Thị trường mỹ phẩm Việt Nam-thực trạng và giải pháp – Tài liệu text
Thị trường mỹ phẩm Việt Nam-thực trạng và giải pháp
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (316.95 KB, 54 trang )
A/_Lời mở đầu:
Nền kinh tế Việt Nam sau một năm gia nhập WTO đã có những bước
phát triển lớn và đạt được nhiều thành tựu nhất định.Riêng đối với hoạt
động thương mại,nước ta được hưởng quy chế thành viên của WTO,điều
này tạo cơ hội cho việc mở rộng thị trường ,nâng cao kim ngạch xuất nhập
khẩu ,tăng tổng mức lưu chuyển bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ.Thị
trường trong nước phát triển sôi động với nhiều chủng loại hàng hóa đa
dạng ,phong phú.Trong sự phát triển chung đó sẽ là thiếu sót nếu không
nhắc đến thị trường mỹ phẩm Việt Nam với tốc độ tăng trưởng bình quân là
20%/năm.
Kinh tế phát triển,thu nhập của người dân ngày càng được cải
thiện,nhu cầu chăm sóc bản thân cũng được nâng cao.Mối quan tâm của cả
hai giới tới ngoại hình ngày càng lớn do đó mỹ phẩm dần dần trở thành sản
phẩm tiêu dùng quen thuộc.Không những thế,ngày nay nó đã trở thành một
loại hình sản phẩm không thể thiếu được với tất cả mọi người ở mọi lứa
tuổi,tầng lớp khác nhau.Ảnh hưởng của nó không chỉ dừng lại ở khía cạnh
thẩm mỹ mà còn qua đó gián tiếp tác động đến nhiều khía cạnh khác
nữa.Đó là một mặt hàng tiềm năng và cần được khai thác một cách đúng
hướng và hiệu quả.Theo nhận xét của các chuyên gia,Thị trường mỹ phẩm
Việt Nam được nhìn nhận như một thị trường phát triển nhanh và sẽ còn
phát triển mạnh trong những năm tiếp theo.Bên cạnh những thuận lợi
không thể không nói đến những thách thức đặt ra.Thị trường luôn tiềm ẩn
nhiều yếu tố tác động bất lợi đến nền kinh tế như giá cả biến động cần phải
có nhiều nỗ lực để kiểm soát;công tác quản lý thị trường còn nhiều hạn
chế;nhiều khâu còn buông lỏng quản lý đặc biệt là việc xử lý kinh doanh
hàng giả ,hàng nhái hàng kém chất lượng còn chưa triệt để.Đặc biệt riêng
với loại sản phẩm mỹ phẩm còn có mối liên hệ mật thiết với sức khỏe của
1
người tiêu dùng.Bởi vậy viêc nghiên cứu thị trường mỹ phẩm có nhiều ý
nghĩa cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn.
Trước hết,việc nghiên cứu sẽ đưa ra nhiều thông tin chính xác, cần
thiết, giúp người đọc có hiểu biết đúng đắn hơn về loại hình sản phẩm
thông dụng này.Trên thực tế thị trường mỹ phẩm Việt Nam còn rất nhiều
bất cập trong viêc cung cấp thông tin cụ thể về sản phẩm cho người tiêu
dùng,đề tài nghiên cứu sẽ là một tài liệu hữu ích trong quá trình mua và sử
dụng sản phẩm.Góp phần đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng là một
phần trong mục tiêu nghiên cứu của đề tài.Thứ hai,trong quá trình nghiên
cứu ,hiểu được nhu cầu của khách hàng ,có thêm số liệu về lượng cầu sản
phẩm,đó sẽ là tài liệu quan trọng trong cân đối cung cầu ,tăng tính hiệu quả
của thị trường.Bên cạnh đó,thông qua việc nghiên cứu,nhận thức được mặt
mạnh mặt yếu của thị trường ta sẽ tìm ra được cách khắc phục những hạn
chế,đồng thời phát huy được những ưu thế,khai thác hiệu quả các tiềm
năng,mở rộng thị trường.
Riêng đối với bản thân em là người trực tiếp nghiên cứu đề tài này,em
nhận thấy đây là một thị trường có rất nhiều tiêm năng để phát triển.Việc
thu đươc một khoản thu nhập lớn từ việc kinh doanh mặt hàng này rất khả
quan.Bên cạnh nhu cầu kinh doanh,lấy mục tiêu lợi nhuận là chủ yếu thi
việc quan tâm đến sức khỏe của người tiêu dùng là vấn đề hết sức quan
trọng.Trong khi đó đại bộ phận người tiêu dùng vẫn chưa nhận thức được
tầm quan trọng của việc sử dụng hiệu quả sản phẩm mỹ phẩm.Ngoài
ra,theo hiểu biết của em thì thị trường mỹ phẩm Việt Nam còn khá xô bồ
và chưa được quan tâm đúng tầm,theo một khía cạnh nào đó thì đây chính
là một sự lãng phí nguồn lực,bởi nếu có được những quan tâm sát sao của
các cơ quan quản lý của nhà nước thì đây sẽ là một thị trường có đóng góp
không nhỏ vào nguồn thu của nhà nước.
2
Dưới đây là phần trình bày đề tài của em,nội dung nghiên cứu gồm ba
phần chính như sau:
Chương I:Những vấn đề lý luận cơ bản của đề thị trường mỹ
phẩm
Chương II:Phân tích thực trạng của thị trường mỹ phẩm
Chương III:Phương hướng và giải pháp cho thị trường nghiên
cứu
Trong quá trình nghiên cứu của em con có nhiều sai sót do tầm hiểu
biết còn hạn chế,thời gian nghiên cứu ngắn.cách sử dụng từ ngữ chuyên
môn còn đôi chỗ chưa hợp lý.Em mong nhận được sự góp ý ,chỉ bảo tận
tình của thầy để có thể hoàn thiện được đề tài của mình.
Em xin chân thành cảm ơn thầy.
Thị trường mỹ phẩm Việt Nam-thực trạng và giải
pháp
3
Chương I : Những vấn đề lý luận cơ bản của thị
trường mỹ phẩm
I/_Bản chất,vai trò của mỹ phẩm
1)Bản chất:
a)Khái niệm về mỹ phẩm:
_Theo cách hiểu thông thường,mỹ phẩm có nghĩa là sản phẩm làm
đẹp,dùng chủ yếu cho phái nữ,nhằm giúp họ trở nên xinh đẹp hơn
_Theo từ điển y dược,mỹ phẩm được định nghĩa là sản phẩm được chế
tạo nhằm mục đích làm sạch cơ thẻ,tăng thêm vẻ đẹp,làm tăng sức hấp
dẫn,làm thay đổi diện mạo bên ngoài,giúp bảo vệ nuôi dưỡng các mô bên
ngoài cơ thể
Theo định nghĩa trên,mỹ phẩm đã không còn là một sản phẩm làm đẹp
thông thường mà mang ý nghĩa của dược phẩm.Đó cũng chính là lý do mà
các nhà sản xuất cũng như các bác sĩ da liễu luôn khuyên người tiêu dùng
sử dụng mỹ phẩm một cách đúng đắn và thận trọng
_Đi kèm với khái niệm mỹ phẩm còn có khái niệm về dược mỹ
phẩm.Khái niệm dược mỹ phẩm được ông Pierre Fabre đưa ra lần đầu
tiên:mỹ phẩm được nghiên cứu,bào chế như một dược phẩm(tuân thủ tất cả
những qui định nghiêm ngặt của việc nghiên cứu,sản xuất và thử nghiệm
một dược phẩm).Đó là môt loại sản phẩm dùng cho nhu cầu làm đẹp và
khác biệt.Dược mỹ phẩm hướng đến những chăm sóc thích hợp cho tất cả
các dạng tóc và da,khắc phục các khiếm khuyết phổ biến,nhất là đối với làn
da nhạy cảm khích ứng.Dược mỹ phẩm đáp ứng vừa đáp ứng yêu cầu của
việc điều trị y khoa của một dược phẩm,vừa thỏa mãn nhu cầu làm đẹp và
tính an toàn có thể sử dụng lâu dài của một mỹ phẩm
4
b)Phân loại mỹ phẩm:
_Thông thường mỹ phẩm được chia làm ba loại:
+ Loại thứ nhất là mỹ phẩm bề ngoài:các sản phẩm trang điểm bề mặt
(sản phẩm make up,sơn móc tay,thuốc nhuộm tóc…).Các sản phẩm này chỉ
tác động đến vẻ bề ngoài chứ không đi sâu vào sính lý da
+ Loại thứ hai là mỹ phẩm dự phòng,bao gồm các sản phẩm chăm sóc
da, dưỡng da dành cho việc làm chậm lại các biến đổi sinh lý của da (lão
hóa,khô da) và bảo vệ chống lại các tác nhân bên ngoài (ô nhiễm,ánh
nắng,chất kích ứng):kem chống nắng,sữa dưỡng ẩm,nước hoa hồng…
Mỹ phẩm dự phòng
+ Loại thứ ba là các sản phẩm sửa chữa được dùng khi người ta đã
thất bại trong dự phòng.Đối mặt với các tổn thương người ta phải chăm
sóc,khắc phục chúng bằng các sản phẩm như là làm căng,làm ẩm,làm
láng,tái sinh,giảm béo,chống rụng tóc…Với chuyên khoa da liễu,các tổn
5
thương thuộc về lĩnh vực của da như:vảy nến,chàm,mụn trứng cá…dược
mỹ phẩm về da là một công cụ bổ sung hiệu quả cho các điều trị y khoa
Sản phẩm chống nhăn và lão hóa da
_Ngoài ra còn có thể phân loại mỹ phẩm theo các bộ phận mà nó cho
tác dụng như sau:
+ Da : xà bông tắm,sữa tắm,phấn hồng,phấn nền,bột thơm,nước
hoa,chất làm trắng,chất làm mềm,nước hoa,kem chống nắng,kem dưỡng
da…
+ Lông tóc: dầu gội,dầu xả,thuốc nhuộm tóc,thuốc duỗi tóc,thuốc uốn
tóc,gel vuốt tóc,kem tẩy lông,kem cạo râu,…
+Mắt : bút kẻ mắt,kẻ lông mày,kem chải mi,mi mắt giả
+Môi :son môi,chất làm ẩm môi,chất làm bóng môi…
+Móng tay ,chân : sơn,thuốc tẩy sơn…
2)Vai trò:
_Việt Nam là một thị trường đầy tiềm năng với tốc độ phát triển cao.
Tốc độ phát triển kinh tế tăng nhanh, tất yếu kéo theo nhu cầu không ngừng
nâng cao chất lượng cuộc sống.Trong nhịp sống sôi động hiện nay,có một
diện mạo đẹp vừa là một mong muốn chính đáng,vừa là một yêu cầu tương
đối cần thiết.Trong cuộc sống cũng như trong công việc,có một ngoại hình
đẹp,thu hút sẽ là một lợi thế không nhỏ.Tuy nhiên,không phải ai cũng có
6
được vẻ đẹp như mong muốn.Chính mỹ phẩm sẽ là một công cụ giúp
chúng ta hoàn thiện vẻ đẹp bề ngoài của bản thân .Mỹ phẩm vì vậy đã và
đang thu hút được sự quan tâm lớn của cả hai giới.
_Theo một cuộc điều tra nhỏ về nhu cầu sẻ dụng mỹ phẩm thì có đến
39% người được hỏi đều trả lời là họ không bao giờ dùng mỹ phẩm,vì họ
cho rằng mỹ phẩm là những sản phẩm làm đẹp như:kem dưỡng da,phấn
trang điểm,các sản phẩm chăm sóc và bảo vệ da…Trên thực tế,ngoài những
sản phẩm như trên,mỹ phẩm còn bao gồm cả những chế phẩm dùng khi
tắm gội,sản phẩm chăm sóc răng miệng,xà phòng,nước hoa…Theo đó,mỹ
phẩm là sản phẩm gần như không thể thiếu với bất cứ ai
_ Với quy mô dân số 83 triệu người, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và
thu nhập của người dân không ngừng được cải thiện, Việt Nam trở thành
một thị trường béo bở cho các thương hiệu mỹ phẩm và là một trong ba thị
trường mỹ phẩm được chú ý nhất trên thế giới (Việt Nam, Trung Quốc,
Thổ Nhĩ Kỳ). Năm 2004, tổng doanh thu của thị trường mỹ phẩm Việt
Nam – chỉ riêng sản phẩm trang điểm và chăm sóc da -đã đạt khoảng 1.900
tỉ đồng.Đến nay,tổng doanh thu của thị trường này đạt xấp xỉ 4ooo tỉ
đồng,đóng góp một phần không nhỏ vào ngân quĩ nhà nước,làm tăng tỷ
trọng của ngành hàng tiêu dùng.
