phủ nước nhà. Phần 3 : Mục tiêu, khuynh hướng và giải pháp tăng trưởng thị trường tiền tệ Việt Nam từ nayđến năm 2010 và tầm nhìn đến năm năm ngoái : Phần này đưa ra những tiềm năng, xu thế và giảipháp tăng trưởng thị trường tiền tệ Việt Nam cần triển khai xong đến năm 2010 và định hướngphát triển đến năm năm ngoái. Những người tham gia bài viết này gồm : 1. Trần Văn Phước2. Lê Quốc Khánh3. Trần Văn Thanh4. Lê Quốc Thành5. Nguyễn Xuân Tân6. Nguyễn Văn Hương7. Lê Thị Thanh Huyền8. Nguyễn Chí Linh9. Phạm Yến Vy10. Phachantha AphawhoneGVHD : Vũ Thị Minh Hằng Trang 2T hị trường tiền tệ Việt Nam – Thực trạng và Giải pháp Nhóm 5P hần 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN1. Khái niệm thị trường tiền tệ – “ Thị trường tiền tệ là thị trường mua và bán những loại sách vở có giá thời gian ngắn có kỳ hạndưới một năm, là nơi cung ứng nhu yếu vốn thời gian ngắn cho nền kinh tế tài chính ” ( Sử Đình Thành vàVũ Thị Minh Hằng, 2006 : 488 ). – Ở nước ta, thị trường tiền tệ mới hình thành, công cụ thanh toán giao dịch trên thị trường tiền tệcòn ít nên lao lý được cho phép những sách vở có giá dài hạn được phép thanh toán giao dịch trên thị trườngtiền tệ. Theo điều 9, luật sửa đổi 1 số ít điều của Luật Ngân hàng Nhà nước ( 2003 ) địnhnghĩa : “ Thị trường tiền tệ là thị trường vốn thời gian ngắn, nơi mua, bán thời gian ngắn những giấy tờcó giá, gồm có tín phiếu kho bạc, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước, chứng từ tiền gửi vàcác sách vở có giá khác ”. 2. Các loại thị trường tiền tệThị trường tiền tệ được phân loại địa thế căn cứ vào phương pháp tổ chức triển khai hoặc loại công cụ. 2.1. Phân loại theo cơ cấu tổ chức tổ chức triển khai : Thị trường tiền tệ gồm có : – Thị trường tiền tệ cổ xưa : là thị trường vay vốn thời gian ngắn giữa những tổ chức triển khai tín dụng thanh toán ( TCTD ) đặt dưới sự quản trị của ngân hàng nhà nước TW ( NHTW ). Hàng ngày, tại đây hìnhthành lãi suất vay chỉ huy thị trường tiền tệ, như : lãi suất vay LIBOR trên thị trường tiền tệ London ( London Inter Banking Offered rate ), lãi suất vay PIBOR trên thị trường tiền tệ Paris ( Paris InterBanking Offered rate ), SIBOR ( thị trường tiền tệ Nước Singapore ) … – Thị trường tiền tệ mới : đây là thị trường những trái phiếu thời gian ngắn, cơ cấu tổ chức của nó gồm 2 cấp : + Thị trường tiền tệ sơ cấp : là thị trường tiền tệ chuyên phát hành những loại trái phiếungắn hạn lần đầu. + Thị trường tiền tệ thứ cấp : là thị trường tiền tệ tổ chức triển khai mua và bán lại những trái phiếuđã phát hành ở thị trường sơ cấp. + Thị trường mở ( Openmarket operation ) : là thị trường mua và bán những loại chứngkhoán nhà nước thời gian ngắn như : tín phiếu kho bạc, trái phiếu cơ quan chính phủ, … nhằm mục đích điều tiếtcung cầu tiền tệ trong nền kinh tế tài chính. Tức trải qua thị trường mở, NHTW hoàn toàn có thể làm cho “ tiền dự trữ ” của những ngân hàng nhà nước