Thực trạng tham gia NCKH của sinh viên – Nghiên cứu khoa học – Đề tài về Nghiên cứu các nhân tố –
Với tổng thể mẫu 276 có 8 người là không biết đến NCKH. Trong số
còn lại thì lượng sinh viên tham gia NCKH là 138 người, không tham gia là
130 người. Như vậy:
3.2.1.1 Thực trạng biết về NCKH: tỉ lệ sịnh viên không biết đến NCKH
là 2,9% .
3.2.1.2 Thực trạng về tham gia: tỉ lệ tham gia NCKH của sinh viên là
50%, tỉ lệ biết nhưng không tham gia là 48.5% (130/268). Theo những số liệu
nghiên cứu thực tế mà nhóm tìm hiểu được thì tỉ lệ sinh viên tham gia NCKH
trong toàn trường KTQD không cao như vậy. Ví dụ như năm 2013, số sinh
viên tham gia NCKH của khoa QTKD trường đại học Kinh tế quốc dân là 75
sinh viên (36 nhóm đăng kí).
Lí giải cho việc sai số ở đây là do mẫu lựa chọn của nhóm: có 143 sinh
viên năm 3 chiếm 51,81%; có 80 sinh viên năm 2 chiếm 28.98% và 19.21%
sinh viên năm 4 tương ứng là 53 bạn sinh viên, không có sinh viên năm nhất.
Sinh viên năm nhất mới vào trường nên chưa có nhiều thông tin về hoạt động
NCKH cũng như chưa am hiểu nhiều nên tỉ lệ tham gia NCKH là rất thấp.
Đến năm 2 thì tỉ lệ có tăng lên do mức độ am hiểu và cập nhật thông tin cũng
tăng. Thường thì sinh viên năm 3 đăng kí tham gia nhiều vì lúc này sinh viên
đã được trang bị một lượng kiến thức và kĩ năng nhất định. Còn đối với sinh
viên năm 4, do sắp ra trường nên rất bận rộn trong việc viết báo cáo thực tập
cũng như tìm kiếm việc làm., vì thế mà rất ít tham gia NCKH.
3.2.1.3 Thực trạng hoàn thành đề tài: Việc sinh viên bỏ cuộc giữa
chừng NCKH là khá phổ biến. Có tới 34.1% số sinh viên tham gia bỏ cuộc
giữa chừng.
Như vậy, vấn đề ở đây là: mặc dù tỉ lệ nhỏ, nhưng vẫn có một lượng
sinh viên không biết đến NCKH; rất nhiều sinh viên biết đến nhưng không
muốn tham gia; và trong số ít những người tham gia lại có 1 lượng không nhó
sinh viên bỏ dở, không hoàn thành đề tài nghiên cứu. Vậy đâu là nguyên nhân
dẫn đến thực trạng này?






