Việt Nam trở thành nước xuất khẩu viên nén lớn thứ hai thế giới

Viên nén được sản xuất từ nguyên vật liệu phế phụ phẩm của ngành nông lâm ngư nghiệp, đây là nguồn sinh khối rất phong phú. Cụ thể, những nguyên vật liệu sản xuất viên nén lúc bấy giờ hầu hết từ : phế phụ phẩm của ngành chế biến gỗ ( vỏ bào, mùn cưa, vụn vỏ cây rừng, những mẩu gỗ thừa … ) ; phế phụ phẩm của ngành trồng trọt ( vỏ trấu sau khi xay thóc, bã mía, thân cây ngô, mía, những thân cây cỏ khô, vỏ hạt cafe … ) .Hiện nay, nhiều nước trong đó có Nhật Bản và Nước Hàn đang sử dụng viên nén là nguyên vật liệu nguồn vào cho những nhà máy sản xuất nhiệt điện .

GIÁ TRỊ XUẤT KHẨU TĂNG 15,3 LẦN TRONG 7 NĂM

Thương Hội Gỗ và Lâm sản Nước Ta phối hợp với Tổ chức Forest trends vừa công bố báo cáo giải trình nghiên cứu và điều tra về tình hình sản xuất và xuất khẩu viên nén tại Nước Ta. Nghiên cứu này được thực thi từ tháng 3/2021 đến tháng 6/2021 .

TS. Tô Xuân Phúc, chuyên gia của Forest  trends, cho biết tại Việt Nam trong giai đoạn 2013-2020, lượng viên nén xuất khẩu tăng trên 18,2 lần, từ 175,5 tấn năm 2013 lên 3,2 triệu tấn năm 2020. Giá trị xuất khẩu viên nén tăng 15,3 lần, từ gần 23 triệu USD năm 2013, lên 351 triệu USD năm 2020. Lượng viên nén sản xuất tại Việt Nam chỉ một  lượng rất nhỏ được sử dụng để sấy gỗ, còn lại hầu hết đem xuất khẩu.

Lượng và giá trị viên nén xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2013-2020Lượng và giá trị viên nén xuất khẩu của Nước Ta tiến trình 2013 – 2020Nghiên cứu cho thấy, giá viên nén xuất khẩu giảm dần qua những năm, trái chiều với xu thế tăng về lượng và kim ngạch xuất khẩu. Nguyên nhân giá viên nén xuất khẩu liên tục giảm là do ngày càng có nhiều doanh nghiệp tham gia vào khâu sản xuất viên nén, từ phong phú nguồn nguyên vật liệu phế phụ phẩm của ngành nông lâm ngư nghiệp .Năm 2020, cả nước có 74 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu viên nén. Trong số đó, những doanh nghiệp xuất khẩu quy mô lớn xuất khẩu trên 50.000 tấn / doanh nghiệp ) là 17 doanh nghiệp ) ; số doanh nghiệp có quy mô vừa ( lượng xuất từ 20,000 – 49.000 tấn / doanh nghiệp ) là 10 doanh nghiệp ; còn lại là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ ( dưới 20.000 tấn / doanh nghiệp ) .

Hiện Việt Nam có có khoảng 80 nhà máy và cơ sở tư nhân sản xuất viên nén, với tổng công suất  khoảng gần 4,5 triệu tấn/năm, trong đó chủ yếu tập trung tại vùng Đông Nam Bộ, tiếp đến là vùng Đông Bắc.

Nguồn gỗ nguyên vật liệu nguồn vào để sản xuất viên nén hầu hết được sử dụng từ gỗ phụ phẩm như mùn cưa, dăm bào, cành ngọn của gỗ rừng trồng ( keo, bạch đàn, cao su đặc ), cây phân tán … Nguồn nguyên vật liệu này được đưa vào quy trình ép dưới áp lực đè nén cao để tạo ra loại sản phẩm .

Các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ ở các địa phương mua bất kỳ nguồn gỗ nguyên liệu phế phụ phẩm nào có được ở địa phương, để sản xuất viên nén. Các hoạt động thu mua này thường được thực hiện qua hệ thống các đại lý. Một số doanh nghiệp lớn có nguồn nguyên liệu rừng trồng, bao gồm cả nguồn rừng trồng có chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FSC).