thương mại ( viết tắt NHTM ) tăng lên hoặc giảm xuống, từđó tác động ảnh hưởng đến năng lực phân phối tín dụng thanh toán của NHTM làm tác động ảnh hưởng đến khối lượng tiềntệ của nền kinh tế tài chính. GVHD : Vũ Thị Minh Hằng Trang 3T hị trường tiền tệ Việt Nam – Thực trạng và Giải pháp Nhóm 52.2. Phân loại theo đối tượng người tiêu dùng tham gia : Thị trường tiền tệ gồm có : – Thị trường tín dụng thanh toán thời gian ngắn giữa những NHTM ( hay thị trường liên ngân hàng nhà nước – Interbank ) : Thị trường này dưới sự quản lý của NHTW nhằm mục đích mục tiêu điều tiết vốntrong mạng lưới hệ thống NHTM đồng thời tạo điều kiện kèm theo cho NHTW thực thi vai trò là người chovay sau cuối. – Thị trường những nợ công thời gian ngắn như : tín phiếu kho bạc, thương phiếu, kỳ phiếu ngânhàng, chứng từ tiền gửi, những khế ước cho vay. .. gồm có cả thị trường phát hành và thịtrường lưu thông, thị trường này biểu lộ cho sự tăng trưởng thị trường tiền tệ. – Thị trường hối đoái : là thị trường thanh toán giao dịch những loại ngọai tệ và những phương tiện đi lại thanhtóan có giá trị ngoại tệ, là một bộ phận quan trọng trong cấu trúc thị trường tiền tệ. Thịtrường ngọai hối mang đặc trưng là tính quốc tế cao, hoạt động giải trí của nó cung ứng những nhucầu về thương mại, góp vốn đầu tư thời gian ngắn trên bình diện quốc tế, đặc biệt quan trọng là tạo điều kiện kèm theo canthiệp của NHTW nhằm mục đích bảo vệ nhu cầu mua sắm đối ngoại của đồng xu tiền vương quốc. Công cụ hoạt động giải trí thị trường hối đoái, gồm : hợp đồng giao ngay ( Spot ), hợp đồng hoánđổi ( Swap ), hợp đồng kỳ hạn ( Forward ), hợp đồng quyền chọn ( Option ) …. nhờ đó đáp ứngđược phần nhiều nhu yếu ngoại tệ cho những đơn vị chức năng, tổ chức triển khai và làm cho thị trường ngoại hối trởnên sinh động hơn. 3. Các chủ thể tham gia thị trường tiền tệ – Trong quy trình tăng trưởng của thị trường tiền tệ, thị trường liên ngân hàng nhà nước là hình thứcsơ khai của thị trường tiền tệ hoạt động giải trí với mục tiêu cân đối, điều hòa vốn giữa những NHTMvới những TCTD nhằm mục đích khai thông năng lực giao dịch thanh toán cho những TCTD. Vì vậy, nếu xét theochiều ngang, thị trường tiền tệ bộc lộ quan hệ điều tiết vốn giữa những NHTM, những TCTD.Còn nếu xét theo chiều dọc, thị trường tiền tệ biểu lộ mối quan hệ giữa NHTW và NHTMqua con đường tái chiết khấu, trong đó lãi suất vay tái chiết khấu là một công cụ linh động đểNHTW điều tiết vĩ mô nền kinh tế tài chính trong quy trình thực thi chủ trương tiền tệ. Ngày nay, quy mô họat động của thị trường tiền tệ được lan rộng ra về khoanh vùng phạm vi điều tiếtvốn, theo đó những chủ thể tham gia trên thị trường phong phú hơn. Các chủ thể tham gia trên thị trường tiền tệ gồm có : – Chủ thể đáp ứng nguồn vốn như : NHTW, NHTM, những TCTD khác … Việc đầu tưnguồn vốn thời gian ngắn trên thị trường này có độ rủi ro đáng tiếc thấp, do trong thời hạn ngắn giá