Thực trạng ngành công nghiệp ô tô Việt Nam.DOC – Tài liệu text
Thực trạng ngành công nghiệp ô tô Việt Nam.DOC
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (221.8 KB, 26 trang )
Đề án môn học
MỤC LỤC
MỤC LỤC ………………………………………………………………………………………….. 1
LỜI GIỚI THIỆU ………………………………………………………………………………. 2
NỘI DUNG …………………………………………………………………………………………. 3
Chương 1: Tổng quan về ngành công nghiệp ô tô tại Việt Nam …………….. 3
I. Quá trình hình thành và phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam …… 3
II. Vị trí và vai trò của ngành công nghiệp ô tô trong nền kinh tế quốc dân. 4
Chương 2: Thực trạng ngành công nghiệp ô tô trong nước …………………… 6
I. Thực trạng ……………………………………………………………………………………….. 6
1. Sản xuất ……………………………………………………………………………………. 7
2. Công nghệ ………………………………………………………………………………… 8
3. Lao động …………………………………………………………………………………. 10
4. Thị trường tiêu thụ ……………………………………………………………………. 11
5. Cơ sở hạ tầng ………………………………………………………………………….. 13
6. Các vấn đề về thuế ……………………………………………………………………. 14
II. Đánh giá ……………………………………………………………………………………….. 15
1. Ưu điểm ………………………………………………………………………………….. 15
2. Nhược điểm …………………………………………………………………………….. 16
3. Nguyên nhân ……………………………………………………………………………. 17
Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển ngành công nghiệp ô tô
Việt Nam …………………………………………………………………………………………… 20
I. Phương hướng phát triển ngành công nghiệp ô tô ……………………………… 20
II. Giải pháp phát triển ngành công nghiệp ô tô ……………………………………. 21
KẾT LUẬN ……………………………………………………………………………………… 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………………………………. 26
Đề án môn học
LỜI GIỚI THIỆU
Ngành công nghiệp sản xuất ô tô ở nước ta ngày nay đang là 1 ngành hết
sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Phát triển ngành công nghiệp này
sẽ là động lực và sức mạnh để giúp đất nước hoàn thành công cuộc công
nghiệp hóa hiện đại hóa và trở thành một nước phát triển. Sự ảnh hưởng của
nó đến các ngành công nghiệp khác là rất đáng kể và thể hiện là một trong
những ngành xương sống của nền kinh tế. Việc đi sâu vào phát triển ngành,
thu hút vốn đầu tư nước ngoài, ứng dụng khoa học công nghệ và mở cửa hội
nhập là những điều kiện tiên quyết để có một ngành công nghiệp sản xuất ô tô
vững chắc. Việt Nam, đất nước của hơn 83 triệu dân với mức tăng trưởng cao
về kinh tế thì một viễn cảnh tươi sáng của ngành công nghiệp ôtô là có thể.
Phát triển ngành công nghiệp này sẽ cho phép đất nước tiết kiệm được những
khoản ngoại tệ đáng kể dành cho nhập khẩu, cũng như phát huy được một số
thế mạnh nổi trội hiện nay, như chi phí cạnh tranh của nguồn nhân lực. Đặc
biệt, sẽ có những tác động trực tiếp mang tính tích cực lên một số ngành công
nghiệp và dịch vụ mà Việt Nam đang rất cần, như hóa dầu, thép, phân phối…
Với những lí do đó em đã chọn đề tài “Thực trạng ngành công nghiệp
ô tô Việt Nam” để tìm hiểu và phân tích về một ngành đang rất được nhà
nước quan tâm phát triển.
Em xin được chân thành cảm ơn sự tận tình hướng dẫn của thầy giáo
Nguyễn Đình Trung đã giúp em hoàn thành đề án này. Do sự hiểu biết của em
còn hạn chế nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong thầy cô
xem xét để bài viết hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn !
Sinh viên thực hiện
Vũ Hoàng
2
Đề án môn học
NỘI DUNG
Chương 1: Tổng quan về ngành công nghiệp ô tô tại Việt Nam
I. Quá trình hình thành và phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam
Ngành công nghiệp ôtô Việt Nam được bắt đầu vào năm 1991 với sự
xuất hiện của 2 công ty ôtô có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là
Mekong và VMC. Sau hơn 15 năm hình thành và phát triển, đến nay đã có
hơn 160 DN sản xuất lắp ráp ôtô ra đời, trong đó có tới gần 50 doanh nghiệp
lắp ráp ôtô và con số này chưa dừng lại ở đây.
Nền tảng của các doanh nghiệp ôtô trong nước là những doanh nghiệp cơ
khí lớn trước kia làm công việc sửa chữa đại tu xe, nay được bổ sung, nâng
cao năng lực sản xuất. Các doanh nghiệp này hầu hết được tổ chức theo
hướng chuyên môn hoá một số chủng loại xe (xe tải, xe khách, xe chuyên
dùng) với dây chuyền sản xuất đơn giản là gò, hàn, sơn, lắp ráp… thiếu sự hợp
tác lẫn nhau. Trang thiết bị phần lớn lạc hậu. Trừ một vài doanh nghiệp có
đầu tư lớn như Xuân Kiên, Trường Hải… còn lại tổng giá trị tài sản mỗi doanh
nghiệp không vượt quá 20 tỷ đồng.
Với các doanh nghiệp FDI ôtô, trừ Công ty Hino sản xuất xe tải nặng,
còn lại đều có thể tổ chức sản xuất bất kỳ sản phẩm nào. Các doanh nghiệp
này đại diện cho những nhà sản xuất lớn với bí quyết công nghệ khác nhau
nên hầu như ít phối hợp, mà cạnh tranh lộn xộn.
Hầu hết các liên doanh chỉ mới thực hiện phương thức lắp ráp với dây
chuyền công nghệ gần giống nhau như hàn lắp khung xe, tẩy rửa sơn… Tỷ lệ
nội địa hoá của các liên doanh cao nhất không quá 25% (Toyota Việt Nam
cho biết chiếc xe Vios mới ra mắt cuối tháng 9/2007 có tỷ lệ nội địa hoá đạt
25%), thấp nhất là 2%. Việc đào tạo nhân lực và chuyển giao công nghệ cũng
mới chỉ đáp ứng cho công đoạn lắp ráp ôtô.
