Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG QUÁ TRÌNH – Tài liệu text

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản rất đầy đủ của tài liệu tại đây ( 922.04 KB, 88 trang )

chuyển nhượng, GTCG thuộc sở hữu hợp pháp của TCTD đề nghị vay, có thời

hạn còn lại tối thiểu bằng thời gian vay và không phải là GTCG do TCTD đề

nghị vay phát hành (theo Điều 8 Thông tư số 17/2011/TT-NHNN). NHNN sẽ

xem xét cho vay cầm cố đối với các ngân hàng được bảo đảm bằng các giấy tờ

có giá có đủ tiêu chuẩn như trên nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện

thanh toán cho các ngân hàng tạm thời thiếu hụt khả năng thanh khoản.

Trên cơ sở tiếp thu quy định về việc gia hạn thời gian cho vay cầm cố, tại

Thông tư 17 và Thông tư 37, NHNN đã quy định cụ thể về việc gia hạn thời gian

cho khoản vay cầm cố.

Thứ hai, chiết khấu giấy tờ có giá.

Về khái niệm và bản chất của hoạt động chiết khấu: Theo Thông tư số

01/2012/TT-NHNN ngày 16/02/2012 Quy định về việc chiết khấu giấy tờ có giá

của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân

hàng nước ngoài thì “chiết khấu giấy tờ có giá là nghiệp vụ Ngân hàng Nhà nước

mua ngắn hạn các giấy tờ có giá còn thời hạn thanh toán của tổ chức tín dụng,

chi nhánh ngân hàng nước ngoài trước khi đến hạn thanh toán (sau đây gọi tắt là

chiết khấu)”. Chiết khấu giấy tờ có giá, nếu nhìn nhận từ góc độ kinh tế thì nó

được quan niệm là một nghiệp vụ tín dụng của NHNN nhằm thực hiện chính

sách tiền tệ quốc gia. Nhưng nếu xét trên góc độ pháp lý, nó lại được quan niệm

là một giao dịch hợp đồng, được xác lập giữa NHNN Việt Nam (với tư cách là

bên cho vay) với TCTD (với tư cách là bên vay) thông qua hình thức mua các

giấy tờ có giá của TCTD. Với tính chất là một quan hệ pháp luật, hoạt động chiết

khấu các giấy tờ có giá của NHNN đối với các NHTM có thể được hình dung

với ba yếu tố cơ bản: yếu tố chủ thể, bao gồm có người mua (NHNN) và người

bán (NHTM); yếu tố đối tượng mua, bán là các giấy tờ có giá; yếu tố giá cả của

hàng hóa được mua, bán chính là số tiền mua giấy tờ có giá mà NHNN phải

thanh toán cho khách hàng là TCTD sau khi đã trừ đi phần lợi tức chiết khấu.

Về đối tượng chiết khấu: Trước đây, theo quy định của Luật NHNN năm

1997 thì các giấy tờ có giá được NHNN chiết khấu phải là các giấy tờ có giá

ngắn hạn. Tuy nhiên, theo Luật NHNN năm 2010 và theo Thông tư số

01/2012/TT-NHNN ngày 16/02/2012 Quy định về việc chiết khấu giấy tờ có giá

của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân

27

hàng nước ngoài thì đối tượng chiết khấu được mở rộng bao gồm cả giấy tờ có

giá ngắn hạn và dài hạn như tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, tín phiếu

NHNN, các loại giấy tờ có giá trị khác được Thống đốc NHNN quy định trong

từng thời kỳ. Các giấy tờ có giá nêu trên được NHNN chiết khấu khi có đủ các

điều kiện quy định tại Điều 6 Thông tư số 01/2012/TT-NHNN, ngày 16/02/2012:

– Được phát hành bằng đồng Việt Nam (VND);

– Được phép chuyển nhượng;

– Thuộc sở hữu hợp pháp của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước

ngoài đề nghị chiết khấu;

– Không phải là giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng

nước ngoài đề nghị chiết khấu phát hành;

– Thời hạn còn lại tối đa của giấy tờ có giá là 91 ngày đối với trường hợp

chiết khấu toàn bộ thời hạn còn lại của giấy tờ có giá;

– Thời hạn còn lại của giấy tờ có giá phải dài hơn thời hạn NHNN chiết

khấu đối với trường hợp chiết khấu có kỳ hạn.