_Trong thời buổi hội nhập,giao lưu hàng hóa phát triển không
ngừng,chủng loại sản phẩm mỹ phẩm ngày càng đa dạng se góp phần làm
thị trường hàng hóa trong nước thêm phong phú.Nhiều hướng kinh doanh
mới được mở ra,nhu cầu về lao động cũng tăng lên đáng kể.Đó là cơ hội
tạo công ăn việc làm cho người dân thất nghiệp,ngoài ra còn là cơ hội cho
người có thu nhập thấp nâng cao mức thu nhập hiện có của mình
_Không chỉ đóng góp trong lĩnh vực kinh tế,mỹ phẩm còn có vai trò
nâng cao đời sống văn hóa,tinh thần của người dân.Với một ngoại hình
đẹp,chúng ta sẽ thấy tự tin hơn,từ đó tạo hứng khởi làm việc tốt hơn
7
II/_Nội dung cơ bản của thị trường mỹ phẩm:
1)Thương hiệu:
_Thương hiệu (Trade mark) :là một khái niệm rất quen thuộc và được
quan tâm biết đến từ rất lâu.Khái niệm này cũng được hiểu theo nhiều cách
khác nhau.Phổ biến nhất,thương hiệu được hiểu là những yếu tố như kiểu
dáng thiết kế,tên hiệu đặc biệt hay bất cứ thứ gì có thể sử dụng để phân
biệt hàng hóa của một hãng sản xuất này với những hàng hóa của những
hãng khác [ Hornby A.S.e.a.,(1974),Oxford advanced learner’s
dictionary,Oxford University Press,Delhi]
_Nhãn hiệu (brand) là tên gọi ,thuật ngữ ,biểu tượng,hình vẽ hay sự
phối hợp giữa chúng,được dùng để xác nhận sản phẩm của một người bán
hay một nhóm người bán và để phân biệt chúng với sản phẩm của các đối
thủ cạnh tranh.
Nếu hiểu nhãn hiệu theo định nghĩa trên thì chỉ là xem xét trên
phương diện là sản phẩm của thiết kế,chỉ giới hạn ở khía cạnh hình thức
của sản phẩm.Khi sản phẩm được gắn nhãn hiệu và đưa ra chào bán trên thị
trường thì mọi khía cạnh đặc trưng và các đặc tính đặc thù gắn liên với sản
phẩm và phong cách phục vụ của doanh nghiệp đều được người tiêu dùng
liên tưởng đến nhãn hiệu và được họ qui về yếu tố cấu thành nhãn
hiệu.Theo marketing thì nhãn hiệu nói chung là một sự hứa hẹn của người
bán với người mua về sự cung cấp một tập hợp các tính chất,lợi ích và dịch
vụ.Khi đó có thể đồng nhất hai khái niệm nhãn hiệu và thương hiệu.
_Giá trị của thương hiệu được đo bằng chất lượng dịch vụ cũng như
chất lượng và độ thỏa dụng mà sản phẩm mang lại
_ Hiện nay, thói quen sử dụng mỹ phẩm cao cấp của phụ nữ đã trở nên
khá phổ biến. Tuy nhiên, sự hiểu biết về cấp độ các nhãn hiệu mỹ phẩm
8
của nhiều người vẫn còn giới hạn. Đặc biệt là đối với một thị trường mỹ
phẩm vẫn còn chưa có sự thắt chặt quản lý và khá xô bồ như hiện nay tại
Việt Nam thì việc phân loại đẳng cấp thương hiệu với người tiêu dùng hẳn
vẫn là một bài toán khó.
2)Hệ thống phân phối và chiến lược xúc tiến hỗn hợp:
a) hệ thống phân phối:
_Trong nhiều năm gần đây,vai trò của marketing đã được khẳng định
là vô cùng quan trọng và có tính quyết định đối với sự phát triển cua doanh
nghiệp.Phân phối là một biến số quân trọng của marketing hỗn hợp.Hoạt
động phân phối giải quyết vấn đề hàng hóa dịch vụ được đưa như thế nào
đến người tiêu dùng.Hiện nay ,ngày càng có nhiều doanh nghiệp quan tâm
đến phân phố như là biến số marketing tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn cho
doanh nghiệp trên thị trường.Các doanh nghiệp tổ chức và quản lý hoạt
động phân phối thông qua các hệ thống kênh phân phối.
Theo quan điểm marketing,kênh phân phối lá một tập hợp các doanh
nghiệp và cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau tham gia vào quá trình
đưa hàng hóa từ người sản xuất tới người tiêu dùng.Các kênh phân phối
tạo nên dòng chảy hàng hóa từ người sản xuất qua hoặc không qua các
trung gian thương mại để tới người tiêu dùng.Một số loại trung gian thương
mại chủ yếu là: nhà bán buôn,nhà bán lẻ,đại lý và môi giới,nhà phân phối.
_Mỹ phẩm là một sản phẩm thông dụng,ngày càng phổ biến.Song
song với sự phong phú về chủng loại,nhãn hiệu mỹ phẩm là sự đa dạng
trong hình thức phân phối.Do đặc thù của sản phẩm mỹ phẩm nên kênh
phân phối được sử dụng sẽ phải qua các trung gian thương mại .Những
trung gian thương mại chủ yếu trên thị trường mỹ phẩm Việt Nam hiện có
là:
+Nhà phân phối hay nhà cung ứng
9
+Các nhà môi giới và đại lý
+Cửa hàng bách hóa:bày bán nhiều loại sản phẩm khác nhau,mỗi mặt
hàng là một quầy riêng
+ Siêu thị là những trung tâm bán lẻ lớn,chi phí thấp,tự phục vụ giá
thấp,doanh số bán cao
+ Chợ với hệ thống các cửa hàng tiện dụng: là những cửa hàng bán lẻ
nhỏ,chuyên bán những sản phẩm phục vụ nhu cầu thường xuyên của người
tiêu dùng
+Cửa hàng cao cấp:Chuyên bán những sản phẩm cao cấp ,chủ yếu là
những sản phẩm của các nhãn hiệu nổi tiếng với giá thành cao
Ngoài những trung gian hoạt động chính thức kể trên,trên thị trường
còn có thêm những người bán lẻ các sản phẩm mỹ phẩm tự chế với số
lượng đang có chiều hướng gia tăng
b)Chiến lược xúc tiến hỗn hợp:
_Xúc tiến hỗn hợp là một trong bốn nhóm công cụ chủ yếu chủ yếu
của marketing mix mà doanh nghiệp có thể sử dụng để tác động vào thị
trường mục tiêu nhằm đạt mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.Bản chất
của các hoạt động xúc tiến chính là truyền tin về sản phẩm và doanh nghiệp
tới khách hàng để thuyết phục họ mua.
_Một số dạng phương tiện truyền thông được sử dụng là :
+Quảng cáo:là một kiểu truyền thông có tính đại chúng ,mang tính
xã hội cao. Đây là một phương tiện có khả năng thuyết phục,tạo cơ hội cho
người nhận tin so sánh sản phẩm của doanh nghiệp này với các sản phẩm
của doanh nghiệp khác.Quảng cáo có thể tạo ra hình ảnh cho hàng hóa
,định vị nó trong người tiêu dùng.
10
Một số phương tiện quảng cáo mà các công ty thường sử dụng
là:báo,tạp chí,tivi,radio,quảng cáo trên internet,pano áp phích…
+Bán hàng cá nhân:Là một công cụ hiệu quả nhất ở những giai đoạn
hình thành sự ưa thích và niềm tin của người mua và giai đoạn ra quyết
định mua hàng.Nó đòi hỏi có sự giao tiếp qua lại giữa hai hay nhiều
người.Việc bán hàng trực tiếp khuyến khích người mua có những phản ứng
đáp lại,thể hiện thông tin phản hồi cho người bán
+Khuyến mại(xúc tiến bán):là một hoạt động truyền thông trong đó sử
dụng các công cụ tác động trực tiếp,tạo lợi ích vật chất bổ sung cho khách
hàng như phiếu mua hàng,các cuộc thi, quà tặng,hàng khuyến mại,gói hàng
chung.Ngoài ra các công ty còn tổ chức hội chợ triển lãm,hội nghị khách
hàng nhằm giới thiệu công ty,sản phẩm hàng hóa của công ty với khách
hàng và công chúng
+Tuyên truyền :là việc sử dụng những phương tiện truyền thông đại
chúng truyền tin không mất tiền về hàng hóa dịch vụ tới các khách hàng
hiện tại và tiềm năng nhằm đạt những mục tiêu cụ thể của doanh
nghiệp.Tuyên truyền có thể tác động sâu sắc đến mức độ hiểu biết của xã
hội,có khả năng thuyết phục người mua lớn và ít tốn kém hơn nhiều so với
hoạt động quảng cáo
_Trên thực tế để đạt được hiệu quả tốt nhất,các doanh nghiệp cần có
sự kết hợp các phương tiện truyền thông một cách hài hòa,phù hợp với điều
kiện và hoàn cảnh cụ thể của công ty.
3)Chất lượng của mỹ phẩm:
a)Khái niệm chất lượng:
_Tổ chức tiêu chuẩn thế giới (ISO) định nghĩa:chất lượng sản phẩm là
tổng thể các chỉ tiêu ,những đặc trưng của nó ,thể hiện được sự thỏa mãn
11
nhu cầu trong những biểu hiện tiêu dùng xác định,phù hợp với công dụng
của sản phẩm mà người tiêu dùng mong muốn.
Chất lượng sản phẩm phải được thể hiện trong tiêu dùng và cần xem
xét xem sản phẩm thỏa mãn tới mức nào yêu cầu của thị trường .Chất
lượng sản phẩm phải gắn liền với điều kiện cụ thể của nhu cầu thj trường
về các mặt kinh tế ,xã hội và phong tục
b)Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng:
* Chất lượng ở góc độ người tiêu dùng:
_Chất lượng cảm nhận :là chất lượng mà người tiêu dùng cảm nhận
được từ sản phẩm.Người tiêu dùng chỉ có thể cảm nhận được chất lượng
sản phẩm thông qua quá trình đánh giá dựa trên các tính chất bề ngoài của
sản phẩm.Ngoài ra còn có thể đánh giá qua các chỉ tiêu gián tiếp như hình
ảnh,uy tín của doanh nghiệp…
_Chất lượng đánh giá:là chất lượng khách hàng có thể kiểm tra trước
khi mua:mùi ,màu sắc…
_Chất lượng kinh nghiệm:là chất lượng mà khách hàng chỉ có thể cảm
nhận thông qua tiêu dùng sản phẩm
Đặc trưng của các cách đánh giá chất lượng sản phẩm trên giác độ
người tiêu dùng là chỉ dựa vào cơ sở cảm tính ,đánh giá chất lượng sản
phẩm qua các hình thức biểu hiện bên ngoài,dễ cảm nhận.
* Chất lượng ở góc độ người sản xuất:
_Với người sản xuất ,chất lượng sản phẩm thường được đánh giá trên
cả ba phương diện marketing,kỹ thuật và kinh tế.Trên cơ sở đó,người sản
xuất đánh giá chất lượng sản phẩm thông qua các chỉ tiêu ,các thông số
kinh tế -kỹ thuật cụ thể:tính năng tác dụng,tuổi thọ,độ tin cậy,độ an toàn
,chi phí giá cả
12
4)Cầu của thị trường:
_Tổng cầu thị trường về một loại sản phẩm là tổng khối lượng sản
phẩm mà một nhóm khách hàng nhất định sẽ mua tại một địa bàn nhất
định,trong một khoảng thời gian nhất định với một môi trường marketing
và một chương trình marketing nhất định
_Đối với sản phẩm mỹ phẩm nhu cầu của khách hàng vô cùng đa
dạng.Nó phụ thuộc vào tâm lý,thị hiếu,phong cách thời trang,phong
tục,quan điêm về sắc đẹp…Muốn xác định đúng cầu thị trường thì phải
hiểu rõ nhu cầu của khách hàng và đáp ứng hiệu quả nhu cầu đó
III/_Các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường mỹ phẩm:
1)Nhân tố về thu nhập:
_Thu nhập của người dân là một nhân tố ảnh hưởng tới nhu cầu có
khả năng thanh toán của khách hàng.Nhu cầu có khả năng thanh toán là
nhu cầu và mong muốn phù hợp với thu nhập của họ.Trên thực tế,ai cũng
có nhu cầu làm đẹp cho bản thân,đó là nhu cầu tự nhiên, song việc có thỏa
mãn nhu cầu đó hay không thì còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố,trong đó yếu
tố thu nhập là yếu tố quyết định
Nếu thu nhập cao,ngoài việc chi trả cho các nhu cầu thông thường
trong cuộc sống,người tiêu dùng vẫn có khả năng thỏa mãn những nhu cầu
cấp cao hơn ví dụ ở đây là nhu cầu sử dụng mỹ phẩm.Khi đó,cầu thị trường
về sản phẩm mỹ phẩm sẽ tăng. Ngược lại,nếu thu nhập của người tiêu dùng
thấp,thì dù họ có nhu cầu và mong muốn được sử dụng sản phẩm thì họ
cũng sẽ không tiêu dùng sản phẩm bởi khả năng thanh toán là không có.
Thu nhập của người tiêu dùng Việt Nam hiện nay do các nguồn sau
đem lại:tiền lương,thu nhập ngoài lương,thu nhập từ lãi suất tiền tiết
kiệm,thu nhập từ bán sản phẩm …Trong tất cả các nguồn trên thì nguồn từ
lương tăng lên rất chậm thậm chí là chậm hơn so với tốc độ tăng giá.Vì
13
vậy,sức mua tăng lên từ lương rất chậm.Do đó,nếu xét riêng về chỉ tiêu này
thì sự tác động của chúng tới qui mô nhu cầu và cơ cấu hàng hóa mua sắm
rất yếu ớt.Trái với thu nhập từ tiền lương,nguồn thu nhập từ ngoài lương
đối với một bộ phận dân cư nào đó là rất lớn,và chính nguồn này đã tạo nên
sức mua rất lớn về qui mô và gây nên sự phân tầng dữ dội trong thu nhập
cũng như cơ cấu tiêu dùng và mua sắm.
Đối với loại sản phẩm không nằm trong nhóm hàng tiêu dùng thiết
yếu như mỹ phẩm thì yếu tố thu nhập là yếu tố có ảnh hưởng khá lớn tới
quyết định mua,và do đó có ảnh hưởng tới cầu của thị trường về sản phẩm.
