Một số biện pháp dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ và câu cho học – Tài liệu text

Một số biện pháp dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ và câu cho học sinh lớp 2

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.06 MB, 44 trang )

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Trong các môn học ở tiểu học thì mơn Tiếng Việt là mơn học trung tâm
trong các mơn học, có vị trí quan trọng hàng đầu trong việc thực hiện mục tiêu
giáo dục thế hệ trẻ. Thông qua môn Tiếng Việt, giáo viên đã rèn luyện cho học
sinh năng lực tư duy, óc quan sát, trí tưởng tượng, óc thẩm mỹ, giáo dục cho học
sinh những tư tưởng đạo đức trong sáng, lành mạnh. Có thể nói khơng có Tiếng
Việt thì khơng có một hoạt động nào khác trong nhà trường. Qua môn Tiếng
Việt, học sinh được rèn 4 kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết. Luyện từ và câu là một
phân mơn có vai trị đặc biệt quan trọng trong hệ thống ngơn ngữ của môn Tiếng
Việt bậc Tiểu học. Từ là đơn vị trung tâm của ngôn ngữ, câu là đơn vị nhỏ nhất
có thể thực hiện chức năng giao tiếp. Vai trị của từ và câu trong hệ thống ngơn
ngữ quyết định tầm quan trọng của việc dạy Luyện từ và câu. Việc dạy luyện từ
và câu nhằm mở rộng, hệ thống hóa làm phong phú vốn từ của học sinh, cung
cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về từ và câu, rèn cho học sinh kĩ năng
dùng từ đặt câu và sử dụng các kiểu câu để thể hiện tư tưởng, tình cảm của
mình, đồng thời giúp cho học sinh có khả năng hiểu các câu nói của người khác.
Mặt khác, ngơn ngữ cịn là yếu tố cấu thành dân tộc, duy trì và phát triển truyền
thống văn hóa dân tộc. Trong giao tiếp, nếu khơng nắm được nghĩa của từ thì
người tiếp nhận sẽ khơng hiểu, thậm chí hiểu sai lệch vấn đề. Cịn bản thân
người nói thì khó làm cho người nghe hiểu ý mình, cùng với việc non yếu ngữ
pháp, non yếu việc sử dụng từ ngữ làm cho giao tiếp khó khăn và khơng đạt hiệu
quả. Ta phải hiểu được từ, có khả năng huy động vốn từ và biết cách sử dụng từ.
Vì thế, việc dạy học từ ngữ là một nhiệm vụ quan trọng trong hệ thống môn học
trong nhà trường. Luyện từ và câu có vai trị hướng dẫn trong việc nghe, nói,
đọc, viết, phát triển ngơn ngữ và trí tuệ của các em. Phân môn luyện từ và câu là
một phân môn được tôi quan tâm nhiều trong môn Tiếng Việt. Trong q trình
giảng dạy, với lịng say mê nghiên cứu tìm tịi học tập cộng với sự u thích
Tiếng Việt, chữ Việt với những từ, câu… phong phú, nhiều ý nghĩa.
Nguồn cơ bản của dạy từ chính là kinh nghiệm sống của cá nhân học sinh
và những quan sát thiên nhiên, con người, xã hội của các em. Các em cịn nhỏ,

vốn sống cịn rất ít, vốn từ ngữ cịn nhiều hạn chế. Trong q trình học phân
mơn Luyện từ và câu, học sinh cịn rất khó khăn trong việc phân biệt tiếng, từ,
phân biệt các từ trong câu và nhận biết câu trong quá trình học tập. Vì còn nhỏ
tuổi, tư duy phát triển chưa cao nên trong giao tip v hc tp, hc sinh cũn
Đề tài: Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ
và c©u líp 2

1

dùng từ, câu chưa chính xác, chưa có sự trau chuốt trong cách dùng từ, đặt câu.
Việc nắm vững các kiến thức về từ giúp học sinh học về câu tốt hơn, vì vậy cần
có sự hướng dẫn của giáo viên, sự định hướng đúng đắn để các em phát triển
theo hướng tích cực.
Đối với giáo viên, chất lượng giảng dạy là nhiệm vụ hàng đầu. Có dạy tốt
thì kết quả học tập của học sinh mới được nâng cao. Giáo viên có dạy tốt hay
khơng được đánh giá ở thành tích học tập của học sinh.
Việc dạy và học phân môn này mặc dù đạt được những thành công nhất
định song vẫn còn những điều chưa được như mong muốn. Tơi thấy mình cịn
lúng túng khi dạy Luyện từ và câu: Cần dạy học sinh bài này như thế nào để các
em dễ hiểu? Làm thế nào để cung cấp được nhiều từ ngữ cho học sinh quá b ài
tập này? Làm thế nào để các em dễ nhớ, dễ hiểu, nhớ lâu nghĩa của các từ
này?… Đó là những trăn trở của tôi khi dạy từ ngữ cho học sinh.
Tơi đã hướng mình đến với đề tài luyện từ và câu của lớp 2 với mong
muốn đóng góp một phần nhỏ bé của bản thân mình vào việc giúp học sinh học
tốt hơn môn học này, giúp các em vận dụng tốt kiến thức từ ngữ đã học trong
quá trình giao tiếp hàng ngày, đồng thời để nâng cao nghiệp vụ sư phạm của bản
thân. Trong khuôn khổ của một sáng kiến kinh nghiệm, tơi đã tìm hiểu thực
trạng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn này và chọn
viết sáng kiến kinh nghiệm với đề tài : “Một số biện pháp dạy từ ngữ theo chủ

đề trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 2″.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nội dung, chương trình sách giáo khoa phân mơn Luyện từ và
câu lớp 2, điều tra, khảo sát thực trạng dạy và học Luyện từ và câu, từ đó thấy
được những thuân lợi và khó khăn của GV và HS thông qua giờ dạy và các bài
tập mở rộng vốn từ để đề xuất một số biện pháp cụ thể nhằm nâng cao chất
lượng giờ dạy, giúp học sinh nắm vững kiến thức về từ ngữ cho học sinh lớp 2
của trường.
3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu:
3.1.Khách thể nghiên cứu: Phương pháp dạy Luyện từ và câu ở Tiểu học.
3.2.Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp dạy từ và câu cho học sinh lớp 2.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu:
– Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc dạy từ ngữ cho học sinh lớp 2.
– Nghiên cứu thực trạng dạy từ ngữ cho học sinh lớp 2.
– Đề xuất những biện pháp dạy từ ngữ cho học sinh lớp 2.
§Ị tài: Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ
và câu lớp 2

2

5. Phạm vi nghiên cứu:
– Địa bàn nghiên cứu: Trường Tiểu học tôi đang dạy.
– Đối tượng khảo sát và thực nghiệm: Giáo viên và học sinh khối 2.
– Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 4 năm 2018.
6. Phương pháp nghiên cứu:
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận:
– Phân tích, tổng hợp các tài liệu: Tìm đọc, nghiên cứu các tài liệu có liên
quan đến việc phân biệt từ, câu, xác định các bộ phận, dùng từ đặt câu, đặc biệt
là mở rộng vốn từ gắn với các chủ điểm được học thông qua các bài tập; sách

giáo khoa TV2; sách giáo viên TV2; sách Thiết kế bài giảng TV2; sách tham
khảo, các tạp chí của ngành giáo dục…
– Phân loại các tài liệu.
– Phương pháp so sánh.
6.2.Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
– Phương pháp điều tra, khảo sát.
– Phương pháp đàm thoại.
– Phương pháp quan sát: Dự một số giờ của đồng nghiệp cùng khối, trao
đổi, thảo luận để có những nhận xét xác thực về việc dạy từ ngữ cho học sinh.
– Phương pháp thực nghiệm: Dạy thực nghiệm làm cơ sở cho những lí luận
đưa ra.
6.3. Các phương pháp khác:
– Phương pháp thơng kê, xử lí số liệu.
– Phương pháp luyn tp thc hnh.

Đề tài: Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ
và câu lớp 2

3

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC DẠY TỪ NGỮ CHO
HỌC SINH LỚP 2
1. Căn cứ khoa học của đề tài:
1.1.Cơ sở ngôn ngữ học
Ở lớp 2, phân môn Từ ngữ, Ngữ pháp được kết hợp thành một phân mơn
mới đó là Luyện từ và câu. Nó là một mơn học giữ vị trí chủ đạo trong chương
trình Tiếng Việt mới của lớp 2. Ngay từ đầu năm của hoạt động học tập ở
trường, học sinh được làm quen với lý thuyết của từ và câu, sau đó kiến thức

được mở rộng và nâng cao dần để phục vụ cho nhu cầu học tập, giao tiếp, lao
động trong cuộc sống của các em.
Từ có vai trị quan trọng đặc biệt trong hệ thống ngôn ngữ, là đơn vị trung
tâm của ngơn ngữ. Thiếu từ vựng thì khơng có bất kì hoạt động ngơn ngữ nào,
thành phần ngữ pháp cũng được thể hiện trong từ. Dạy học từ ngữ là bộ phận
khơng thể thiếu được trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học. Chính vì vậy
dạy Luyện từ và câu có vị trí quan trọng, khơng có vốn từ đầy đủ thì khơng thể
nắm được ngơn ngữ như một phương pháp giao tiếp. Ngày nay, đất nước ta
đang mở cửa, trên đà hội nhập, phát triển mạnh mẽ nên Tiếng Việt đòi hỏi phải
bổ sung, sáng tạo nhiều từ ngữ. Thực tế hiện nay hàng loạt từ mới, cách nói mới
ra đời, hay cũng có, dở cũng có. Việc tạo từ mới là cần thiết, tuy nhiên chúng ta
không chấp nhận lối tạo từ một cách tự phát, lai căng, mất bản sắc dân tộc. Việc
dạy từ và câu ở giai đoạn đầu giúp học sinh nắm được tiếng mẹ đẻ, tạo điều kiện
học tập và phát triển tồn diện. Luyện từ và câu là phân mơn có nhiều khả năng
để phát triển ngơn ngữ, tư duy logíc và các năng lực trí tuệ, các phẩm chất đạo
đức như tính cẩn thận, cần cù. Ngồi ra từ cịn có vai trị hướng dẫn và rèn luyện
cho học sinh kỹ năng nói, đọc, viết.
Luyện từ và câu là mơn học nền tảng để học sinh học các môn học khác
trong tất cả các cấp học sau, cũng như trong lao động và giao tiếp trong cuộc
sống hàng ngày.
1.2. Cơ sở tâm lý học
Trẻ em cấp Tiểu học, đặc điểm nổi bật của tư duy là chuyển từ tính trực
quan cụ thể sang tính trừu tượng khái quát. Với học sinh lớp 2, tư duy cụ thể
vẫn chiếm ưu thế, vì vậy những hoạt động gây nhiều hứng thú sẽ khuyến khích
các em chủ động học tập, thích học, phát triển năng lực tư duy từ đó sẽ giúp các
em hiểu, nhớ lâu, nhớ sâu trong việc lĩnh hội kiến thức. Ở lứa tuổi này, trẻ học
tập còn thụ động, ý thức tự giác chưa cao, còn phụ thuộc vào giỏo viờn.
Đề tài: Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ 4
và câu lớp 2

Trong giờ học Luyện từ và câu, học sinh phải kết hợp các hoạt động như:
nghe, hiểu, nói, viết… Các em ln mong muốn mình sẽ học tốt, hiểu bài, được
cô khen. Tuy nhiên không phải học sinh nào cũng có thể dễ dàng dùng từ, hiểu
từ được bởi khả năng của các em còn hạn chế.
1.3. Mục tiêu dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
Mục tiêu của môn Tiếng Việt bậc Tiểu học là:
– Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe,
nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa
tuổi.
Thông qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác của
tư duy.
– Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những
hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên, con người, về văn hóa, văn học của Việt
Nam và nước ngồi.
– Bồi dưỡng tình u tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong
sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt
Nam xã hội chủ nghĩa.
2. Nội dung kiến thức cần truyền thụ cho học sinh:
2.1.Mở rộng vốn từ và cung cấp cho học sinh lớp 2 một số hiểu biết sơ giản
về từ, câu và dấu câu thông qua các bài tập thực hành (khơng có bài tập lý
thuyết).
– Về vốn từ: Ngồi những từ được dạy qua các bài tập đọc, những thành
ngữ được dạy qua các bài tập viết, học sinh được học một cách tương đối có hệ
thống các từ ngữ theo chủ điểm.
Ví dụ : + Đơn vị thời gian (ngày, tháng, năm, năm học… )
+ Đơn vị hành chính: xã (phường), huyện (quận)
+ Đồ dùng học tập
+ Đồ dùng trong nhà
+ Việc nhà

+ Họ hàng
+ Vật nuôi
– Về từ loại: nhận ra và biết dùng các từ chỉ người, con vật, đồ vật, cây
cối, từ chỉ hoạt động, trạng thái, từ chỉ đặc điểm, tính chất, bước đầu có ý nim
v bit vit hc tờn riờng.
Đề tài: Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ
và câu líp 2

5

2.2. Rèn luyện cho học sinh các kỹ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các
dấu câu, cụ thể:
– Đặt câu:
+ Các kiểu câu: Ai là gì?, Ai làm gì?, Ai thế nào? và những bộ phận chính
của các kiểu câu ấy. Học sinh biết đặt câu theo mẫu, trả lời câu hỏi, tìm bộ phận
câu trả lời câu hỏi, đặt câu hỏi cho từng bộ phận của câu.
+ Những bộ phận câu trả lời cho các câu hỏi : Khi nào?, Ở đâu?, Như thế
nào?, Vì sao?, Để làm gì?
– Dấu câu:
Học sinh biết sử dụng các dấu câu: dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm
than, dấu phẩy thông qua các kiểu bài tập như:
+ Chọn dấu câu đã cho điền vào chỗ trống.
+ Điền dấu câu đã cho vào chỗ thích hợp.
+ Tìm dấu câu thích hợp điền vào chỗ chấm.
+ Tập ngắt câu.
2.3. Bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu,
học sinh thích học Tiếng Việt.
3. Các phương pháp dạy học chủ yếu
Các bài dạy Luyện từ và câu trong sách giáo khoa Tiếng Việt 2 được thiết

kế theo yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực học
tập của học sinh để việc giảng dạy có hiệu quả với từng đối tượng học sinh cụ
thể. Ngoài việc nắm vững các kiến thức về từ và câu trong chương trình Tiếng
Việt ở lớp 2, giáo viên cần lưu ý vận dụng linh hoạt các phương pháp tổ chức
dạy học. Trong tất cả các phương pháp dạy Luyện từ và câu thì khơng một
phương pháp nào được coi là vạn năng, có thể thay thế các phương pháp khác. Các
phương pháp đều có mối liên quan mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau. Do đó
trong thực tế giảng dạy GV cần vận dụng linh hoạt, đan xen các phương pháp dạy
học và không lạm dụng tuyệt đối một phương pháp nào cả.
Dạy Luyện từ và câu lớp 2 sử dụng nhiều phương pháp nhưng 3 phương
pháp được sử dụng phổ biến nhất là:
– Phương pháp quan sát (vật thật, mơ hình, tranh ảnh…)
– Phương pháp đàm thoại gợi mở
– Phương pháp luyện tập thực hành
Để sử dụng các phương pháp này có hiệu quả thì người GV phải hiểu rõ
các phương pháp và ưu nhược điểm của nó :
+ Phương pháp quan sát :
§Ị tài: Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ
và câu lớp 2