Trên cơ sở tiếp thu các quy định về điều kiện GTCG tại các văn bản cũ,

theo Điều 6 Thông tư số 01/2012/TT-NHNN, ngày 16/02/2012 thì điều kiện

GTCG được quy định chặt chẽ hơn bổ sung thêm hai điều kiện sau:

– Thuộc sở hữu hợp pháp của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước

ngoài đề nghị chiết khấu;

– Không phải là giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng

nước ngoài đề nghị chiết khấu phát hành;

Về trình tự, thủ tục thực hiện nghiệp vụ chiết khấu: theo quy định hiện

hành, hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của NHNN đối với các TCTD sẽ được

thực hiện tại Sở giao dịch NHNN. Trường hợp cần thiết, Thống đốc NHNN có

thể ủy quyền cho Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh được ủy quyền thực

hiện nghiệp vụ chiết khấu đối với các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

có trụ sở chính trên địa bàn tỉnh, thành phố. Đối với phương thức trực tiếp, khi

có nhu cầu chiết khấu, các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thông qua

đại diện giao dịch gửi 01giấy đề nghị chiết khấu (theo mẫu quy định) theo đường

bưu điện, fax hoặc nộp trực tiếp về NHNN (Sở giao dịch hoặc NHNN chi nhánh

28

được ủy quyền); còn phương thức gián tiếp, các TCTD, chi nhánh ngân hàng

nước ngoài thông qua đại diện giao dịch gửi giấy đăng ký tham gia nghiệp vụ

chiết khấu (theo mẫu quy định) theo đường bưu điện, fax hoặc nộp trực tiếp về

NHNN (Sở giao dịch hoặc NHNN chi nhánh được ủy quyền và Cục Công nghệ

tin học, mỗi đơn vị 01 giấy đăng ký) (Điều 13 Thông tư). Như vậy, theo Thông

tư này NHNN đã quy định rất rõ ràng, cụ thể từng trình tự thực hiện nghiệp vụ

chiết khấu theo từng phương thức chứ không quy định chung như Quyết định

898/2003/QĐ-NHNN, ngày 12/08/2003 và Quyết định số 12/2008/QĐ-NHNN,

ngày 29/04/2008.

Căn cứ vào giấy đề nghị chiết khấu và hạn mức chiết khấu chưa sử dụng,

NHNN xem xét hồ sơ xin chiết khấu để quyết định và gửi thông báo chấp nhận

hoặc thông báo không chấp nhận (theo mẫu quy định) cho TCTD trong thời hạn

01 ngày làm việc sau khi nhận được giấy đề nghị chiết khấu của TCTD, chi

nhánh ngân hàng nước ngoài. Theo quy định tại Điều 15 Thông tư số

01/2012/TT-NHNN, ngày 16/02/2012, NHNN sẽ không chấp nhận chiết khấu

nếu:

– Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã sử dụng hết hạn

mức chiết khấu.

– Hồ sơ đề nghị chiết khấu không đáp ứng các điều kiện quy định tại Thông

tư này.

Điểm khác biệt giữa hình thức tái cấp vốn này với hình thức tái cấp vốn

bằng cầm cố giấy tờ có giá là bên cho vay (NHNN) được chuyển giao quyền sở

hữu chứng từ và có quyền đòi tiền của người mắc nợ chứng từ khi chứng từ đến

hạn thanh toán. Trong khi đó, bên nhận cầm cố (bên cho vay) không được

chuyển giao quyền sở hữu chứng từ mà chỉ nắm giữ hay quản lý chứng từ với tư

cách là vật bảo đảm. Do đó, bên cho vay cũng không có quyền đòi tiền người

mắc nợ theo chứng từ khi những chứng từ này đến hạn thanh toán.