3
Đề án môn học
Trình độ công nghệ còn hạn chế cùng với đội ngũ lao động non trẻ, ít
kinh nghiệm đang là khó khăn lớn đối với sự phát triển của ngành công
nghiệp ô tô. Chúng ta dồi dào về lao động, giá thuê nhân công rẻ, con người
Việt Nam tháo vát khéo léo. Tuy nhiên điều kiện để tiếp xúc với những công
nghệ mới còn hạn chế, môi trường học tập, trau dồi kinh nghiệm chưa có nên
rất khó để chúng ta có được đội ngũ lao động lành nghề, kĩ thuật cao. Chính
yếu tố này là một trong những nguyên nhân giải thích cho quá trình phát triển
chậm chạm trong những năm qua của ngành.
Mặc dù trong những năm qua, ngành công nghiệp ô tô cũng đã có những
cố gắng đáng kể để chuẩn bị cho hội nhập kinh tế quốc tế, song do xuất phát
của ta thấp nên chúng ta còn thua kém các doanh nghiệp nước ngoài rất nhiều
cả về chất lượng và dịch vụ chăm sóc khách hang. Trong những năm tới khi
Việt Nam đã gia nhập WTO sẽ mở ra những cơ hội và thách thức lớn cho
ngành công nghiệp ô tô, chúng ta cần có kế hoạch phát triển ngành để dần
hoàn thiện và có chỗ đứng trên thị trường thế giới.
II. Vị trí và vai trò của ngành công nghiệp ô tô trong nền kinh tế quốc
dân
Điều này đã ghi rất rõ trong Chiến lược phát triển công nghiệp ôtô giai
đoạn 2010 tầm nhìn đến 2020 do Chính phủ phê duyệt. Theo đó công nghiệp
ôtô rất quan trọng được ưu tiên phát triển để phục vụ công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước và an ninh quốc phòng.
Theo các chuyên gia công nghiệp ôtô vốn được coi là xương sống của
ngành công nghiệp. Bởi công nghiệp ôtô hàm chứa rất nhiều những công
nghệ cơ bản như chế tạo máy, luyện kim, đúc, khuôn mẫu, vật liệu và điện
tử… Những công nghệ này hoàn toàn có thể áp dụng sang các lĩnh vực sản
xuất khác và công nghiệp ôtô phát triển sẽ thúc đẩy những ngành công nghiệp
như điện tử, luyện kim, hoá chất, nhựa… cùng phát triển theo. Khi chúng ta có
một ngành công nghiệp ô tô mạnh đồng nghĩa với các ngành công nghiệp phụ
4
Đề án môn học
trợ cũng phải phát triển theo, các ngành này hiện nay vẫn đang là thiếu sót
trong tổng thể nền kinh tế. Nếu lấp đầy được khoảng trống này sẽ tạo động
lực cho nên kinh tế phát triển vững chắc hơn.
Khi ngành ô tô trong nước đáp ứng được nhu cầu sử dụng của người dân,
việc sở hữu và sử dụng một chiếc xe hơi là dễ dàng và tiết kiệm hơn nhiều so
với một chiếc xe nhập ngoại. Nhu cầu sử dụng ô tô tăng cao thì nhu cầu về
một hệ thống giao thong tốt là điều hết sức cần thiết. Do vậy phát triển ngành
công nghiệp ô tô cũng tác động và buộc hệ thống giao thông, cơ sở hạ tầng
phát triển theo, tạo điều kiện tốt cho hang loạt các ngành kinh tế khác.
Bên cạnh đó, ngành công nghiệp ôtô phát triển sẽ tạo ra hàng triệu việc
làm với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp. Theo tính toán với quy mô thị
trường khoảng 500.000 xe/năm thì công nghiệp ôtô sẽ tạo ra khoảng hơn 1
triệu việc làm với sự tham gia của hàng nghìn doanh nghiệp. Ngành công
nghiệp ô tô thực sự rất có tiềm năng và sẽ là một ngành chủ lực trong nền
kinh tế quốc dân.
Điều quan trọng nữa khi sản xuất đáp ứng được nhu cầu trong nước,
thậm chí là xuất khẩu sẽ làm thay đổi cán cân thương mại. Theo tính toán của
các chuyên gia Nhật Bản thuộc Viện Nghiên cứu chính sách quốc gia Nhật
Bản, với nhu cầu về ôtô tăng mạnh, nếu Việt Nam không có một ngành công
nghiệp ôtô thì vào năm 2020 mỗi năm sẽ phải chi khoảng 3 tỷ USD để nhập
xe. Như vậy có thể nói không riêng gì chúng ta mà nhiều quốc gia trên thế
giới mong muốn có một ngành công nghiệp ôtô mạnh.
5
Đề án môn học
Chương 2: Thực trạng ngành công nghiệp ô tô trong nước
I. Thực trạng
Sau hơn 10 năm được phát triển trong những điều kiện tốt nhất có thể,
theo Tổng thư ký Hội Kỹ sư ôtô Việt Nam (VSAE) Dương Đức Thịnh, so với
các nước trong khu vực ASEAN thì ngành sản xuất và lắp ráp ôtô của Việt
Nam hiện chỉ xếp trên Lào,Campuchia và Myanmar!
Ngành công nghiệp ô tô trong nước còn rất non trẻ và gặp nhiều khó
khăn. Lí giải cho điều này là vì nghành công nghiệp ô tô của nước ta có xuất
phát điểm thấp hơn rất nhiều so với các nước khác trên thế giới và trong khu
vực. Chúng ta có những thế mạnh về một thị trường tiềm năng, về nguồn lao
động dồi dào nhưng chúng ta vẫn còn rất hạn chế về vốn, khoa học công nghệ
cũng như những ngành công nghiệp phụ trợ còn non trẻ. Người dân với mức
thu nhập trung bình thấp cũng không đủ khả năng sở hữu một chiếc xe cho
riêng mình trong khi mức giá ô tô là khá cao. Sự xâm nhập của các hãng xe
lớn và có uy tín trên thế giới cũng làm các hãng xe nội địa khó lòng cạnh
tranh. Những doanh nghiệp tham gia vào ngành đa phần đều đi theo con
đường liên doanh liên kết với các hãng này để lắp ráp ô tô. Để sản xuất ra
những dòng xe tiện nghi của riêng người Việt vẫn đang là mong đợi của
những doanh nghiệp tham gia vào ngành.