6

Phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 2. HS được quan sát dưới
sự hướng dẫn chỉ đạo của GV. Phương pháp này huy động tất cả các giác quan,
giúp HS dễ hiểu, dễ nhớ, nhớ lâu. Tuy nhiên nếu sử dung không đúng lúc đúng
chỗ các phương tiện trực quan làm cho HS phân tán chú ý, không chú ý vào dấu
hiệu cơ bản của nội dung bài học.
+ Phương pháp đàm thoại gợi mở:
Người giáo viên phải khéo léo đặt câu hỏi và dẫn dắt học sinh rút ra những

kết luận mới, những tri thức mới. Phương pháp này nếu được vận dụng khéo
léo sẽ kích thích học sinh độc lập tư duy, bồi dưỡng năng lực diễn đạt bằng lời,
giúp giáo viên thu được tín hiệu ngược từ học sinh một cách nhanh nhất.
+ Phương pháp luyện tập thực hành:
Luyện tập là lặp đi lặp lại nhiều lần những hành động nhất định nhằm hình
thành và củng cố kĩ năng, kĩ xảo cần thiết. Đây là phương pháp chiếm vị trí
quan trọng trong phân mơn luyện từ và câu. Giáo viên có thể tổ chức cho học
sinh tự khai thác và phát huy vốn Tiếng Việt thông qua việc thực hành luyện tập
cá nhân hoặc theo cặp, theo nhóm tạo hứng thú, giúp học sinh tiếp thu kiến thức
một cách nhẹ nhàng, gần gũi với lứa tuổi.
4. Các kỹ năng học sinh cần đạt:
– Học sinh biết dùng từ đặt câu với các kiểu câu: Ai là gì?, Ai làm gì?, Ai
thế nào? và những bộ phận chính của các kiểu câu ấy trả lời câu hỏi: Khi nào?,
Ở đâu?, Như thế nào?, Vì sao?, Để làm gì?.
Học sinh có kỹ năng dùng từ đúng, nói và viết thành câu, biết sử dụng
các câu văn hay, nhận ra những từ, câu khơng có văn hóa để loại ra khỏi vốn từ,
ngồi ra học sinh cịn nắm được chuẩn văn hố của lời nói.
– Học sinh biết sử dụng các dấu câu: dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu phẩy,
dấu chấm than trong các văn bản viết.
5. Cấu trúc một bài luyện từ và câu lớp 2:
Một bài luyện từ và câu có 2 phần: Từ ngữ và Ngữ pháp
– Từ ngữ: Thường đứng đầu và chiếm nội dung khá lớn trong bài. Nội dung
từ ngữ gắn với chủ điểm dạy trong tuần.
VD: + Chủ điểm “Anh em” -> Từ ngữ về tình cảm gia đình
+ Chủ điểm “Bạn trong nhà” -> Từ ngữ về vật nuôi
+ Chủ điểm “Sông biển” -> Từ ngữ về sông biển
+ Chủ điểm “Bác Hồ” -> Từ ngữ về Bác Hồ
– Ngữ pháp: Học sinh được học về: Kiểu câu, dấu câu
6. Dạy từ ngữ theo chủ đề cho học sinh lp 2
Đề tài: Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ

và câu lớp 2

7

6.1. Khái niệm:
Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, là vật liệu xây dựng nên những đơn vị
của lời nói (ngữ, nhóm từ, câu, đoạn, văn bản). Vì vậy, học tiếng trước hết là
học từ. Học từ cũng là một trong những mục tiêu cơ bản trong quá trình học
tiếng dân tộc. Khơng thể tiến hành giao tiếp nếu không thuộc từ, vốn từ nghèo
nàn hoặc không hiểu nghĩa của từ.
Học sinh được học từ ngữ thông qua hệ thống các bài học, các chủ điểm
trong chương trình và môi trường ngôn ngữ trong cuộc sống.
6.2. Nhiệm vụ của giảng dạy từ ngữ:
Nhiệm vụ chủ yếu của việc dạy từ ở tiểu học nói chung, ở lớp 2 nói riêng
là giúp học sinh:
– Mở rộng, phát triển vốn từ (phong phú hoá vốn từ).
– Nắm nghĩa của từ (chính xác hố vốn từ).
– Quản lí, phân loại vốn từ (hệ thống hoá vốn từ).
– Luyện tập sử dụng từ (tích cực hố vốn từ).
Các nhiệm vụ trên gắn với các chủ điểm được học: Em là học sinh, Bạn bè,
Trường học, Thầy cơ, Ơng bà, Cha mẹ, Anh em, Bạn trong nhà, Bốn mùa, Chim
chóc, Mng thú, Sơng biển, Cây cối, Bác Hồ, Nhân dân.
Phân môn Luyện từ và câu chú trọng thực hành, luyện tập hơn là lí luận.
Đặc biệt đối với lớp 2 nội dung tiết Luyện từ và câu chỉ là thực hành luyện tập.
6.3. Các dạng bài về từ như sau:
+ Loại bài tập giúp học sinh mở rộng vốn từ theo chủ điểm.
+ Loại bài tập giúp học sinh nắm nghĩa của từ bằng cách tìm từ cùng nghĩa,
gần nghĩa, trái nghĩa với từ cho sẵn.
+ Tìm từ dựa vào yếu tố cấu tạo.

+ Tìm hiểu, nắm nghĩa của từ trên cơ sở cho từ và nghĩa của từ, yêu cầu
học sinh xác lập sự tương ứng.
+ Loại bài tập giúp học sinh luyn cỏch s dng t.

Đề tài: Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ
và câu lớp 2

8

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VIỆC DẠY LUYỆN TỪ VÀ CÂU NÓI
CHUNG VÀ DẠY TỪ NGỮ THEO CHỦ ĐỀ NÓI RIÊNG CỦA HỌC
SINH LỚP 2
1.Vài nét về trường.
Trường nằm trên địa bàn xã có truyền thống hiếu học, các cấp lãnh đạo xã
rất quan tâm tới giáo dục, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho nhà trường. Trường
rất rộng rãi, nhiều cây xanh được trồng từ lâu đời nên tạo cho khung cảnh nhà
trường sự yên tĩnh, thoáng mát. Cơ sở vật chất của trường, của lớp tương đối
đầy đủ, luôn được bổ sung, trang bị kịp thời.
Là một trường ven đô với địa bàn xã khá rộng và đông dân cư nên trường
có rất đơng học sinh: 1870 em/ 38 lớp, riêng khối 2 có 8 lớp với 409 học sinh.
Đội ngũ giáo viên với trình độ chun mơn vững vàng, nhiệt tình trong
giảng dạy, hết lịng vì học sinh. Đa số học sinh ngoan, có ý thức học tập tốt,
nhanh nhẹn, ham học hỏi; học sinh có đủ sách vở, đồ dùng học tập. Các bậc
phụ huynh phối kết hợp tốt với nhà trường và giáo viên, rất quan tâm tới việc
học tập và rèn luyện của con em mình. Tuy nhiên đa số học sinh là con em lao
động tự do, nhiều phụ huynh còn bận bịu, lo làm ăn kinh tế nên ít có điều kiện
cho các em ra bên ngoài khám phá thế giới xung quanh, bởi vậy vốn hiểu biết
thực tế, khả năng giao tiếp của các em cịn hạn chế.
2. Chương trình, tài liệu học tập phân môn Luyện từ và câu lớp 2:

2.1. Chương trình:
Phân mơn Luyện từ và câu lớp 2 cả năm có 35 bài tương ứng với 35 tiết, 1
tuần/1tiết. Học kì I gồm 18 bài, trong đó có 2 bài ơn tập và 16 bài mới. Học kì II
gồm 17 bài, trong đó có 2 bài ơn tập và 15 bài mới.
Sự tương quan số tiết học giữa phân môn Luyện từ và câu với các môn học
khác trong Tiếng Việt như sau:
Bảng phân bổ tiết trong môn Tiếng Việt:
Tập đọc Kể chuyện Chính tả Luyện từ và câu Tập làm văn
Kỳ I
47 tiết
18 tiết
32 tiết
18 tiết
16 tiết
Kỳ II
43 tiết
17 tiết
30 tiết
17 tiết
16 tiết
Như vậy thời gian dành cho việc học Luyện từ và câu so với các phân mụn
khỏc l hp lớ.
2.2.Sỏch giỏo khoa:
Đề tài: Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ
và câu lớp 2

9

Các bài Luyện từ và câu được phân bố vào từng tuần cùng với các phân

môn khác của môn Tiếng Việt. Bài Luyện từ và câu được bố trí sau hai bài tập
đọc, điều này rất hợp lí vì các bài tập đọc có vai trị làm cơ sở, chỗ dựa cho dạy
Luyện từ và câu.
Sách bao gồm 15 đơn vị học, mỗi đơn vị gắn với một chủ điểm, học trong 2
tuần (riêng chủ điểm Nhân dân học 3 tuần).
+ Tập một: Tập trung vào mảng “Học sinh- Nhà trường- Gia đình” gồm 8 chủ
điểm:
– Tuần 1,2:
Em là học sinh
– Tuần 3,4:
Bạn bè
– Tuần 5,6:
Trường học
– Tuần 7,8:
Thầy cô
– Tuần 9 :
Ơn tập giữa học kì 1
– Tuần 10,11:
Ơng bà
– Tuần 12,13:
Cha mẹ
– Tuần 14,15:
Anh em
– Tuần 16,17:
Bạn trong nhà
– Tuần 18 : Ơn tập cuối học kì 1.
+ Tập hai: Tập trung vào mảng:“Thiên nhiên- Đất nước” gồm 7 chủ điểm:
– Tuần 19,20:
Bốn mùa
– Tuần 21,22:

Chim chóc
– Tuần 23,24:
Mng thú
– Tuần 25,26:
Sơng biển
– Tuần 27 : Ơn tập giữa học kì 2
– Tuần 28,29:
Cây cối
– Tuần 30,31:
Bác Hồ
– Tuần 32,33,34: Nhân dân
– Tuần 35:
Ơn tập cuối học kì 2.
2.3. Sách hướng dẫn giảng dạy:
Bên cạnh SGK, GV còn có tài liệu dạy học là sách giáo viên, sách Thiết kế
bài giảng TV2 và tài liệu quan trọng là: Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức,
kĩ năng các môn học ở Tiểu học- lớp 2.
3. Một số vấn đề về sách giáo khoa Luyện từ và câu lớp 2:
3.1.Ưu im:
Đề tài: Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ 10
và câu lớp 2

Các bài Luyện từ và câu được sắp xếp theo từng chủ điểm rất rõ ràng, hợp
lí. Nhiều bài hay, phù hợp với nhận thức của học sinh nên các em học hào
hứng. Sách thiết kế phần Từ ngữ và Ngữ pháp rõ ràng, hợp lí.
Ví dụ:
– Bài: Mở rộng vốn từ: từ ngữ về các môn học- Từ chỉ hoạt động (Tiếng
Việt 2- tập 1- trang 59)
– Bài: Mở rộng vốn từ: từ ngữ về tình cảm- Dấu phẩy (Tiếng Việt 2- tập 1trang 99)

– Bài: Mở rộng vốn từ: từ ngữ về Bác Hồ (Tiếng Việt 2- tập 2- trang 104)
3.2.Nhược điểm:
Một số bài có kênh chữ nhiều q, khơng có kênh hình nên chưa thu hút
được học sinh khi học.
Ví dụ:
+ Bài: Mở rộng vốn từ: từ ngữ về chim chóc
Đặt và trả lời câu hỏi: Ở đâu? (Tiếng Việt 2- tập 2- trang 27)
+ Bài: Mở rộng vốn từ: từ ngữ về muông thú
Đặt và trả lời câu hỏi: Như thế nào? (Tiếng Việt 2- tập 2- trang 45)
4. Thực trạng việc dạy từ ngữ cho học sinh lớp 2:
4.1. Thuận lợi:
+ Giáo viên say mê, nhiệt tình trong giảng dạy, ln tìm tịi, học hỏi, hết
lịng vì học sinh, có kĩ năng, phương pháp sư phạm.
+ Giáo viên rất coi trọng giờ Luyện từ và câu.
+ Qua dự giờ các tiết Luyện từ và câu của đồng nghiệp, tôi thấy giáo viên đã
thực hiện đúng quy trình lên lớp, truyền thụ kiến thức đúng như yêu cầu của
sách giáo khoa và sách hướng dẫn, kết hợp nhiều phương pháp dạy học.
+ Giáo viên trường tôi có sử dụng máy chiếu, vì vậy bài giảng điện từ được
dùng trong các tiết dạy Luyện từ và câu, học sinh được xem nhiều tranh ảnh
liên quan đến bài dạy một cách rõ ràng, sinh động nên học sinh hào hứng học,
dễ nhớ, nhớ lâu và mở rộng được kiến thức cho các em.
4.2. Khó khăn
Cùng với việc cải cách nội dung và chương trình sách giáo khoa, khái niệm
đổi mới phương pháp dạy học tuy khơng cịn là một khái niệm mới mẻ song đổi
mới phương pháp dạy học như thế nào cho phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất
hiện có, phù hợp với đối tượng học và đặc biệt là làm thế nào để phỏt huy tớnh
Đề tài: Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ 11
và câu lớp 2

chủ động, tích cực của học sinh một cách nhẹ nhàng, hiệu quả thì vẫn là điều
trăn trở của nhiều thầy cô.
Qua trực tiếp giảng dạy của bản thân, qua dự giờ và trao đổi với bạn đồng
nghiệp, tôi nhận thấy còn một số vấn đề còn vướng mắc trong các tiết dạy
Luyện từ và câu.
– Một là: Giáo viên chưa nắm được hết cấu trúc chương trình, chưa hệ
thống và nắm chắc các dạng bài tập cơ bản và cách dạy các dạng bài tập đó,
hình thức tổ chức học cho học sinh còn chưa phong phú.
– Hai là: Giờ dạy Luyện từ và câu cịn máy móc theo khn mẫu và quy
trình sẵn có mà ít có sự sáng tạo (GV giảng, HS làm bài, chữa bài). Giờ học
Luyện từ và câu thường khô khan, không sôi nổi.
– Ba là: GV cịn chưa có ý thức tự trau dồi kiến thức để lấp đi lỗ hổng
kiến thức về ngơn ngữ của mình. Giáo viên cịn lúng túng khi giải nghĩa từ cho
học sinh, cịn “bí từ” bởi trong tiếng Việt có nhiều từ, nhiều câu cịn chưa phân
định rõ ràng nên việc xác định nghĩa cho học sinh là khó khăn. Mặt khác một số
GV cịn chưa nghiên cứu kĩ bài, chưa phát hiện trước những từ khó đối với học
sinh để chuẩn bị trước nên khi lên lớp còn gặp lúng túng.
5. Thực trạng việc học từ ngữ của học sinh lớp 2 của trường.
5.1. Thuận lợi
– Đa số học sinh thích học Luyện từ và câu, hào hứng khi được tìm từ, được
biết thêm nhiều từ mới và được hiểu thêm về từ ngữ. Các em có thái độ tích
cực, có ý thức trong việc học luyện từ và câu.
– Ở trường, học sinh còn được cung cấp vốn từ, vốn hiểu biết qua các giờ
học khác như: Tập đọc, Kể chuyện,…, qua hoạt động vui chơi, giao tiếp với bạn
bè.
– Phụ huynh học sinh quan tâm, sát sao với việc học của con em mình.
5.2. Khó khăn
– Học sinh lớp 2 mới được làm quen với phân môn Luyện từ và câu nên ở
những tuần học đầu còn bỡ ngỡ, lúng túng. Các em mới qua lớp 1, mới “đọc
thông viết thạo” nên vốn từ, vốn sống của các em cịn q ít. Hơn nữa do điều

kiện sống của nhân dân địa phương chưa cao nên học sinh ít có điều kiện cho
con ra ngồi khám phá thiên nhiên, thế giới xung quanh vì vậy vốn từ, vốn hiểu
biết, vốn sống và khả năng giao tiếp của các em còn nhiều hạn chế.
– Các em đang ở lứa tuổi hiếu động, thích chơi hơn thích học, nhận thức
mang tính trực quan mà mơn học Luyn t v cõu mang tớnh tru tng v
Đề tài: Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ 12
và câu lớp 2

tương đối khó. Ở phân mơn Luyện từ và câu, học sinh mở rộng vốn từ theo chủ
điểm thông qua các bài tập thực hành, chính vì vậy địi hỏi học sinh phải có ý
thức học, lịng u thích Tiếng Việt.
– Trong giờ học, còn nhiều học sinh chỉ nghe mà khơng phát biểu ý kiến,
vẫn cịn hiện tượng học sinh chưa thực sự tập trung chú ý trong khi học, chỉ chú
ý được trong khoảng thời gian ngắn, dễ bị phân tán tư tưởng bởi những thứ xung
quanh.
– Riêng về khả năng nắm kiến thức về từ ngữ của học sinh, tơi nhận thấy
rằng: học sinh cịn gặp khó khăn, lúng túng khi làm bài do vốn từ còn hạn chế,
nắm nghĩa của từ chưa chắc. Đặc biệt với dạng bài tập luyện cách sử dụng từ để
đặt câu thì nhiều học sinh làm bài chưa tốt: nội dung câu chưa phù hợp, chưa
đúng yêu cầu, câu văn còn đơn giản, chưa phong phú, chưa sáng tạo. Nguyên
nhân là do vốn từ ngữ của HS còn hạn chế, chưa chịu khó suy nghĩ để kết hợp
các từ ngữ cho hợp lí khi đặt câu.
Từ thực tế trên làm tơi trăn trở :
– Thứ nhất: Giáo viên phải nắm rõ quy trình giảng dạy tiết Luyện từ và câu
sao cho đảm bảo đầy đủ, chặt chẽ nội dung kiến thức của bài mà giờ học lại nhẹ
nhàng, hiệu quả.
– Thứ hai: Giáo viên cần nắm vững các dạng bài tập cơ bản về từ ngữ trong
phân môn Luyện từ và câu và cách dạy các dạng bài tập đó.
– Thứ ba: Dạy từ ngữ lồng ghép với các môn học khác.