Như vậy, Thông tư số 01/2012/TT-NHNN ngày 16/02/2012 Quy định về

việc chiết khấu giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các tổ

chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã quy định cụ thể, rõ ràng, bổ

sung nhiều quy định mới hợp lý, đáp ứng yêu cầu hoạt động của ngân hàng trong

tiến trình hội nhập.

29

Thứ ba, các hình thức tái cấp vốn khác.

Bên cạnh hai hình thức tái cấp vốn phổ biến nêu trên, hiện nay NHNN đang

áp dụng một số hình thức tái cấp vốn khác như cho vay bù đắp thiếu hụt vốn

trong thanh toán và cho vay qua đêm.

Cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ: Để bù đắp sự thiếu

hụt tạm thời về nguồn vốn cho các TCTD trong thanh toán bù trừ (gọi tắt là

TTBT), Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 173/NH-TT ngày

30/9/1991 hướng dẫn thực hiện cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong TTBT. Tổng

chỉ tiêu TTBT năm 1991 là 175 tỷ đồng. Sang năm 1993, NHNN điều chỉnh tăng

lên là 225 tỷ đồng. Từ năm 1994 đến nay, tổng chỉ tiêu TTBT được duy trì hàng

năm là 200 tỷ đồng. Việc thực hiện chủ yếu tại NHNN chi nhánh các tỉnh, thành

phố căn cứ vào chỉ tiêu cho vay TTBT đã được NHNN thông báo hàng năm.

NHNN cũng giữ lại một tỷ lệ nhất định (20%) để thực hiện cho vay bổ sung và

có thể điều hoà trong toàn hệ thống.

Khi thực hiện cho vay TTBT, sau khi kết thúc phiên TTBT tại địa phương,

căn cứ vào chênh lệch thiếu giữa số tiền chuyển đi và số tiền chuyển đến, các

NHTM sẽ đề nghị NHNN cho vay bù đắp để đảm bảo thanh toán thành công.

Việc cho vay này không yêu cầu phải thế chấp tài sản. Thời gian cho vay tối đa

đến 10 ngày. Lãi suất cho vay nhìn chung khá cao là 0,1-0,15%/ngày. Đến năm

2003, lãi suất này được điều chỉnh còn 0,03%/ngày. Từ khi NHNN đưa vào áp

dụng hình thức cho vay thấu chi và qua đêm khi thực hiện thanh toán điện tử liên

ngân hàng đến nay, việc cho vay bù đắp thiếu hụt trong TTBT đã giảm bớt.

Hình thức cho vay này có một số ưu nhược điểm như:

– Rất đơn giản và nhanh chóng. Các ngân hàng có thể đề nghị và nhận được

vốn vay ngay sau khi kết thúc phiên thanh toán. Các ngân hàng cũng không cần

phải thế chấp tài sản để đảm bảo khoản vay.

– Đối tượng vay vốn được mở rộng tới các chi nhánh của TCTD có tham

gia TTBT trên địa bàn.

– Số tiền cho vay thấp và lãi suất cho vay cao. Các chi nhánh NHNN chỉ

được cho vay trong chỉ tiêu cho vay TTBT đã được thông báo. Do tổng chỉ tiêu

TTBT chỉ 200 tỷ nên số tiền cho vay tại mỗi chi nhánh NHNN chỉ 3 tỷ. Khi

30

muốn vay nhiều hơn thì các ngân hàng phải chuyển sang các hình thức vay khác.

Lãi suất cho vay cao, từ 3-4,5%/tháng và mang tính trừng phạt.

– Thời hạn cho vay ngắn, chỉ tối đa 10 ngày. Điều này đã tăng thêm sức ép

về vốn cho bản thân các ngân hàng.

Đến nay, tuy không còn thực hiện thường xuyên nhưng NHNN vẫn chưa

chính thức loại bỏ/thay thế hình thức cho vay này.

Cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng: Năm 2002,

NHNN chính thức triển khai hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng. Để đảm

bảo việc thanh toán thông suốt, nhanh chóng và hiệu quả, NHNN đã ban hành

Quy chế thấu chi và cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng

(Quyết định số 1085/2002/QĐ-NHNN ngày 07/10/2002 của Thống đốc NHNN).

Theo đó, cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng là một hình

thức tái cấp vốn của NHNN đối với các ngân hàng. Theo đó, đây là một hình

thức cho vay có bảo đảm bằng cầm cố GTCG. Mục đích của hình thức cho vay

qua đêm là để tất toán các tài khoản thấu chi của TCTD tại thời điểm cuối ngày

làm việc. Các tài sản cầm cố khi cho vay qua đêm là Tín phiếu kho bạc, tín phiếu

NHNN và các GTCG khác do Thống đốc NHNN quy định trong từng thời kỳ.

Các tài sản cầm cố phải được lưu ký tại các tài khoản tại NHNN. Mức cho vay

qua đêm bằng số dư thấu chi nhưng không vượt quá 95% giá trị GTCG cầm cố.

Lãi suất cho vay qua đêm bằng 0,03%/ngày.

Ngày 24/02/2004, NHNN đã có Quyết định số 185/2004/QĐ-NHNN điều

chỉnh bổ sung đối với hình thức cho vay qua đêm. Theo đó, các tài sản cầm cố

đối với hình thức cho vay qua đêm đã được mở rộng, bao gồm cả các GTCG dài

hạn, như trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình trung ương, công trái xây dựng

tổ quốc và một số loại GTCG khác. Và đến nay, NHNN đã có Quyết định số

04/2007/QĐ-NHNN ngày 22/01/2007 về thấu chi và cho vay qua đêm trong

thanh toán điện tử liên ngân hàng, thay thế các Quyết định nêu trên.

Qua gần 10 năm triển khai, hình thức cho vay qua đêm có một số đặc điểm

cơ bản như sau:

– Thời gian giải quyết khoản vay nhanh. Ngay khi tính toán được nhu cầu

vốn, các ngân hàng có thể thực hiện thấu chi trên tài khoản thanh toán. Số tiền

thấu chi này sẽ được chuyển thành khoản vay nếu đến cuối ngày làm việc các

31

ngân hàng chưa hoàn trả được;

– Thời hạn cho vay rất ngắn. Các khoản cho vay tối đa chỉ 02 ngày làm

việc. Sau đó nếu không hoàn trả được thì NHNN sẽ thực hiện các biện pháp xử

lý để thu hồi nợ;

– Lãi suất cho vay cao và hiện nay 0,03%/ngày, tức 0,9%/tháng. Lãi suất

này chỉ yếu mang tính chất trừng phạt đối với các ngân hàng;

– Đối tượng vay vốn chỉ là các NHTM có tham gia thanh toán điện tử liên

ngân hàng.

2.1.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về công cụ tái cấp vốn

Từ cuối năm 1994, NHNN thực hiện tái cấp vốn cho các NHTM theo các

hình thức như: (i) Cho vay theo mục tiêu chỉ định của Chính phủ; (ii) Cho vay

thế chấp chứng từ. Ngoài việc cho vay tái cấp vốn theo hình thức thế chấp chứng

từ, ngày 24/12/1997, Thống đốc NHNN đã có Quyết định số 431/1997/QĐNHNN14 bổ sung hình thức cho vay có thế chấp bằng tiền gửi ngoại tệ của các

NHTM tại NHNN để đảm bảo khả năng thanh toán của các NHTM.

Bên cạnh việc cho vay tái cấp vốn theo Quyết định số 285/QĐ-NHNN14,

NHNN còn thực hiện cho vay thanh toán bù trừ. Về thực chất, đây là hình thức

tái cấp vốn ngắn hạn của NHNN đối với các NHTM nhằm bù đắp thiếu hụt tạm

thời. Tuy nhiên việc cho vay thanh toán bù trừ không nằm trong quy chế tái cấp

vốn của NHNN mà có quy định riêng.

