Sự phát triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở Việt Nam và một số rủi ro tiềm ẩn

Ảnh minh họa. Nguồn : Internet .

Sự phát triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở Việt Nam và một số rủi ro tiềm ẩn

Bài viết phân tích sự tăng trưởng của thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam năm 2021 và cảnh báo nhắc nhở những rủi ro đáng tiếc tiềm ẩn cho những nhà đầu tư .

1. Sự phát triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam năm 2021

Quy mô thị trường TPDN ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng quy mô dư nợ tín dụng thanh toán của nền kinh tế tài chính. Cụ thể, tính đến hết quý 2/2021, dư nợ TPDN chiếm khoảng chừng 11 % tổng dư nợ cả nền kinh tế tài chính, tăng 49 % so với cùng kỳ năm 2020. ( Hình 1 )

Tổng khối lượng phát hành trái phiếu trong quý III / 2021 đạt 159,670 tỷ đồng. Trong đó, tỷ suất phát hành riêng không liên quan gì đến nhau chiếm 98.7 %, chỉ có 1 đợt phát hành ra công chúng của CTCP Masan Meatlife ( giá trị ~ 2000 tỷ đồng ). Trong quý III / 2021, có 2 đợt phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế của Công ty CP Tập đoàn Địa ốc Nova ( 300 triệu USD ) và Công ty Vinpearl ( 425 triệu USD ) .

Trong 9 tháng năm 2021, tổng khối lượng phát hành TPDN trong nước đạt 385,035 tỷ đồng. Trong đó, tỷ suất phát hành ra công chúng đạt 3.01 %, thấp hơn rất nhiều so với 9 tháng đầu năm 2020 và 9 tháng đầu năm 2019. Nhiều doanh nghiệp ( đặc biệt quan trọng là những doanh nghiệp niêm yết ) ưu tiên lựa chọn kênh phát hành riêng không liên quan gì đến nhau, do những vướng mắc trong lao lý phát hành trái phiếu ra công chúng. Có 4 đợt phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế trong 9 tháng năm 2021, với tổng giá trị 1.425 tỷ USD, đơn cử : Vingroup ( 500 triệu USD ), BIMLand ( 200 triệu USD trái phiếu xanh ), Novaland ( 300 triệu USD ) và Vinpearl ( 425 triệu USD ). ( Hình 2 )

Theo Báo cáo thị trường trái phiếu quý IV / 2021, tổng giá trị TPDN phát hành đạt mức 189.652 tỷ đồng, giảm nhẹ 7,6 % so với quý trước, tỷ suất phát hành thành công xuất sắc đạt 105,1 %. Trong đó, tỷ suất trái phiếu phát hành riêng không liên quan gì đến nhau và công chúng lần lượt là 91,2 % và 8,8 %. Trong quý 4, có 122 doanh nghiệp ( Doanh Nghiệp ) phát hành tổng số 172.898 tỷ đồng trái phiếu riêng không liên quan gì đến nhau, giảm 14,2 % so với quý trước. Các Doanh Nghiệp có giá trị phát hành ( GTPH ) trái phiếu riêng không liên quan gì đến nhau lớn nhất trong quý đều thuộc nhóm ngân hàng nhà nước, như : Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam ( 12.000 tỷ đồng ), Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh ( 10.220 tỷ đồng ) và Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng ( 9.970 tỷ đồng ) .

2. Một số rủi ro tiềm ẩn

Thứ nhất, những ngân hàng nhà nước thương mại vừa là những nhà phát hành trái phiếu lớn nhất, đồng thời cũng vừa là những nhà đầu tư trái phiếu lớn nhất thị trường. Theo số liệu thống kê thị trường trái phiếu doanh nghiệp cho thấy, hầu hết những lô trái phiếu doanh nghiệp đều được phát hành và mua bởi những ngân hàng nhà nước, những công ty sàn chứng khoán .
Trong quý III / 2021, mặc dầu tổng khối lượng phát hành ( KLPH ) có giảm nhẹ so với cùng kỳ năm 2020, nhưng quy mô trung bình mỗi đợt phát hành khoảng chừng 609 tỷ đồng / đợt phát hành ( – 2.1 % Q. / Q. ), tăng gấp 3.12 lần so với quý III / 2020, khoảng chừng thời hạn mà nhiều TCPH phải chia nhỏ lô trái phiếu thành nhiều đợt phát hành để bảo vệ tuân thủ lao lý về số lượng nhà đầu tư .