– Thứ tư: Hướng dẫn học sinh làm sưu tập theo chủ đề.
– Thứ năm: Tạo bầu khơng khí học tập nhẹ nhàng, sôi nổi.
CHƯƠNG III: ĐỀ XUẤT VÀ THỰC NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP
DẠY TỪ NGỮ THEO CHỦ ĐỀ CHO HỌC SINH LỚP 2
I. Một số biện pháp dạy từ ngữ theo chủ đề cho học sinh lớp 2 của
trường
1. BIỆN PHÁP 1: Giáo viên nắm rõ quy trình giảng dạy một tiết luyện từ
và câu:
Ngay từ đầu năm học, khi được nhà trường phân công giảng dạy khối lớp
2, tôi đã chú ý tới phân môn Luyện từ và câu vì đây là một phân mơn mới đối
với học sinh lớp 2. Qua việc nghiên cứu các tài liệu giảng dạy, cộng với việc
học hỏi đồng nghiệp, sự tiếp thu qua các chuyên đề của phòng giáo dục, của
trường, tôi đã nắm rõ được tiết Luyện từ và cõu c thit k theo quy trỡnh nh
sau:
Đề tài: Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ 13
và câu lớp 2

1, Kiểm tra bài cũ: Yêu cầu học sinh nêu ngắn ngọn những điều đã học ở
tiết trước, cho ví dụ minh hoạ hoặc cho học sinh giải một số bài tập.
Ví dụ 1: – ? Khi viết tên riêng con phải viết như thế nào?
Sau đó đọc cho học sinh viết các từ sau: núi Ba Vì, hồ Ba Bể, thành phố
Hà Nội.
Ví dụ 2: – Đặt câu hỏi cho bộ phận câu được gạch chân:
Hoa là học sinh giỏi.
Chiếc bút chì là đồ dùng học tập của em.
2, Dạy bài mới:
2.1.Giới thiệu bài: Giải thích ngắn gọn nội dung, yêu cầu của tiết học.
VD: – Trong tiết học hôm nay, các con sẽ được mở rộng vốn từ về đồ dùng
trong gia đình và hiểu tác dụng của chúng, biết được một số từ ngữ chỉ hoạt

động. (Bài: Mở rộng vốn từ: từ ngữ về đồ dùng và công việc trong nhà- Tiếng
Việt 2- tập 1- trang 90)
– Tiết Luyện từ và câu hôm nay, các con sẽ học cách sử dụng các từ
chỉ đặc điểm, tính chất của người, vật, sự vật; đặt câu theo mẫu: Ai (cái gì, con
gì) thế nào? (Bài: Từ chỉ đặc điểm- Câu kiểu: Ai thế nào?- Tiếng Việt 2- tập 1trang 122)
2.2 Hướng dẫn làm bài tập:
Giáo viên tổ chức cho học sinh thực hiện từng bài tập trong sách giáo
khoa theo trình tự chung.
– Đọc và xác định yêu cầu của bài tập.
+ Cho học sinh trình bày yêu cầu của bài tập :
GV gọi học sinh đọc yêu cầu của bài, sau đó có thể hỏi:
“Bài yêu cầu con làm gì? hoặc “Bài yêu cầu con mấy nhiệm vụ, đó là
nhiệm vụ gì?”…
+ GV gạch chân những từ, cụm từ là yêu cầu chính của bài để học sinh
nắm rõ u cầu của bài.
Ví dụ 1: – Hãy tìm 3 từ nói về tình cảm thương u giữa anh chị em.
Ví dụ 2: – Sắp xếp các từ ở 3 nhóm sau thành câu.
– Học sinh giải một phần bài tập mẫu.
+ Hướng dẫn học sinh làm mẫu một phần:
Ví dụ: Bài: Từ chỉ tính chất- Câu kiểu: Ai thế nào?- Mở rộng vốn từ: từ
ngữ về vật nuôi (Tiếng Việt 2- tập 1- trang 133)
Bài tập 1: Tìm từ trái nghĩa với từ sau: tốt, ngoan, nhanh, trắng, cao, khe
Giỏo viờn hng dn lm mu :
Đề tài: Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ 14
và câu lớp 2

? Từ có nghĩa trái ngược với “tốt” là gì?
Từ đó đưa ra mẫu: tốt- xấu
+ Hướng dẫn học sinh làm bài tập.

Ví dụ: Ở bài 1 trên: Giáo viên nêu lại u cầu: Con cần tìm những
từ có nghĩa trái ngược hoàn toàn với nghĩa của từ đã cho.
Sau đó yêu cầu học sinh trao đổi theo cặp và viết những từ vừa tìm
được vào vở.
Học sinh thảo luận và làm bài.
+ Tóm tắt nhiệm vụ, dặn dị học sinh.
– Học sinh làm bài tập theo hướng dẫn của giáo viên.
2.3 Tổ chức trao đổi và nhận xét về kết quả:
Ví dụ: Ở bài 1: Giáo viên soi một bài làm của học sinh trên máy chiếu.
Yêu cầu học sinh đọc bài làm của mình.
Các học sinh khác nhận xét về kết quả bài làm của bạn, cho ý kiến bổ
sung.
(Lời giải: tốt/ xấu; ngoan/ hư, bướng bỉnh; nhanh/ chậm, chậm chạp;
trắng/ đen, đen sì; cao/ thấp, lùn; khỏe/ yếu).
– Rút ra những điểm ghi nhớ về kiến thức.
Ví dụ: Ở bài tập 1 trên, giáo viên có thể chốt kiến thức:
+ Một từ có thể có một hoặc nhiều từ trái nghĩa.
+ Các từ ở bài tập 1 là từ chỉ gì? (Từ chỉ đặc điểm, tính chất)
+ Có thể u cầu học sinh thi tìm thêm những từ chỉ đặc điểm, tính chất
khác nữa.
3. Củng cố, dặn dò: Chốt lại những kiến thức và kĩ năng cần nắm vững ở
bài luyện tập.
* Tôi thấy đây là quy trình dạy rất hợp lí, vì vậy tơi đã thực hiện dạy các
bài học theo quy trình này. Khi thực hiện quy trình này phải đảm bảo những yêu
cầu cơ bản của đổi mới phương pháp dạy và học. Sách giáo viên Tiếng Việt 2 và
nội dung bài học bài tập đã chỉ dẫn cho giáo viên về phương pháp tổ chức,
hướng dẫn hoạt động thực hành cho học sinh để học sinh hình thành kiến thức,
kĩ năng một cách tích cực, chủ động, tự nhiên. Các hoạt động trong giờ luyện từ
và câu:
– Hoạt động giao tiếp giữa học sinh và giáo viên, học sinh và học sinh.

– Hoạt động phân tích, tổng hợp, thực hành.
Cả hai hoạt động trên có thể được tổ chức theo các hình thức khác nhau:
+ Làm việc độc lập (trong trường hợp câu hi, bi tp a ra rt c th)
Đề tài: Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ 15
và câu lớp 2

+ Làm việc theo nhóm (trong trường hợp câu hỏi, bài tập tương đối trừu
tượng hoặc đòi hỏi một sự khái qt nhất định thì làm việc theo nhóm là giải
pháp tốt nhất).
+ Làm việc theo lớp (được sử dụng chủ yếu trong trường hợp giáo viên
thực hiện các khâu giới thiệu bài, củng cố, những câu hỏi không yêu cầu phải
suy nghĩ lâu hoặc để học sinh trình bày kết quả học tập).
Hoạt động của giáo viên chủ yếu là :
– Giao việc cho học sinh:
+ Hướng dẫn học sinh làm mẫu
– Kiểm tra học sinh:
+ Xem học sinh có hiểu việc phải làm khơng?
+ Trả lời thắc mắc của học sinh
– Tổ chức báo cáo kết quả làm việc:
+ Các hình thức báo cáo:
Báo cáo trực tiếp với giáo viên, báo cáo trong nhóm, báo cáo trước lớp
+ Các biện pháp báo cáo: bằng miệng, bằng bảng lớp, bằng bảng con,
bằng phiếu học tập, bằng giấy…
– Tổ chức đánh giá:
+ Các hình thức đánh giá: tự đánh giá, đánh giá trong nhóm, đánh giá
trước lớp.
+ Các biện pháp đánh giá: khen, nhắc nhở.
2. BIỆN PHÁP 2: Phân loại các dạng bài tập cơ bản về từ ngữ và cách
dạy các dạng bài đó.

Ngồi việc nghiên cứu kĩ nội dung, chương trình sách giáo khoa, quy
trình, phương pháp dạy Luyện từ và câu, nghiên cứu kỹ bài trước khi lên lớp,…
giáo viên cần phân loại được các dạng bài tập. Trong học Luyện từ và câu, học
sinh nắm kiến thức chủ yếu thông qua luyện tập thực hành, qua làm bài tập.
Việc phân loại các dạng bài tập sẽ có cách dạy hay, hợp lí, giúp học sinh dễ
dàng nắm kiến thức. Tơi xin trình bày các dạng bài tập và xác định cách dạy của
từng dạng bài như sau:
2.1. Mở rộng vốn từ theo chủ điểm: là loại bài tập chiếm tỉ lệ cao so với
các loại bài tập từ ngữ khác.
Có thể chia các bài tập mở rộng vốn từ thành 3 kiểu chính:
– Kiểu bài tập mở rộng vốn từ qua tranh vẽ.
– Kiểu bài tập m rng vn t theo quan h ng ngha.
Đề tài: Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ 16
và câu lớp 2

– Kiểu mở rộng vốn từ theo quan hệ cấu tạo từ.
2.1.1. Bài tập mở rộng vốn từ qua tranh vẽ.
Tranh vẽ là phương tiện trực quan, làm chỗ dựa cho việc tìm từ, mở rộng
vốn từ của học sinh.
* Dạng bài tập nối từ cho sẵn với hình vẽ tương ứng:
Ví dụ 1:
Chọn tên gọi cho mỗi người, mỗi vật, mỗi việc được vẽ dưới đây:

(häc sinh, nhµ, xe đạp, múa, tr-ờng, chạy, hoa
hồng, cô giáo) (Tiếng Việt 2- tập 1- trang 8)
Ví dụ 2: Chọn cho mỗi con vật d-ới đây một từ chỉ
đúng đặc điểm của nó: nhanh, chậm, khoẻ, trung thành
(Tiếng Việt 2- tập 1- trang 142)

Dạng bài tập này vừa giúp học sinh nhận biết từ nào biểu thị sự vật, hoạt
động, tính chất nào, vừa có tác dụng giúp học sinh mở rộng, phát triển vốn từ.
Đây là dạng bài tập về từ ở mức độ đơn giản nhất. Các từ cho sẵn ở ví dụ 1 là
danh từ, ở ví dụ 2 là tớnh t.
Đề tài: Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ 17
và câu lớp 2

Dạng bài tập này, tôi yêu cầu học sinh đọc kỹ các từ cho sẵn, quan sát từng
tranh, rồi lần lượt đối chiếu từng từ với hình ảnh tương ứng sau đó chọn từ thích
hợp với tranh vẽ.
Hình 1: trường
Hình 4: cơ giáo
Hình 7: xe đạp
Hình 2: học sinh
Hình 5: hoa hồng
Hình 8: múa
Hình 3: chạy
Hình 6: nhà
Ở ví dụ 2 lưu ý học sinh hơn vì các từ cho sẵn là tính từ chỉ đặc điểm, tính
chất của sự vật, hiện tượng nên học sinh khó nhận biết hơn. Tơi đặt câu hỏi gợi
ý để học sinh tìm từ.
Chẳng hạn: Hình 1 vẽ con vật gì? Nó đang làm gì? Cơng việc đó có nặng
nhọc khơng? Vậy từ chỉ đặc điểm của con trâu là gì?
Hay ở hình 3: ?Con vật gì có đặc điểm trung thành?
* Dạng bài tập dựa vào tranh, tìm từ tương ứng.
Ví dụ 1: Tìm những từ chỉ sự vật (người, đồ vật, con vật, cây cối… ) được
vẽ dưới đây (Tiếng Việt 2- tập 1- trang 26)

Ví dụ 2: Các tranh dưới đây vẽ một số hoạt động của người.

Hãy tìm từ chỉ mi hot ng (Ting Vit 2-Tp 1-Trang 59)

Đề tài: Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ 18
và câu lớp 2

Ở dạng bài tập này, không cho sẵn từ. Cần xác định từ cần tìm ở ví dụ 1 là
từ chỉ sự vật, ở ví dụ 2 là từ chỉ hoạt động. Tôi hướng dẫn học sinh quan sát, suy
nghĩ, tìm từ tương ứng.
Ở ví dụ 2 học sinh gọi tên các hoạt động là điều không dễ dàng nên giáo
viên phải gợi ý để học sinh có thể tìm từ.
Chẳng hạn: Hỏi: Tranh 1 vẽ bạn gái đang làm gì?
Học sinh trả lời: “Bạn đang đọc sách” hay “Bạn đang xem sách”… Từ đó
các em sẽ tìm được từ chỉ hoạt động là:”đọc”, “xem”,…
+ Với các tranh 2,3,4: yêu cầu học sinh thảo luận nhóm, viết các từ chỉ hoạt
động của mỗi người trong tranh, sau đó yêu cầu các nhóm lần lượt nêu từ:
Tranh 2: ngồi, cầm, viết, nhìn, …
Tranh 3: nghe, giảng, hướng dẫn, chỉ, …
Tranh 4: nói chuyện, trị chuyện, cười, …
+ u cầu một học sinh đọc lại các từ tìm được.
+ Giáo viên rút ra kiến thức: Các từ trên là từ chỉ hoạt động.
* Dạng bài tập gọi tên các vật được vẽ ẩn trong tranh:
Ví dụ 1: Tìm các đồ dùng học tập ẩn trong tranh sau. Cho biết mỗi vật ấy
được dùng để làm gì? (Bài: Câu kiểu: Ai là gì? Khẳng định, phủ định. Mở rộng
vốn từ: từ ngữ về đồ dùng học tập- TV2- tập1- trang 52)
Ví dụ 2: Tìm các đồ vật được vẽ trong tranh sau và cho biết mỗi vật dùng
để làm gì? (Bài:Mở rộng vốn từ: từ ngữ về đồ dùng và công việc trong nhàTV2- tập 1- trang 90)
Dạng bài tập này kích thích sự tìm tịi, gây hứng thú cho học sinh. Tơi
thường hướng dẫn học sinh làm bài thơng qua trị chơi: Tranh đố.
Tôi yêu cầu học sinh quan sát kĩ tranh, phát hiện các vật cần tìm ẩn khéo

trong tranh, gọi tên từng vật (mỗi tên gọi đó là một từ), sau đó nói cơng dụng
của vật tìm được, giúp học sinh khắc sâu, củng cố về “nghĩa biểu vật” của từ
2.1.2- Bài tập mở rộng vốn từ theo quan hệ ng ngha:
Đề tài: Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ 19
và câu lớp 2