Sau khi Luật NHNN có hiệu lực thi hành từ tháng 10/1998, các quy định về

tái cấp vốn nêu trên sẽ được thay thế bằng các quy định mới phù hợp hơn. Từ

cuối năm 1999, bên cạnh các quy định về tái cấp vốn nêu trên, việc cung ứng

vốn của NHNN được thực hiện thông qua nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu.

Nghiệp vụ này cũng chính là việc NHNN thực hiện việc mua lại các giấy tờ có

giá ngắn hạn còn thời hạn thanh toán, thuộc sở hữu của các ngân hàng đã được

các ngân hàng mua hoặc đấu thầu trên thị trường sơ cấp (chiết khấu) hoặc các

giấy tờ có giá ngắn hạn được các ngân hàng chiết khấu trên thị trường thứ cấp –

tái chiết khấu (Quyết định số 356/1999/QĐ-NHNN14 ngày 06/10/1999).

Về lãi suất tái cấp vốn: cho đến đầu năm 1997, lãi suất tái cấp vốn quy định

theo tỷ lệ phần trăm lãi suất cho vay trên dự án cho vay của TCTD (bằng từ 60%

32

đến 100% lãi suất cho vay ghi trên khế ước). Có nghĩa là lãi suất tái cấp vốn

được xác định trên cơ sở lãi suất cho vay đối với nền kinh tế. Từ cuối tháng

5/1997 đến nay, lãi suất tái cấp vốn được xác định mức cụ thể nhằm thực hiện

mục tiêu nới lỏng hay thắt chặt tiền tệ một cách hiệu quả hơn. Và mức cụ thể

được xác định trên cơ sở quy định về trần lãi suất cho vay đối với nền kinh tế

trong từng thời kỳ. Từ tháng 10/1999, NHNN bắt đầu hình thành 2 loại lãi suất:

lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu. Lãi suất tái chiết khấu được thực

hiện ở mức thấp hơn lãi suất tái cấp vốn, vì nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu

được đảm bảo bằng giấy tờ có giá có độ rủi ro gần bằng 0.

Thực hiện công cụ tái cấp vốn, từ năm 1994 đến nay NHNN đã từng bước

hình thành và hoàn thiện cơ chế cho vay các NHTM trên cơ sở bù đắp thiếu hụt

thanh toán, đáp ứng nhu cầu thiếu vốn cho các NHTM để cho vay nền kinh tế;

tạo ra kênh cung ứng vốn tín dụng có sự kiểm soát của NHNN, không cung ứng

tràn lan như các năm trước đây, qua đó mà NHNN có thể kiểm soát được lạm

phát; việc cho vay thanh toán bù trừ đã hỗ trợ việc phát triển hệ thống thanh toán

giữa các TCTD.

Trong các năm 2007, 2008, 2009, 2010 NHNN tiếp tục sử dụng công cụ tái

cấp vốn như hình thức cấp tín dụng có bảo đảm của NHNN để bổ sung nguồn

vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các TCTD. Theo đó, NHNN đã

thực hiện tái cấp vốn với kỳ hạn 1 tháng và 3 tháng chủ yếu để cung ứng phương

tiện thanh toán cho nền kinh tế. Lãi suất cho vay tái cấp vốn từ 7-8%/năm. Các

TCTD tham gia vay tái cấp vốn tập trung chủ yếu vào cuối năm nhằm đáp ứng

kịp thời nhu cầu rút tiền gửi của các tổ chức kinh tế và dân cư để chi tiêu. Thông

thường vào thời điểm cuối năm và gần Tết Nguyên đán thường xảy ra tình trạng

thiếu hụt nguồn vốn thanh toán của các NHTM do nhu cầu rút tiền của khách

hàng, có những ngày lên tới hàng ngàn tỷ đồng. Đặc biệt sự thiếu hụt này thường

mang tính hệ thống, do vậy bất cứ một khâu nào gặp ách tắc sẽ kéo theo hàng

loạt các sự cố tiếp theo. Vì vậy, hoạt động tái cấp vốn của NHNN đã góp phần

hỗ trợ các TCTD đảm bảo khả năng thanh toán, qua đó duy trì sự ổn định của thị

trường tiền tệ. Đồng thời, hoạt động tái cấp vốn còn có vai trò hỗ trợ vốn ngắn

hạn, các nhu cầu bất thường xảy ra nhằm hỗ trợ các ngân hàng đảm bảo khả

năng thanh toán [10, 17].