Trong quý III/2021, nhóm ngân hàng vẫn là nhóm dẫn đầu về KLPH, tổng giá trị đạt 67,717 tỷ đồng với sự tăng lên nhanh chóng trong việc phát hành bổ sung vốn ngắn hạn và tăng vốn cấp 2 đảm bảo các tiêu chuẩn theo Basel II của các ngân hàng thương mại. Nhóm các doanh nghiệp bất động sản xếp vị trí thứ 2 với tổng giá trị phát hành là 56,551 tỷ đồng. (Hình 4)


Trong quý IV, Tài chính – Ngân hàng liên tục là nhóm ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất với 47,7 % tổng giá trị phát hành trái phiếu riêng không liên quan gì đến nhau trong quý, tương tự 82.418 tỷ đồng ( tăng 5,4 % so với quý trước ). Ngoài 3 ngân hàng nhà nước có giá trị phát hành lớn nhất kể trên, những tổ chức triển khai kinh tế tài chính khác có giá trị phát hành lớn nhất, gồm có : CTCP Tập đoàn Đầu tư IPA ( 2000 tỷ đồng ), Công ty Tài chính TNHH MB Shinsei ( 1.450 tỷ đồng ), CTCP Chứng khoán TP HCM – Thành Phố Hà Nội ( 510 tỷ đồng ), …
Xét trong cơ cấu tổ chức nhà đầu tư trái phiếu, 41 % nhà góp vốn đầu tư trái phiếu trong quý III / 2021 là Tổ chức tín dụng thanh toán. Tỷ trọng nhà góp vốn đầu tư trái phiếu cá thể chiếm khoảng chừng 5 % tổng giá trị phát hành trái phiếu trong quý III 2021. Về cơ cấu tổ chức nhà đầu tư tổ chức triển khai, 73 % nhà đầu tư là tổ chức triển khai tín dụng thanh toán và công ty sàn chứng khoán. Tuy nhiên, đã có sự chuyển dời trong cơ cấu tổ chức nhà đầu tư khi tỷ trọng nhà góp vốn đầu tư sơ cấp là TCTD tăng mạnh trong quý III, trong khi những công ty sàn chứng khoán giảm mua trái phiếu sơ cấp từ TCPH, phần nhiều do việc Thông tư số 01/2021 / TT-NHNN có hiệu lực hiện hành cuối tháng 5/2021 được cho phép TCTD được mua trái phiếu của TCTD khác phát hành .

Số liệu từ Hình 5 cho thấy 1 số ít điểm sau .
Thứ nhất, những công ty sàn chứng khoán và những ngân hàng nhà nước là nhà đầu tư lớn hầu hết, nhưng đây lại không phải là người chiếm hữu trái phiếu doanh nghiệp ở đầu cuối. Sau khi mua, họ sẽ bán lại cho những nhà đầu tư, trong đó có rất nhiều nhà góp vốn đầu tư cá thể trải qua mạng lưới thanh toán giao dịch với nhiều hình thức. Bên cạnh đó, họ còn đóng vai trò tư vấn, quản lý tài sản, … cho nhà đầu tư. Thông qua mạng lưới hệ thống mạng lưới rộng khắp, số lượng người mua lớn, những ngân hàng nhà nước và công ty sàn chứng khoán thuận tiện thuyết phục nhà đầu tư mua trái phiếu doanh nghiệp với lãi suất vay mê hoặc hơn rất nhiều lãi suất vay ngân hàng nhà nước cùng những điều kiện kèm theo mua lại, thế chấp ngân hàng vay vốn khi thiết yếu .
Thứ hai, hiện tượng kỳ lạ hòn đảo nợ, bơm vốn được thực thi trải qua thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Nhiều lô trái phiếu doanh nghiệp đặc biệt quan trọng là của những doanh nghiệp bất động sản được phát hành và mua lại bởi những công ty sàn chứng khoán, những ngân hàng nhà nước. Thậm chí, hiện có khoảng chừng 50 công ty sàn chứng khoán được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp phép tham gia những hoạt động giải trí tương quan đến thị trường trái phiếu doanh nghiệp, trong đó có hơn 50 % thị trường tính theo giá trị phát hành thuộc về những công ty sàn chứng khoán là công ty con hoặc dưới sự tương hỗ của những ngân hàng nhà nước .
Bên cạnh đó, những chủ ngân hàng nhà nước không ít có tương quan đến doanh nghiệp bất động sản phát hành trái phiếu đó. Điều này dẫn đến việc những ngân hàng nhà nước đã trực tiếp hoặc trải qua công ty sàn chứng khoán để cơ cấu tổ chức nợ, hòn đảo nợ, bơm vốn cho doanh nghiệp bất động sản “ sân sau ” trải qua việc mua trái phiếu doanh nghiệp, sau đó, chuyển nhượng ủy quyền cho những nhà đầu tư cá thể. Ví dụ nổi bật, Công ty CP Bông Sen – doanh nghiệp hiện nắm quyền chi phối khách sạn Daewoo Thành Phố Hà Nội, đã lôi cuốn sự chú ý quan tâm của thị trường khi kêu gọi thành công xuất sắc 4.800 tỷ đồng từ 1 số ít nhà đầu tư tổ chức triển khai, trải qua 2 đợt phát hành trái phiếu doanh nghiệp, nhằm mục đích tái cơ cấu tổ chức những khoản nợ gắn với trái phiếu doanh nghiệp, do doanh nghiệp này đã phát hành riêng không liên quan gì đến nhau vào năm 2019 .
Hầu hết những trái phiếu do nhóm doanh nghiệp này phát hành đều là trái phiếu không quy đổi, không kèm chứng quyền, không có gia tài bảo vệ và khá mơ hồ thông tin về tình hình sử dụng vốn từ trái phiếu đã phát hành. Doanh nghiệp kêu gọi cả trăm, ngàn tỷ đồng qua trái phiếu, nhưng không ai giám sát tiền này đi về đâu, góp vốn đầu tư thế nào, có sử dụng sai mục tiêu không. Trong hồ sơ phát hành ghi kêu gọi tiền từ trái phiếu để góp vốn đầu tư dự án Bất Động Sản A, nhưng có khi doanh nghiệp lại đem tiền đổ vào dự án Bất Động Sản B, hoặc thậm chí còn có năng lực toàn bộ dự án Bất Động Sản đều là ảo. Chưa kể, nhiều khi khoản tiền đi vay từ trái phiếu còn lớn hơn nhiều so với gia tài công ty .