Ngành công nghiệp ô tô đang được rất nhiều sự ưu ái của nhà nước.
Chính sách bảo hộ quá kĩ lưỡng có thể dẫn đến tình trạng trì trệ trong quá
trình sản xuất. Trong khi các hãng xe trên thế giới đang ồ ạt xâm nhập thị
trường nội địa thì các chính sách này của nhà nước càng làm giảm khả năng
cạnh tranh của ngành ô tô trong nước.
Để hiểu rõ hơn thực trạng của ngành công nghiệp chúng ta sẽ lần lượt
tìm hiểu các yếu tố trong ngành.
6
Đề án môn học
1. Sản xuất
Hơn 10 năm qua, ngành công nghiệp này vẫn luẩn quẩn trong vòng lắp
ráp với tỷ lệ nội địa hoá mờ nhạt. 17 doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất và
lắp ráp ôtô có vốn đầu tư nước ngoài đã được cấp giấy phép đầu tư, trong đó
có 12 doanh nghiệp đang hoạt động với tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 1 tỷ
USD, tổng năng lực sản xuất đạt khoảng 150.000 xe/năm, nhưng đến nay vẫn
chưa có doanh nghiệp nào thực hiện đúng cam kết tỷ lệ nội địa hóa (đạt từ 20
– 40% sau thời gian 5 – 10 năm).
Riêng đối với các liên doanh sản xuất ôtô tại Việt Nam, tỷ lệ nội địa hóa
cũng rất thấp, chỉ khoảng 5 – 10% và không đạt kế hoạch đề ra.
Hiện nay, các vật liệu như thép tấm, thép hình, thép đặc biệt… để làm
phụ tùng nội địa hoá, trong nước chưa chế tạo được. Các vật liệu khác cũng
tương tự, đều không có nhà cung cấp. Khi chưa có hệ thống các nhà cung cấp
nguyên vật liệu, sản xuất linh kiện hùng hậu thì công nghiệp ôtô khó tránh
khỏi cảnh lắp ráp giản đơn.
Một câu hỏi nữa được đặt ra là chỉ tập trung cho sản xuất xe tải, xe
khách liệu có được cho là có ngành công nghiệp ôtô? Hiện nay các nhà hoạch
định chính sách vẫn cho rằng các doanh nghiệp Việt Nam nên tập trung sản
xuất xe tải, xe buýt và xe chuyên dụng đó là những sản phẩm không đòi hỏi
công nghệ cao, vừa tầm với họ, còn xe du lịch thì để cho các doanh nghiệp
FDI thực hiện.
Nhưng hiện nay các doanh nghiệp FDI thì chỉ lắp ráp là chính còn với
việc sản xuất xe tải và xe khách có làm nên ngành công nghiệp ôtô mạnh, đến
nay vẫn chưa có thực tế nào kiểm nghiệm. Các nước có ngành công nghiệp
ôtô phát triển trên thế giới từ trước đến nay chưa có nước nào chỉ tập trung
cho xe tải hay xe khách mà thành. Chỉ có sản xuất xe du lịch đòi hỏi tập trung
công nghệ hiện đại tiên tiến mới có ngành công nghiệp ôtô mạnh.
7
Đề án môn học
Với điều kiện nền kinh tế như bây giờ chúng ta cũng không thể đòi hỏi
nhiều ở sức sản xuất của ô tô nội địa. Chúng ta chưa thể sản xuất được những
mẫu xe hiện đại, với đầy đủ những tiêu chuẩn thế giới, những sản phẩm đúng
là của người Việt và dành cho người Việt. Chúng ta chỉ sản xuất trên cơ sở
lắp ráp những mẫu xe của các hãng trên thế giới với thiết bị phụ tùng đều phải
nhập khẩu. Ngành công nghiệp phụ trợ còn non trẻ cũng là một hạn chế rất
lớn cho cho sản xuất ô tô trong nước. Tuy vậy việc nước ta đang dần hội nhập
với kinh tế thế giới đã mở ra nhiều cơ hội và thách thức đối với các doanh
nghiệp. Chúng ta sẽ từng bước hoàn thiện về cơ sở vật chất, tạo ra sức sản
xuất lớn với hiệu quả kinh tế cao đáp ứng được dần dần nhu cầu trong nước.
2. Công nghệ
Công nghệ sản xuất ô tô là yếu tố hết sức cần thiết và có vai trò quyết
định đến chất lượng của sản phẩm. Tuy nhiên công nghệ của chúng ta được
đánh giá là lạc hậu so với thế giới. Theo các chuyên gia, có 3 điều kiện để có
được ngành công nghiệp ôtô là thị trường, con người và kỹ thuật. Trong 3
điều kiện đó Việt Nam có 2 là thị trường và con người. Yếu tố về kĩ thuật và
công nghệ không phải là thế mạnh của chúng ta. Con người người Việt Nam
được cho là khéo tay có đầu óc sáng tạo. Chúng ta thiếu vấn đề kỹ thuật, nếu
có chính sách đúng về khuyến khích đầu tư, chuyển giao công nghệ thì sẽ
thành công.
Chúng ta có thể liên doanh liên kết với những hãng ô tô khác trên thế
giới, học hỏi công nghệ, mua dây chuyền sản xuất, cải tiến kĩ thuật nhằm đáp
ứng được những tiêu chuẩn về chất lượng.