Tuy nhiên công cụ tái cấp vốn đến nay vẫn còn một số hạn chế được thể

33

hiện ở những khía cạnh sau:

– Việc tái cấp vốn chưa thực hiện một cách phổ biến trong toàn hệ thống,

mới tập trung cho 4 NHTM quốc doanh. Hơn nữa việc tái cấp vốn cho các

NHTM quốc doanh chủ yếu thực hiện theo các mục tiêu chỉ định của Chính phủ,

việc tái cấp vốn theo chỉ định chiếm tỷ trọng lớn phần nào hạn chế tính năng

động của công cụ này. Do vậy nghiệp vụ tái cấp vốn chưa thực hiện được nhiệm

vụ đáp ứng nhu cầu tạm thời về vốn khả dụng của các NHTM.

– Lãi suất tái cấp vốn không gây tác động hiệu ứng với lãi suất thị trường và

không có tác dụng kích thích tăng giảm nhu cầu tiền tệ, sự thay đổi giảm lãi suất

tái cấp vốn trong thời gian qua cũng không làm tăng nhu cầu vay vốn của

NHTM [14].

Một là, lãi suất tái cấp vốn chưa thực sự phản ánh đúng cung – cầu vốn trên

thị trường tiền tệ do lãi suất tái cấp vốn được quy định một cách cứng nhắc và

tách xa với lãi suất thị trường chứ không có tác động điều tiết. Mặc dù NHNN đã

có những thành công bước đầu trong việc thiết kế kiểm soát lãi suất thị trường

theo mô hình khung lãi suất với lãi suất sàn là lãi suất chiết khấu và lãi suất tái

cấp vốn là lãi suất trần nhưng NHNN còn chưa chủ động trong điều tiết mặt

bằng lãi suất thị trường tiền tệ, do vậy, khung lãi suất chưa thực hiện được vai

trò hướng dẫn sự biến động lãi suất thị trường.

Hai là, hoạt động tái cấp vốn mới chỉ dừng lại ở mục đích bổ sung nguồn

vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các tổ chức tín dụng, các chức năng

nhằm điều chỉnh các điều kiện tiền tệ theo mục tiêu chính sách tiền tệ, điều chỉnh

quá trình phát triển kinh tế về quy mô và cơ cấu đầu tư dựa trên sự cấp vốn theo

thời gian, theo lĩnh vực ngành kinh tế, theo từng vùng lãnh thổ chưa được phát

huy.

Ba là, quy trình thủ tục tái cấp vốn chưa đồng bộ và còn những hạn chế

nhất định khiến cho công cụ tái cấp vốn chưa phát huy được hiệu quả:

– Việc phân bổ hạn mức chiết khấu trong hình thức chiết khấu giấy tờ có

giá của NHNN với các ngân hàng mới chỉ dựa trên các yếu tố như tổng dư nợ

bằng đồng Việt Nam, tổng tài sản Có và vốn tự có của ngân hàng mà chưa tính

tới khối lượng giấy tờ có giá mà các ngân hàng nắm giữ.

34

– Đối với đề nghị vay vốn của các ngân hàng có trụ sở chính tại Hà Nội thì

thời gian thực hiện từ khi nhận đủ hồ sơ đến khi vay vốn thường không quá 2

ngày làm việc, nhưng đối với các ngân hàng không có trụ sở chính tại Hà Nội thì

thời gian này thường bị kéo dài ra, có khi lên tới 5 ngày làm việc [11].