Thứ ba, các doanh nghiệp gọi vốn đánh vào tâm lý nhà đầu tư cá nhân bằng cách thuê ngân hàng hoặc các công ty chứng khoán đứng ra phát hành. Nhà đầu tư thậm chí không biết đến doanh nghiệp phát hành trái phiếu, nhưng biết tới ngân hàng hoặc công ty chứng khoán là công ty con của ngân hàng nên đã tin tưởng mua. Song trên thực tế, các tổ chức trên chỉ cung cấp dịch vụ, hưởng phí hoa hồng, không chịu trách nhiệm về việc thẩm định, đánh giá sức khỏe tài chính và khả năng trả nợ. Do đó, nếu doanh nghiệp phá sản, thì nhà đầu tư cá nhân sẽ mất vốn và không thể đòi tiền từ ngân hàng hoặc công ty chứng khoán.

Tóm lại, năm 2021 liên tục là một năm thăng hoa của thị trường trái phiếu doanh nghiệp, qua đó từng bước trở thành một kênh kêu gọi vốn trung và dài hạn quan trọng so với nền kinh tế tài chính. Tổng giá trị TPDN phát hành đạt 623.616 tỷ đồng, tăng 34,9 % so với năm 2020 ; trong đó là 583.371 tỷ đồng phát hành riêng không liên quan gì đến nhau và 40.246 tỷ đồng phát hành ra công chúng. Trong đó, Tài chính – Ngân hàng là nhóm ngành đứng vị trí số 1 về GTPH năm 2021, chiếm 42,0 % tổng GTPH, tăng 83,8 % so với cùng kỳ .
Nhóm ngành Bất động sản chiếm 34,8 % tổng GTPH, tăng 36,2 % so với năm 2020. Tuy nhiên, sự tăng trưởng nhanh gọn này cũng hàm chứa những rủi ro đáng tiếc đến từ việc hòn đảo nợ, cơ cấu tổ chức nợ của những doanh nghiệp, việc doanh nghiệp ít tên tuổi với vốn tự có mỏng mảnh, nhưng lại gọi được vốn nợ lớn trải qua trái phiếu doanh nghiệp và sự thiếu hiểu biết, ngộ nhận từ những nhà đầu tư cá thể khi mua trái phiếu doanh nghiệp. Do đó, cần giám sát ngặt nghèo để kinh doanh thị trường chứng khoán tăng trưởng lành mạnh .

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. VBMA (2021), Báo cáo thị trường trái phiếu Việt Nam quý III/2021.
  2. Vũ Hồng Thanh (2021), Thị trường trái phiếu doanh nghiệp tại Việt Nam: Mô hình quản lý rủi ro và một số khuyến nghị, Tạp chí Ngân hàng, https://tapchinganhang.gov.vn/thi-truong-trai-phieu-doanh-nghiep-tai-viet-nam-mo-hinh-quan-ly-rui-ro-va-mot-so-khuyen-nghi.htm
  3. Vụ Tài chính các ngân hàng và tổ chức tài chính (Bộ Tài chính), Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (2022). Các báo cáo về thị trường trái phiếu Việt Nam.