2) Nhân tố về nhân khẩu và địa lý
_Nhân tố nhân khẩu ở đây cụ thể là cơ cấu về giới tức là tỉ lệ giữa nam
và nữ trong một vùng,một khu vực hay một quốc gia,quy mô dân số.Sở dĩ
cho rằng đây là nhân tố ảnh hưởng tới thị trường mỹ phẩm là vì: Nơi nào
có lượng nữ giới nhiều thì nhu cầu sử dụng mỹ phẩm sẽ cao hơn.Mặc dù
hiện nay nhu cầu sử dụng mỹ phẩm của nam giới ngày càng tăng lên nhưng
so với phụ nữ thì còn có một khoảng cách khá xa.Tuổi tác cũng là một vấn
đề có ảnh hưởng tới nhu cầu mua sắm các sản phẩm làm đẹp như mỹ
phẩm,ảnh hưởng tới việc tiêu thụ những loại sản phẩm đặc thù khác nhau.Ở
những người trẻ thì nhu cầu sử dụng mỹ phẩm lớn hơn so với người già,sản
phẩm họ tiêu dùng chủ yếu là mỹ phẩm bề ngoài và mỹ phẩm dự
phòng.Chính sự khác biệt này có ảnh hưởng tới việc phân loại sản phẩm
cho từng đoạn thị trường khác nhau.
Về qui mô dân số lại có ảnh hưởng tới qui mô nhu cầu.Thông thường
qui mô dân số càng lớn thì thường báo hiệu một qui mô thị trường lớn
_Bên cạnh yếu tố dân số thì yếu tố về địa lý cũng có ảnh hưởng tới thị
trường mỹ phẩm.Ở những thành phố lớn hay những nơi có mức sống cao
thì nhu cầu sử dụng mỹ phẩm lớn hơn so với vùng nông thôn hay miền
núi.Lý do là vì người dân ở thành thị hay những vùng có mức sống cao
14
được tiếp nhận với thời trang và các xu hướng làm đẹp nhanh và nhiều hơn
ở những vùng nông thôn và miền núi.Hơn nữa ở thành phố thì số lượng cán
bộ,nhân viên,công chức nhiều nên nhu cầu trang điểm của họ cũng nhiều
hơn so với vùng nông thôn hay miên núi,nơi tập chung chủ yếu lao động
tay chân.
3) Nhân tố thị hiếu và văn hóa:
_Mỹ phẩm là một sản phẩm làm đẹp,do vậy nó chịu sự tác động của
cả hai yếu tố thị hiếu và văn hóa.Cùng sử dụng mỹ phẩm nhưng ở mỗi
vùng khác nhau lại có những quan điểm tiêu dùng khác nhau.Ví dụ như ở
Châu Á thường dùng mỹ phẩm trang điểm nhẹ nhàng,tuy nhiên ở phương
Tây thi lại có thói quen trang điểm đậm.Ở VN,phụ nữ thường sử dụng sản
phẩm trang điểm chứ không hay dùng các sản phẩm dưỡng và chăm sóc
da.Phong cách trang điểm cũng thường nhẹ nhàng,tự nhiên,màu sắc sản
phẩm sáng.Ngược lại,ở Hàn Quốc hay Nhật Bản thì phụ nữ thường trang
điểm đậm,màu sắc sản phẩm thường là màu tối.Họ chú trọng đến việc sử
dụng các sản phẩm dưỡng da và trang điểm khi đi ra ngoài là một cách thể
hiện sự tôn trọng người khác.Ở những nước này,đàn ông cũng sử dụng
nhiều sản phẩm mỹ phẩm hơn so với nước ta.Những nhân tố này ảnh
hưởng trực tiếp tới thị trường mỹ phẩm do vậy cần được chú ý và xem xét
một cách nghiêm chỉnh.
4) Nhân tố về môi trường chính trị – luật pháp:
_Bất cứ thị trường sản phẩm nào cũng đều chịu sự tác động của môi
trường chính trị và luật pháp.Môi trường chính trị bao gồm:vấn đề điều
hành của chính phủ,hệ thống luật pháp và các thông tư,chỉ thị,vai trò của
các nhóm xã hội.Những diễn biến của các yếu tố này ảnh hưởng rất mạnh
và cũng quyết định trực tiếp tới các quyết định kinh doanh của doanh
nghiệp trong và ngoài nước,từ đó có ảnh hưởng tới thị trường hàng hóa nói
chung và thị trường mỹ phẩm nói riêng.Nền tảng chính trị ổn định hay
15
không sẽ ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh.Hệ thống luật pháp biểu
hiện thông qua các pháp lệnh,bộ luật,nghị định nhằm điều chỉnh các hành
vi kinh doanh của các doanh nghiệp trên thị trường.Để có một thị trường
với tốc độ tăng trưởng nhanh,ổn định thì các doanh nghiệp cần nghiên cứu
kỹ về hai nhân tố này để có định hướng kinh doanh và giải pháp phát triển
phù hợp với luật pháp.
16
Chương II: Phân tích thực trạng của thị trường mỹ
phẩm Việt Nam
I)Đặc điểm kinh tế kỹ thuật và quá trình phát triển của thị trường mỹ
phẩm:
1)Đặc điểm kinh tế kỹ thuật:
a)Đặc điểm của mỹ phẩm:
_Là sản phẩm của các nghiên cứu khoa học,có tác dụng làm đẹp cho
con người.
_Mỹ phẩm là sẩn phẩm chứa các thành phần hóa học do đó nó chịu
tác động của những yếu tố sau đây:
+Nhiệt độ: Hầu hết các loại mỹ phẩm và sản phẩm dưỡng da đều được
sản xuất để giữ trong nhiệt độ phòng,do đó khi tăng nhiệt độ thì có thể sẽ
gây ra những thay đổi về lý học,hóa học và các vi khuẩn bên trong sản
phẩm.Ví dụ những mỹ phẩm lỏng như phấn nền hay phấn má hồng có thể
bị khô,chảy nước và tách dầu làm cho sản phẩm trở nên vô dụng.Đồng thời
bất cứ loại vitamin nào trong mỹ phẩm đều có thể bị phân hủy và kém hiệu
quả.Bên cạnh đó ,tăng nhiệt độ còn khuyến khích sự phát triển của vi
khuẩn ,đặc biệt trong những sản phẩm mà thường xuyên phải ở trong môi
trường dung dich ẩm như mascara hay son nước.
+Độ ẩm: Bên cạnh nhiệt độ thì độ ẩm cũng có ảnh hưởng tới chất
lượng của mỹ phẩm. Độ ẩm cao hoặc thấp hơn mức trung bình về lâu dài sẽ
gây ảnh hưởng tới chất lượng của mỹ phẩm,gây ra sự biến đổi của một vài
thành phần hóa học trong sản phẩm,từ đó có thể làm giảm tác dụng của mỹ
phẩm.
17
Chính vì những ảnh hưởng tiêu cực của nhiệt độ và độ ẩm mà hầu như
trên các sản phẩm mỹ phẩm hay dược mỹ phẩm nào cũng đều khuyến cáo
người tiêu dùng là để nơi khô mát và tránh ánh sáng trực tiếp
_Mỹ phẩm là một sản phẩm làm đẹp bên cạnh đó còn là một trong
những mặt hàng có ảnh hưởng tới sức khỏe con người
_Phần lớn các loại mỹ phẩm là sản phẩm kén người sử dụng,đặc biệt
là mỹ phẩm dự phòng và mỹ phẩm điều trị.Sở dĩ như vậy là vì mỗi loại mỹ
phẩm có công dụng khác nhau,phù hợp với từng loại da khác nhau.Ở mỗi
người thì lại có cơ địa và loại da khác nhau,nếu sử dụng sản phẩm không
phù hợp thì có thể gặp phải tình trạng như:dị ứng,phản ứng phụ…gây ảnh
hưởng không tốt đến da,một vài trường hợp nghiêm trọng còn có thể gây
tử vong cho người sử dụng.Do đó cần phải cẩn thận khi dùng mỹ phẩm để
tránh những tác hại không mong muốn.
b)Đặc điểm của thị trường mỹ phẩm:
_Có qui mô tương đối rộng và đang ngày càng gia tăng
_Khách hàng của thị trường mỹ phẩm chủ yếu là phụ nữ,tuy nhiên
hiện nay nhu cầu sử dụng mỹ phẩm của nam giới đang có xu hướng gia
tăng.Các khách hàng của thị trường này có sự khác biệt về tuổi tác,thu
nhập,trình dộ văn hóa,nghề nghiệp…Những sự khác biệt này đã tạo nên sự
phong phú và đa dạng về nhu cầu và ước muốn,sức mua và các đặc điểm
khác trong hành vi mua sắm và sử dụng sản phẩm của người tiêu dùng.
_Đây là một thị trường đa dạng về chủng loại sản phẩm,phong phú về
mẫu mã,kiểu dáng cũng như nguồn gốc sản xuất và cung cấp sản
phẩm.Riêng ở thị trường VN thì phần lớn các sản phẩm có mức tăng
trưởng cao là các sản phẩm của các hãng mỹ phẩm nước ngoài.
18
_Có sự phân khúc thành các loại thị trường khác nhau:thị trường mỹ
phẩm bình dân,thị trường mỹ phẩm trung bình,thị trường mỹ phẩm cao cấp
và thị trường mỹ phẩm thượng hạng.
2)Quá trình phát triển của thị trường mỹ phẩm Việt Nam:
_Trên thế giới,thị trường mỹ phẩm đã hình thành và phát triển từ rất
sớm.Anh,Pháp là hai quốc gia mà có sự phát triền và ra đời sớm nhất của
các loại mỹ phẩm.Ở Việt Nam,sự xuất hiện của mỹ phẩm muộn hơn và
không được phát triển như các nước phương tây.Mỹ phẩm chủ yếu được
gửi từ nước ngoài về:dầu gội đầu,kem đánh răng,xà bông ,nước hoa…Các
xí nghiệp,cơ sở sản xuất trong nước cũng đã được thành lập tuy nhiên sản
phẩm còn ít và chất lượng thấp: xà bông,xà phòng giặt…Một số cơ sở sản
xuất mỹ phẩm ra đời và đã sản xuất các sản phẩm : kem dưỡng da,kem làm
trắng da…như cơ sở sản xuất mỹ phẩm Lan Hảo thành lập năm 1959.Cho
đến năm 1989 thì cơ sở này đã phát triển trở thành một doanh nghiệp sản
xuất mỹ phẩm khá có tên tuổi trong nước.Cùng với sự phát triển đó thì
người tiêu dùng trong nước cũng dần quen với sự xuất hiện và sử dụng mỹ
phẩm
_ Trước năm 1997,tuy thị trường mỹ phẩm VN đã có sự phát triển
song vẫn chưa được mấy ai chú ý bởi suy nghĩ thu nhập của phụ nữ còn
thấp và ngân sách chi cho mỹ phẩm của họ quá ít ỏi. Các mặt hàng dưỡng
da, trang điểm trên thị trường lúc ấy chủ yếu là hàng nhập lậu từ Trung
Quốc (các nhãn hiệu rẻ tiền) và hàng trong nước, số ít là hàng ngoại.
Quan niệm này thay đổi từ khi Công ty Mỹ phẩm DeBon (Hàn Quốc)
bắt đầu hoạt động tại VN (1997). Công ty này làm thay đổi cách nhìn của
các nhà kinh doanh mỹ phẩm khác về thị trường VN bởi doanh số bán hàng
liên tục tăng từ 30 – 40%/năm và từ một nhãn hiệu vô danh DeBon đã trở
thành sản phẩm thời thượng.Việc sở hữu một bộ sản phẩm mỹ phẩm của
phụ nữ khi đó chiếm một lượng nhỏ và chủ yếu là người tiêu dùng ở các
19
thành phố lớn như Hà Nội,TP Hồ Chí Minh,Hải Phòng…Tuy việc mua và
sử dụng mỹ phẩm đã trở nên quen thuộc hơn song mỹ phẩm khi đó vẫn
được xem như là loại sản phẩm tiêu dùng xa xỉ
_Nền kinh tế ngày càng phát triển,Nhà nước đã có nhiều chính sách
mở cửa ,mở rộng giao lưu với nền kinh tế thế giới,luật pháp được sửa đổi
theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước cũng
như nước ngoài hoạt động kinh doanh.Thị trường hàng hóa phong phú,đa
dạng cả về chủng loại lẫn chất lượng.Người tiêu dùng có cơ hội được sử
dụng nhiều loại sản phẩm cao cấp hơn.Xu hướng mua sắm dần thay
đổi.Không nằm ngoài xu hướng đó,thị trường mỹ phẩm ngày càng được
mở rộng hơn,sản phẩm mỹ phẩm đã dần trở nên quen thuộc và nhu cầu sử
dụng ngày càng nhiều.Nhiều công ty sản xuất mỹ phẩm trong nước được
thành lập:công ty cổ phần Sao Thái dương, mỹ phẩm Sài Gòn,Mỹ phẩm
Lana,…Với giá thành tương đối rẻ,phù hợp với những người có thu nhập
thấp và trung bình,sản phẩm của các công ty này đã dành được chỗ đứng
trên thị trường,thậm chí còn xuất khẩu sang nước ngoài như các sản phẩm
của công ty mỹ phẩm Lan Hảo.