Công nghiệp phụ trợ cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong
công nghiệp sản xuất ô tô. Hiện các doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ sản xuất
được một số linh kiện, phụ tùng ô tô đơn giản như săm, lốp, dây điện… Trong
khi đó, để hoàn thiện được một chiếc ô tô cần tới gần 30.000 chi tiết, do vậy
rất cần nhiều đơn vị sản xuất cung cấp linh kiện, phụ tùng chuyên nghiệp.
8
Đề án môn học
Nếu ví ngành công nghiệp ô tô như một quả núi thì các doanh nghiệp sản
xuất, lắp ráp là phần ngọn, còn phần quan trọng nhất là chân núi chính là công
nghiệp phụ trợ.
Chính vì thế, tại các nước có ngành công nghiệp ô tô phát triển có tới
hàng ngàn nhà cung cấp linh kiện, phụ tùng cho một hãng ô tô. Thực tế trên
thế giới, công nghiệp ô tô cũng chỉ tập trung ở một số quốc gia có công nghệ
cao. Tại châu Âu chỉ chưa đầy 5 nước có ngành công nghiệp ô tô như Đức,
Pháp, Anh… ở khu vực Đông Nam Á cũng chỉ có Malaysia có công nghiệp
sản xuất ô tô còn Thái Lan chủ yếu chỉ sản xuất xe Pickup (xe bán tải). Tuy
nhiên Thái Lan lại chọn con đường phát triển công nghiệp phụ trợ trước khi
xây dựng các nhà máy sản xuất.
Theo PGS-TS Phan Đăng Tuất, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chính
sách – Chiến lược công nghiệp (Bộ Công thương), hiện nay Thái Lan đã có
trên 1.000 doanh nghiệp phụ trợ còn Việt Nam hiện mới chỉ có vẻn vẹn
khoảng 60 doanh nghiệp phụ trợ còn yếu thì đã có đến 14 liên doanh và 35
doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước. Có thể nói Việt Nam và Thái
Lan là điển hình của hai chính sách phát triển ngành công nghiệp ô tô, trong
đó Thái Lan phát triển từ gốc còn chúng ta “xây nhà từ nóc”.
Để phát triển công nghiệp ô tô, điều mấu chốt chính là vấn đề nội địa
hóa. Trên thực tế, ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam trong 10 năm qua vẫn
đang ở vạch xuất phát. Theo thống kê, Việt Nam hiện có 40 doanh nghiệp đầu
tư nước ngoài và 30 doanh nghiệp trong nước tham gia sản xuất linh kiện ô tô
– chủ yếu sản xuất các phụ tùng đơn giản. Tuy nhiên, việc Việt Nam gia nhập
WTO gần như đã “vô hiệu hóa” chính sách nội địa hóa công nghiệp ô tô.
Hiện các doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ sản xuất được một số linh
kiện, phụ tùng ô tô đơn giản như săm, lốp, dây điện… Trong khi đó, để hoàn
thiện được một chiếc ô tô cần tới gần 30.000 chi tiết, do vậy rất cần nhiều đơn
vị sản xuất cung cấp linh kiện, phụ tùng chuyên nghiệp. Nếu ví ngành công
9
Đề án môn học
nghiệp ô tô như một quả núi thì các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp là phần
ngọn, còn phần quan trọng nhất là chân núi chính là công nghiệp phụ trợ.
Chính vì thế, tại các nước có ngành công nghiệp ô tô phát triển có tới
hàng ngàn nhà cung cấp linh kiện, phụ tùng cho một hãng ô tô. Thực tế trên
thế giới, công nghiệp ô tô cũng chỉ tập trung ở một số quốc gia có công nghệ
cao. Tại châu Âu chỉ chưa đầy 5 nước có ngành công nghiệp ô tô như Đức,
Pháp, Anh… ở khu vực Đông Nam Á cũng chỉ có Malaysia có công nghiệp
sản xuất ô tô còn Thái Lan chủ yếu chỉ sản xuất xe Pickup (xe bán tải). Tuy
nhiên Thái Lan lại chọn con đường phát triển công nghiệp phụ trợ trước khi
xây dựng các nhà máy sản xuất.
Theo PGS-TS Phan Đăng Tuất, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chính
sách – Chiến lược công nghiệp (Bộ Công thương), hiện nay Thái Lan đã có
trên 1.000 doanh nghiệp phụ trợ còn Việt Nam hiện mới chỉ có vẻn vẹn
khoảng 60 doanh nghiệp phụ trợ còn yếu thì đã có đến 14 liên doanh và 35
doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước. Có thể nói Việt Nam và Thái
Lan là điển hình của hai chính sách phát triển ngành công nghiệp ô tô, trong
đó Thái Lan phát triển từ gốc còn chúng ta “xây nhà từ nóc”.
Để phát triển công nghiệp ô tô, điều mấu chốt chính là vấn đề nội địa
hóa. Trên thực tế, ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam trong 10 năm qua vẫn
đang ở vạch xuất phát. Theo thống kê, Việt Nam hiện có 40 doanh nghiệp đầu
tư nước ngoài và 30 doanh nghiệp trong nước tham gia sản xuất linh kiện ô tô
– chủ yếu sản xuất các phụ tùng đơn giản. Tuy nhiên, việc Việt Nam gia nhập
WTO gần như đã “vô hiệu hóa” chính sách nội địa hóa công nghiệp ô tô.
3. Lao động
Yếu tố con người luôn luôn là yếu tố tiên quyết để đi tới thành công
trong bất kì lĩnh vực nào. Chúng ta không thể chờ đợi cơ hội đến với mình
nếu như con người không cố gắng và có đủ khả năng để nắm bắt cơ hội ấy.