2.2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CỤ LÃI SUẤT VÀ

THỰC TIỄN ÁP DỤNG

2.2.1. Các quy định hiện hành về công cụ lãi suất

Với chức năng là cơ quan điều tiết lượng cung tiền của nền kinh tế, NHTƯ

chủ động tác động đến lãi suất thị trường, nhằm hướng tới mục tiêu kiểm soát

lạm phát. Trên thực tế, sự thay đổi lãi suất chính thức của NHTƯ có tác động

nhanh, mạnh đến sự thay đổi lãi suất trong nền kinh tế và tỷ giá hối đoái. Điều

này càng đúng hơn trong nền kinh tế có hệ thống tài chính mở và cạnh tranh, khi

đó nhiều hợp đồng được ký kết trên cơ sở lãi suất thả nổi hơn là trên cơ sở lãi

suất cố định, lúc đó những thay đổi trong lãi suất cơ bản càng có ảnh hưởng đến

lãi suất khác và tỷ giá. Khoản 1 Điều 12 Luật NHNN năm 2010 quy định: “Ngân

hàng Nhà nước công bố lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cơ bản và các loại lãi suất

khác để điều hành chính sách tiền tệ, chống cho vay nặng lãi”. Như vậy, công cụ

lãi suất được NHNN thực hiện dưới hình thức công bố lãi suất cơ bản làm cơ sở

cho các TCTD ấn định lãi suất kinh doanh hoặc dưới hình thức áp dụng lãi suất

tái cấp vốn đối với các TCTD là ngân hàng.

Theo Luật NHNN, quy định rõ thẩm quyền của NHNN trong việc công bố

lãi suất điều hành CSTT, lãi suất cơ bản để chống cho vay nặng lãi và quyết định

cơ chế điều hành lãi suất giữa các TCTD và khách hàng trong trường hợp thị

trường tiền tệ có diễn biến bất thường nhằm ổn định thị trường, tránh tác động

bất lợi cho nền kinh tế. Quy định mới về công cụ lãi suất vừa đảm bảo để NHNN

điều hành, thực thi CSTT theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, vừa

có cơ sở để áp dụng quy định của các luật liên quan như Bộ Luật dân sự, Bộ luật

Hình sự, Bộ luật Lao động, Luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước… Đây cũng

là cơ sở pháp lý quan trọng để NHNN thay đổi nội hàm khái niệm lãi suất cơ bản

theo hướng lãi suất cơ bản không phải chỉ là cơ sở để cho các TCTD ấn định lãi

suất kinh doanh, mà còn làm cơ sở cho việc phòng, chống cho vay nặng lãi trong

nền kinh tế [42].

35

Ngoài quy định về lãi suất cơ bản, NHNN còn quy định một số loại lãi suất

khác, chẳng hạn như lãi suất tái cấp vốn. Về bản chất pháp lý, lãi suất tái cấp vốn

không phải là mệnh lệnh hành chính và không buộc phải tuân thủ đối với các

TCTD. Lãi suất tái cấp vốn thực chất là “giá cả” của việc sử dụng vốn được các

bên thỏa thuận trong hợp đồng tái cấp vốn. Khác với lãi suất cơ bản, lãi suất tái

cấp vốn có tác dụng như một biện pháp đòn bẩy kinh tế trong tay nhà quản lý là

NHNN để điều tiết quy mô và mức độ phát triển của hợp đồng tín dụng trên thị

trường.

2.2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về công cụ lãi suất

Cơ chế kiểm soát lãi suất của NHNN thay đổi qua từng giai đoạn và thể

hiện rõ xu hướng nới lỏng các kiểm soát trực tiếp và chuyển dần sang hình thức

kiểm soát gián tiếp.