_Hãng mỹ phẩm DeBon thâm nhập vào thị trường Việt Nam,đã mở
đầu cho cuộc chinh phục của nhiều hãng mỹ phẩm nước ngoài cả từ hàng
bình dân cho đến những thương hiệu nổi tiếng. Chỉ trong một thời gian
ngắn là đầu quí II/2004, thị trường có mặt thêm nhiều nhãn hiệu mỹ phẩm
nổi tiếng đến từ nhiều nước như Christian Breton, Clarin, Feraud, Avon…
Đầu tháng 01/05 thị trường xuất hiện thêm dòng sản phẩm chăm sóc da đặc
trị (trị nám, tàn nhang, các vết thâm đen…) nhãn hiệu La Pearle (Hãng
Porn-Ploy) đến từ Thái Lan.
_Cho đến nay,thị trường mỹ phẩm Việt Nam đã ngày càng được mở
rộng và phát triển. Các chuyên gia về mỹ phẩm cho biết, hầu như các
thương hiệu mỹ phẩm nổi tiếng trên thế giới đều đã xuất hiện tại Việt Nam.
20
Trong đó có dòng mỹ phẩm cấp cao như Lancôm, Shiseido, Fendi, Lower,
Clairins, LOreal, loại trung bình như Avon, Debon, Nevia, Essane, Pond,
Hezaline, cùng các thương hiệu mỹ phẩm nội như Sài Gòn, Thorakao,
Lana, Biona…Không chỉ thế,các thương hiệu mỹ phẩm nội như Sài Gòn,
Thorakao, Lana, Biona… cũng đang nỗ lực không ngừng để giành thế chủ
động trên chính thị trường nhà,điều này khiến cho thị trường mỹ phẩm Việt
Nam ngày càng trở nên sôi động
Việt Nam được đánh giá là một trong ba thị trường mỹ phẩm tiềm
năng nhất thế giới cùng với Trung Quốc và Thổ Nhĩ Kì điều này chứng tỏ
thị trường mỹ phẩm Việt Nam đã đang và sẽ ngày càng phát triển thêm
nữa.
II/_Thực trạng của thị trường mỹ phẩm ở Việt Nam:
1)Thương hiệu:
_Với bất cứ sản phẩm nào,thương hiệu luôn là một sự đảm bảo đối với
người tiêu dùng cả về chất lượng cũng như thể hiện đẳng cấp tiêu dùng.Đối
với Mỹ phẩm cũng vậy,bên cạnh việc giải quyết nhu cầu có thật trong cuộc
sống ,việc sử dụng mỹ phẩm đối với nhiều người còn mang một tính chất
khác,đó chính là đẳng cấp.Một điểm khá đặc biệt nữa của thị trường mỹ
phẩm Việt Nam là nếu như những sản phẩm khác có thương hiệu nổi tiếng
thì chưa chắc đã giành được thị phần lớn.Tuy nhiên với thị trường mỹ
phẩm Việt Nam thì thực tế đã chứng minh được điều đó là đúng.Mỗi năm
người Việt Nam bỏ ra gần 35 tỷ đồng mua các loại mỹ phẩm nhưng khoảng
60-70% chi phí này lại rơi vào túi các hãng sản xuất mỹ phẩm nước ngoài,
trong đó Hàn Quốc 34%, Nhật 20%, riêng công ty Unilever chiếm 19% còn
lại mỹ phẩm Việt Nam khiêm tốn với thị phần là 27%.
_Theo nghiên cứu của công ty Golden Lotus, đơn vị phân phối Green
B, nhu cầu làm đẹp của phụ nữ Việt Nam đang tăng nhanh và sau
21
25 tuổi, họ có xu hướng dùng hàng hiệu. Thêm vào đó,theo con số điều tra
thị trường thì người Việt Nam chi cho mỹ phẩm mới chỉ đạt mức bình quân
là 4 USD/người/năm, thấp hơn 4-5 lần so với các nước cùng khu vực,
nhưng với trên 80 triệu dân, Việt Nam sẽ là một thị trường đầy tiềm
năng.Đó chính là lý do mà các thương hiệu mỹ phẩm nổi tiếng lựa chọn thị
trường Việt Nam. Các chuyên gia về mỹ phẩm cho biết, hầu như các
thương hiệu mỹ phẩm nổi tiếng trên thế giới đều đã xuất hiện tại Việt Nam.
Trong đó có dòng mỹ phẩm cấp cao như Lancôm, Shiseido, Fendi, Lower,
Clairins, LOreal, loại trung bình như Avon, Debon, Nevia, Essane, Pond,
Hezaline.Người tiêu dùng ngày càng có thêm nhiều cơ hội để sử dụng
những sản phẩm cao cấp,kể cả những khách hàng khó tính cũng sẽ được
đáp ứng đầy đủ những nhu cầu khắt khe nhất cả về chất lượng,kiểu dáng
cũng như mức độ nổi tiếng của thương hiệu.
_Tương tự như những dòng sản phẩm tiêu dùng khác, các hãng mỹ
phẩm (kể cả nước hoa) cũng được xếp vào những đẳng cấp khác nhau, dựa
trên những yếu tố khác nhau.
Thông thường, thị trường mỹ phẩm được phân khúc với 4 cấp độ căn
bản: Thượng hạng (Prestige), Cao cấp (Premium), Trung bình (Middle)
Bình dân (Mass) với các mức giá rất khác nhau.
Tuy nhiên, điều thật sự tạo nên sự khác biệt này không hẳn chỉ dựa
trên giá cả mà là chất lượng và doanh số của từng nhãn hiệu được đánh giá
tại các trung tâm mua sắm sang trọng (Deparment Store) của từng quốc gia.
Tại Việt Nam, mặc dù chưa thật sự rõ ràng nhưng những người quan
tâm và có sự am hiểu về mỹ phẩm thì đều có thể nhận ra sự khác biệt về
đẳng cấp của các nhãn hiệu trong thời gian gần đây trên thị trường, đặc biệt
là tại hai Deparment Store sang trọng bậc nhất Việt Nam – Diamond Store
và Parkson.
22
Các nhãn hiệu Prestige và Premium với đối tượng khách hàng là
những người có thu nhập cao và phong cách sành điệu như Estee Laude,
Lolita Lempicka (nước hoa), Shiseido, Clinique, Laneige, Guerlain, Kose,
Kanebo… đã dần chiếm hết các vị trí trung tâm ngay tại tầng trệt của các
Deparment Store này.
Khác với hai đẳng cấp trên, các nhãn hiệu mỹ phẩm thuộc nhóm
Middle và Mass thường tập trung vào đối tượng khách hàng là giới trung
lưu và bình dân. Nhiều năm qua, những tên tuổi như Revlon, LOreal Paris,
Nivea, Maybeline, Bioré, Essance, Ponds… cũng đã có được chỗ đứng và
thị trường của mình như siêu thị, cửa hàng, chợ… với mật độ phủ sóng
dày và rộng.
Sự xuất hiện của nhiều thương hiệu nổi tiếng thế giới trên thị trường
Việt Nam kéo theo là sự cạnh tranh gay gắt của các thương hiệu đó.Hình
thức cạnh tranh chủ yếu là thông qua các hoạt động quảng cáo với nhiều
hình thức quảng cáo gây thu hút,liên tục cho ra đời các loại sản phẩm với
tính năng cũng như mẫu mã mới.Ngoài ra các thương hiệu còn cạnh tranh
nhau thông qua việc chon địa điểm trưng bày và bán sản phẩm.Thông
thường,những nhãn hiệu nổi tiếng hơn cả như Coréana, Lancôme ,Shiseido
Clairins, Estée Lauder, Guerlain…thường chọn những trung tâm thương
mại lớn với vị trí đẹp,bắt mắt,vừa để thu hút sự chú ý của khách hàng,vừa
để chứng tỏ đẳng cấp thương hiệu của mình.
_Bên cạnh những thương hiệu mỹ phẩm nước ngoài ngày càng được
ưa chuộng thì không thể không nhắc đến những thương hiệu Việt với
những nỗ lực không ngừng để mở rộng thương hiệu,phát triển thị
trường.Ngày càng nhiều công ty sản xuất mỹ phẩm mang thương hiệu Việt
Nam ra đời,trong đó có một lượng các thương hiệu được người tiêu dùng
biết đến và có một chỗ đứng nhất định trên thi trường trong nước ví dụ
như: Thái Dương, Lan Hảo,Bodeta,Sài Gòn…Tuy nhiên,các công ty mỹ
23
phẩm Việt Nam có vẻ không chú trọng đến việc phát triển và quảng bá
thương hiệu của mình,nếu có thì cũng không được đầu tư kỹ lưỡng và rất
thiếu chuyên nghiệp.Chinh vì lẽ đó mà mỹ phẩm Việt đang yếu thế hơn rất
nhiều so với các hãng mỹ phẩm nước ngoài và dường như là đang thua trên
chính sân nhà của mình.Thực tế,VN có khả năng sản xuất được các sản
phẩm không thua gì các sản phẩm ngoại cùng đẳng cấp,giá thành lại rẻ hơn,
song cái khó lớn là không có thương hiệu trong lúc người tiêu dùng luôn
có “bệnh hàng hiệu”. Như DeBon chẳng hạn, công ty này thành công là
nhờ có chiến lược tiếp thị khôn ngoan. Theo Công ty Nghiên cứu thị trường
AC Nielsen có đến 99% người tiêu dùng biết đến DeBon thông qua các
hoạt động quảng cáo, tiếp thị. Hoặc nhãn hiệu Essance (LG Vina) chẳng
hạn, cũng chỉ ở mức hàng phổ thông nhưng được LG “đẩy” lên như một
sản phẩm hàng hiệu đáng chú ý bằng các mẫu quảng cáo hấp dẫn và công
phu được phát sóng liên tục trên tivi hằng ngày.Không quảng bá, không
đầu tư, mỹ phẩm nội chỉ loanh quanh ở vài sản phẩm thuộc nhóm skin care
(chăm sóc da) như sữa rửa mặt, sữa tắm, kem dưỡng da. Năm 2002 Lan
Hảo tiên phong sản xuất dòng mỹ phẩm make-up (trang điểm) với phấn
trang điểm Thorakao giá 49.500đ/hộp.Theo dánh giá, sản phẩm này có chất
lượng rất tốt, không thua gì hàng ngoại nhưng Lan Hảo vẫn không thành
công. Hoặc như với Công ty Mỹ phẩm Sài gòn, người tiêu dùng cũng
không biết đến sản phẩm nào khác ngoài nước hoa Miss Saigon. Cho đến
nay,nhiều dòng sản phẩm đã được ra đời song vẫn chỉ là những sản phẩm
chăm sóc da:kem chống nám da,phấn rôm dành cho trẻ em,kem trị vết
thâm…Trên các phương tiện thông tin đại chúng đã xuất hiện ngày càng
nhiều các đoạn quảng cáo của mỹ phẩm Việt Nam,tuy nhiên mức độ hấp
dẫn còn quá thâp và đối tượng khách hàng chủ yếu là những người có thu
nhập trung bình
Như vậy, DN VN đã nhường hẳn thị phần mỹ phẩm make-up cho DN
nước ngoài. Dường như hiểu rõ đây là cuộc chiến không cân sức, dần
24
dà DN nội chấp nhận một thị trường xương xẩu,kém lợi nhuận hơn là hoạt
động ở các tỉnh thành xa xôi trong cả nước – nơi mà người dân còn chưa đủ
điều kiện để mơ về thương hiệu.Tuy với xuất phát điểm chậm hơn,còn
nhiều thách thức trước mắt nhưng các DN Việt Nam vẫn đang ngày cang
cố gắng nhiều hơn nữa trong việc tiếp thi sản phẩm,PR hình ảnh thương
hiệu,chiếm lĩnh niềm tin của khách hàng nội địa và dần dần đưa thương
hiệu mỹ phẩm Việt Nam đến với thị trường quốc tế.
Với sự xuất hiện của ngày càng nhiều các thương hiệu cả trong lẫn
ngoài nước đã khiến cho thị trường mỹ phẩm Việt Nam ngày càng phong
phú và sôi động.Trong thời gian tới,chắc chắn sẽ có những cuộc soán ngôi
thú vị của các nhãn hiệu trên từng thị trường khác nhau một khi các nhãn
hiệu đó còn muốn khẳng định vị thế của mình với khát vọng chinh phục
người tiêu dùng Việt Nam
2)Cầu của thị trường:
_Theo con số điều tra thị trường thì người Việt Nam chi cho mỹ phẩm
mới chỉ đạt mức bình quân là 4 USD/người/năm, thấp hơn 4-5 lần so với
các nước cùng khu vực, nhưng với trên 80 triệu dân, Việt Nam sẽ là một thị
trường đầy tiềm năng.Cùng với sự phát triển chung,thu nhập của người dân
Việt Nam ngày càng cao,khả năng tiêu dùng các sản phẩm xa xỉ đã tăng lên
đáng kể.Tiêu biểu như mỹ phẩm,trước đây vốn được cho là hàng hóa xa xỉ
song đến giờ thì quan điểm đó đã trở lên lỗi thời.“Khách hàng VN giờ đây
đã nhận thức hơn về cái đẹp và quan tâm nhiều đến bản thân. Thị trường
mỹ phẩm VN được nhìn nhận như một thị trường phát triển nhanh và sẽ
còn phát triển mạnh trong những năm tiếp theo” – Bà Trần Phương Hiền,
Giám đốc phát triển kinh doanh của Maybelline New York tại VN nhận
xét.