10
4. Thị trường tiêu thụ ……………………………………………………………………. 115. Cơ sở hạ tầng ………………………………………………………………………….. 136. Các yếu tố về thuế ……………………………………………………………………. 14II. Đánh giá ……………………………………………………………………………………….. 151. Ưu điểm ………………………………………………………………………………….. 152. Nhược điểm …………………………………………………………………………….. 163. Nguyên nhân ……………………………………………………………………………. 17C hương 3 : Phương hướng và giải pháp tăng trưởng ngành công nghiệp ô tôViệt Nam …………………………………………………………………………………………… 20I. Phương hướng tăng trưởng ngành công nghiệp xe hơi ……………………………… 20II. Giải pháp tăng trưởng ngành công nghiệp xe hơi ……………………………………. 21K ẾT LUẬN ……………………………………………………………………………………… 25T ÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………………………………. 26 Đề án môn họcLỜI GIỚI THIỆUNgành công nghiệp sản xuất xe hơi ở nước ta thời nay đang là 1 ngành hếtsức quan trọng trong nền kinh tế tài chính quốc dân. Phát triển ngành công nghiệp nàysẽ là động lực và sức mạnh để giúp quốc gia hoàn thành xong công cuộc côngnghiệp hóa hiện đại hóa và trở thành một nước tăng trưởng. Sự ảnh hưởng tác động củanó đến những ngành công nghiệp khác là rất đáng kể và bộc lộ là một trongnhững ngành xương sống của nền kinh tế tài chính. Việc đi sâu vào tăng trưởng ngành, lôi cuốn vốn góp vốn đầu tư quốc tế, ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến và Open hộinhập là những điều kiện kèm theo tiên quyết để có một ngành công nghiệp sản xuất ô tôvững chắc. Việt Nam, quốc gia của hơn 83 triệu dân với mức tăng trưởng caovề kinh tế tài chính thì một viễn cảnh tươi tắn của ngành công nghiệp ôtô là hoàn toàn có thể. Phát triển ngành công nghiệp này sẽ được cho phép quốc gia tiết kiệm ngân sách và chi phí được nhữngkhoản ngoại tệ đáng kể dành cho nhập khẩu, cũng như phát huy được một sốthế mạnh nổi trội hiện nay, như ngân sách cạnh tranh đối đầu của nguồn nhân lực. Đặcbiệt, sẽ có những ảnh hưởng tác động trực tiếp mang tính tích cực lên một số ít ngành côngnghiệp và dịch vụ mà Việt Nam đang rất cần, như hóa dầu, thép, phân phối … Với những lí do đó em đã chọn đề tài “ Thực trạng ngành công nghiệpô tô Việt Nam ” để khám phá và nghiên cứu và phân tích về một ngành đang rất được nhànước chăm sóc tăng trưởng. Em xin được chân thành cảm ơn sự tận tình hướng dẫn của thầy giáoNguyễn Đình Trung đã giúp em triển khai xong đề án này. Do sự hiểu biết của emcòn hạn chế nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong thầy côxem xét để bài viết hoàn thành xong hơnEm xin chân thành cảm ơn ! Sinh viên thực hiệnVũ HoàngĐề án môn họcNỘI DUNGChương 1 : Tổng quan về ngành công nghiệp xe hơi tại Việt NamI. Quá trình hình thành và tăng trưởng ngành công nghiệp xe hơi Việt NamNgành công nghiệp ôtô Việt Nam được khởi đầu vào năm 1991 với sựxuất hiện của 2 công ty ôtô có vốn góp vốn đầu tư trực tiếp quốc tế ( FDI ) làMekong và VMC. Sau hơn 15 năm hình thành và tăng trưởng, đến nay đã cóhơn 160 DN sản xuất lắp ráp ôtô sinh ra, trong đó có tới gần 50 doanh nghiệplắp ráp ôtô và số lượng này chưa dừng lại ở đây. Nền tảng của những doanh nghiệp ôtô trong nước là những doanh nghiệp cơkhí lớn trước kia làm việc làm sửa chữa thay thế đại tu xe, nay được bổ trợ, nângcao năng lượng sản xuất. Các doanh nghiệp này hầu hết được tổ chức triển khai theohướng chuyên môn hoá 1 số ít chủng loại xe ( xe tải, xe khách, xe chuyêndùng ) với dây chuyền sản xuất sản xuất đơn thuần là gò, hàn, sơn, lắp ráp … thiếu sự hợptác lẫn nhau. Trang thiết bị phần nhiều lỗi thời. Trừ một vài doanh nghiệp cóđầu tư lớn như Xuân Kiên, Trường Hải … còn lại tổng giá trị gia tài mỗi doanhnghiệp không vượt quá 20 tỷ đồng. Với những doanh nghiệp FDI ôtô, trừ Công ty Hino sản xuất xe tải nặng, còn lại đều hoàn toàn có thể tổ chức triển khai sản xuất bất kể loại sản phẩm nào. Các doanh nghiệpnày đại diện thay mặt cho những đơn vị sản xuất lớn với tuyệt kỹ công nghệ tiên tiến khác nhaunên phần nhiều ít phối hợp, mà cạnh tranh đối đầu lộn xộn. Hầu hết những liên kết kinh doanh chỉ mới triển khai phương pháp lắp ráp với dâychuyền công nghệ tiên tiến gần giống nhau như hàn lắp khung xe, tẩy rửa sơn … Tỷ lệnội địa hoá của những liên kết kinh doanh cao nhất không quá 25 % ( Toyota Việt Namcho biết chiếc xe Vios mới ra đời cuối tháng 9/2007 có tỷ suất nội địa hoá đạt25 % ), thấp nhất là 2 %. Việc đào tạo và giảng dạy nhân lực và chuyển giao công nghệ tiên tiến cũngmới chỉ phân phối cho quy trình lắp ráp ôtô. Đề án môn họcTrình độ công nghệ tiên tiến còn hạn chế cùng với đội ngũ lao động non trẻ, ítkinh nghiệm đang là khó khăn vất vả lớn so với sự tăng trưởng của ngành côngnghiệp xe hơi. Chúng ta dồi dào về lao động, giá