Năm 2009, NHNN tiếp tục điều hành lãi suất theo cơ chế lãi suất cơ bản,

theo đó các TCTD ấn định lãi suất huy động và cho vay bằng VND không quá

150% lãi suất cơ bản. Tuy nhiên, đối với các nhu cầu vay vốn phục vụ đời sống,

cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành, sử dụng thẻ tín dụng, NHNN đã ban

hành Thông tư số 01/2009/TT-NHNN ngày 23/01//2009, cho phép các TCTD

được thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận. Để giảm mặt bằng lãi suất cho vay,

đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế phát triển, nhất là ưu tiên, sản xuất – kinh

doanh có hiệu quả, tháng 2/2009, NHNN đã điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản từ

8,5% xuống 7%/năm và duy trì ổn định đến hết tháng 12/2009. Lãi suất tái cấp

vốn được điều chỉnh giảm 2 lần từ 9,5%/năm xuống 8%/năm (tháng 2) và xuống

7%/năm (ngày 10/4/2009); lãi suất tái chiết khấu được điều chỉnh giảm 2 lần từ

7,5% xuống 6%/năm (tháng 2) và xuống 5%/năm (ngày 10/4/2009). Trong tháng

12/2009, để kiểm soát chặt chẽ quy mô và chất lượng tín dụng, phù hợp với các

mục tiêu kinh tế vĩ mô theo Nghị quyết của Quốc hội và chủ trương của Chính

phủ, đồng thời tạo điều kiện cho các TCTD huy động các nguồn vốn từ nền kinh

tế để mở rộng kinh doanh và đáp ứng các nhu cầu vốn sản xuất- kinh doanh có

hiệu quả, NHNN điều chỉnh tăng lãi suất cơ bản từ 7%/năm lên 8%/năm, lãi suất

tái cấp vốn từ 7%/năm lên 8%/năm, lãi suất tái chiết khấu từ 5%/năm lên

6%/năm [17].

Trong năm 2010, NHNN điều hành linh hoạt các mức lãi suất điều hành

36

của NHNN để kiểm soát lãi suất thị trường ở mức cân bằng với các điều kiện và

mục tiêu kinh tế vĩ mô. Theo đó, 10 tháng đầu năm mức lãi suất cơ bản được giữ

ở mức ổn định 8%/năm; lãi suất chiết khấu 6%/năm, lãi suất tái cấp vốn

8%/năm. Từ tháng 11, NHNN điều chỉnh tăng 1%/năm các mức lãi suất điều

hành, cụ thể: lãi suất cơ bản tăng từ 8%/năm lên 9%/năm, lãi suất tái cấp vốn từ

8%/năm lên 9%/năm, lãi suất tái chiết khấu từ 6%/năm lên 7%/năm, lãi suất cho

vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng tăng từ 8%/năm lên

9%/năm.

Bảng 2.1: Những dấu mốc thay đổi lãi suất cơ bản từ tháng 4/2009 đến

nay

Lãi suất

Quyết định

Ngày áp dụng

7%/năm

626/QĐ-NHNN ngày 24/03/2009

01/04/2009

8%/năm

2665/QĐ-NHNN ngày 25/11/2009

01/12/2009

8%/năm

3180/QĐ-NHNN ngày 25/12/2009

01/01/2010

8%/năm

134/QĐ-NHNN ngày 25/01/2010

01/02/2010

8%/năm

353/QĐ-NHNN ngày 25/02/2010

01/03/2010

8%/năm

618/QĐ-NHNN ngày 25/03/2010

01/4/2010

8%năm

1011/QĐ-NHNN ngày 27/4/2010

01/5/2010

8%năm

1311/QĐ-NHNN ngày 31/5/2010

01/6/2010

8%/năm

1565/QĐ-NHNN ngày 24/6/2010

01/7/2010

8%/năm

1819/QĐ-NHNN ngày 27/7/2010

01/8/2010

8%/năm

2024/QĐ-NHNN ngày 25/8/2010

01/9/2010

8%/năm

2281/QĐ-NHNN ngày 27/9/2010

01/10/2010

8%/năm

2561/QĐ-NHNN ngày 27/10/2010

01/11/2010

9%/năm

2619/QĐ-NHNN ngày 05/11/2010

05/11/2010

9%/năm

2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010

01/12/2010

Nguồn: Các Quyết định của Ngân hàng Nhà nước

37