cảchứng khoán dịch chuyển không đáng kể. – Chủ thể có nhu yếu về vốn như : NHTM, những đơn vị chức năng kinh tế tài chính khác, kho bạc nhà nước … Thông qua thị trường tiền tệ, những chủ thể này hoàn toàn có thể lôi cuốn được nguồn vốn thời gian ngắn dễdàng và ngân sách thấp. GVHD : Vũ Thị Minh Hằng Trang 4T hị trường tiền tệ Việt Nam – Thực trạng và Giải pháp Nhóm 5 – Chủ thể trung gian môi giới, vừa đi vay và vừa cho vay như : NHTM, Công ty chuyênmôi giới. 4. Các nhiệm vụ trên thị trường tiền tệ4. 1. Nghiệp vụ vay và cho vay vốn ngắn hạnNghiệp vụ này diễn ra đa phần giữa những NHTM, xuất phát từ họat động kinh doanh tiềntệ, tại một thời gian nhất định 1 số ít NHTM trong thời điểm tạm thời thừa vốn trong khi đó một số ít NHTMkhác rơi vào thực trạng thiếu vốn trong thời điểm tạm thời. Do đó để bảo vệ cho năng lực thanh toán giao dịch, quan hệ điều tiết vốn giữa những NHTM diễn ra trải qua những hình thức sau : – Cho vay bằng tiền mặt : Khi NHTM thiếu hụt vốn trong thời điểm tạm thời, hoàn toàn có thể đi vay tại mộtNHTM khác đang thừa vốn trong thời điểm tạm thời tại thời gian đó để bảo vệ năng lực giao dịch thanh toán. Giaodịch liên ngân hàng nhà nước đa phần dưới hình thức tín chấp hoặc bảo vệ bằng số dư tiền gửi đốiứng tại ngân hàng nhà nước cho vay … ; Thời hạn cho vay rất ngắn : hàng ngày ( qua đêm ), định kỳ 1 tuần, 2 tuần, tháng … – Cho vay dưới hình thức cầm đồ hoặc chiết khấu những chứng từ có giá : Khi có nhu cầulớn về vốn, những NHTM đã vay những TCTD khác nhưng vẫn chưa cung ứng đủ nhu yếu thìNHTW hoàn toàn có thể tương hỗ bằng những nhiệm vụ sau : + Tái chiết khấu chứng từ có giá : NHTW sẽ nhận chiết khấu lại những chứng từ cógiá mà trước đây NHTM đã chiết khấu cho người mua. + Bảo chứng lại : NHTW sẽ cho NHTM vay vốn trên cơ sở cầm đồ những chứng từ cógiá mà trước đây NHTM đã nhận cầm cố từ người mua. 4.2. Nghiệp vụ mua và bán sách vở có giá ngắn hạnCông cụ đa phần của nhiệm vụ này là những loại trái phiếu thời gian ngắn được phát hành từ thịtrường tiền tệ sơ cấp và bán lại ở thị trường thứ cấp. Nghiệp vụ này phát sinh trong trường hợp 1 số ít chủ thể kinh tế tài chính cần bổ trợ vốn bằngtiền của mình nên phát hành một lượng trái phiếu thời gian ngắn ra thị trường, trong khi một sốchủ thế khác đang muốn sinh lợi cho khoản vốn nhàn nhã của mình bằng con đường kinhdoanh trên thị trường tiền tệ, họ sẽ mua và bán trái phiếu thời gian ngắn. Ở nhiệm vụ này, ngoài tráiphiếu thời gian ngắn thì còn có kỳ phiếu thương mại, khế ước nợ, kỳ phiếu ngân hàng nhà nước, những lọaithư tín dụng thanh toán …. Và đặc biệt quan trọng là họat động của thị trường mở – triển khai việc mua và bán ngắnhạn dưới 1 năm những sách vở có giá trị như tín phiếu, trái phiếu kho bạc. Thông qua nghiệpvụ này, NHTW điều tiết cung và cầu về tiền tệ : tùy theo tiềm năng từng thời kỳ mà NHTW bơmtiền hay rút bớt tiền ra khỏi lưu thông. GVHD : Vũ Thị Minh Hằng Trang 5