Phụ nữ vốn được mệnh dang là phái đẹp,chính vì vậy mà đây chính là
nguồn khách hàng chủ yếu và tiềm năng nhất mà các hãng mỹ phẩm đều
25
thiết, giúp người đọc có hiểu biết đúng đắn hơn về mô hình sản phẩmthông dụng này. Trên thực tế thị trường mỹ phẩm Việt Nam còn rất nhiềubất cập trong viêc cung ứng thông tin đơn cử về loại sản phẩm cho người tiêudùng, đề tài điều tra và nghiên cứu sẽ là một tài liệu hữu dụng trong quy trình mua và sửdụng mẫu sản phẩm. Góp phần bảo vệ sức khỏe thể chất cho người tiêu dùng là mộtphần trong tiềm năng điều tra và nghiên cứu của đề tài. Thứ hai, trong quy trình nghiêncứu, hiểu được nhu yếu của người mua, có thêm số liệu về lượng cầu sảnphẩm, đó sẽ là tài liệu quan trọng trong cân đối cung và cầu, tăng tính hiệu quảcủa thị trường. Bên cạnh đó, trải qua việc nghiên cứu và điều tra, nhận thức được mặtmạnh mặt yếu của thị trường ta sẽ tìm ra được cách khắc phục những hạnchế, đồng thời phát huy được những lợi thế, khai thác hiệu suất cao những tiềmnăng, lan rộng ra thị trường. Riêng so với bản thân em là người trực tiếp nghiên cứu và điều tra đề tài này, emnhận thấy đây là một thị trường có rất nhiều tiêm năng để tăng trưởng. Việcthu đươc một khoản thu nhập lớn từ việc kinh doanh thương mại loại sản phẩm này rất khảquan. Bên cạnh nhu yếu kinh doanh thương mại, lấy tiềm năng doanh thu là đa phần thiviệc chăm sóc đến sức khỏe thể chất của người tiêu dùng là yếu tố rất là quantrọng. Trong khi đó đại bộ phận người tiêu dùng vẫn chưa nhận thức đượctầm quan trọng của việc sử dụng hiệu suất cao mẫu sản phẩm mỹ phẩm. Ngoàira, theo hiểu biết của em thì thị trường mỹ phẩm Việt Nam còn khá xô bồvà chưa được chăm sóc đúng tầm, theo một góc nhìn nào đó thì đây chínhlà một sự tiêu tốn lãng phí nguồn lực, bởi nếu có được những chăm sóc sát sao củacác cơ quan quản trị của nhà nước thì đây sẽ là một thị trường có đóng gópkhông nhỏ vào nguồn thu của nhà nước. Dưới đây là phần trình diễn đề tài của em, nội dung nghiên cứu và điều tra gồm baphần chính như sau : Chương I : Những yếu tố lý luận cơ bản của đề thị trường mỹphẩmChương II : Phân tích tình hình của thị trường mỹ phẩmChương III : Phương hướng và giải pháp cho thị trường nghiêncứuTrong quy trình nghiên cứu và điều tra của em con có nhiều sai sót do tầm hiểubiết còn hạn chế, thời hạn nghiên cứu và điều tra ngắn. cách sử dụng từ ngữ chuyênmôn còn đôi chỗ chưa hài hòa và hợp lý. Em mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo tậntình của thầy để hoàn toàn có thể hoàn thành xong được đề tài của mình. Em xin chân thành cảm ơn thầy. Thị trường mỹ phẩm Việt Nam-thực trạng và giảiphápChương I : Những yếu tố lý luận cơ bản của thịtrường mỹ phẩmI / _Bản chất, vai trò của mỹ phẩm1 ) Bản chất : a ) Khái niệm về mỹ phẩm : _Theo cách hiểu thường thì, mỹ phẩm có nghĩa là loại sản phẩm làmđẹp, dùng đa phần cho phái nữ, nhằm mục đích giúp họ trở nên xinh đẹp hơn_Theo từ điển y dược, mỹ phẩm được định nghĩa là loại sản phẩm được chếtạo nhằm mục đích mục tiêu làm sạch cơ thẻ, tăng thêm vẻ đẹp, làm tăng sức hấpdẫn, làm biến hóa diện mạo bên ngoài, giúp bảo vệ nuôi dưỡng những mô bênngoài cơ thểTheo định nghĩa trên, mỹ phẩm đã không còn là một loại sản phẩm làm đẹpthông thường mà mang ý nghĩa của dược phẩm. Đó cũng chính là nguyên do màcác đơn vị sản xuất cũng như những bác sĩ da liễu luôn khuyên người tiêu dùngsử dụng mỹ phẩm một cách đúng đắn và thận trọng_Đi kèm với khái niệm mỹ phẩm còn có khái niệm về dược mỹphẩm. Khái niệm dược mỹ phẩm được ông Pierre Fabre đưa ra lần đầutiên : mỹ phẩm được điều tra và nghiên cứu, bào chế như một dược phẩm ( tuân thủ tất cảnhững qui định khắt khe của việc điều tra và nghiên cứu, sản xuất và thử nghiệmmột dược phẩm ). Đó là môt loại mẫu sản phẩm dùng cho nhu yếu làm đẹp vàkhác biệt. Dược mỹ phẩm hướng đến những chăm nom thích hợp cho tất cảcác dạng tóc và da, khắc phục những khiếm khuyết thông dụng, nhất là so với lànda nhạy cảm khích ứng. Dược mỹ phẩm cung ứng vừa phân phối nhu yếu củaviệc điều trị y khoa của một dược phẩm, vừa thỏa mãn nhu cầu nhu yếu làm đẹp vàtính bảo đảm an toàn hoàn toàn có thể sử dụng lâu dài hơn của một mỹ phẩmb ) Phân loại mỹ phẩm : _Thông thường mỹ phẩm được chia làm ba loại : + Loại thứ nhất là mỹ phẩm vẻ bên ngoài : những loại sản phẩm trang điểm mặt phẳng ( mẫu sản phẩm make up, sơn móc tay, thuốc nhuộm tóc … ). Các mẫu sản phẩm này chỉtác động đến vẻ hình thức bề ngoài chứ không đi sâu vào sính lý da + Loại thứ hai là mỹ phẩm dự trữ, gồm có những loại sản phẩm chăm sócda, dưỡng da dành cho việc làm chậm lại những biến hóa sinh lý của da ( lãohóa, khô da ) và bảo vệ chống lại những tác nhân bên ngoài ( ô nhiễm, ánhnắng, chất kích ứng ) : kem chống nắng, sữa dưỡng ẩm, nước hoa hồng … Mỹ phẩm dự trữ + Loại thứ ba là những loại sản phẩm thay thế sửa chữa được dùng khi người ta đãthất bại trong dự trữ. Đối mặt với những tổn thương người ta phải chămsóc, khắc phục chúng bằng những loại sản phẩm như thể làm căng, làm ẩm, làmláng, tái sinh, giảm béo, chống rụng tóc … Với chuyên khoa da liễu, những tổnthương thuộc về nghành nghề dịch vụ của da như : vảy nến, chàm, mụn trứng cá … dượcmỹ phẩm về da là một công cụ bổ trợ hiệu suất cao cho những điều trị y khoaSản phẩm chống nhăn và lão hóa da_Ngoài ra còn hoàn toàn có thể phân loại mỹ phẩm theo những bộ phận mà nó chotác dụng như sau : + Da : xà bông tắm, sữa tắm, phấn hồng, phấn nền, bột thơm, nướchoa, chất làm trắng, chất làm mềm, nước hoa, kem chống nắng, kem dưỡngda … + Lông tóc : dầu gội, dầu xả, thuốc nhuộm tóc, thuốc duỗi tóc, thuốc uốntóc, gel vuốt tóc, kem tẩy lông, kem cạo râu, … + Mắt : bút kẻ mắt, kẻ lông mày, kem chải mi, mi mắt giả + Môi : son môi, chất làm ẩm môi, chất làm bóng môi … + Móng tay, chân : sơn, thuốc tẩy sơn … 2 ) Vai trò : _Việt Nam là một thị trường đầy tiềm năng với vận tốc tăng trưởng cao. Tốc độ tăng trưởng kinh tế tài chính tăng nhanh, tất yếu kéo theo nhu yếu không ngừngnâng cao chất lượng đời sống. Trong nhịp sống sôi động lúc bấy giờ, có mộtdiện mạo đẹp vừa là một mong ước chính đáng, vừa là một nhu yếu tươngđối thiết yếu. Trong đời sống cũng như trong việc làm, có một ngoại hìnhđẹp, lôi cuốn sẽ là một lợi thế không nhỏ. Tuy nhiên, không phải ai cũng cóđược vẻ đẹp như mong ước. Chính mỹ phẩm sẽ là một công cụ giúpchúng ta triển khai xong vẻ đẹp vẻ bên ngoài của bản thân. Mỹ phẩm thế cho nên đã vàđang lôi cuốn được sự chăm sóc lớn của cả hai giới. _Theo một cuộc tìm hiểu nhỏ về nhu yếu sẻ dụng mỹ phẩm thì có đến39 % người được hỏi đều vấn đáp là họ không khi nào dùng mỹ phẩm, vì họcho rằng mỹ phẩm là những mẫu sản phẩm làm đẹp như : kem dưỡng da, phấntrang điểm, những loại sản phẩm chăm nom và bảo vệ da … Trên thực tiễn, ngoài nhữngsản phẩm như trên, mỹ phẩm còn gồm có cả những chế phẩm dùng khitắm gội, loại sản phẩm chăm nom răng miệng, xà phòng, nước hoa … Theo đó, mỹphẩm là mẫu sản phẩm gần như là không hề thiếu với bất kỳ ai_ Với quy mô dân số 83 triệu người, vận tốc tăng trưởng kinh tế tài chính cao vàthu nhập của dân cư không ngừng được cải tổ, Việt Nam trở thànhmột thị trường béo bở cho những tên thương hiệu mỹ phẩm và là một trong ba thịtrường mỹ phẩm được quan tâm nhất trên quốc tế ( Việt Nam, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ ). Năm 2004, tổng doanh thu của thị trường mỹ phẩm ViệtNam – chỉ riêng loại sản phẩm trang điểm và chăm nom da – đã đạt khoảng chừng 1.900 tỉ đồng. Đến nay, tổng doanh thu của thị trường này đạt xê dịch 4 ooo tỉđồng, góp phần một phần không nhỏ vào ngân quĩ nhà nước, làm tăng tỷtrọng của ngành hàng tiêu dùng. _Trong thời đại hội nhập, giao lưu sản phẩm & hàng hóa tăng trưởng khôngngừng, chủng loại loại sản phẩm mỹ phẩm ngày càng phong phú se góp thêm phần làmthị trường sản phẩm & hàng hóa trong nước thêm phong phú và đa dạng. Nhiều hướng kinh doanhmới được mở ra, nhu yếu về lao động cũng tăng lên đáng kể. Đó là cơ hộitạo công ăn việc làm cho người dân thất nghiệp, ngoài những còn là thời cơ chongười có thu nhập thấp nâng cao mức thu nhập hiện có của mình_Không chỉ góp phần trong nghành kinh tế tài chính, mỹ phẩm còn có vai trònâng cao đời sống văn hóa truyền thống, ý thức của người dân. Với một ngoại hìnhđẹp, tất cả chúng ta sẽ thấy tự tin hơn, từ đó tạo hứng khởi làm việc tốt hơnII / _Nội dung cơ bản của thị trường mỹ phẩm : 1 ) Thương hiệu : _Thương hiệu ( Trade mark ) : là một khái niệm rất quen thuộc và đượcquan tâm biết đến từ rất lâu. Khái niệm này cũng được hiểu theo nhiều cáchkhác nhau. Phổ biến nhất, tên thương hiệu được hiểu là những yếu tố như kiểudáng phong cách thiết kế, tên hiệu đặc biệt quan trọng hay bất kỳ thứ gì hoàn toàn có thể sử dụng để phânbiệt sản phẩm & hàng hóa của một hãng sản xuất này với những sản phẩm & hàng hóa của nhữnghãng khác [ Hornby A.S.e.a., ( 1974 ), Oxford advanced learner’sdictionary, Oxford University Press, Delhi ] _Nhãn hiệu ( brand ) là tên gọi, thuật ngữ, hình tượng, hình vẽ hay sựphối hợp giữa chúng, được dùng để xác nhận mẫu sản phẩm của một người bánhay một nhóm người bán và để phân biệt chúng với mẫu sản phẩm của những đốithủ cạnh tranh đối đầu. Nếu hiểu thương hiệu theo định nghĩa trên thì chỉ là xem xét trênphương diện là loại sản phẩm của phong cách thiết kế, chỉ số lượng giới hạn ở góc nhìn hình thứccủa mẫu sản phẩm. Khi mẫu sản phẩm được gắn thương hiệu và đưa ra chào bán trên thịtrường thì mọi góc nhìn đặc trưng và những đặc tính đặc trưng gắn liên với sảnphẩm và phong thái ship hàng của doanh nghiệp đều được người tiêu dùngliên tưởng đến thương hiệu và được họ qui về yếu tố cấu thành nhãnhiệu. Theo marketing thì thương hiệu nói chung là một sự hứa hẹn của ngườibán với người mua về sự cung ứng một tập hợp những đặc thù, quyền lợi và dịchvụ. Khi đó hoàn toàn có thể giống hệt hai khái niệm thương hiệu và tên thương hiệu. _Giá trị của tên thương hiệu được đo bằng chất lượng dịch vụ cũng nhưchất lượng và độ thỏa dụng mà mẫu sản phẩm mang lại_ Hiện nay, thói quen sử dụng mỹ phẩm hạng sang của phụ nữ đã trở nênkhá phổ cập. Tuy