Nghiên cứu về cung và cầu viên nén trên quốc tế, Forest trends và Thương Hội Gỗ và Lâm sản Nước Ta đưa ra dự báo, nhu yếu tiêu thụ viên nén trên quốc tế sẽ liên tục tăng nhanh. Dự báo vận tốc tăng nhu yếu khoảng chừng 250 % trong thập kỷ 2021 – 2030, từ 14 triệu tấn năm 2017 lên số lượng 36 triệu tấn vào năm 2030. Không chỉ Nhật Bản và Nước Hàn, nhiều vương quốc châu Âu cũng đã sử dụng viên nén là nguyên vật liệu nguồn vào cho những xí nghiệp sản xuất nhiệt điện .

 LÊN CHIẾN LƯỢC ĐƯA VIÊN NÉN THÀNH NGÀNH XUẤT KHẨU TỶ ĐÔ

tiến sỹ, Tô Xuân Phúc đánh giá và nhận định, nghành sản xuất và xuất khẩu viên nén mới hình thành và tăng trưởng tại Nước Ta với thời hạn chưa đến 10 năm, nhưng đây lại là ngành hứa hẹn đem về tỷ USD trong tương lại gần. Nhu cầu tiêu thụ viên nén trên quốc tế liên tục tăng, là động lực cho những hoạt động giải trí sản xuất và xuất khẩu viên nén của Nước Ta lan rộng ra .Tuy vậy, TS. Tô Xuân Phúc cho rằng, sản xuất và xuất khẩu viên nén của Nước Ta hiện tại đang tiểm ẩn một số ít yếu tố cần chăm sóc .Thứ nhất, nguồn nguyên vật liệu nguồn vào chưa được trấn áp, điều này dẫn đến chất lượng loại sản phẩm không đồng nhất, thậm chí còn loại sản phẩm có chất lượng kém. Vấn đề này sẽ đẩy giá xuất khẩu viên nén xuống thấp. Nguyên liệu nguồn vào không được trấn áp cũng tiềm ẩn rủi ro tiềm ẩn ảnh hưởng tác động tới tài nguyên rừng, với nguồn nguyên vật liệu nguồn vào hoàn toàn có thể được thu lượm từ những cây, cành nhỏ từ rừng .Thứ hai, mặc dầu đã trở thành một trong những loại sản phẩm xuất khẩu quan trọng, sản xuất và xuất khẩu viên nén chưa nhận được sự chăm sóc của cơ quan quản trị .Thứ ba, hiện chưa có chính sách liên kết những doanh nghiệp, cơ sở chế biến trong ngành, chưa có tiếng nói chung trong những hoạt động giải trí sản xuất kinh doanh thương mại, dẫn đến thực trạng cạnh tranh đối đầu không lành mạnh giữa những doanh nghiệp .

Thứ tư, cạnh tranh nguồn nguyên liệu đầu vào không chỉ xảy ra với các doanh nghiệp cùng sản xuất viên nén mà còn xảy ra giữa các doanh nghiệp sản xuất mặt hàng này và các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm khác như dăm gỗ và ván ép. Nhiều tín hiệu cho thấy trong tương lai cạnh tranh nguồn nguyên liệu đầu vào sẽ diễn ra khốc liệt hơn.

Thứ năm, hiện nhiều doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu viên nén, đặc biệt quan trọng là những doanh nghiệp quy mô nhỏ không hiểu thông tin về thị trường xuất khẩu, do đó không chớp lấy được thị hiếu mua và sử dụng viên nén, cũng như nguồn nguyên vật liệu đặc trưng .Trong khi đó, Nước Ta có rất nhiều phế phụ phẩm ngành nông nghiệp rất tốt để sử dụng sản xuất viên nén, như vỏ trấu từ những nhà máy sản xuất xay sát, rơm rạ và thân những cây cối phơi khô. Thế nhưng phần nhiều nguyên vật liệu này đang bị đốt bỏ rất tiêu tốn lãng phí. Nguyên nhân do chưa hình thành mạng lưới hệ thống thu gom vỏ trấu, rơm rạ, thân những cây xanh phơi khô để chuyển đến những xí nghiệp sản xuất sản xuất viên nén .Từ những nghiên cứu và phân tích trên, những chuyên viên của Forest trends khuyến nghị Nhà nước và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần nhìn nhận và chăm sóc điều tra và nghiên cứu nghành sản xuất và xuất khẩu viên nén, từ đó có kế hoạch đưa nghành này trở thành ngành kinh tế tài chính xuất khẩu tỷ USD trong tương lai gần, qua đó ngày càng tăng giá trị cho sản xuất nông lâm ngư nghiệp.