Kiểu bài tập này được xác lập dựa trên mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ.
Nó chiếm tỉ lệ khá cao trong sách Tiếng việt2.
* Dạng bài tập “Tìm từ ngữ cùng chủ điểm”
Ví dụ : Tìm các từ:
– Chỉ đồ dùng học tập
M: bút
– Chỉ hoạt động của học sinh
M: đọc
– Chỉ tính nết của học sinh
M: chăm chỉ
(Tiếng việt 2, tập 1, trang 9)
Ví dụ 2: Kể tên các lồi cây mà em biết, theo nhóm.
– Cây lương thực, thực phẩm
M: lúa
– Cây ăn quả
M: cam
– Cây lấy gỗ
M: xoan
– Cây bóng mát
M: bàng
– Cây hoa
M: cúc
Các bài luyện từ và câu được dạy theo chủ điểm, vì vậy các từ cần tìm

thuộc cùng một chủ điểm từ ngữ. Khi dạy, tôi luôn dựa vào các từ mẫu để
hướng dẫn học sinh tìm từ. Các từ điểm tựa này giúp học sinh hiểu rõ yêu cầu
của bài và gợi ý, định hướng cho học sinh tìm từ.
Với những bài tập khơng có các từ mẫu:
Ví dụ 1: Tìm những từ chỉ người trong gia đình, họ hàng ở câu chuyện
“Sáng kiến của bé Hà” (Bài: MRVT: từ ngữ về họ hàng- Dấu chấm, dấu chấm
hỏi- Tiếng Việt2, tập 1, trang 82)
Hướng dẫn học sinh :
– Đọc kĩ yêu cầu của đề
– Có thể cho một học sinh đọc lại bài “Sáng kiến của bé Hà”
– Dựa vào nội dung của bài văn để tìm các từ ngữ cùng chủ điểm ẩn trong
các câu văn.
– Cho học sinh thảo luận nhóm đơi để tìm từ.
Học sinh sẽ tìm được các từ: bố, ông bà, con, mẹ, cô, chú, con cháu,
Ví dụ 2: Hãy tìm 3 từ nói về tình cảm thương yêu giữa anh chị em (Bài:
MRVT: từ ngữ về tình cảm gia đinh- Câu kiểu: Ai làm gì?- Dấu chấm, dấu chấm
hỏi- Tiếng Việt 2, tập 1, trang 116)
Tơi nêu rõ u cầu của bài, sau đó tơi gọi học sinh khá nên tìm từ mẫu,
hoặc tơi có thể nêu từ mẫu để học sinh dựa vào ú tỡm t (VD: nhng nhn,
quý mn, n)
Đề tài: Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ 20
và câu lớp 2

* Dạng bài tập tìm từ cùng nghĩa, gần nghĩa hoặc trái nghĩa với các từ
cho sẵn.
– Từ cùng nghĩa, gần nghĩa (từ đồng nghĩa): Là những từ có nghĩa giống
nhau hoặc gần giống nhau.
– Từ trái nghĩa: Là những từ có nghĩa trái ngược nhau.
Ví dụ: Tìm từ trái nghĩa với mỗi từ sau: tốt, ngoan, nhanh, trắng, cao, khoẻ.

M: tốt – xấu
(Tiếng việt2, tập 1, trang 133)
+ Ở dạng bài tập này, bao giờ cũng có từ cho sẵn, tôi yêu cầu học sinh đọc
kĩ yêu cầu của bài tập, sau đó tơi hướng dẫn mẫu.
+ ? Trái nghĩa với “tốt” là gì? (xấu)
+ Tơi u cầu học sinh thảo luận nhóm để tìm từ trái nghĩa với các từ còn
lại: ngoan – hư, bướng bỉnh
cao – thấp, lùn
khỏe – yếu
nhanh – chậm
trắng – đen
+ Chốt kiến thức ở bài tập này cho học sinh: Từ trái nghĩa là những từ có
nghĩa trái ngược nhau. Một từ có thể có một hoặc nhiều từ trái nghĩa với nó.
Với những từ có nghĩa trừu tượng phải giải nghĩa từ, nêu 1 số ngữ cảnh
trong đó có sử dụng từ cho sẵn ấy. Khi học sinh nắm chắc nghĩa của từ cho sẵn,
các em sẽ tìm từ đúng yêu cầu, có hiệu quả. Lưu ý HS: một từ có thể có một
hoặc nhiều từ trái nghĩa (cùng nghĩa, gần nghĩa).

2.1.3. Bài tập mở rộng vốn từ theo quan hệ cấu tạo từ:
Dạng bài tập này học sinh dựa vào một yếu tố cấu tạo từ cho sẵn, tìm
những từ có cùng yếu tố cấu tạo từ và cùng kiểu cấu tạo, học sinh có thể tìm
được nhiều từ.
Ví dụ 1 Tìm các từ
– Có tiếng “học”
M: Học sinh
– Có tiếng “tập”
M: Tập đọc
Ví dụ 2: Ghép các tiếng sau thành những từ có 2 tiếng:
u, thương, q, mến, kính
M: u mến, quý mến

(Tiếng việt 2, tập 1, trang 99)
Học sinh có thể ghép được từ: yêu thương, yêu quý, mến yêu, kính yêu,
kính mến, mến thương…
2.2. Loại bài tập về nghĩa của từ:
Loại bài tập về nghĩa của từ chiếm tỉ lệ không nhiều so với các loại bài tập
từ ngữ khác. Có 2 dạng bài tập cơ bản sau:
2.1.1. Bài tập cho từ và nghĩa của từ, yêu cầu hc sinh xỏc lp s tng
ng.
Đề tài: Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ 21
và câu líp 2

Ví dụ 1: Tìm từ trong ngoặc đơn hợp với mỗi nghĩa sau:
a, Dòng nước chảy tương đối lớn, trên đó thuyền bè đi lại được.
b, Dịng nước chảy tự nhiên ở đồi núi.
c, Nơi đất trũng chứa nước, tương đối rọng và sâu, ở trong đất liền.
(suối, hồ, sông)
(Tiếng Việt 2- tập 1- trang 64)
Ví dụ 2: Chọn ý thích hợp ở cột B cho các từ ngữ ở cột A:
A
Nghề nghiệp
Công nhân

B
Công việc
a)Cây lúa, trồng khoai, nuôi lợn(heo), thả
cá…
Nơng dân
b) Chỉ đường, giữ trật tự làng xóm, phố
phường, bảo vệ nhân dân…

Bác sĩ
c) Bán sách, bút, vải, gạo, bánh kẹo, đồ
chơi…
Công an
d) Làm giấy viết, vải mặc, giày dép, bánh
kẹo, thuốc chữa bệnh, ô tô, máy cày…
Người bán hàng
e) Khám và chữa bệnh.
(Tiếng Việt 2- tập hai- trang 138)
Khi dạy, tôi cho học sinh đọc kĩ yêu cầu, hướng dẫn học sinh thử điền, nối từng
từ với nghĩa cho sẵn, tạo được sự tương ứng, hợp lí giữa nghĩa của từ và từ.
2.1.2. Dạng bài tập dựa vào từ trái nghĩa để nhận biết nghĩa của từ.
Ví dụ: Hãy giải nghĩa từ dưới đây bằng từ trái nghĩa với nó.
a, Trẻ con
b, Cuối cùng
c, Xuất hiện
d, Bình tĩnh
M :”Trẻ con” trái nghĩa với “người lớn”
(Tiếng Việt 2- tập2- trang 137)
Dạng bài tập này, tôi hướng dẫn học sinh làm mẫu, sau đó dựa vào vốn từ ,
vốn hiểu biết của mình để tìm các từ trái nghĩa với từ cho sẵn. Học sinh tìm
được các từ trái nghĩa tức là các em đã giải nghĩa được từ cần giải thích (từ cho
sẵn).
Ví dụ: Ở bài tập trên, hướng dẫn học sinh giải nghĩa:
a, “trẻ con” trái nghĩa với “người lớn”
b, “cuối cùng” trái nghĩa với “đầu tiên, bắt u, khi u, thot u”
Đề tài: Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ 22
và câu lớp 2

c, “xuất hiện” trái nghĩa với “biến mất, mất tăm, mất tiêu…”
d, “bình tĩnh” trái nghĩa với “cuống quýt, luống cuống, hốt hoảng, hoảng
sợ, hoảng hồn…”
2.3. Loại bài tập về sử dụng từ
Loại bài tập này yêu cầu học sinh lựa chọn từ ngữ trong vốn từ của mình
(hoặc những từ ngữ cho sẵn trong bài tập) rồi kết hợp các từ ngữ ấy với nhau để
được câu theo quy tắc nhất định. Có 1 số kiểu bài tập như: điền từ, dùng từ đặt
câu…
2.3.1. Kiểu bài tập điền từ vào chỗ trống trong câu
– Dựa vào mức độ dễ khó, từ cần điền cho sẵn hay khơng cho sẵn, có thể
chia kiểu bài tập điền từ nói trên thành 2 dạng nhỏ sau:
+ Dạng bài tập điền từ, trong đó cho sẵn từ cần điền.
Ví dụ: Chọn từ trong ngoặc đơn thích hợp với mỗi chỗ trống: (giơ, đuổi,
chạy, nhe, luồn)
Con mèo, con mèo
…theo con chuột
…vuốt, nanh
Con chuột…quanh
Luồn hang… hốc.
Ở dạng bài tập này, trước hết tôi hướng dẫn học sinh đọc các từ ngữ trong
câu hoặc đoạn (chưa hoàn chỉnh) đã cho để sơ bộ nắm nội dung các câu, đoạn
này. Sau đó học sinh đọc các từ cho sẵn một lượt rồi lần lượt thử điền từng từ
cho sẵn vào từng chỗ trống. Từ nào có khả năng kết hợp với những từ ngữ trong
câu và phù hợp với nghĩa của câu thì chọn từ đó.
+ Dạng bài tập điền từ, trong đó từ cần điền khơng cho sẵn.
Ví dụ 1: Chọn từ chỉ hoạt động thích hợp với mỗi chỗ trống dưới đây.
a, Cô Tuyết Mai… môn Tiếng Việt.
b, Cô … bài rất dễ hiểu.
c, Cô… chúng em chăm học.
(Tiếng Việt 2- tập 1- trang 59)

Ví dụ 2: Em chọn từ ngữ nào điền vào chỗ trống để tạo thành câu hồn
chỉnh?
a, Cháu…………….ơng bà.
b, Con………………cha mẹ.
c, Em……………….anh ch.
(Ting Vit 2 – tp 1- trang 99)
Đề tài: Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ 23
và câu lớp 2

Ở dạng bài tập điền từ mà đề bài không cho sẵn từ cần điền, tôi thấy một số
học sinh còn lúng túng, điền từ sai do các em chưa hiểu nghĩa của từ, chưa hiểu
từ đó đặt trong văn cảnh nào là phù hợp.
Tôi hướng dẫn học sinh dựa vào chủ điểm từ ngữ đang học, dựa vào nội
dung từng câu để tìm từ phù hợp, điền vào chỗ trống trong câu đó.
Sau khi hướng dẫn học sinh làm bài theo cách đã gợi ý, ta có kết quả như
sau:
Ở ví dụ 1: a, Cơ Tuyết Mai dạy môn Tiếng Việt.
b, Cô giảng bài rất dễ hiểu.
c, Cô khun chúng em chăm học.
Cịn ví dụ 2 : a, Cháu kính u (u thương, u q ) ơng bà.
b, Con thương yêu (biết ơn ,…) cha mẹ.
c, Em quý mến (yêu mến,…) anh chị.
2.3.2. Kiểu bài tập dùng từ đặt câu (hoặc đặt câu với từ cho sẵn)
Ví dụ: Đặt câu với mỗi từ em tìm được ở bài tập 1
( Nội dung bài tập 1: Tìm những từ ngữ:
a) Nói lên tình cảm của Bác Hồ với thiếu nhi
M: thương u
b) Nói lên tình cảm của thiếu nhi với Bác Hồ
M: Biết ơn

(Bài tập 2- Tiếng Việt 2- tập 2- trang 104)
Ở bài tập này không chỉ liên quan đến từ ngữ mà cịn liên quan đến mơ
hình câu, nên khi đặt câu, ngoài lỗi về ngữ pháp như quên viết hoa chữ cái đầu
câu, hay cuối câu khơng ghi dấu chấm thì học sinh cịn dùng từ đặt câu không
phù hợp. Tôi hướng dẫn học sinh dựa vào nghĩa của từ cho sẵn để hình thành
nội dung của câu, rồi tìm mơ hình câu thích hợp để tạo thành một câu cụ thể.
Nội dung của câu cần phù hợp với nội dung của chủ điểm từ ngữ đang học.
3. BIỆN PHÁP 3: Tích hợp với các mơn học khác
Như tôi đã nêu ở phần thực trạng, do học sinh lớp 2 còn rất nhỏ, khả năng
giao tiếp, vốn sống, vốn hiểu biết cịn hạn chế, do đó vốn từ ngữ của học sinh rất
ít, việc dùng từ ngữ một cách chính xác để diễn đạt cịn là vấn đề khó khăn với
học sinh. Bởi vậy trong quá trình dạy Luyện từ và câu, để giúp học sinh trau dồi
thêm vốn từ ngữ, tôi luôn cố gắng dạy lồng ghép các nội dung cần thiết vào
những nội dung vốn có của mơn học. Tơi thường dạy từ ngữ tích hợp ở các mơn
học khác như: Đạo đức, Tự nhiên xã hội, Hoạt động tập thể, đặc biệt với môn
Tiếng Việt bởi Luyện từ và câu là một phân môn trong môn Tiếng Việt, gắn kết
chặt chẽ với môn Ting Vit.
Đề tài: Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ 24
và câu lớp 2

Chẳng hạn:
– Dạy phân môn Tập đọc: Tôi luôn chú ý tới những từ ngữ chú giải cuối
bài, ngoài ra tơi cịn giải nghĩa thêm cho học sinh những từ khó đối với các em.
Tơi lưu ý đặt những câu hỏi để học sinh tìm từ, tìm hình ảnh trong bài.
Ví dụ 1: Bài Tập đọc: Quả tim khỉ (SGK Tiếng Việt 2- tập 2- trang 50)
Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài đọc:
? Hãy tìm những từ nói lên tính nết của hai con vật Khỉ và Cá Sấu?
Học sinh tìm được từ chỉ tính nết của:
Khỉ: tốt bụng, thật thà, thông minh, …