nhiên, sự hiểu biết về Lever những thương hiệu mỹ phẩmcủa nhiều người vẫn còn số lượng giới hạn. Đặc biệt là so với một thị trường mỹphẩm vẫn còn chưa có sự thắt chặt quản trị và khá xô bồ như lúc bấy giờ tạiViệt Nam thì việc phân loại quý phái tên thương hiệu với người tiêu dùng hẳnvẫn là một bài toán khó. 2 ) Hệ thống phân phối và kế hoạch triển khai hỗn hợp : a ) mạng lưới hệ thống phân phối : _Trong nhiều năm gần đây, vai trò của marketing đã được khẳng địnhlà vô cùng quan trọng và có tính quyết định hành động so với sự tăng trưởng cua doanhnghiệp. Phân phối là một biến số quân trọng của marketing hỗn hợp. Hoạtđộng phân phối xử lý yếu tố sản phẩm & hàng hóa dịch vụ được đưa như thế nàođến người tiêu dùng. Hiện nay, ngày càng có nhiều doanh nghiệp quan tâmđến phân phố như thể biến số marketing tạo lợi thế cạnh tranh đối đầu dài hạn chodoanh nghiệp trên thị trường. Các doanh nghiệp tổ chức triển khai và quản trị hoạtđộng phân phối trải qua những hệ thống kênh phân phối. Theo quan điểm marketing, kênh phân phối lá một tập hợp những doanhnghiệp và cá thể độc lập và phụ thuộc vào lẫn nhau tham gia vào quá trìnhđưa sản phẩm & hàng hóa từ người sản xuất tới người tiêu dùng. Các kênh phân phốitạo nên dòng chảy sản phẩm & hàng hóa từ người sản xuất qua hoặc không qua cáctrung gian thương mại để tới người tiêu dùng. Một số loại trung gian thươngmại đa phần là : nhà bán sỉ, nhà kinh doanh nhỏ, đại lý và môi giới, nhà phân phối. _Mỹ phẩm là một mẫu sản phẩm thông dụng, ngày càng phổ cập. Songsong với sự đa dạng chủng loại về chủng loại, thương hiệu mỹ phẩm là sự đa dạngtrong hình thức phân phối. Do đặc trưng của mẫu sản phẩm mỹ phẩm nên kênhphân phối được sử dụng sẽ phải qua những trung gian thương mại. Nhữngtrung gian thương mại hầu hết trên thị trường mỹ phẩm Việt Nam hiện cólà : + Nhà phân phối hay nhà đáp ứng + Các nhà môi giới và đại lý + Cửa hàng bách hóa : bày bán nhiều loại mẫu sản phẩm khác nhau, mỗi mặthàng là một quầy riêng + Siêu thị là những TT kinh doanh bán lẻ lớn, ngân sách thấp, tự Giao hàng giáthấp, doanh thu bán cao + Chợ với mạng lưới hệ thống những shop tiện lợi : là những shop bán lẻnhỏ, chuyên bán những mẫu sản phẩm Giao hàng nhu yếu tiếp tục của ngườitiêu dùng + Cửa hàng hạng sang : Chuyên bán những mẫu sản phẩm hạng sang, hầu hết lànhững mẫu sản phẩm của những thương hiệu nổi tiếng với giá tiền caoNgoài những trung gian hoạt động giải trí chính thức kể trên, trên thị trườngcòn có thêm những người kinh doanh nhỏ những loại sản phẩm mỹ phẩm tự chế với sốlượng đang có khunh hướng gia tăngb ) Chiến lược thực thi hỗn hợp : _Xúc tiến hỗn hợp là một trong bốn nhóm công cụ hầu hết chủ yếucủa marketing mix mà doanh nghiệp hoàn toàn có thể sử dụng để ảnh hưởng tác động vào thịtrường tiềm năng nhằm mục đích đạt tiềm năng kinh doanh thương mại của doanh nghiệp. Bản chấtcủa những hoạt động giải trí triển khai chính là truyền tin về mẫu sản phẩm và doanh nghiệptới người mua để thuyết phục họ mua. _Một số dạng phương tiện đi lại truyền thông online được sử dụng là : + Quảng cáo : là một kiểu tiếp thị quảng cáo có tính đại chúng, mang tínhxã hội cao. Đây là một phương tiện đi lại có năng lực thuyết phục, tạo thời cơ chongười nhận tin so sánh loại sản phẩm của doanh nghiệp này với những sản phẩmcủa doanh nghiệp khác. Quảng cáo hoàn toàn có thể tạo ra hình ảnh cho sản phẩm & hàng hóa, xác định nó trong người tiêu dùng. 10M ột số phương tiện đi lại quảng cáo mà những công ty thường sử dụnglà : báo, tạp chí, tivi, radio, quảng cáo trên internet, pano áp phích … + Bán hàng cá thể : Là một công cụ hiệu suất cao nhất ở những giai đoạnhình thành sự ưa thích và niềm tin của người mua và quá trình ra quyếtđịnh mua hàng. Nó yên cầu có sự tiếp xúc qua lại giữa hai hay nhiềungười. Việc bán hàng trực tiếp khuyến khích người mua có những phản ứngđáp lại, biểu lộ thông tin phản hồi cho người bán + Khuyến mại ( thực thi bán ) : là một hoạt động giải trí truyền thông online trong đó sửdụng những công cụ ảnh hưởng tác động trực tiếp, tạo quyền lợi vật chất bổ trợ cho kháchhàng như phiếu mua hàng, những cuộc thi, quà Tặng, hàng khuyến mại, gói hàngchung. Ngoài ra những công ty còn tổ chức triển khai hội chợ triển lãm, hội nghị kháchhàng nhằm mục đích trình làng công ty, loại sản phẩm sản phẩm & hàng hóa của công ty với kháchhàng và công chúng + Tuyên truyền : là việc sử dụng những phương tiện đi lại tiếp thị quảng cáo đạichúng truyền tin không mất tiền về sản phẩm & hàng hóa dịch vụ tới những khách hànghiện tại và tiềm năng nhằm mục đích đạt những tiềm năng đơn cử của doanhnghiệp. Tuyên truyền hoàn toàn có thể ảnh hưởng tác động thâm thúy đến mức độ hiểu biết của xãhội, có năng lực thuyết phục người mua lớn và ít tốn kém hơn nhiều so vớihoạt động quảng cáo_Trên trong thực tiễn để đạt được hiệu suất cao tốt nhất, những doanh nghiệp cần cósự tích hợp những phương tiện đi lại truyền thông online một cách hòa giải, tương thích với điềukiện và thực trạng đơn cử của công ty. 3 ) Chất lượng của mỹ phẩm : a ) Khái niệm chất lượng : _Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ( ISO ) định nghĩa : chất lượng mẫu sản phẩm làtổng thể những chỉ tiêu, những đặc trưng của nó, bộc lộ được sự thỏa mãn11nhu cầu trong những biểu lộ tiêu dùng xác lập, tương thích với công dụngcủa mẫu sản phẩm mà người tiêu dùng mong ước. Chất lượng loại sản phẩm phải được bộc lộ trong tiêu dùng và cần xemxét xem loại sản phẩm thỏa mãn nhu cầu tới mức nào nhu yếu của thị trường. Chấtlượng loại sản phẩm phải gắn liền với điều kiện kèm theo đơn cử của nhu yếu thj trườngvề những mặt kinh tế tài chính, xã hội và phong tụcb ) Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng : * Chất lượng ở góc nhìn người tiêu dùng : _Chất lượng cảm nhận : là chất lượng mà người tiêu dùng cảm nhậnđược từ loại sản phẩm. Người tiêu dùng chỉ hoàn toàn có thể cảm nhận được chất lượngsản phẩm trải qua quy trình nhìn nhận dựa trên những đặc thù vẻ bên ngoài củasản phẩm. Ngoài ra còn hoàn toàn có thể nhìn nhận qua những chỉ tiêu gián tiếp như hìnhảnh, uy tín của doanh nghiệp … _Chất lượng nhìn nhận : là chất lượng người mua hoàn toàn có thể kiểm tra trướckhi mua : mùi, sắc tố … _Chất lượng kinh nghiệm tay nghề : là chất lượng mà người mua chỉ hoàn toàn có thể cảmnhận trải qua tiêu dùng sản phẩmĐặc trưng của những cách nhìn nhận chất lượng loại sản phẩm trên giác độngười tiêu dùng là chỉ dựa vào cơ sở cảm tính, nhìn nhận chất lượng sảnphẩm qua những hình thức bộc lộ bên ngoài, dễ cảm nhận. * Chất lượng ở góc nhìn người sản xuất : _Với người sản xuất, chất lượng mẫu sản phẩm thường được nhìn nhận trêncả ba phương diện marketing, kỹ thuật và kinh tế tài chính. Trên cơ sở đó, người sảnxuất nhìn nhận chất lượng loại sản phẩm trải qua những chỉ tiêu, những thông sốkinh tế – kỹ thuật đơn cử : tính năng công dụng, tuổi thọ, độ an toàn và đáng tin cậy, độ bảo đảm an toàn, ngân sách giá cả124 ) Cầu của thị trường : _Tổng cầu thị trường về một loại loại sản phẩm là tổng khối lượng sảnphẩm mà một nhóm người mua nhất định sẽ mua tại một địa phận nhấtđịnh, trong một khoảng chừng thời hạn nhất định với một thiên nhiên và môi trường marketingvà một chương trình marketing nhất định_Đối với loại sản phẩm mỹ phẩm nhu yếu của người mua vô cùng đadạng. Nó nhờ vào vào tâm ý, thị hiếu, phong thái thời trang, phongtục, quan điêm về vẻ đẹp … Muốn xác lập đúng cầu thị trường thì phảihiểu rõ nhu yếu của người mua và cung ứng hiệu suất cao nhu yếu đóIII / _Các tác nhân tác động ảnh hưởng đến thị trường mỹ phẩm : 1 ) Nhân tố về thu nhập : _Thu nhập của người dân là một tác nhân tác động ảnh hưởng tới nhu yếu cókhả năng thanh toán giao dịch của người mua. Nhu cầu có năng lực giao dịch thanh toán lànhu cầu và mong ước tương thích với thu nhập của họ. Trên trong thực tiễn, ai cũngcó nhu yếu làm đẹp cho bản thân, đó là nhu yếu tự nhiên, tuy nhiên việc có thỏamãn nhu yếu đó hay không thì còn phụ thuộc vào vào nhiều yếu tố, trong đó yếutố thu nhập là yếu tố quyết địnhNếu thu nhập cao, ngoài việc chi trả cho những nhu yếu thông thườngtrong đời sống, người tiêu dùng vẫn có năng lực thỏa mãn nhu cầu những nhu cầucấp cao hơn ví dụ ở đây là nhu yếu sử dụng mỹ phẩm. Khi đó, cầu thị trườngvề loại sản phẩm mỹ phẩm sẽ tăng. Ngược lại, nếu thu nhập của người tiêu dùngthấp, thì dù họ có nhu yếu và mong ước được sử dụng mẫu sản phẩm thì họcũng sẽ không tiêu dùng mẫu sản phẩm bởi năng lực giao dịch thanh toán là không có. Thu nhập của người tiêu dùng Việt Nam lúc bấy giờ do những nguồn sauđem lại : tiền lương, thu nhập ngoài lương, thu nhập từ lãi suất vay tiền tiếtkiệm, thu nhập từ bán mẫu sản phẩm … Trong toàn bộ những nguồn trên thì nguồn từlương tăng lên rất chậm thậm chí còn là chậm hơn so với vận tốc tăng giá. Vì13vậy, nhu cầu mua sắm tăng lên từ lương rất chậm. Do đó, nếu xét riêng về chỉ tiêu nàythì sự tác động ảnh hưởng của chúng tới qui mô nhu yếu và cơ cấu tổ chức sản phẩm & hàng hóa mua sắmrất yếu ớt. Trái với thu nhập từ tiền lương, nguồn thu nhập từ ngoài lươngđối với một bộ phận dân cư nào đó là rất lớn, và chính nguồn này đã tạo nênsức mua rất lớn về qui mô và gây nên sự phân tầng kinh hoàng trong thu nhậpcũng như cơ cấu tổ chức tiêu dùng và shopping. Đối với loại mẫu sản phẩm không nằm trong nhóm hàng tiêu dùng thiếtyếu như mỹ phẩm thì yếu tố thu nhập là yếu tố có ảnh hưởng tác động khá lớn tớiquyết định mua, và do đó có ảnh hưởng tác động tới cầu của thị trường về mẫu sản phẩm. 2 ) Nhân tố về nhân khẩu và địa lý_Nhân tố nhân khẩu ở đây đơn cử là cơ cấu tổ chức về giới tức là tỉ lệ giữa namvà nữ trong một vùng, một khu vực hay một vương quốc, quy mô dân số. Sở dĩcho rằng đây là tác nhân ảnh hưởng tác động tới thị trường mỹ phẩm là vì : Nơi nàocó lượng phái đẹp nhiều thì nhu yếu sử dụng mỹ phẩm sẽ cao hơn. Mặc dùhiện nay nhu yếu sử dụng mỹ phẩm của phái mạnh ngày càng tăng lên nhưngso với phụ nữ thì còn có một khoảng cách khá xa. Tuổi tác cũng là một vấnđề có ảnh hưởng tác động tới nhu yếu shopping những mẫu sản phẩm