thuê nhân công rẻ, con ngườiViệt Nam tháo vát khôn khéo. Tuy nhiên điều kiện kèm theo để tiếp xúc với những côngnghệ mới còn hạn chế, môi trường học tập, trau dồi kinh nghiệm tay nghề chưa có nênrất khó để tất cả chúng ta có được đội ngũ lao động tay nghề cao, kĩ thuật cao. Chínhyếu tố này là một trong những nguyên do lý giải cho quy trình phát triểnchậm chạm trong những năm qua của ngành. Mặc dù trong những năm qua, ngành công nghiệp xe hơi cũng đã có nhữngcố gắng đáng kể để chuẩn bị sẵn sàng cho hội nhập kinh tế tài chính quốc tế, tuy nhiên do xuất phátcủa ta thấp nên tất cả chúng ta còn thua kém những doanh nghiệp quốc tế rất nhiềucả về chất lượng và dịch vụ chăm nom khách hang. Trong những năm tới khiViệt Nam đã gia nhập WTO sẽ mở ra những thời cơ và thử thách lớn chongành công nghiệp xe hơi, tất cả chúng ta cần có kế hoạch tăng trưởng ngành để dầnhoàn thiện và có chỗ đứng trên thị trường quốc tế. II. Vị trí và vai trò của ngành công nghiệp xe hơi trong nền kinh tế tài chính quốcdânĐiều này đã ghi rất rõ trong Chiến lược tăng trưởng công nghiệp ôtô giaiđoạn 2010 tầm nhìn đến 2020 do nhà nước phê duyệt. Theo đó công nghiệpôtô rất quan trọng được ưu tiên tăng trưởng để ship hàng công nghiệp hoá, hiệnđại hoá quốc gia và bảo mật an ninh quốc phòng. Theo những chuyên gia công nghiệp ôtô vốn được coi là xương sống củangành công nghiệp. Bởi công nghiệp ôtô hàm chứa rất nhiều những côngnghệ cơ bản như chế tạo máy, luyện kim, đúc, khuôn mẫu, vật tư và điệntử … Những công nghệ tiên tiến này trọn vẹn hoàn toàn có thể vận dụng sang những nghành nghề dịch vụ sảnxuất khác và công nghiệp ôtô tăng trưởng sẽ thôi thúc những ngành công nghiệpnhư điện tử, luyện kim, hoá chất, nhựa … cùng tăng trưởng theo. Khi tất cả chúng ta cómột ngành công nghiệp xe hơi mạnh đồng nghĩa tương quan với những ngành công nghiệp phụĐề án môn họctrợ cũng phải tăng trưởng theo, những ngành này hiện nay vẫn đang là thiếu sóttrong tổng thể và toàn diện nền kinh tế tài chính. Nếu lấp đầy được khoảng trống này sẽ tạo độnglực cho nên vì thế kinh tế tài chính tăng trưởng vững chãi hơn. Khi ngành xe hơi trong nước cung ứng được nhu yếu sử dụng của dân cư, việc chiếm hữu và sử dụng một chiếc xe hơi là thuận tiện và tiết kiệm chi phí hơn nhiều sovới một chiếc xe nhập ngoại. Nhu cầu sử dụng xe hơi tăng cao thì nhu yếu vềmột mạng lưới hệ thống giao thong tốt là điều rất là thiết yếu. Do vậy tăng trưởng ngànhcông nghiệp xe hơi cũng ảnh hưởng tác động và buộc mạng lưới hệ thống giao thông vận tải, cơ sở hạ tầngphát triển theo, tạo điều kiện kèm theo tốt cho hang loạt những ngành kinh tế tài chính khác. Bên cạnh đó, ngành công nghiệp ôtô tăng trưởng sẽ tạo ra hàng triệu việclàm với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp. Theo đo lường và thống kê với quy mô thịtrường khoảng chừng 500.000 xe / năm thì công nghiệp ôtô sẽ tạo ra khoảng chừng hơn 1 triệu việc làm với sự tham gia của hàng nghìn doanh nghiệp. Ngành côngnghiệp xe hơi thực sự rất có tiềm năng và sẽ là một ngành nòng cốt trong nềnkinh tế quốc dân. Điều quan trọng nữa khi sản xuất phân phối được nhu yếu trong nước, thậm chí còn là xuất khẩu sẽ làm biến hóa cán cân thương mại. Theo thống kê giám sát củacác chuyên viên Nhật Bản thuộc Viện Nghiên cứu chủ trương vương quốc NhậtBản, với nhu yếu về ôtô tăng mạnh, nếu Việt Nam không có một ngành côngnghiệp ôtô thì vào năm 2020 mỗi năm sẽ phải chi khoảng chừng 3 tỷ USD để nhậpxe. Như vậy hoàn toàn có thể nói không riêng gì tất cả chúng ta mà nhiều vương quốc trên thếgiới mong ước có một ngành công nghiệp ôtô mạnh. Đề án môn họcChương 2 : Thực trạng ngành công nghiệp xe hơi trong nướcI. Thực trạngSau hơn 10 năm được tăng trưởng trong những điều kiện kèm theo tốt nhất hoàn toàn có thể, theo Tổng thư ký Hội Kỹ sư ôtô Việt Nam ( VSAE ) Dương Đức Thịnh, so vớicác nước trong khu vực ASEAN thì ngành sản xuất và lắp ráp ôtô của ViệtNam hiện chỉ xếp trên Lào, Campuchia và Myanmar ! Ngành công nghiệp xe hơi trong nước còn rất non trẻ và gặp nhiều khókhăn. Lí giải cho điều này là vì nghành công nghiệp xe hơi của nước ta có xuấtphát điểm thấp hơn rất nhiều so với những nước khác trên quốc tế và trong khuvực. Chúng ta có những thế mạnh về một thị trường tiềm năng, về nguồn laođộng dồi dào nhưng tất cả chúng ta vẫn còn rất hạn chế về vốn, khoa học công nghệcũng như những ngành công nghiệp phụ trợ còn non trẻ. Người dân với mứcthu nhập trung bình thấp cũng không đủ năng lực chiếm hữu một chiếc xe choriêng mình trong khi mức giá xe hơi là khá cao. Sự xâm nhập của những hãng xelớn và có uy tín trên quốc tế cũng làm những hãng xe trong nước khó lòng