Cá Sấu: giả dối, bội bạc, độc ác, …
Khi học sinh tìm từ cịn lúng túng, tơi dựa vào từ mà học sinh đã tìm
được để đưa câu hỏi gợi ý như sau:
? Con tìm từ cùng nghĩa với từ “tốt bụng”? – Học sinh có thể nêu được từ
“nhân hậu”
Hay: ? Từ nào cùng nghĩa với “giả dối”? – Học sinh lớp tơi tìm thêm được
từ: gian xảo, dối trá, lừa đảo, gian dối,…
Qua bài Tập đọc, học sinh sẽ mở rộng được vốn từ ngữ. Học sinh hiểu
những từ ngữ chỉ tính nết của Khỉ là tính tốt, nên học tập; cịn những từ chỉ tính
nết của Cá Sấu là tính xấu, cần phê phán, khơng nên học tập.
Ví dụ 2: Bài Tập đọc “Sông Hương” (SGK Tiếng Việt 2- tập 2- tr 72)
? Tìm các từ ngữ chỉ các màu xanh khác nhau của Sơng Hương?
Học sinh tìm được các từ: xanh thẳm, xanh non, xanh biếc
Qua việc tìm từ, giải nghĩa từ, học sinh sẽ hiểu các sắc độ đậm nhạt khác
nhau của màu xanh, vận dụng rất tốt trong học Luyện từ và câu, trong phân môn
Tập làm văn và trong giao tiếp hàng ngày.
– Dạy môn Tự nhiên và xã hội: Bài: Một số loài cây sống dưới nước
Tôi yêu cầu học sinh kể tên một số lồi cây sống dưới nước mà con biết.
học sinh tìm được: cây sen, cây súng, cỏ, lúa, rau muống, rau cần, rong, … Tôi
đưa thêm câu hỏi:
? Thân của một số loài cây sống dưới nước như: lúa, rau muống, cỏ, bèo,…
có đặc điểm gì? (Học sinh trả lời được: Thân nhỏ, nhẹ, mềm, xốp, có nước,…).
Qua việc tìm từ chỉ đặc điểm đó đã cung cấp thêm vốn từ ngữ, vốn hiểu biết về
cây cối, về tự nhiên xã hội cho học sinh.
Việc dạy từ ngữ lồng ghép vào các mơn học khác giúp học sinh có thể hiểu
từ, mở rộng vốn từ một cách nhẹ nhàng, hiệu quả, d nh, phự hp vi tõm sinh
lớ hc sinh.
Đề tài: Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ 25
và câu lớp 2

vốn sống cịn rất ít, vốn từ ngữ cịn nhiều hạn chế. Trong q trình học phânmơn Luyện từ và câu, học viên cịn rất khó khăn vất vả trong việc phân biệt tiếng, từ, phân biệt những từ trong câu và nhận ra câu trong quy trình học tập. Vì còn nhỏtuổi, tư duy tăng trưởng chưa cao nên trong giao tip v hc tp, hc sinh cũnĐề tài : Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từvà c © u líp 2 dùng từ, câu chưa đúng chuẩn, chưa có sự trau chuốt trong cách dùng từ, đặt câu. Việc nắm vững những kỹ năng và kiến thức về từ giúp học sinh học về câu tốt hơn, vì thế cầncó sự hướng dẫn của giáo viên, sự khuynh hướng đúng đắn để những em phát triểntheo hướng tích cực. Đối với giáo viên, chất lượng giảng dạy là trách nhiệm số 1. Có dạy tốtthì tác dụng học tập của học viên mới được nâng cao. Giáo viên có dạy tốt haykhơng được nhìn nhận ở thành tích học tập của học viên. Việc dạy và học phân môn này mặc dầu đạt được những thành công xuất sắc nhấtđịnh tuy nhiên vẫn còn những điều chưa được như mong ước. Tơi thấy mình cịnlúng túng khi dạy Luyện từ và câu : Cần dạy học viên bài này như thế nào để cácem dễ hiểu ? Làm thế nào để phân phối được nhiều từ ngữ cho học viên quá b àitập này ? Làm thế nào để những em dễ nhớ, dễ hiểu, nhớ lâu nghĩa của những từnày ? … Đó là những trăn trở của tôi khi dạy từ ngữ cho học viên. Tơi đã hướng mình đến với đề tài luyện từ và câu của lớp 2 với mongmuốn góp phần một phần nhỏ bé của bản thân mình vào việc giúp học viên họctốt hơn môn học này, giúp những em vận dụng tốt kiến thức và kỹ năng từ ngữ đã học trongquá trình tiếp xúc hàng ngày, đồng thời để nâng cao nhiệm vụ sư phạm của bảnthân. Trong khuôn khổ của một ý tưởng sáng tạo kinh nghiệm tay nghề, tơi đã khám phá thựctrạng và giải pháp nhằm mục đích nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn này và chọnviết sáng tạo độc đáo kinh nghiệm tay nghề với đề tài : “ Một số giải pháp dạy từ ngữ theo chủđề trong phân môn Luyện từ và câu cho học viên lớp 2 “. 2. Mục đích nghiên cứuNghiên cứu nội dung, chương trình sách giáo khoa phân mơn Luyện từ vàcâu lớp 2, tìm hiểu, khảo sát tình hình dạy và học Luyện từ và câu, từ đó thấyđược những thuân lợi và khó khăn vất vả của GV và HS trải qua giờ dạy và những bàitập lan rộng ra vốn từ để yêu cầu một số ít giải pháp đơn cử nhằm mục đích nâng cao chấtlượng giờ dạy, giúp học viên nắm vững kỹ năng và kiến thức về từ ngữ cho học viên lớp 2 của trường. 3. Khách thể, đối tượng người tiêu dùng nghiên cứu và điều tra : 3.1. Khách thể điều tra và nghiên cứu : Phương pháp dạy Luyện từ và câu ở Tiểu học. 3.2. Đối tượng nghiên cứu và điều tra : Biện pháp dạy từ và câu cho học viên lớp 2.4. Nhiệm vụ nghiên cứu và điều tra : – Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc dạy từ ngữ cho học viên lớp 2. – Nghiên cứu tình hình dạy từ ngữ cho học viên lớp 2. – Đề xuất những giải pháp dạy từ ngữ cho học viên lớp 2. § Ị tài : Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từvà câu lớp 25. Phạm vi điều tra và nghiên cứu : – Địa bàn điều tra và nghiên cứu : Trường Tiểu học tôi đang dạy. – Đối tượng khảo sát và thực nghiệm : Giáo viên và học viên khối 2. – Thời gian nghiên cứu và điều tra : Từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 4 năm 2018.6. Phương pháp điều tra và nghiên cứu : 6.1. Nhóm giải pháp nghiên cứu và điều tra lí luận : – Phân tích, tổng hợp những tài liệu : Tìm đọc, điều tra và nghiên cứu những tài liệu có liênquan đến việc phân biệt từ, câu, xác lập những bộ phận, dùng từ đặt câu, đặc biệtlà lan rộng ra vốn từ gắn với những chủ điểm được học trải qua những bài tập ; sáchgiáo khoa TV2 ; sách giáo viên TV2 ; sách Thiết kế bài giảng TV2 ; sách thamkhảo, những tạp chí của ngành giáo dục … – Phân loại những tài liệu. – Phương pháp so sánh. 6.2. Nhóm giải pháp điều tra và nghiên cứu thực tiễn : – Phương pháp tìm hiểu, khảo sát. – Phương pháp đàm thoại. – Phương pháp quan sát : Dự 1 số ít giờ của đồng nghiệp cùng khối, traođổi, đàm đạo để có những nhận xét xác nhận về việc dạy từ ngữ cho học viên. – Phương pháp thực nghiệm : Dạy thực nghiệm làm cơ sở cho những lí luậnđưa ra. 6.3. Các chiêu thức khác : – Phương pháp thơng kê, xử lí số liệu. – Phương pháp luyn tp thc hnh. Đề tài : Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từvà câu lớp 2PH ẦN NỘI DUNGCHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC DẠY TỪ NGỮ CHOHỌC SINH LỚP 21. Căn cứ khoa học của đề tài : 1.1. Cơ sở ngôn từ họcỞ lớp 2, phân môn Từ ngữ, Ngữ pháp được tích hợp thành một phân mơnmới đó là Luyện từ và câu. Nó là một mơn học giữ vị trí chủ yếu trong chươngtrình Tiếng Việt mới của lớp 2. Ngay từ đầu năm của hoạt động giải trí học tập ởtrường, học viên được làm quen với triết lý của từ và câu, sau đó kiến thứcđược lan rộng ra và nâng cao dần để Giao hàng cho nhu yếu học tập, tiếp xúc, laođộng trong đời sống của những em. Từ có vai trị quan trọng đặc biệt quan trọng trong mạng lưới hệ thống ngôn từ, là đơn vị chức năng trungtâm của ngơn ngữ. Thiếu từ vựng thì khơng có bất kỳ hoạt động giải trí ngơn ngữ nào, thành phần ngữ pháp cũng được bộc lộ trong từ. Dạy học từ ngữ là bộ phậnkhơng thể thiếu được trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học. Chính vì vậydạy Luyện từ và câu có vị trí quan trọng, khơng có vốn từ khá đầy đủ thì khơng thểnắm được ngơn ngữ như một chiêu thức tiếp xúc. Ngày nay, quốc gia tađang Open, trên đà hội nhập, tăng trưởng can đảm và mạnh mẽ nên Tiếng Việt yên cầu phảibổ sung, phát minh sáng tạo nhiều từ ngữ. Thực tế lúc bấy giờ hàng loạt từ mới, cách nói mớira đời, hay cũng có, dở cũng có. Việc tạo từ mới là thiết yếu, tuy nhiên chúng takhông đồng ý lối tạo từ một cách tự phát, lai căng, mất truyền thống dân tộc bản địa. Việcdạy từ và câu ở quá trình đầu giúp học viên nắm được tiếng mẹ đẻ, tạo điều kiệnhọc tập và tăng trưởng tồn diện. Luyện từ và câu là phân mơn có nhiều khả năngđể tăng trưởng ngơn ngữ, tư duy logíc và những năng lượng trí tuệ, những phẩm chất đạođức như tính cẩn trọng, cần mẫn. Ngồi ra từ cịn có vai trị hướng dẫn và rèn luyệncho học viên kiến thức và kỹ năng nói, đọc, viết. Luyện từ và câu là mơn học nền tảng để học sinh học những môn học kháctrong tổng thể những cấp học sau, cũng như trong lao động và tiếp xúc trong cuộcsống hàng ngày. 1.2. Cơ sở tâm ý họcTrẻ em cấp Tiểu học, đặc thù điển hình nổi bật của tư duy là chuyển từ tính trựcquan đơn cử sang tính trừu tượng khái quát. Với học viên lớp 2, tư duy cụ thểvẫn chiếm lợi thế, thế cho nên những hoạt động giải trí gây nhiều hứng thú sẽ khuyến khíchcác em dữ thế chủ động học tập, thích học, tăng trưởng năng lượng tư duy từ đó sẽ giúp cácem hiểu, nhớ lâu, nhớ sâu trong việc lĩnh hội kiến thức và kỹ năng. Ở lứa tuổi này, trẻ họctập còn thụ động, ý thức tự giác chưa cao, còn phụ thuộc vào vào giỏo viờn. Đề tài : Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ 4 và câu lớp 2T rong giờ học Luyện từ và câu, học viên phải phối hợp những hoạt động giải trí như : nghe, hiểu, nói, viết … Các em ln mong ước mình sẽ học tốt, hiểu bài, đượccô khen. Tuy nhiên không phải học viên nào cũng hoàn toàn có thể thuận tiện dùng từ, hiểutừ được bởi năng lực của những em còn hạn chế. 1.3. Mục tiêu dạy học Tiếng Việt ở Tiểu họcMục tiêu của môn Tiếng Việt bậc Tiểu học là : – Hình thành và tăng trưởng ở học viên những kĩ năng sử dụng tiếng Việt ( nghe, nói, đọc, viết ) để học tập và tiếp xúc trong những thiên nhiên và môi trường hoạt động giải trí của lứatuổi. Thông qua việc dạy và học tiếng Việt, góp thêm phần rèn luyện những thao tác củatư duy. – Cung cấp cho học viên những kỹ năng và kiến thức sơ giản về tiếng Việt và nhữnghiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên, con người, về văn hóa truyền thống, văn học của ViệtNam và nước ngồi. – Bồi dưỡng tình u tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trongsáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp thêm phần hình thành nhân cách con người ViệtNam xã hội chủ nghĩa. 2. Nội dung kiến thức và kỹ năng cần truyền thụ cho học viên : 2.1. Mở rộng vốn từ và phân phối cho học viên lớp 2 một số ít hiểu biết sơ giảnvề từ, câu và dấu câu trải qua những bài tập thực hành ( khơng có bài tập lýthuyết ). – Về vốn từ : Ngồi những từ được dạy qua những bài tập đọc, những thànhngữ được dạy qua những bài tập viết, học viên được học một cách tương đối có hệthống những từ ngữ theo chủ điểm. Ví dụ : + Đơn vị thời hạn ( ngày, tháng, năm, năm học … ) + Đơn vị hành chính : xã ( phường ), huyện ( Q. ) + Đồ dùng học tập + Đồ dùng trong nhà + Việc nhà + Họ hàng + Vật nuôi – Về từ loại : nhận ra và biết dùng những từ chỉ người, con vật, vật phẩm, câycối, từ chỉ hoạt động giải trí, trạng thái, từ chỉ đặc thù, đặc thù, trong bước đầu có ý nimv bit vit hc tờn riờng. Đề tài : Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từvà câu líp 22.2. Rèn luyện cho học viên những kỹ năng và kiến thức dùng từ đặt câu và sử dụng cácdấu câu, đơn cử : – Đặt câu : + Các kiểu câu : Ai là gì ?, Ai làm gì ?, Ai thế nào ? và những bộ phận chínhcủa những kiểu câu ấy. Học sinh biết đặt câu theo mẫu, vấn đáp thắc mắc, tìm bộ phậncâu vấn đáp thắc mắc, đặt câu hỏi cho từng bộ phận của câu. + Những bộ phận câu vấn đáp cho những câu hỏi : Khi nào ?, Ở đâu ?, Như thếnào ?, Vì sao ?, Để làm gì ? – Dấu câu : Học sinh biết sử dụng những dấu câu : dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấmthan, dấu phẩy trải qua những kiểu bài tập như : + Chọn dấu câu đã cho điền vào chỗ trống. + Điền dấu câu đã cho vào chỗ thích hợp. + Tìm dấu câu thích hợp điền vào chỗ chấm. + Tập ngắt câu. 2.3. Bồi dưỡng cho học viên thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu, học viên thích học Tiếng Việt. 3. Các giải pháp dạy học chủ yếuCác bài dạy Luyện từ và câu trong sách giáo khoa Tiếng Việt 2 được thiếtkế theo nhu yếu thay đổi chiêu thức dạy học nhằm mục đích phát huy tính tích cực họctập của học viên để việc giảng dạy có hiệu suất cao với từng đối tượng người tiêu dùng học viên cụthể. Ngoài việc nắm vững những kỹ năng và kiến thức về từ và câu trong chương trình TiếngViệt ở lớp 2, giáo viên cần lưu ý vận dụng linh động những giải pháp tổ chứcdạy học. Trong tổng thể những giải pháp dạy Luyện từ và câu thì khơng mộtphương pháp nào được coi là vạn năng, hoàn toàn có thể sửa chữa thay thế những chiêu thức khác. Cácphương pháp đều có mối tương quan mật thiết với nhau, bổ trợ cho nhau. Do đótrong trong thực tiễn giảng dạy GV cần vận dụng linh động, xen kẽ những giải pháp dạyhọc và không lạm dụng tuyệt đối một giải pháp nào cả. Dạy Luyện từ và câu lớp 2 sử dụng nhiều chiêu thức nhưng 3 phươngpháp được sử dụng thông dụng nhất là : – Phương pháp quan sát ( vật thật, mơ hình, tranh vẽ … ) – Phương pháp đàm thoại gợi mở – Phương pháp rèn luyện thực hànhĐể sử dụng những chiêu thức này có hiệu suất cao thì người GV phải hiểu rõcác giải pháp và ưu điểm yếu kém của nó : + Phương pháp quan sát : § Ị tài : Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từvà câu lớp 2P hù hợp với đặc thù nhận thức của học viên lớp 2. HS được quan sát dướisự hướng dẫn chỉ huy của GV. Phương pháp này kêu gọi toàn bộ những giác quan, giúp HS dễ hiểu, dễ nhớ, nhớ lâu. Tuy nhiên nếu sử dung không đúng lúc đúngchỗ những phương tiện đi lại trực quan làm cho HS phân tán chú ý quan tâm, không quan tâm vào dấuhiệu cơ bản của nội dung bài học kinh nghiệm. + Phương pháp đàm thoại gợi mở : Người giáo viên phải khôn khéo đặt câu hỏi và dẫn dắt học viên rút ra nhữngkết luận mới, những tri thức mới. Phương pháp này nếu được vận dụng khéoléo sẽ kích thích học viên độc lập tư duy, tu dưỡng năng lượng diễn đạt bằng lời, giúp giáo viên thu được tín hiệu ngược từ học viên một cách nhanh nhất. + Phương pháp rèn luyện thực hành : Luyện tập là lặp đi lặp lại nhiều lần những hành vi nhất định nhằm mục đích hìnhthành và củng cố kĩ năng, kĩ xảo thiết yếu. Đây là chiêu thức chiếm vị tríquan trọng trong phân mơn luyện từ và câu. Giáo viên hoàn toàn có thể tổ chức triển khai cho họcsinh tự khai thác và phát huy vốn Tiếng Việt trải qua việc thực hành luyện tậpcá nhân hoặc theo cặp, theo nhóm tạo hứng thú, giúp học viên tiếp thu kiến thứcmột cách nhẹ nhàng, thân mật với lứa tuổi. 4. Các kiến thức và kỹ năng học viên cần đạt : – Học sinh biết dùng từ đặt câu với những kiểu câu : Ai là gì ?, Ai làm gì ?, Aithế nào ? và những bộ phận chính của những kiểu câu ấy vấn đáp thắc mắc : Khi nào ?, Ở đâu ?, Như thế nào ?, Vì sao ?, Để làm gì ?. Học sinh có kiến thức và kỹ năng dùng từ đúng, nói và viết thành câu, biết sử dụngcác câu văn hay, nhận ra những từ, câu khơng có văn hóa truyền thống để loại ra khỏi vốn từ, ngồi ra học viên cịn nắm được chuẩn văn hố của lời nói. – Học sinh biết sử dụng những dấu câu : dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu phẩy, dấu chấm than trong những văn bản viết. 5. Cấu trúc một bài luyện từ và câu lớp 2 : Một bài luyện từ và câu có 2 phần : Từ ngữ và Ngữ pháp – Từ ngữ : Thường đứng đầu và chiếm nội dung khá lớn trong bài. Nội dungtừ ngữ gắn với chủ điểm dạy trong tuần. VD : + Chủ điểm “ Anh em ” -> Từ ngữ về tình cảm mái ấm gia đình + Chủ điểm ” Bạn trong nhà ” -> Từ ngữ về vật nuôi + Chủ điểm “ Sông biển ” -> Từ ngữ về sông biển + Chủ điểm “ Bác Hồ ” -> Từ ngữ về Bác Hồ – Ngữ pháp : Học sinh được học về : Kiểu câu, dấu câu6. Dạy từ ngữ theo chủ đề cho học viên lp 2 Đề tài : Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từvà câu lớp 26.1. Khái niệm : Từ là đơn vị chức năng cơ bản của ngôn từ, là vật tư thiết kế xây dựng nên những đơn vịcủa lời nói ( ngữ, nhóm từ, câu, đoạn, văn bản ). Vì vậy, học tiếng trước hết làhọc từ. Học từ cũng là một trong những tiềm năng cơ bản trong quy trình họctiếng dân tộc bản địa. Khơng thể triển khai tiếp xúc nếu không thuộc từ, vốn từ nghèonàn hoặc không hiểu nghĩa của từ. Học sinh được học từ ngữ trải qua mạng lưới hệ thống những bài học kinh nghiệm, những chủ điểmtrong chương trình và thiên nhiên và môi trường ngôn từ trong đời sống. 6.2. Nhiệm vụ của giảng dạy từ ngữ : Nhiệm vụ đa phần của việc dạy từ ở tiểu học nói chung, ở lớp 2 nói riênglà giúp học viên : – Mở rộng, tăng trưởng vốn từ ( phong phú và đa dạng hoá vốn từ ). – Nắm nghĩa của từ ( đúng mực hố vốn từ ). – Quản lí, phân loại vốn từ ( hệ thống hoá vốn từ ). – Luyện tập sử dụng từ ( tích cực hố vốn từ ). Các trách nhiệm trên gắn với những chủ điểm được học : Em là học viên, Bạn bè, Trường học, Thầy cơ, Ơng bà, Cha mẹ, Anh em, Bạn trong nhà, Bốn mùa, Chimchóc, Mng thú, Sơng biển, Cây cối, Bác Hồ, Nhân dân. Phân môn Luyện từ và câu chú trọng thực hành, rèn luyện hơn là lí luận. Đặc biệt so với lớp 2 nội dung tiết Luyện từ và câu chỉ là thực hành rèn luyện. 