làm đẹp như mỹphẩm, ảnh hưởng tác động tới việc tiêu thụ những loại mẫu sản phẩm đặc trưng khác nhau. Ởnhững người trẻ thì nhu yếu sử dụng mỹ phẩm lớn hơn so với người già, sảnphẩm họ tiêu dùng hầu hết là mỹ phẩm vẻ bên ngoài và mỹ phẩm dựphòng. Chính sự độc lạ này có tác động ảnh hưởng tới việc phân loại sản phẩmcho từng đoạn thị trường khác nhau. Về qui mô dân số lại có ảnh hưởng tác động tới qui mô nhu yếu. Thông thườngqui mô dân số càng lớn thì thường báo hiệu một qui mô thị trường lớn_Bên cạnh yếu tố dân số thì yếu tố về địa lý cũng có tác động ảnh hưởng tới thịtrường mỹ phẩm. Ở những thành phố lớn hay những nơi có mức sống caothì nhu yếu sử dụng mỹ phẩm lớn hơn so với vùng nông thôn hay miềnnúi. Lý do là vì người dân ở thành thị hay những vùng có mức sống cao14được tiếp đón với thời trang và những xu thế làm đẹp nhanh và nhiều hơnở những vùng nông thôn và miền núi. Hơn nữa ở thành phố thì số lượng cánbộ, nhân viên cấp dưới, công chức nhiều nên nhu yếu trang điểm của họ cũng nhiềuhơn so với vùng nông thôn hay miên núi, nơi tập chung hầu hết lao độngtay chân. 3 ) Nhân tố thị hiếu và văn hóa truyền thống : _Mỹ phẩm là một loại sản phẩm làm đẹp, do vậy nó chịu sự tác động ảnh hưởng củacả hai yếu tố thị hiếu và văn hóa truyền thống. Cùng sử dụng mỹ phẩm nhưng ở mỗivùng khác nhau lại có những quan điểm tiêu dùng khác nhau. Ví dụ như ởChâu Á thường dùng mỹ phẩm trang điểm nhẹ nhàng, tuy nhiên ở phươngTây thi lại có thói quen trang điểm đậm. Ở việt nam, phụ nữ thường sử dụng sảnphẩm trang điểm chứ không hay dùng những loại sản phẩm dưỡng và chăm sócda. Phong cách trang điểm cũng thường nhẹ nhàng, tự nhiên, sắc tố sảnphẩm sáng. Ngược lại, ở Nước Hàn hay Nhật Bản thì phụ nữ thường trangđiểm đậm, sắc tố loại sản phẩm thường là màu tối. Họ chú trọng đến việc sửdụng những loại sản phẩm dưỡng da và trang điểm khi đi ra ngoài là một cách thểhiện sự tôn trọng người khác. Ở những nước này, đàn ông cũng sử dụngnhiều loại sản phẩm mỹ phẩm hơn so với nước ta. Những tác nhân này ảnhhưởng trực tiếp tới thị trường mỹ phẩm do vậy cần được quan tâm và xem xétmột cách nghiêm chỉnh. 4 ) Nhân tố về môi trường tự nhiên chính trị – lao lý : _Bất cứ thị trường mẫu sản phẩm nào cũng đều chịu sự ảnh hưởng tác động của môitrường chính trị và lao lý. Môi trường chính trị gồm có : yếu tố điềuhành của chính phủ nước nhà, mạng lưới hệ thống lao lý và những thông tư, thông tư, vai trò củacác nhóm xã hội. Những diễn biến của những yếu tố này ảnh hưởng tác động rất mạnhvà cũng quyết định hành động trực tiếp tới những quyết định hành động kinh doanh thương mại của doanhnghiệp trong và ngoài nước, từ đó có ảnh hưởng tác động tới thị trường hàng hóa nóichung và thị trường mỹ phẩm nói riêng. Nền tảng chính trị không thay đổi hay15không sẽ ảnh hưởng tác động đến thiên nhiên và môi trường kinh doanh thương mại. Hệ thống lao lý biểuhiện trải qua những pháp lệnh, bộ luật, nghị định nhằm mục đích kiểm soát và điều chỉnh những hànhvi kinh doanh thương mại của những doanh nghiệp trên thị trường. Để có một thị trườngvới vận tốc tăng trưởng nhanh, không thay đổi thì những doanh nghiệp cần nghiên cứukỹ về hai tác nhân này để có khuynh hướng kinh doanh thương mại và giải pháp phát triểnphù hợp với lao lý. 16C hương II : Phân tích tình hình của thị trường mỹphẩm Việt NamI ) Đặc điểm kinh tế tài chính kỹ thuật và quy trình tăng trưởng của thị trường mỹphẩm : 1 ) Đặc điểm kinh tế tài chính kỹ thuật : a ) Đặc điểm của mỹ phẩm : _Là loại sản phẩm của những điều tra và nghiên cứu khoa học, có tính năng làm đẹp chocon người. _Mỹ phẩm là sẩn phẩm chứa những thành phần hóa học do đó nó chịutác động của những yếu tố sau đây : + Nhiệt độ : Hầu hết những loại mỹ phẩm và mẫu sản phẩm dưỡng da đều đượcsản xuất để giữ trong nhiệt độ phòng, do đó khi tăng nhiệt độ thì hoàn toàn có thể sẽgây ra những biến hóa về lý học, hóa học và những vi trùng bên trong sảnphẩm. Ví dụ những mỹ phẩm lỏng như phấn nền hay phấn má hồng có thểbị khô, chảy nước và tách dầu làm cho loại sản phẩm trở nên vô dụng. Đồng thờibất cứ loại vitamin nào trong mỹ phẩm đều hoàn toàn có thể bị phân hủy và kém hiệuquả. Bên cạnh đó, tăng nhiệt độ còn khuyến khích sự tăng trưởng của vikhuẩn, đặc biệt quan trọng trong những mẫu sản phẩm mà liên tục phải ở trong môitrường dung dich ẩm như mascara hay son nước. + Độ ẩm : Bên cạnh nhiệt độ thì nhiệt độ cũng có ảnh hưởng tác động tới chấtlượng của mỹ phẩm. Độ ẩm cao hoặc thấp hơn mức trung bình về lâu bền hơn sẽgây ảnh hưởng tác động tới chất lượng của mỹ phẩm, gây ra sự đổi khác của một vàithành phần hóa học trong loại sản phẩm, từ đó hoàn toàn có thể làm giảm công dụng của mỹphẩm. 17C hính vì những ảnh hưởng tác động xấu đi của nhiệt độ và nhiệt độ mà hầu nhưtrên những loại sản phẩm mỹ phẩm hay dược mỹ phẩm nào cũng đều khuyến cáongười tiêu dùng là để nơi khô mát và tránh ánh sáng trực tiếp_Mỹ phẩm là một mẫu sản phẩm làm đẹp cạnh bên đó còn là một trongnhững mẫu sản phẩm có ảnh hưởng tác động tới sức khỏe thể chất con người_Phần lớn những loại mỹ phẩm là loại sản phẩm kén người sử dụng, đặc biệtlà mỹ phẩm dự trữ và mỹ phẩm điều trị. Sở dĩ như vậy là vì mỗi loại mỹphẩm có tác dụng khác nhau, tương thích với từng loại da khác nhau. Ở mỗingười thì lại có cơ địa và loại da khác nhau, nếu sử dụng loại sản phẩm khôngphù hợp thì hoàn toàn có thể gặp phải thực trạng như : dị ứng, phản ứng phụ … gây ảnhhưởng không tốt đến da, một vài trường hợp nghiêm trọng còn hoàn toàn có thể gâytử vong cho người sử dụng. Do đó cần phải cẩn trọng khi dùng mỹ phẩm đểtránh những tai hại không mong ước. b ) Đặc điểm của thị trường mỹ phẩm : _Có qui mô tương đối rộng và đang ngày càng gia tăng_Khách hàng của thị trường mỹ phẩm đa phần là phụ nữ, tuy nhiênhiện nay nhu yếu sử dụng mỹ phẩm của phái mạnh đang có khuynh hướng giatăng. Các người mua của thị trường này có sự độc lạ về tuổi tác, thunhập, trình dộ văn hóa truyền thống, nghề nghiệp … Những sự độc lạ này đã tạo nên sựphong phú và phong phú về nhu yếu và mong ước, nhu cầu mua sắm và những đặc điểmkhác trong hành vi shopping và sử dụng loại sản phẩm của người tiêu dùng. _Đây là một thị trường phong phú về chủng loại loại sản phẩm, nhiều mẫu mã vềmẫu mã, mẫu mã cũng như nguồn gốc sản xuất và cung ứng sảnphẩm. Riêng ở thị trường việt nam thì phần đông những loại sản phẩm có mức tăngtrưởng cao là những loại sản phẩm của những hãng mỹ phẩm quốc tế. 18 _Có sự phân khúc thành những loại thị trường khác nhau : thị trường mỹphẩm tầm trung, thị trường mỹ phẩm trung bình, thị trường mỹ phẩm cao cấpvà thị trường mỹ phẩm hạng sang. 2 ) Quá trình tăng trưởng của thị trường mỹ phẩm Việt Nam : _Trên quốc tế, thị trường mỹ phẩm đã hình thành và tăng trưởng từ rấtsớm. Anh, Pháp là hai vương quốc mà có sự phát triền và sinh ra sớm nhất củacác loại mỹ phẩm. Ở Việt Nam, sự Open của mỹ phẩm muộn hơn vàkhông được tăng trưởng như những nước phương tây. Mỹ phẩm hầu hết đượcgửi từ quốc tế về : dầu gội đầu, kem đánh răng, xà bông, nước hoa … Cácxí nghiệp, cơ sở sản xuất trong nước cũng đã được xây dựng tuy nhiên sảnphẩm còn ít và chất lượng thấp : xà bông, xà phòng giặt … Một số cơ sở sảnxuất mỹ phẩm sinh ra và đã sản xuất những loại sản phẩm : kem dưỡng da, kem làmtrắng da … như cơ sở sản xuất mỹ phẩm Lan Hảo xây dựng năm 1959. Chođến năm 1989 thì cơ sở này đã tăng trưởng trở thành một doanh nghiệp sảnxuất mỹ phẩm khá có tên tuổi trong nước. Cùng với sự tăng trưởng đó thìngười tiêu dùng trong nước cũng dần quen với sự Open và sử dụng mỹphẩm_ Trước năm 1997, tuy thị trường mỹ phẩm việt nam đã có sự phát triểnsong vẫn chưa được mấy ai quan tâm bởi tâm lý thu nhập của phụ nữ cònthấp và ngân sách chi cho mỹ phẩm của họ quá rất ít. Các loại sản phẩm dưỡngda, trang điểm trên thị trường lúc ấy hầu hết là hàng nhập lậu từ TrungQuốc ( những thương hiệu rẻ tiền ) và hàng trong nước, số ít là hàng ngoại. Quan niệm này biến hóa từ khi Công ty Mỹ phẩm DeBon ( Nước Hàn ) khởi đầu hoạt động giải trí tại việt nam ( 1997 ). Công ty này làm biến hóa cách nhìn củacác nhà kinh doanh mỹ phẩm khác về thị trường việt nam bởi doanh thu bán hàngliên tục tăng từ 30 – 40 % / năm và từ một thương hiệu vô danh DeBon đã trởthành loại sản phẩm thời thượng. Việc chiếm hữu một bộ loại sản phẩm mỹ phẩm củaphụ nữ khi đó chiếm một lượng nhỏ và đa phần là người tiêu dùng ở các19thành phố lớn như TP. Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng Đất Cảng … Tuy việc mua vàsử dụng mỹ phẩm đã trở nên quen thuộc hơn tuy nhiên mỹ phẩm khi đó vẫnđược xem như là loại loại sản phẩm tiêu dùng xa xỉ_Nền kinh tế tài chính ngày càng tăng trưởng, Nhà nước đã có nhiều chính sáchmở cửa, lan rộng ra giao lưu với nền kinh tế tài chính quốc tế, lao lý được sửa đổitheo hướng tạo điều kiện kèm theo thuận tiện cho những doanh nghiệp trong nước cũngnhư quốc tế hoạt động giải trí kinh doanh thương mại. Thị trường sản phẩm & hàng hóa phong phú và đa dạng, đadạng cả về chủng loại lẫn chất lượng. Người tiêu dùng có thời cơ được sửdụng nhiều loại mẫu sản phẩm hạng sang hơn. Xu hướng shopping dần thayđổi. Không nằm ngoài xu thế đó, thị trường mỹ phẩm ngày càng đượcmở rộng hơn, mẫu sản phẩm mỹ phẩm đã dần trở nên quen thuộc và nhu yếu sửdụng ngày càng nhiều. Nhiều công ty sản xuất mỹ phẩm trong nước đượcthành lập : công ty CP Sao Thái dương, mỹ phẩm Hồ Chí Minh, Mỹ phẩmLana, … Với giá tiền tương đối rẻ, tương thích với những người có thu nhậpthấp và trung bình, loại sản phẩm của những công ty này đã dành được chỗ đứngtrên thị trường, thậm chí còn còn xuất khẩu sang quốc tế như những sản phẩmcủa công ty mỹ phẩm Lan Hảo. _Hãng mỹ phẩm DeBon xâm nhập vào thị trường Việt Nam, đã mởđầu cho cuộc chinh phục của nhiều hãng mỹ phẩm quốc tế cả từ hàngbình dân cho đến những tên thương hiệu nổi tiếng. Chỉ trong một thời gianngắn là đầu quí II / 2004, thị trường xuất hiện thêm nhiều thương hiệu mỹ phẩmnổi tiếng đến từ nhiều nước như Christian Breton, Clarin, Feraud, Avon … Đầu tháng 01/05 thị trường Open thêm dòng mẫu sản phẩm chăm nom da đặctrị ( trị nám, tàn nhang, những vết thâm đen … ) thương hiệu La Pearle ( HãngPorn-Ploy ) đến từ Vương Quốc của nụ cười. _Cho đến nay, thị trường mỹ phẩm Việt Nam đã ngày càng được mởrộng và tăng trưởng. Các chuyên viên về mỹ phẩm cho biết, phần đông cácthương hiệu mỹ phẩm nổi tiếng trên quốc tế đều đã Open tại Việt Nam. 20T rong đó có dòng mỹ phẩm cấp cao như Lancôm, Shiseido, Fendi, Lower, Clairins, LOreal, loại trung bình như Avon, Debon, Nevia, Essane, Pond, Hezaline, cùng những tên thương hiệu mỹ phẩm nội như TP HCM, Thorakao, Lana, Biona … Không chỉ thế, những tên thương hiệu mỹ phẩm nội như Hồ Chí Minh, Thorakao, Lana, Biona … cũng đang nỗ lực không ngừng để giành thế chủđộng trên chính thị trường nhà, điều này khiến cho thị trường mỹ phẩm ViệtNam ngày càng trở nên sôi độngViệt Nam được nhìn nhận là một trong ba thị trường mỹ phẩm tiềmnăng nhất quốc tế cùng với Trung Quốc và Thổ Nhĩ Kì điều này chứng tỏthị trường mỹ phẩm Việt Nam đã đang và sẽ ngày càng tăng trưởng thêmnữa. II / _Thực trạng của thị trường mỹ phẩm ở Việt Nam : 1 ) Thương hiệu : _Với bất kỳ loại sản phẩm nào, tên thương hiệu luôn là một sự bảo vệ đối vớingười tiêu dùng cả về chất lượng cũng như biểu lộ quý phái tiêu dùng. Đốivới Mỹ phẩm cũng vậy, bên cạnh việc xử lý nhu yếu có thật trong cuộcsống, việc sử dụng mỹ phẩm so với nhiều người còn mang một tính chấtkhác, đó chính là đẳng cấp và sang trọng. Một điểm khá đặc biệt quan trọng nữa của thị trường mỹphẩm Việt Nam là nếu như những mẫu sản phẩm khác có tên thương hiệu nổi tiếngthì chưa chắc đã giành được thị phần lớn. Tuy nhiên với thị trường mỹphẩm Việt Nam thì trong thực tiễn đã chứng tỏ được điều đó là đúng. Mỗi nămngười Việt Nam bỏ ra gần 35 tỷ đồng mua những loại mỹ phẩm nhưng khoảng60-70 % ngân sách này lại rơi vào túi những hãng sản xuất mỹ phẩm quốc tế, trong đó Nước Hàn 34 %, Nhật 20 %, riêng công ty Unilever chiếm 19 % cònlại mỹ phẩm Việt Nam nhã nhặn với thị trường là 27 %. _Theo điều tra và nghiên cứu của công ty Golden Lotus, đơn vị chức năng phân phối GreenB, nhu yếu làm đẹp của phụ nữ Việt Nam đang tăng nhanh và sau2125 tuổi, họ có xu thế dùng hàng hiệu cao cấp. Thêm vào đó, theo số lượng điều trathị trường thì người Việt Nam chi cho mỹ phẩm mới chỉ đạt mức bình quânlà 4 USD / người / năm, thấp hơn 4-5 lần so với những nước cùng khu vực, nhưng với trên 80 triệu dân, Việt Nam sẽ là một thị trường đầy tiềmnăng. Đó chính là nguyên do mà những tên thương hiệu mỹ phẩm nổi tiếng lựa chọn thịtrường Việt Nam. Các chuyên viên về mỹ phẩm cho biết, phần đông cácthương hiệu mỹ phẩm nổi tiếng trên quốc tế đều đã Open tại Việt Nam. Trong đó có dòng mỹ phẩm cấp cao như Lancôm, Shiseido, Fendi, Lower, Clairins, LOreal, loại trung bình như Avon, Debon, Nevia, Essane, Pond, Hezaline. Người tiêu dùng ngày càng có thêm nhiều thời cơ để sử dụngnhững mẫu sản phẩm hạng sang, kể cả những người mua khó chiều chuộng cũng sẽ đượcđáp ứng vừa đủ những nhu yếu khắc nghiệt nhất cả về chất lượng, kiểu dángcũng như mức độ nổi tiếng của tên thương hiệu. _Tương tự như những dòng loại sản phẩm tiêu dùng khác, những hãng mỹphẩm ( kể cả nước hoa ) cũng được xếp vào những quý phái khác nhau, dựatrên những yếu tố khác nhau. Thông thường, thị trường mỹ phẩm được phân khúc với 4 Lever cănbản : Thượng hạng ( Prestige ), Cao cấp ( Premium ), Trung bình ( Middle ) Bình dân ( Mass ) với những mức giá rất khác nhau. Tuy nhiên, điều thật sự tạo nên sự độc lạ này không hẳn chỉ dựatrên Chi tiêu mà là chất lượng và doanh thu của từng thương hiệu được đánh giátại những TT shopping sang trọng và quý phái ( Deparment Store ) của từng vương quốc. Tại Việt Nam, mặc dầu chưa thật sự rõ ràng nhưng những người quantâm và có sự am hiểu về mỹ phẩm thì đều hoàn toàn có thể nhận ra sự độc lạ vềđẳng cấp của những thương hiệu trong thời hạn gần đây trên thị trường, đặc biệtlà tại hai Deparment Store sang trọng và quý phái bậc nhất Việt Nam – Diamond Storevà Parkson. 22C ác thương hiệu Prestige và Premium với đối tượng người tiêu dùng người mua lànhững người có thu nhập cao và phong thái sành điệu như Estee Laude, Lolita Lempicka ( nước hoa ), Shiseido, Clinique, Laneige, Guerlain, Kose, Kanebo … đã dần chiếm hết những vị trí TT ngay tại tầng trệt của cácDeparment Store này. Khác với hai quý phái trên, những thương hiệu mỹ phẩm thuộc nhómMiddle và Mass thường tập trung chuyên sâu vào đối tượng người dùng người mua là giới trunglưu và tầm trung. Nhiều năm qua, những tên tuổi như Revlon, LOreal Paris, Nivea, Maybeline, Bioré, Essance, Ponds … cũng đã có được chỗ đứng vàthị trường của mình như nhà hàng, shop, chợ … với tỷ lệ phủ sóngdày và rộng. Sự Open của nhiều tên thương hiệu nổi tiếng quốc tế trên thị trườngViệt Nam kéo theo là sự cạnh tranh đối đầu nóng bức của những tên thương hiệu đó. Hìnhthức cạnh tranh đối đầu hầu hết là trải qua những hoạt động giải trí quảng cáo với nhiềuhình thức quảng cáo gây lôi cuốn, liên tục cho sinh ra những loại loại sản phẩm vớitính năng cũng như mẫu mã mới. Ngoài ra những tên thương hiệu còn cạnh tranhnhau trải qua việc chon khu vực tọa lạc và bán loại sản phẩm. Thôngthường, những thương hiệu nổi tiếng hơn cả như Coréana, Lancôme, ShiseidoClairins, Estée Lauder, Guerlain … thường chọn những TT thươngmại lớn với vị trí đẹp, đẹp mắt, vừa để lôi cuốn sự chú ý quan tâm của người mua, vừađể chứng tỏ đẳng cấp và sang trọng tên thương hiệu của mình. _Bên cạnh những tên thương hiệu mỹ phẩm quốc tế ngày càng đượcưa chuộng thì không hề không nhắc đến những tên thương hiệu Việt vớinhững nỗ lực không ngừng để lan rộng ra tên thương hiệu, tăng trưởng thịtrường. Ngày càng nhiều công ty sản xuất mỹ phẩm mang tên thương hiệu ViệtNam sinh ra, trong đó có một lượng những tên thương hiệu được người tiêu dùngbiết đến và có một chỗ đứng nhất định trên thi trường trong nước ví dụnhư : Thái Dương, Lan Hảo, Bodeta, Hồ Chí Minh … Tuy nhiên, những công ty mỹ23phẩm Việt Nam có vẻ như không chú trọng đến việc tăng trưởng và quảng báthương hiệu của mình, nếu có thì cũng không được góp vốn đầu tư kỹ lưỡng và rấtthiếu chuyên nghiệp. Chinh vì lẽ đó mà mỹ phẩm Việt đang yếu thế hơn rấtnhiều so với những hãng mỹ phẩm quốc tế và có vẻ như là đang thua trênchính sân nhà của mình. Thực tế, việt nam có năng lực sản xuất được những sảnphẩm không thua gì những loại sản phẩm ngoại cùng đẳng cấp và sang trọng, giá tiền lại rẻ hơn, tuy nhiên cái khó lớn là không có tên thương hiệu trong lúc người tiêu dùng luôncó “ bệnh hàng hiệu cao cấp ”. Như DeBon ví dụ điển hình, công ty này thành công xuất sắc lànhờ có kế hoạch tiếp thị khôn ngoan. Theo Công ty Nghiên cứu thị trườngAC Nielsen có đến 99 % người tiêu dùng biết đến DeBon trải qua cáchoạt động quảng cáo, tiếp thị. Hoặc thương hiệu Essance ( LG Vina ) chẳnghạn, cũng chỉ ở mức hàng đại trà phổ thông nhưng được LG “ đẩy ” lên như mộtsản phẩm đồ hiệu cao cấp đáng chú ý quan tâm bằng những mẫu quảng cáo mê hoặc và côngphu được phát sóng liên tục trên tivi hằng ngày. Không tiếp thị, khôngđầu tư, mỹ phẩm nội chỉ loanh quanh ở vài mẫu sản phẩm thuộc nhóm skin care ( chăm nom da ) như sữa rửa mặt, sữa tắm, kem dưỡng da. Năm 2002 LanHảo tiên phong sản xuất dòng mỹ phẩm make-up ( trang điểm ) với phấntrang điểm Thorakao giá 49.500 đ / hộp. Theo dánh giá, mẫu sản phẩm này có chấtlượng rất tốt, không thua gì hàng ngoại nhưng Lan Hảo vẫn không thànhcông. Hoặc như với Công ty Mỹ phẩm Sài gòn, người tiêu dùng cũngkhông biết đến loại sản phẩm nào khác ngoài nước hoa Miss Saigon. Cho đếnnay, nhiều dòng loại sản phẩm đã được sinh ra tuy nhiên vẫn chỉ là những sản phẩmchăm sóc da : kem chống nám da, phấn rôm dành cho trẻ nhỏ, kem trị vếtthâm … Trên những phương tiện thông tin đại chúng đã Open ngày càngnhiều những đoạn quảng cáo của mỹ phẩm Việt Nam, tuy nhiên mức độ hấpdẫn còn quá thâp và đối tượng người tiêu dùng người mua đa phần là những người có thunhập trung bìnhNhư vậy, Doanh Nghiệp việt nam đã nhường hẳn thị trường mỹ phẩm make-up cho DNnước ngoài. Dường như hiểu rõ đây là đại chiến không cân sức, dần24dà Doanh Nghiệp nội gật đầu một thị trường xương xẩu, kém doanh thu hơn là hoạtđộng ở những tỉnh thành xa xôi trong cả nước – nơi mà người dân còn chưa đủđiều kiện để mơ về tên thương hiệu. Tuy với xuất phát điểm chậm hơn, cònnhiều thử thách trước mắt nhưng những Doanh Nghiệp Việt Nam vẫn đang ngày cangcố gắng nhiều hơn nữa trong việc tiếp thi mẫu sản phẩm, PR hình ảnh thươnghiệu, sở hữu niềm tin của người mua trong nước và từ từ đưa thươnghiệu mỹ phẩm Việt Nam đến với thị trường quốc tế. Với sự Open của ngày càng nhiều những tên thương hiệu cả trong lẫnngoài nước đã khiến cho thị trường mỹ phẩm Việt Nam ngày càng phongphú và sôi động. Trong thời hạn tới, chắc như đinh sẽ có những cuộc soán ngôithú vị của những thương hiệu trên từng thị trường khác nhau một khi những nhãnhiệu đó còn muốn khẳng định chắc chắn vị thế của mình với khát vọng chinh phụcngười tiêu dùng Việt Nam2 ) Cầu của thị trường : _Theo số lượng tìm hiểu thị trường thì người Việt Nam chi cho mỹ phẩmmới chỉ đạt mức trung bình là 4 USD / người / năm, thấp hơn 4-5 lần so vớicác nước cùng khu vực, nhưng với trên 80 triệu dân, Việt Nam sẽ là một thịtrường đầy tiềm năng. Cùng với sự tăng trưởng chung, thu nhập của người dânViệt Nam ngày càng cao, năng lực tiêu dùng những loại sản phẩm xa xỉ đã tăng lênđáng kể. Tiêu biểu như mỹ phẩm, trước đây vốn được cho là sản phẩm & hàng hóa xa xỉsong đến giờ thì quan điểm đó đã trở lên lỗi thời. “ Khách hàng việt nam giờ đâyđã nhận thức hơn về cái đẹp và chăm sóc nhiều đến bản thân. Thị trườngmỹ phẩm việt nam được nhìn nhận như một thị trường tăng trưởng nhanh và sẽcòn tăng trưởng mạnh trong những năm tiếp theo ” – Bà Trần Phương Hiền, Giám đốc tăng trưởng kinh doanh thương mại của Maybelline New York tại việt nam nhậnxét. Phụ nữ vốn được mệnh dang là phái nữ, chính vì thế mà đây chính lànguồn người mua đa phần và tiềm năng nhất mà những hãng mỹ phẩm đều25
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Thị Trường