cạnhtranh. Những doanh nghiệp tham gia vào ngành đa số đều đi theo conđường liên kết kinh doanh link với những hãng này để lắp ráp xe hơi. Để sản xuất ranhững dòng xe tiện lợi của riêng người Việt vẫn đang là mong đợi củanhững doanh nghiệp tham gia vào ngành. Ngành công nghiệp xe hơi đang được rất nhiều sự ưu tiên của nhà nước. Chính sách bảo lãnh quá kĩ lưỡng hoàn toàn có thể dẫn đến thực trạng ngưng trệ trong quátrình sản xuất. Trong khi những hãng xe trên quốc tế đang ồ ạt xâm nhập thịtrường trong nước thì những chủ trương này của nhà nước càng làm giảm khả năngcạnh tranh của ngành xe hơi trong nước. Để hiểu rõ hơn thực trạng của ngành công nghiệp tất cả chúng ta sẽ lần lượttìm hiểu những yếu tố trong ngành. Đề án môn học1. Sản xuấtHơn 10 năm qua, ngành công nghiệp này vẫn luẩn quẩn trong vòng lắpráp với tỷ suất nội địa hoá mờ nhạt. 17 doanh nghiệp trong nghành sản xuất vàlắp ráp ôtô có vốn góp vốn đầu tư quốc tế đã được cấp giấy phép góp vốn đầu tư, trong đócó 12 doanh nghiệp đang hoạt động giải trí với tổng vốn góp vốn đầu tư ĐK khoảng chừng 1 tỷUSD, tổng năng lực sản xuất đạt khoảng chừng 150.000 xe / năm, nhưng đến nay vẫnchưa có doanh nghiệp nào triển khai đúng cam kết tỷ suất nội địa hóa ( đạt từ 20 – 40 % sau thời hạn 5 – 10 năm ). Riêng so với những liên kết kinh doanh sản xuất ôtô tại Việt Nam, tỷ suất trong nước hóacũng rất thấp, chỉ khoảng chừng 5 – 10 % và không đạt kế hoạch đề ra. Hiện nay, những vật tư như thép tấm, thép hình, thép đặc biệt quan trọng … để làmphụ tùng nội địa hoá, trong nước chưa sản xuất được. Các vật tư khác cũngtương tự, đều không có nhà phân phối. Khi chưa có mạng lưới hệ thống những nhà cung cấpnguyên vật tư, sản xuất linh phụ kiện hùng hậu thì công nghiệp ôtô khó tránhkhỏi cảnh lắp ráp giản đơn. Một câu hỏi nữa được đặt ra là chỉ tập trung chuyên sâu cho sản xuất xe tải, xekhách liệu có được cho là có ngành công nghiệp ôtô ? Hiện nay những nhà hoạchđịnh chủ trương vẫn cho rằng những doanh nghiệp Việt Nam nên tập trung chuyên sâu sảnxuất xe tải, xe buýt và xe chuyên sử dụng đó là những mẫu sản phẩm không đòi hỏicông nghệ cao, vừa tầm với họ, còn xe du lịch thì để cho những doanh nghiệpFDI thực thi. Nhưng hiện nay những doanh nghiệp FDI thì chỉ lắp ráp là chính còn vớiviệc sản xuất xe tải và xe khách có làm ra ngành công nghiệp ôtô mạnh, đếnnay vẫn chưa có trong thực tiễn nào kiểm nghiệm. Các nước có ngành công nghiệpôtô tăng trưởng trên quốc tế từ trước đến nay chưa có nước nào chỉ tập trungcho xe tải hay xe khách mà thành. Chỉ có sản xuất xe du lịch yên cầu tập trungcông nghệ văn minh tiên tiến và phát triển mới có ngành công nghiệp ôtô mạnh. Đề án môn họcVới điều kiện kèm theo nền kinh tế tài chính như giờ đây tất cả chúng ta cũng không hề đòi hỏinhiều ở sức sản xuất của xe hơi trong nước. Chúng ta chưa thể sản xuất được nhữngmẫu xe tân tiến, với khá đầy đủ những tiêu chuẩn quốc tế, những loại sản phẩm đúnglà của người Việt và dành cho người Việt. Chúng ta chỉ sản xuất trên cơ sởlắp ráp những mẫu xe của những hãng trên quốc tế với thiết bị phụ tùng đều phảinhập khẩu. Ngành công nghiệp phụ trợ còn non trẻ cũng là một hạn chế rấtlớn cho cho sản xuất xe hơi trong nước. Tuy vậy việc nước ta đang dần hội nhậpvới kinh tế tài chính quốc tế đã mở ra nhiều thời cơ và thử thách so với những doanhnghiệp. Chúng ta sẽ từng bước hoàn thành xong về cơ sở vật chất, tạo ra sức sảnxuất lớn với hiệu suất cao kinh tế tài chính cao cung ứng được từ từ nhu yếu trong nước. 2. Công nghệCông nghệ sản xuất xe hơi là yếu tố rất là thiết yếu và có vai trò quyếtđịnh đến chất lượng của loại sản phẩm. Tuy nhiên công nghệ tiên tiến của tất cả chúng ta đượcđánh giá là lỗi thời so với quốc tế. Theo những chuyên viên, có 3 điều kiện kèm theo để cóđược ngành công nghiệp ôtô là thị trường, con người và kỹ thuật. Trong 3 điều kiện kèm theo đó Việt Nam có 2 là thị trường và con người. Yếu tố về kĩ thuật vàcông nghệ không phải là thế mạnh của tất cả chúng ta. Con người người Việt Namđược cho là khéo tay có đầu óc phát minh sáng tạo. Chúng ta thiếu yếu tố kỹ thuật, nếucó chủ trương đúng về khuyến khích góp vốn đầu tư, chuyển giao công nghệ tiên tiến thì sẽthành công. Chúng ta hoàn toàn có thể liên kết kinh doanh link với những hãng xe hơi khác trên thếgiới, học hỏi công nghệ tiên tiến, mua dây chuyền sản xuất sản xuất, nâng cấp cải tiến kĩ thuật nhằm mục đích đápứng được những tiêu chuẩn về chất lượng. Công nghiệp phụ trợ cũng đóng một vai trò rất là quan trọng trongcông nghiệp sản xuất xe hơi. Hiện những doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ sản xuấtđược 1 số ít linh phụ kiện, phụ tùng xe hơi đơn thuần như săm, lốp, dây điện … Trongkhi đó, để triển khai xong được một chiếc xe hơi cần tới gần 30.000 chi tiết cụ thể, do vậyrất cần nhiều đơn vị chức năng sản xuất cung ứng linh phụ kiện, phụ tùng chuyên nghiệp. Đề án môn họcNếu ví ngành công nghiệp xe hơi như một quả núi thì những doanh nghiệp sảnxuất, lắp ráp là phần ngọn, còn phần quan trọng nhất là chân núi chính là côngnghiệp phụ trợ. Chính vì vậy, tại những nước có ngành công nghiệp xe hơi tăng trưởng có tớihàng ngàn nhà cung ứng linh phụ kiện, phụ tùng cho một hãng xe hơi. Thực tế trênthế giới, công nghiệp xe hơi cũng chỉ tập trung chuyên sâu ở 1 số ít vương quốc có công nghệcao. Tại châu Âu chỉ chưa đầy 5 nước có ngành công nghiệp xe hơi như Đức, Pháp, Anh … ở khu vực Khu vực Đông Nam Á cũng chỉ có Malaysia có công nghiệpsản xuất xe hơi còn Đất nước xinh đẹp Thái Lan hầu hết chỉ sản xuất xe Pickup ( xe bán tải ). Tuynhiên Vương Quốc của nụ cười lại chọn con đường tăng trưởng công nghiệp phụ trợ trước khixây dựng những xí nghiệp sản xuất sản xuất. Theo PGS-TS Phan Đăng Tuất, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chínhsách – Chiến lược công nghiệp ( Bộ Công thương ), hiện nay Xứ sở nụ cười Thái Lan đã cótrên 1.000 doanh nghiệp phụ trợ còn Việt Nam hiện mới chỉ có vẻn vẹnkhoảng 60 doanh nghiệp phụ trợ còn yếu thì đã có đến 14 liên kết kinh doanh và 35 doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp xe hơi trong nước. Có thể nói Việt Nam và TháiLan là nổi bật của hai chủ trương tăng trưởng ngành công nghiệp xe hơi, trongđó Vương Quốc của nụ cười tăng trưởng từ gốc còn tất cả chúng ta “ xây nhà từ nóc ”. Để tăng trưởng công nghiệp xe hơi, điều mấu chốt chính là yếu tố nội địahóa. Trên trong thực tiễn, ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam trong 10 năm qua vẫnđang ở vạch xuất phát. Theo thống kê, Việt Nam hiện có 40 doanh nghiệp đầutư quốc tế và 30 doanh nghiệp trong nước tham gia sản xuất linh phụ kiện xe hơi – đa phần sản xuất những phụ tùng đơn thuần. Tuy nhiên, việc Việt Nam gia nhậpWTO gần như đã “ vô hiệu ” chủ trương nội địa hóa công nghiệp xe hơi. Hiện những doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ sản xuất được một số ít linhkiện, phụ tùng xe hơi đơn thuần như săm, lốp, dây điện … Trong khi đó, để hoànthiện được một chiếc xe hơi cần tới gần 30.000 cụ thể, do vậy rất cần nhiều đơnvị sản xuất cung ứng linh phụ kiện, phụ tùng chuyên nghiệp. Nếu ví ngành côngĐề án môn họcnghiệp xe hơi như một quả núi thì những doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp là phầnngọn, còn phần quan trọng nhất là chân núi chính là công nghiệp phụ trợ. Chính do đó, tại những nước có ngành công nghiệp xe hơi tăng trưởng có tớihàng ngàn nhà phân phối linh phụ kiện, phụ tùng cho một hãng xe hơi. Thực tế trênthế giới, công nghiệp xe hơi cũng chỉ tập trung chuyên sâu ở 1 số ít vương quốc có công nghệcao. Tại châu Âu chỉ chưa đầy 5 nước có ngành công nghiệp xe hơi như Đức, Pháp, Anh … ở khu vực Khu vực Đông Nam Á cũng chỉ có Malaysia có công nghiệpsản xuất xe hơi còn xứ sở của những nụ cười thân thiện hầu hết chỉ sản xuất xe Pickup ( xe bán tải ). Tuynhiên Thailand lại chọn con đường tăng trưởng công nghiệp phụ trợ trước khixây dựng những xí nghiệp sản xuất sản xuất. Theo PGS-TS Phan Đăng Tuất, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chínhsách – Chiến lược công nghiệp ( Bộ Công thương ), hiện nay Thailand đã cótrên 1.000 doanh nghiệp phụ trợ còn Việt Nam hiện mới chỉ có vẻn vẹnkhoảng 60 doanh nghiệp phụ trợ còn yếu thì đã có đến 14 liên kết kinh doanh và 35 doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp xe hơi trong nước. Có thể nói Việt Nam và TháiLan là nổi bật của hai chủ trương tăng trưởng ngành công nghiệp xe hơi, trongđó Thailand tăng trưởng từ gốc còn tất cả chúng ta “ xây nhà từ nóc ”. Để tăng trưởng công nghiệp xe hơi, điều mấu chốt chính là yếu tố nội địahóa. Trên thực tiễn, ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam trong 10 năm qua vẫnđang ở vạch xuất phát. Theo thống kê, Việt Nam hiện có 40 doanh nghiệp đầutư quốc tế và 30 doanh nghiệp trong nước tham gia sản xuất linh phụ kiện xe hơi – hầu hết sản xuất những phụ tùng đơn thuần. Tuy nhiên, việc Việt Nam gia nhậpWTO gần như đã “ vô hiệu ” chủ trương nội địa hóa công nghiệp xe hơi. 3. Lao độngYếu tố con người luôn luôn là yếu tố tiên quyết để đi tới thành côngtrong bất kỳ nghành nào. Chúng ta không hề chờ đón thời cơ đến với mìnhnếu như con người không cố gắng nỗ lực và có đủ năng lực để chớp lấy thời cơ ấy. 10
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Thị Trường