6.3. Các dạng bài về từ như sau : + Loại bài tập giúp học viên lan rộng ra vốn từ theo chủ điểm. + Loại bài tập giúp học viên nắm nghĩa của từ bằng cách tìm từ cùng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa với từ cho sẵn. + Tìm từ dựa vào yếu tố cấu trúc. + Tìm hiểu, nắm nghĩa của từ trên cơ sở cho từ và nghĩa của từ, yêu cầuhọc sinh xác lập sự tương ứng. + Loại bài tập giúp học viên luyn cỏch s dng t. Đề tài : Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từvà câu lớp 2CH ƯƠNG II : THỰC TRẠNG VIỆC DẠY LUYỆN TỪ VÀ CÂU NÓICHUNG VÀ DẠY TỪ NGỮ THEO CHỦ ĐỀ NÓI RIÊNG CỦA HỌCSINH LỚP 21. Vài nét về trường. Trường nằm trên địa phận xã có truyền thống cuội nguồn hiếu học, những cấp chỉ huy xãrất chăm sóc tới giáo dục, tạo mọi điều kiện kèm theo thuận tiện cho nhà trường. Trườngrất thoáng đãng, nhiều cây xanh được trồng từ truyền kiếp nên tạo cho khung cảnh nhàtrường sự yên tĩnh, thoáng mát. Cơ sở vật chất của trường, của lớp tương đốiđầy đủ, luôn được bổ trợ, trang bị kịp thời. Là một trường ven đô với địa phận xã khá rộng và đông dân cư nên trườngcó rất đơng học viên : 1870 em / 38 lớp, riêng khối 2 có 8 lớp với 409 học viên. Đội ngũ giáo viên với trình độ chun mơn vững vàng, nhiệt tình tronggiảng dạy, hết lịng vì học viên. Đa số học viên ngoan, có ý thức học tập tốt, nhanh gọn, ham học hỏi ; học viên có đủ sách vở, vật dụng học tập. Các bậcphụ huynh phối phối hợp tốt với nhà trường và giáo viên, rất chăm sóc tới việchọc tập và rèn luyện của con em của mình mình. Tuy nhiên đa phần học viên là con em của mình laođộng tự do, nhiều cha mẹ còn bộn bề, lo làm ăn kinh tế tài chính nên ít có điều kiệncho những em ra bên ngoài mày mò quốc tế xung quanh, thế cho nên vốn hiểu biếtthực tế, năng lực tiếp xúc của những em cịn hạn chế. 2. Chương trình, tài liệu học tập phân môn Luyện từ và câu lớp 2 : 2.1. Chương trình : Phân mơn Luyện từ và câu lớp 2 cả năm có 35 bài tương ứng với 35 tiết, 1 tuần / 1 tiết. Học kì I gồm 18 bài, trong đó có 2 bài ơn tập và 16 bài mới. Học kì IIgồm 17 bài, trong đó có 2 bài ơn tập và 15 bài mới. Sự đối sánh tương quan số tiết học giữa phân môn Luyện từ và câu với những môn họckhác trong Tiếng Việt như sau : Bảng phân chia tiết trong môn Tiếng Việt : Tập đọc Kể chuyện Chính tả Luyện từ và câu Tập làm vănKỳ I47 tiết18 tiết32 tiết18 tiết16 tiếtKỳ II43 tiết17 tiết30 tiết17 tiết16 tiếtNhư vậy thời hạn dành cho việc học Luyện từ và câu so với những phân mụnkhỏc l hp lớ. 2.2. Sỏch giỏo khoa : Đề tài : Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từvà câu lớp 2C ác bài Luyện từ và câu được phân bổ vào từng tuần cùng với những phânmôn khác của môn Tiếng Việt. Bài Luyện từ và câu được sắp xếp sau hai bài tậpđọc, điều này rất hợp lý vì những bài tập đọc có vai trị làm cơ sở, chỗ dựa cho dạyLuyện từ và câu. Sách gồm có 15 đơn vị chức năng học, mỗi đơn vị chức năng gắn với một chủ điểm, học trong 2 tuần ( riêng chủ điểm Nhân dân học 3 tuần ). + Tập một : Tập trung vào mảng “ Học sinh – Nhà trường – Gia đình ” gồm 8 chủđiểm : – Tuần 1,2 : Em là học viên – Tuần 3,4 : Bạn bè – Tuần 5,6 : Trường học – Tuần 7,8 : Thầy cô – Tuần 9 : Ơn tập giữa học kì 1 – Tuần 10,11 : Ơng bà – Tuần 12,13 : Cha mẹ – Tuần 14,15 : Anh em – Tuần 16,17 : Bạn trong nhà – Tuần 18 : Ơn tập cuối học kì 1. + Tập hai : Tập trung vào mảng : “ Thiên nhiên – Đất nước ” gồm 7 chủ điểm : – Tuần 19,20 : Bốn mùa – Tuần 21,22 : Chim chóc – Tuần 23,24 : Mng thú – Tuần 25,26 : Sơng biển – Tuần 27 : Ơn tập giữa học kì 2 – Tuần 28,29 : Cây cối – Tuần 30,31 : Bác Hồ – Tuần 32,33,34 : Nhân dân – Tuần 35 : Ơn tập cuối học kì 2.2.3. Sách hướng dẫn giảng dạy : Bên cạnh SGK, GV còn có tài liệu dạy học là sách giáo viên, sách Thiết kếbài giảng TV2 và tài liệu quan trọng là : Hướng dẫn triển khai chuẩn kỹ năng và kiến thức, kĩ năng những môn học ở Tiểu học – lớp 2.3. Một số yếu tố về sách giáo khoa Luyện từ và câu lớp 2 : 3.1. Ưu im : Đề tài : Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ 10 và câu lớp 2C ác bài Luyện từ và câu được sắp xếp theo từng chủ điểm rất rõ ràng, hợplí. Nhiều bài hay, tương thích với nhận thức của học viên nên những em học hàohứng. Sách phong cách thiết kế phần Từ ngữ và Ngữ pháp rõ ràng, hợp lý. Ví dụ : – Bài : Mở rộng vốn từ : từ ngữ về những môn học – Từ chỉ hoạt động giải trí ( TiếngViệt 2 – tập 1 – trang 59 ) – Bài : Mở rộng vốn từ : từ ngữ về tình cảm – Dấu phẩy ( Tiếng Việt 2 – tập 1 trang 99 ) – Bài : Mở rộng vốn từ : từ ngữ về Bác Hồ ( Tiếng Việt 2 – tập 2 – trang 104 ) 3.2. Nhược điểm : Một số bài có kênh chữ nhiều q, khơng có kênh hình nên chưa thu hútđược học viên khi học. Ví dụ : + Bài : Mở rộng vốn từ : từ ngữ về chim chócĐặt và vấn đáp thắc mắc : Ở đâu ? ( Tiếng Việt 2 – tập 2 – trang 27 ) + Bài : Mở rộng vốn từ : từ ngữ về muông thúĐặt và vấn đáp thắc mắc : Như thế nào ? ( Tiếng Việt 2 – tập 2 – trang 45 ) 4. Thực trạng việc dạy từ ngữ cho học viên lớp 2 : 4.1. Thuận lợi : + Giáo viên mê hồn, nhiệt tình trong giảng dạy, ln tìm tịi, học hỏi, hếtlịng vì học viên, có kĩ năng, phương pháp sư phạm. + Giáo viên rất coi trọng giờ Luyện từ và câu. + Qua dự giờ những tiết Luyện từ và câu của đồng nghiệp, tôi thấy giáo viên đãthực hiện đúng quá trình lên lớp, truyền thụ kỹ năng và kiến thức đúng như nhu yếu củasách giáo khoa và sách hướng dẫn, phối hợp nhiều chiêu thức dạy học. + Giáo viên trường tôi có sử dụng máy chiếu, thế cho nên bài giảng điện từ đượcdùng trong những tiết dạy Luyện từ và câu, học viên được xem nhiều tranh ảnhliên quan đến bài dạy một cách rõ ràng, sinh động nên học viên hào hứng học, dễ nhớ, nhớ lâu và lan rộng ra được kiến thức và kỹ năng cho những em. 4.2. Khó khănCùng với việc cải cách nội dung và chương trình sách giáo khoa, khái niệmđổi mới chiêu thức dạy học tuy khơng cịn là một khái niệm mới lạ tuy nhiên đổimới giải pháp dạy học như thế nào cho tương thích với điều kiện kèm theo cơ sở vật chấthiện có, tương thích với đối tượng người tiêu dùng học và đặc biệt quan trọng là làm thế nào để phỏt huy tớnhĐề tài : Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ 11 và câu lớp 2 dữ thế chủ động, tích cực của học viên một cách nhẹ nhàng, hiệu suất cao thì vẫn là điềutrăn trở của nhiều thầy cô. Qua trực tiếp giảng dạy của bản thân, qua dự giờ và trao đổi với bạn đồngnghiệp, tôi nhận thấy còn 1 số ít yếu tố còn vướng mắc trong những tiết dạyLuyện từ và câu. – Một là : Giáo viên chưa nắm được hết cấu trúc chương trình, chưa hệthống và nắm chắc những dạng bài tập cơ bản và cách dạy những dạng bài tập đó, hình thức tổ chức triển khai học cho học viên còn chưa đa dạng chủng loại. – Hai là : Giờ dạy Luyện từ và câu cịn máy móc theo khn mẫu và quytrình sẵn có mà ít có sự phát minh sáng tạo ( GV giảng, HS làm bài, chữa bài ). Giờ họcLuyện từ và câu thường khô khan, không sôi sục. – Ba là : GV cịn chưa có ý thức tự trau dồi kỹ năng và kiến thức để lấp đi lỗ hổngkiến thức về ngơn ngữ của mình. Giáo viên cịn lúng túng khi giải nghĩa từ chohọc sinh, cịn “ bí từ ” bởi trong tiếng Việt có nhiều từ, nhiều câu cịn chưa phânđịnh rõ ràng nên việc xác định nghĩa cho học viên là khó khăn vất vả. Mặt khác một sốGV cịn chưa nghiên cứu và điều tra kĩ bài, chưa phát hiện trước những từ khó so với họcsinh để sẵn sàng chuẩn bị trước nên khi lên lớp còn gặp lúng túng. 5. Thực trạng việc học từ ngữ của học viên lớp 2 của trường. 5.1. Thuận lợi – Đa số học viên thích học Luyện từ và câu, hào hứng khi được tìm từ, đượcbiết thêm nhiều từ mới và được hiểu thêm về từ ngữ. Các em có thái độ tíchcực, có ý thức trong việc học luyện từ và câu. – Ở trường, học viên còn được cung ứng vốn từ, vốn hiểu biết qua những giờhọc khác như : Tập đọc, Kể chuyện, …, qua hoạt động giải trí đi dạo, tiếp xúc với bạnbè. – Phụ huynh học viên chăm sóc, sát sao với việc học của con trẻ mình. 5.2. Khó khăn – Học sinh lớp 2 mới được làm quen với phân môn Luyện từ và câu nên ởnhững tuần học đầu còn kinh ngạc, lúng túng. Các em mới qua lớp 1, mới “ đọcthông viết thạo ” nên vốn từ, vốn sống của những em cịn q ít. Hơn nữa do điềukiện sống của nhân dân địa phương chưa cao nên học viên ít có điều kiện kèm theo chocon ra ngồi mày mò vạn vật thiên nhiên, quốc tế xung quanh thế cho nên vốn từ, vốn hiểubiết, vốn sống và năng lực tiếp xúc của những em còn nhiều hạn chế. – Các em đang ở lứa tuổi hiếu động, thích chơi hơn thích học, nhận thứcmang tính trực quan mà mơn học Luyn t v cõu mang tớnh tru tng vĐề tài : Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ 12 và câu lớp 2 tương đối khó. Ở phân mơn Luyện từ và câu, học viên lan rộng ra vốn từ theo chủđiểm trải qua những bài tập thực hành, chính vì thế địi hỏi học viên phải có ýthức học, lịng u thích Tiếng Việt. – Trong giờ học, còn nhiều học viên chỉ nghe mà khơng phát biểu quan điểm, vẫn cịn hiện tượng kỳ lạ học viên chưa thực sự tập trung chuyên sâu quan tâm trong khi học, chỉ chúý được trong khoảng chừng thời hạn ngắn, dễ bị phân tán tư tưởng bởi những thứ xungquanh. – Riêng về năng lực nắm kỹ năng và kiến thức về từ ngữ của học viên, tơi nhận thấyrằng : học viên cịn gặp khó khăn vất vả, lúng túng khi làm bài do vốn từ còn hạn chế, nắm nghĩa của từ chưa chắc. Đặc biệt với dạng bài tập luyện cách sử dụng từ đểđặt câu thì nhiều học viên làm bài chưa tốt : nội dung câu chưa tương thích, chưađúng nhu yếu, câu văn còn đơn thuần, chưa đa dạng chủng loại, chưa phát minh sáng tạo. Nguyênnhân là do vốn từ ngữ của HS còn hạn chế, chưa chịu khó tâm lý để kết hợpcác từ ngữ cho hợp lý khi đặt câu. Từ trong thực tiễn trên làm tơi trăn trở : – Thứ nhất : Giáo viên phải nắm rõ quy trình tiến độ giảng dạy tiết Luyện từ và câusao cho bảo vệ rất đầy đủ, ngặt nghèo nội dung kỹ năng và kiến thức của bài mà giờ học lại nhẹnhàng, hiệu suất cao. – Thứ hai : Giáo viên cần nắm vững những dạng bài tập cơ bản về từ ngữ trongphân môn Luyện từ và câu và cách dạy những dạng bài tập đó. – Thứ ba : Dạy từ ngữ lồng ghép với những môn học khác. – Thứ tư : Hướng dẫn học viên làm sưu tập theo chủ đề. – Thứ năm : Tạo bầu khơng khí học tập nhẹ nhàng, sôi sục. CHƯƠNG III : ĐỀ XUẤT VÀ THỰC NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁPDẠY TỪ NGỮ THEO CHỦ ĐỀ CHO HỌC SINH LỚP 2I. Một số giải pháp dạy từ ngữ theo chủ đề cho học viên lớp 2 củatrường1. BIỆN PHÁP 1 : Giáo viên nắm rõ quy trình tiến độ giảng dạy một tiết luyện từvà câu : Ngay từ đầu năm học, khi được nhà trường phân công giảng dạy khối lớp2, tôi đã quan tâm tới phân môn Luyện từ và câu vì đây là một phân mơn mới đốivới học viên lớp 2. Qua việc nghiên cứu và điều tra những tài liệu giảng dạy, cộng với việchọc hỏi đồng nghiệp, sự tiếp thu qua những chuyên đề của phòng giáo dục, củatrường, tôi đã nắm rõ được tiết Luyện từ và cõu c thit k theo quy trỡnh nhsau : Đề tài : Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ 13 và câu lớp 21, Kiểm tra bài cũ : Yêu cầu học viên nêu ngắn ngọn những điều đã học ởtiết trước, cho ví dụ minh hoạ hoặc cho học viên giải 1 số ít bài tập. Ví dụ 1 : – ? Khi viết tên riêng con phải viết như thế nào ? Sau đó đọc cho học viên viết những từ sau : núi Ba Vì, hồ Ba Bể, thành phốHà Nội. Ví dụ 2 : – Đặt câu hỏi cho bộ phận câu được gạch chân : Hoa là học viên giỏi. Chiếc bút chì là vật dụng học tập của em. 2, Dạy bài mới : 2.1. Giới thiệu bài : Giải thích ngắn gọn nội dung, nhu yếu của tiết học. VD : – Trong tiết học thời điểm ngày hôm nay, những con sẽ được lan rộng ra vốn từ về đồ dùngtrong mái ấm gia đình và hiểu tính năng của chúng, biết được một số ít từ ngữ chỉ hoạtđộng. ( Bài : Mở rộng vốn từ : từ ngữ về vật dụng và việc làm trong nhà – TiếngViệt 2 – tập 1 – trang 90 ) – Tiết Luyện từ và câu thời điểm ngày hôm nay, những con sẽ học cách sử dụng những từchỉ đặc thù, đặc thù của người, vật, sự vật ; đặt câu theo mẫu : Ai ( cái gì, congì ) thế nào ? ( Bài : Từ chỉ đặc thù – Câu kiểu : Ai thế nào ? – Tiếng Việt 2 – tập 1 trang 122 ) 2.2 Hướng dẫn làm bài tập : Giáo viên tổ chức triển khai cho học viên triển khai từng bài tập trong sách giáokhoa theo trình tự chung. – Đọc và xác lập nhu yếu của bài tập. + Cho học viên trình diễn nhu yếu của bài tập : GV gọi học viên đọc nhu yếu của bài, sau đó hoàn toàn có thể hỏi : ” Bài nhu yếu con làm gì ? hoặc ” Bài nhu yếu con mấy trách nhiệm, đó lànhiệm vụ gì ? ” … + GV gạch chân những từ, cụm từ là nhu yếu chính của bài để học sinhnắm rõ u cầu của bài. Ví dụ 1 : – Hãy tìm 3 từ nói về tình cảm thương u giữa anh chị em. Ví dụ 2 : – Sắp xếp những từ ở 3 nhóm sau thành câu. – Học sinh giải một phần bài tập mẫu. + Hướng dẫn học viên làm mẫu một phần : Ví dụ : Bài : Từ chỉ đặc thù – Câu kiểu : Ai thế nào ? – Mở rộng vốn từ : từngữ về vật nuôi ( Tiếng Việt 2 – tập 1 – trang 133 ) Bài tập 1 : Tìm từ trái nghĩa với từ sau : tốt, ngoan, nhanh, trắng, cao, kheGiỏo viờn hng dn lm mu : Đề tài : Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ 14 và câu lớp 2 ? Từ có nghĩa trái ngược với “ tốt ” là gì ? Từ đó đưa ra mẫu : tốt – xấu + Hướng dẫn học viên làm bài tập. Ví dụ : Ở bài 1 trên : Giáo viên nêu lại u cầu : Con cần tìm nhữngtừ có nghĩa trái ngược trọn vẹn với nghĩa của từ đã cho. Sau đó nhu yếu học viên trao đổi theo cặp và viết những từ vừa tìmđược vào vở. Học sinh đàm đạo và làm bài. + Tóm tắt trách nhiệm, dặn dị học viên. – Học sinh làm bài tập theo hướng dẫn của giáo viên. 2.3 Tổ chức trao đổi và nhận xét về hiệu quả : Ví dụ : Ở bài 1 : Giáo viên soi một bài làm của học viên trên máy chiếu. Yêu cầu học viên đọc bài làm của mình. Các học viên khác nhận xét về tác dụng bài làm của bạn, cho quan điểm bổsung. ( Lời giải : tốt / xấu ; ngoan / hư, bướng bỉnh ; nhanh / chậm, lờ đờ ; trắng / đen, đen sì ; cao / thấp, lùn ; khỏe / yếu ). – Rút ra những điểm ghi nhớ về kiến thức và kỹ năng. Ví dụ : Ở bài tập 1 trên, giáo viên hoàn toàn có thể chốt kiến thức và kỹ năng : + Một từ hoàn toàn có thể có một hoặc nhiều từ trái nghĩa. + Các từ ở bài tập 1 là từ chỉ gì ? ( Từ chỉ đặc thù, đặc thù ) + Có thể u cầu học viên thi tìm thêm những từ chỉ đặc thù, tính chấtkhác nữa. 3. Củng cố, dặn dò : Chốt lại những kiến thức và kỹ năng và kĩ năng cần nắm vững ởbài rèn luyện. * Tôi thấy đây là tiến trình dạy rất phải chăng, vì thế tơi đã thực thi dạy cácbài học theo tiến trình này. Khi thực thi quy trình tiến độ này phải bảo vệ những yêucầu cơ bản của thay đổi giải pháp dạy và học. Sách giáo viên Tiếng Việt 2 vànội dung bài học kinh nghiệm bài tập đã hướng dẫn cho giáo viên về chiêu thức tổ chức triển khai, hướng dẫn hoạt động giải trí thực hành cho học viên để học viên hình thành kiến thức và kỹ năng, kĩ năng một cách tích cực, dữ thế chủ động, tự nhiên. Các hoạt động giải trí trong giờ luyện từvà câu : – Hoạt động tiếp xúc giữa học viên và giáo viên, học viên và học viên. – Hoạt động nghiên cứu và phân tích, tổng hợp, thực hành. Cả hai hoạt động giải trí trên hoàn toàn có thể được tổ chức triển khai theo những hình thức khác nhau : + Làm việc độc lập ( trong trường hợp câu hi, bi tp a ra rt c th ) Đề tài : Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ 15 và câu lớp 2 + Làm việc theo nhóm ( trong trường hợp câu hỏi, bài tập tương đối trừutượng hoặc yên cầu một sự khái qt nhất định thì thao tác theo nhóm là giảipháp tốt nhất ). + Làm việc theo lớp ( được sử dụng đa phần trong trường hợp giáo viênthực hiện những khâu ra mắt bài, củng cố, những câu hỏi không nhu yếu phảisuy nghĩ lâu hoặc để học viên trình diễn hiệu quả học tập ). Hoạt động của giáo viên hầu hết là : – Giao việc cho học viên : + Hướng dẫn học viên làm mẫu – Kiểm tra học viên : + Xem học viên có hiểu việc phải làm khơng ? + Trả lời vướng mắc của học viên – Tổ chức báo cáo giải trình hiệu quả thao tác : + Các hình thức báo cáo giải trình : Báo cáo trực tiếp với giáo viên, báo cáo giải trình trong nhóm, báo cáo giải trình trước lớp + Các giải pháp báo cáo giải trình : bằng miệng, bằng bảng lớp, bằng bảng con, bằng phiếu học tập, bằng giấy … – Tổ chức nhìn nhận : + Các hình thức nhìn nhận : tự nhìn nhận, nhìn nhận trong nhóm, đánh giátrước lớp. + Các giải pháp nhìn nhận : khen, nhắc nhở. 2. BIỆN PHÁP 2 : Phân loại những dạng bài tập cơ bản về từ ngữ và cáchdạy những dạng bài đó. Ngồi việc điều tra và nghiên cứu kĩ nội dung, chương trình sách giáo khoa, quytrình, chiêu thức dạy Luyện từ và câu, điều tra và nghiên cứu kỹ bài trước khi lên lớp, … giáo viên cần phân loại được những dạng bài tập. Trong học Luyện từ và câu, họcsinh nắm kỹ năng và kiến thức hầu hết trải qua rèn luyện thực hành, qua làm bài tập. Việc phân loại những dạng bài tập sẽ có cách dạy hay, phải chăng, giúp học viên dễdàng nắm kỹ năng và kiến thức. Tơi xin trình diễn những dạng bài tập và xác lập cách dạy củatừng dạng bài như sau : 2.1. Mở rộng vốn từ theo chủ điểm : là loại bài tập chiếm tỉ lệ cao so vớicác loại bài tập từ ngữ khác. Có thể chia những bài tập lan rộng ra vốn từ thành 3 kiểu chính : – Kiểu bài tập lan rộng ra vốn từ qua tranh vẽ. – Kiểu bài tập m rng vn t theo quan h ng ngha. Đề tài : Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ 16 và câu lớp 2 – Kiểu lan rộng ra vốn từ theo quan hệ cấu trúc từ. 2.1.1. Bài tập lan rộng ra vốn từ qua tranh vẽ. Tranh vẽ là phương tiện đi lại trực quan, làm chỗ dựa cho việc tìm từ, mở rộngvốn từ của học viên. * Dạng bài tập nối từ cho sẵn với hình vẽ tương ứng : Ví dụ 1 : Chọn tên gọi cho mỗi người, mỗi vật, mỗi việc được vẽ dưới đây : ( häc sinh, nhµ, xe đạp điện, múa, tr-ờng, chạy, hoahồng, cô giáo ) ( Tiếng Việt 2 – tập 1 – trang 8 ) Ví dụ 2 : Chọn cho mỗi con vật d-ới đây một từ chỉđúng đặc thù của nó : nhanh, chậm, khoẻ, trung thành với chủ ( Tiếng Việt 2 – tập 1 – trang 142 ) Dạng bài tập này vừa giúp học viên phân biệt từ nào biểu lộ sự vật, hoạtđộng, đặc thù nào, vừa có công dụng giúp học viên lan rộng ra, tăng trưởng vốn từ. Đây là dạng bài tập về từ ở mức độ đơn thuần nhất. Các từ cho sẵn ở ví dụ 1 làdanh từ, ở ví dụ 2 là tớnh t. Đề tài : Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ 17 và câu lớp 2D ạng bài tập này, tôi nhu yếu học viên đọc kỹ những từ cho sẵn, quan sát từngtranh, rồi lần lượt so sánh từng từ với hình ảnh tương ứng sau đó chọn từ thíchhợp với tranh vẽ. Hình 1 : trườngHình 4 : cơ giáoHình 7 : xe đạpHình 2 : học sinhHình 5 : hoa hồngHình 8 : múaHình 3 : chạyHình 6 : nhàỞ ví dụ 2 chú ý quan tâm học viên hơn vì những từ cho sẵn là tính từ chỉ đặc thù, tínhchất của sự vật, hiện tượng kỳ lạ nên học viên khó nhận ra hơn. Tơi đặt câu hỏi gợiý để học viên tìm từ. Chẳng hạn : Hình 1 vẽ con vật gì ? Nó đang làm gì ? Cơng việc đó có nặngnhọc khơng ? Vậy từ chỉ đặc thù của con trâu là gì ? Hay ở hình 3 : ? Con vật gì có đặc thù trung thành với chủ ? * Dạng bài tập dựa vào tranh, tìm từ tương ứng. Ví dụ 1 : Tìm những từ chỉ sự vật ( người, vật phẩm, con vật, cây cối … ) đượcvẽ dưới đây ( Tiếng Việt 2 – tập 1 – trang 26 ) Ví dụ 2 : Các tranh dưới đây vẽ 1 số ít hoạt động giải trí của người. Hãy tìm từ chỉ mi hot ng ( Ting Vit 2 – Tp 1 – Trang 59 ) Đề tài : Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ 18 và câu lớp 2 Ở dạng bài tập này, không cho sẵn từ. Cần xác lập từ cần tìm ở ví dụ 1 làtừ chỉ sự vật, ở ví dụ 2 là từ chỉ hoạt động giải trí. Tôi hướng dẫn học viên quan sát, suynghĩ, tìm từ tương ứng. Ở ví dụ 2 học viên gọi tên những hoạt động giải trí là điều không thuận tiện nên giáoviên phải gợi ý để học viên hoàn toàn có thể tìm từ. Chẳng hạn : Hỏi : Tranh 1 vẽ bạn gái đang làm gì ? Học sinh vấn đáp : “ Bạn đang đọc sách ” hay “ Bạn đang xem sách ” … Từ đócác em sẽ tìm được từ chỉ hoạt động giải trí là : ” đọc “, “ xem ”, … + Với những tranh 2,3,4 : nhu yếu học viên đàm đạo nhóm, viết những từ chỉ hoạtđộng của mỗi người trong tranh, sau đó nhu yếu những nhóm lần lượt nêu từ : Tranh 2 : ngồi, cầm, viết, nhìn, … Tranh 3 : nghe, giảng, hướng dẫn, chỉ, … Tranh 4 : chuyện trò, trị chuyện, cười, … + u cầu một học viên đọc lại những từ tìm được. + Giáo viên rút ra kiến thức và kỹ năng : Các từ trên là từ chỉ hoạt động giải trí. * Dạng bài tập gọi tên những vật được vẽ ẩn trong tranh : Ví dụ 1 : Tìm những vật dụng học tập ẩn trong tranh sau. Cho biết mỗi vật ấyđược dùng để làm gì ? ( Bài : Câu kiểu : Ai là gì ? Khẳng định, phủ định. Mở rộngvốn từ : từ ngữ về vật dụng học tập – TV2 – tập1 – trang 52 ) Ví dụ 2 : Tìm những vật phẩm được vẽ trong tranh sau và cho biết mỗi vật dùngđể làm gì ? ( Bài : Mở rộng vốn từ : từ ngữ về vật dụng và việc làm trong nhàTV2 – tập 1 – trang 90 ) Dạng bài tập này kích thích sự tìm tịi, gây hứng thú cho học viên. Tơithường hướng dẫn học viên làm bài thơng qua trị chơi : Tranh đố. Tôi nhu yếu học viên quan sát kĩ tranh, phát hiện những vật cần tìm ẩn khéotrong tranh, gọi tên từng vật ( mỗi tên gọi đó là một từ ), sau đó nói cơng dụngcủa vật tìm được, giúp học viên khắc sâu, củng cố về “ nghĩa biểu vật ” của từ2. 1.2 – Bài tập lan rộng ra vốn từ theo quan hệ ng ngha : Đề tài : Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ 19 và câu lớp 2K iểu bài tập này được xác lập dựa trên mối quan hệ ngữ nghĩa giữa những từ. Nó chiếm tỉ lệ khá cao trong sách Tiếng việt2. * Dạng bài tập “ Tìm từ ngữ cùng chủ điểm ” Ví dụ : Tìm những từ : – Chỉ vật dụng học tậpM : bút – Chỉ hoạt động giải trí của học sinhM : đọc – Chỉ tính nết của học sinhM : chịu khó ( Tiếng việt 2, tập 1, trang 9 ) Ví dụ 2 : Kể tên những lồi cây mà em biết, theo nhóm. – Cây lương thực, thực phẩmM : lúa – Cây ăn quảM : cam – Cây lấy gỗM : xoan – Cây bóng mátM : bàng – Cây hoaM : cúcCác bài luyện từ và câu được dạy theo chủ điểm, vì thế những từ cần tìmthuộc cùng một chủ điểm từ ngữ. Khi dạy, tôi luôn dựa vào những từ mẫu đểhướng dẫn học viên tìm từ. Các từ điểm tựa này giúp học viên hiểu rõ yêu cầucủa bài và gợi ý, khuynh hướng cho học viên tìm từ. Với những bài tập khơng có những từ mẫu : Ví dụ 1 : Tìm những từ chỉ người trong mái ấm gia đình, họ hàng ở câu truyện “ Sáng kiến của bé Hà ” ( Bài : MRVT : từ ngữ về họ hàng – Dấu chấm, dấu chấmhỏi – Tiếng Việt2, tập 1, trang 82 ) Hướng dẫn học viên : – Đọc kĩ nhu yếu của đề – Có thể cho một học viên đọc lại bài “ Sáng kiến của bé Hà ” – Dựa vào nội dung của bài văn để tìm những từ ngữ cùng chủ điểm ẩn trongcác câu văn. – Cho học viên tranh luận nhóm đơi để tìm từ. Học sinh sẽ tìm được những từ : bố, ông bà, con, mẹ, cô, chú, con cháu, Ví dụ 2 : Hãy tìm 3 từ nói về tình cảm thương mến giữa anh chị em ( Bài : MRVT : từ ngữ về tình cảm gia đinh – Câu kiểu : Ai làm gì ? – Dấu chấm, dấu chấmhỏi – Tiếng Việt 2, tập 1, trang 116 ) Tơi nêu rõ u cầu của bài, sau đó tơi gọi học viên khá nên tìm từ mẫu, hoặc tơi hoàn toàn có thể nêu từ mẫu để học viên dựa vào ú tỡm t ( VD : nhng nhn, quý mn, n ) Đề tài : Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ 20 và câu lớp 2 * Dạng bài tập tìm từ cùng nghĩa, gần nghĩa hoặc trái nghĩa với những từcho sẵn. – Từ cùng nghĩa, gần nghĩa ( từ đồng nghĩa tương quan ) : Là những từ có nghĩa giốngnhau hoặc gần giống nhau. – Từ trái nghĩa : Là những từ có nghĩa trái ngược nhau. Ví dụ : Tìm từ trái nghĩa với mỗi từ sau : tốt, ngoan, nhanh, trắng, cao, khoẻ. M : tốt – xấu ( Tiếng việt2, tập 1, trang 133 ) + Ở dạng bài tập này, khi nào cũng có từ cho sẵn, tôi nhu yếu học viên đọckĩ nhu yếu của bài tập, sau đó tơi hướng dẫn mẫu. + ? Trái nghĩa với ” tốt ” là gì ? ( xấu ) + Tơi u cầu học viên tranh luận nhóm để tìm từ trái nghĩa với những từ cònlại : ngoan – hư, bướng bỉnhcao – thấp, lùnkhỏe – yếunhanh – chậmtrắng – đen + Chốt kỹ năng và kiến thức ở bài tập này cho học viên : Từ trái nghĩa là những từ cónghĩa trái ngược nhau. Một từ hoàn toàn có thể có một hoặc nhiều từ trái nghĩa với nó. Với những từ có nghĩa trừu tượng phải giải nghĩa từ, nêu 1 số ngữ cảnhtrong đó có sử dụng từ cho sẵn ấy. Khi học viên nắm chắc nghĩa của từ cho sẵn, những em sẽ tìm từ đúng nhu yếu, có hiệu suất cao. Lưu ý HS : một từ hoàn toàn có thể có mộthoặc nhiều từ trái nghĩa ( cùng nghĩa, gần nghĩa ). 2.1.3. Bài tập lan rộng ra vốn từ theo quan hệ cấu trúc từ : Dạng bài tập này học viên dựa vào một yếu tố cấu trúc từ cho sẵn, tìmnhững từ có cùng yếu tố cấu trúc từ và cùng kiểu cấu trúc, học viên hoàn toàn có thể tìmđược nhiều từ. Ví dụ 1 Tìm những từ – Có tiếng “ học ” M : Học sinh – Có tiếng “ tập ” M : Tập đọcVí dụ 2 : Ghép những tiếng sau thành những từ có 2 tiếng : u, thương, q, mến, kínhM : u mến, quý mến ( Tiếng việt 2, tập 1, trang 99 ) Học sinh hoàn toàn có thể ghép được từ : yêu thương, yêu quý, mến yêu, kính yêu, kính mến, mến thương … 2.2. Loại bài tập về nghĩa của từ : Loại bài tập về nghĩa của từ chiếm tỉ lệ không nhiều so với những loại bài tậptừ ngữ khác. Có 2 dạng bài tập cơ bản sau : 2.1.1. Bài tập cho từ và nghĩa của từ, nhu yếu hc sinh xỏc lp s tngng. Đề tài : Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ 21 và câu líp 2V í dụ 1 : Tìm từ trong ngoặc đơn hợp với mỗi nghĩa sau : a, Dòng nước chảy tương đối lớn, trên đó thuyền bè đi lại được. b, Dịng nước chảy tự nhiên ở đồi núi. c, Nơi đất trũng chứa nước, tương đối rọng và sâu, ở trong đất liền. ( suối, hồ, sông ) ( Tiếng Việt 2 – tập 1 – trang 64 ) Ví dụ 2 : Chọn ý thích hợp ở cột B cho những từ ngữ ở cột A : Nghề nghiệpCông nhânCông việca ) Cây lúa, trồng khoai, nuôi lợn ( heo ), thảcá … Nơng dânb ) Chỉ đường, giữ trật tự làng xóm, phốphường, bảo vệ nhân dân … Bác sĩc ) Bán sách, bút, vải, gạo, bánh kẹo, đồchơi … Công and ) Làm giấy viết, vải mặc, giày dép, bánhkẹo, thuốc chữa bệnh, xe hơi, máy cày … Người bán hànge ) Khám và chữa bệnh. ( Tiếng Việt 2 – tập hai – trang 138 ) Khi dạy, tôi cho học viên đọc kĩ nhu yếu, hướng dẫn học viên thử điền, nối từngtừ với nghĩa cho sẵn, tạo được sự tương ứng, phải chăng giữa nghĩa của từ và từ. 2.1.2. Dạng bài tập dựa vào từ trái nghĩa để phân biệt nghĩa của từ. Ví dụ : Hãy giải nghĩa từ dưới đây bằng từ trái nghĩa với nó. a, Trẻ conb, Cuối cùngc, Xuất hiệnd, Bình tĩnhM : ” Trẻ con ” trái nghĩa với ” người lớn ” ( Tiếng Việt 2 – tập2 – trang 137 ) Dạng bài tập này, tôi hướng dẫn học viên làm mẫu, sau đó dựa vào vốn từ, vốn hiểu biết của mình để tìm những từ trái nghĩa với từ cho sẵn. Học sinh tìmđược những từ trái nghĩa tức là những em đã giải nghĩa được từ cần lý giải ( từ chosẵn ). Ví dụ : Ở bài tập trên, hướng dẫn học viên giải nghĩa : a, ” trẻ con ” trái nghĩa với ” người lớn ” b, ” sau cuối ” trái nghĩa với ” tiên phong, bắt u, khi u, thot u ” Đề tài : Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ 22 và câu lớp 2 c, ” Open ” trái nghĩa với ” biến mất, mất tăm, mất tiêu … ” d, ” bình tĩnh ” trái nghĩa với ” nôn nả, luống cuống, hoảng loạn, hoảngsợ, hoảng hồn … ” 2.3. Loại bài tập về sử dụng từLoại bài tập này nhu yếu học viên lựa chọn từ ngữ trong vốn từ của mình ( hoặc những từ ngữ cho sẵn trong bài tập ) rồi phối hợp những từ ngữ ấy với nhau đểđược câu theo quy tắc nhất định. Có 1 số kiểu bài tập như : điền từ, dùng từ đặtcâu … 2.3.1. Kiểu bài tập điền từ vào chỗ trống trong câu – Dựa vào mức độ dễ khó, từ cần điền cho sẵn hay khơng cho sẵn, có thểchia kiểu bài tập điền từ nói trên thành 2 dạng nhỏ sau : + Dạng bài tập điền từ, trong đó cho sẵn từ cần điền. Ví dụ : Chọn từ trong ngoặc đơn thích hợp với mỗi chỗ trống : ( giơ, đuổi, chạy, nhe, luồn ) Con mèo, con mèo … theo con chuột … vuốt, nanhCon chuột … quanhLuồn hang … hốc. Ở dạng bài tập này, trước hết tôi hướng dẫn học viên đọc những từ ngữ trongcâu hoặc đoạn ( chưa hoàn hảo ) đã cho để sơ bộ nắm nội dung những câu, đoạnnày. Sau đó học viên đọc những từ cho sẵn một lượt rồi lần lượt thử điền từng từcho sẵn vào từng chỗ trống. Từ nào có năng lực tích hợp với những từ ngữ trongcâu và tương thích với nghĩa của câu thì chọn từ đó. + Dạng bài tập điền từ, trong đó từ cần điền khơng cho sẵn. Ví dụ 1 : Chọn từ chỉ hoạt động giải trí thích hợp với mỗi chỗ trống sau đây. a, Cô Tuyết Mai … môn Tiếng Việt. b, Cô … bài rất dễ hiểu. c, Cô … chúng em chăm học. ( Tiếng Việt 2 – tập 1 – trang 59 ) Ví dụ 2 : Em chọn từ ngữ nào điền vào chỗ trống để tạo thành câu hồnchỉnh ? a, Cháu ……………. ơng bà. b, Con ……………… cha mẹ. c, Em ………………. anh ch. ( Ting Vit 2 – tp 1 – trang 99 ) Đề tài : Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ 23 và câu lớp 2 Ở dạng bài tập điền từ mà đề bài không cho sẵn từ cần điền, tôi thấy một sốhọc sinh còn lúng túng, điền từ sai do những em chưa hiểu nghĩa của từ, chưa hiểutừ đó đặt trong văn cảnh nào là tương thích. Tôi hướng dẫn học viên dựa vào chủ điểm từ ngữ đang học, dựa vào nộidung từng câu để tìm từ tương thích, điền vào chỗ trống trong câu đó. Sau khi hướng dẫn học viên làm bài theo cách đã gợi ý, ta có hiệu quả nhưsau : Ở ví dụ 1 : a, Cơ Tuyết Mai dạy môn Tiếng Việt. b, Cô giảng bài rất dễ hiểu. c, Cô khun chúng em chăm học. Cịn ví dụ 2 : a, Cháu kính u ( u thương, u q ) ơng bà. b, Con thương mến ( biết ơn, … ) cha mẹ. c, Em quý mến ( yêu quý, … ) anh chị. 2.3.2. Kiểu bài tập dùng từ đặt câu ( hoặc đặt câu với từ cho sẵn ) Ví dụ : Đặt câu với mỗi từ em tìm được ở bài tập 1 ( Nội dung bài tập 1 : Tìm những từ ngữ : a ) Nói lên tình cảm của Bác Hồ với thiếu nhiM : thương ub ) Nói lên tình cảm của mần nin thiếu nhi với Bác HồM : Biết ơn ( Bài tập 2 – Tiếng Việt 2 – tập 2 – trang 104 ) Ở bài tập này không riêng gì tương quan đến từ ngữ mà cịn tương quan đến mơhình câu, nên khi đặt câu, ngoài lỗi về ngữ pháp như quên viết hoa vần âm đầucâu, hay cuối câu khơng ghi dấu chấm thì học viên cịn dùng từ đặt câu khôngphù hợp. Tôi hướng dẫn học viên dựa vào nghĩa của từ cho sẵn để hình thànhnội dung của câu, rồi tìm mơ hình câu thích hợp để tạo thành một câu đơn cử. Nội dung của câu cần tương thích với nội dung của chủ điểm từ ngữ đang học. 3. BIỆN PHÁP 3 : Tích hợp với những mơn học khácNhư tôi đã nêu ở phần tình hình, do học viên lớp 2 còn rất nhỏ, khả nănggiao tiếp, vốn sống, vốn hiểu biết cịn hạn chế, do đó vốn từ ngữ của học viên rấtít, việc dùng từ ngữ một cách đúng mực để diễn đạt cịn là yếu tố khó khăn vất vả vớihọc sinh. Bởi vậy trong quy trình dạy Luyện từ và câu, để giúp học viên trau dồithêm vốn từ ngữ, tôi luôn nỗ lực dạy lồng ghép những nội dung thiết yếu vàonhững nội dung vốn có của mơn học. Tơi thường dạy từ ngữ tích hợp ở những mơnhọc khác như : Đạo đức, Tự nhiên xã hội, Hoạt động tập thể, đặc biệt quan trọng với mônTiếng Việt bởi Luyện từ và câu là một phân môn trong môn Tiếng Việt, gắn kếtchặt chẽ với môn Ting Vit. Đề tài : Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ 24 và câu lớp 2C hẳng hạn : – Dạy phân môn Tập đọc : Tôi luôn quan tâm tới những từ ngữ chú giải cuốibài, ngoài những tơi cịn giải nghĩa thêm cho học viên những từ khó so với những em. Tơi quan tâm đặt những câu hỏi để học viên tìm từ, tìm hình ảnh trong bài. Ví dụ 1 : Bài Tập đọc : Quả tim khỉ ( SGK Tiếng Việt 2 – tập 2 – trang 50 ) Khi hướng dẫn học viên tìm hiểu và khám phá nội dung bài đọc : ? Hãy tìm những từ nói lên tính nết của hai con vật Khỉ và Cá Sấu ? Học sinh tìm được từ chỉ tính nết của : Khỉ : tốt bụng, ngay thật, mưu trí, … Cá Sấu : giả dối, đen bạc, gian ác, … Khi học viên tìm từ cịn lúng túng, tơi dựa vào từ mà học viên đã tìmđược để đưa câu hỏi gợi ý như sau : ? Con tìm từ cùng nghĩa với từ ” tốt bụng ” ? – Học sinh hoàn toàn có thể nêu được từ ” nhân hậu ” Hay : ? Từ nào cùng nghĩa với ” giả dối ” ? – Học sinh lớp tơi tìm thêm đượctừ : gian xảo, gian dối, lừa đảo, gian dối, … Qua bài Tập đọc, học viên sẽ lan rộng ra được vốn từ ngữ. Học sinh hiểunhững từ ngữ chỉ tính nết của Khỉ là tính tốt, nên học tập ; cịn những từ chỉ tínhnết của Cá Sấu là tính xấu, cần phê phán, khơng nên học tập. Ví dụ 2 : Bài Tập đọc “ Sông Hương ” ( SGK Tiếng Việt 2 – tập 2 – tr 72 ) ? Tìm những từ ngữ chỉ những màu xanh khác nhau của Sơng Hương ? Học sinh tìm được những từ : xanh thẳm, xanh non, xanh biếcQua việc tìm từ, giải nghĩa từ, học viên sẽ hiểu những sắc độ đậm nhạt khácnhau của màu xanh, vận dụng rất tốt trong học Luyện từ và câu, trong phân mônTập làm văn và trong tiếp xúc hàng ngày. – Dạy môn Tự nhiên và xã hội : Bài : Một số loài cây sống dưới nướcTôi nhu yếu học viên kể tên một số ít lồi cây sống dưới nước mà con biết. học viên tìm được : cây sen, cây súng, cỏ, lúa, rau muống, rau cần, rong, … Tôiđưa thêm câu hỏi : ? Thân của một số ít loài cây sống dưới nước như : lúa, rau muống, cỏ, bèo, … có đặc thù gì ? ( Học sinh vấn đáp được : Thân nhỏ, nhẹ, mềm, xốp, có nước, … ). Qua việc tìm từ chỉ đặc thù đó đã phân phối thêm vốn từ ngữ, vốn hiểu biết vềcây cối, về tự nhiên xã hội cho học viên. Việc dạy từ ngữ lồng ghép vào những mơn học khác giúp học viên hoàn toàn có thể hiểutừ, lan rộng ra vốn từ một cách nhẹ nhàng, hiệu suất cao, d nh, phự hp vi tõm sinhlớ hc sinh. Đề tài : Dạy từ ngữ theo chủ đề trong phân môn luyện từ 25 và câu lớp 2