Thực trạng phát triển thị trường tiền tệ của việt nam 5 năm gần đây – Tài liệu text
Thực trạng phát triển thị trường tiền tệ của việt nam 5 năm gần đây
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (201.95 KB, 22 trang )
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thị trường tiền tệ Việt Nam đã được hình thành và từng bước hoàn thiện gắn
liền với tiến trình đổi mới và phát triển nền kinh tế đất nước. Cho đến nay, mặc
dù thị trường tiền tệ Việt Nam chưa thực sự phát triển, nhưng nó đã đóng vai trò
quan trọng trong việc điều tiết cung cầu về nguồn vốn ngắn hạn nhằm hỗ trợ cho
các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống của các chủ thể trong nền
kinh tế. Đặc biệt, thị trường đã thực hiện chức năng cân đối, điều hòa nguồn vốn
giữa các ngân hàng, góp phần hỗ trợ cho các ngân hàng đảm bảo khả năng thanh
toán, hoạt động an toàn và hiệu quả. Thông qua các hoạt động trên thị trường
tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thực hiện điều tiết tiền tệ
nhằm thực thi chính sách tiền tệ quốc gia.
Có thể khẳng định rằng, thị trường tiền tệ Việt Nam đã góp phần nhất định
trong quá trình phát triển kinh tế đất nước, nhất là quá trình chuyển đổi sang
kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và từng bước hội nhập kinh
tế quốc tế. Tuy nhiên, so với lịch sử phát triển thị trường tiền tệ các nước trên
thế giới, thị trường tiền tệ Việt Nam vẫn còn non trẻ và nhiều bất cập, cần đẩy
nhanh hoàn thiện để phát triển. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành
Trung ương Đảng khóa IX và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành
Trung ương Đảng khóa X xác định phát triển thị trường tài chính có vai trò quan
trọng trong việc phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường. Do đó việc đánh giá
đúng thực trạng các kết quả đạt được, các hạn chế của thị trường tiền tệ Việt
Nam trong thời gian qua và đề ra mục tiêu, định hướng, giải pháp phát triển thị
trường trong những năm tới có ý nghĩa rất lớn để tiếp tục hoàn thiện thị trường
tiền tệ, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Phần 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.
Định nghĩa thị trường tiền tệ:
+ Điều 9 khoản 2 Luật Ngân hàng Nhà nước (NHNN) quy định: “ Thị
trường tiền tệ là thị trường vốn ngắn hạn, nơi mua, bán các giấy tờ có giá
ngắn hạn, bao gồm tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN, chứng chỉ tiền
gửi và các giấy tờ có giá (GTCG) ngắn hạn khác.
+ Từ năm 2004, NHNN cho phép sử dụng cả GTCG dài hạn trong giao
dịch nghiệp vụ thị trường mở.
2.
Chức năng của thị trường tiền tệ:
+ Là “kênh” để ngân hàng nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách tiền
tệ quốc gia.
+ Chuyển vốn tạm thời nhàn rỗi đến nơi thiếu vốn, có suất sinh lợi cao…
3.
Các công cụ giao dịch trên thị trường:
• Tín phiếu kho bạc
•
Giấy chứng nhận tiền gửi (CD) của ngân hàng
• Thương phiếu
•
4.
Hối phiếu được ngân hàng chấp nhận
Thành viên tham gia thị trường tiền tệ Việt Nam
+ Ngân hàng Nhà nước
+ Tổ chức tín dụng (ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty
cho thuê tài chính,..)
+ Doanh nghiệp
+ Chính phủ, chính quyền địa phương
+ Cá nhân
5.
Phương thức hoạt động
+ Giao dịch trực tiếp hoặc gián tiếp
+ Phương tiện giao dịch: điện thoại, fax, hệ thống giao dịch điện tử,
…
6.
Các bộ phận cấu thành thị trường tiền tệ
+ Thị trường tiền tệ liên ngân hàng
+ Thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc
+ Thị trường mở
Phần 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ VIỆT
NAM 5 NĂM GẦN ĐÂY (2007 – 2011)
I. Các chủ thể tham gia:
Cho đến nay lượng thành viên tham gia các nghiệp vụ thị trường tiền
tệ vẫn còn hạn hẹp. Mới chỉ có 5 Ngân hàng thương mại Nhà nước
(NHTMNN), Ngân hàng chính sách xã hội, 37 Ngân hàng thương mại
cổ phần, 4 Ngân hàng liên doanh, 27 chi nhánh Ngân hàng nước ngoài,
Quỹ tín dụng TW, 900 Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở, một số công ty bảo
hiểm và tái bảo hiểm, Quỹ đầu tư… Tuy nhiên tham gia là thành viên
của thị trường liên ngân hàng, thị trường đấu tín phiếu Kho bạc Nhà
nước, thị trường mở,…thì không phải là các tổ chức trên, hầu như chỉ có
các NHTMNN, NHTM cổ phần đô thị, ngân hàng liên doanh, chi nhánh
Ngân hàng nước ngoài, một số công ty bảo hiểm,…
Đặc biệt, trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng đã hình thành nhóm
các ngân hàng thường cung ứng nguồn tiền VND chủ yếu là các NHTM
Nhà nước và ngược lại nhóm các NHTM cổ phần và chi nhánh ngân
hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh là các ngân hàng thường có nhu
cầu vay tiền VND. Việc điều chuyển vốn thường chỉ diễn ra một chiều
giữa các ngân hàng thường cho vay và nhóm ngân hàng thường đi vay.
Trên thực tế thị trường hầu như chưa hình thành các thành viên có
tính chuyên nghiệp như các nhà môi giới, các nhà tạo lập thị trường, các
công ty đánh giá xếp loại… Điều này làm hạn chế hạn chế sự phát triển
của thị trường tiền tệ.
II. Các bộ phận cấu thành thị trường tiền tệ:
1. Thị trường liên ngân hàng
1.1 Tình hình:
• Năm 2007:
Một số ngân hàng quy mô nhỏ, hoặc mới chuyển đổi mô hình, do sai lầm từ
định hướng kinh doanh nên quá tập trung vào cho vay với mong muốn tạo ra sự
đột biến trong tăng trưởng quy mô, hoặc tài trợ cho những lĩnh vực đầu tư mạo
hiểm.
Sự việc thái quá đến mức lãi suất trên thị trường liên ngân hàng có thời điểm vọt
tới hàng chục phần trăm/năm. Gặp lúc thanh khoản bất ổn, khá nhiều ngân hàng
lâm vào khó khăn và nguy cơ mất ổn định cả hệ thống trở thành hiện thực…
• Năm 2010:
Có những ngân hàng thương mại do huy động vốn trên thị trường 1 bị hạn
chế đã sử dụng nguồn vốn huy động trên thị trường 2 cho vay thị trường 1,
tạo ra những rủi ro tiềm ẩn cho cả hệ thống. Đáng chê trách hơn, có những
“ông chủ” cùng một lúc nắm mấy ngân hàng đã tiến hành giao dịch “đan
chéo” lẫn nhau trên thị trường liên ngân hàng, gây nên tình trạng lộn xộn.
• Năm 2011:
– Vay mượn trên liên ngân hàng căng thẳng
Việc vay mượn trên thị trường này, từ đầu năm nay đã không dễ dàng gì, lại
càng khó khăn từ hơn một tháng trở lại đây. Một số ngân hàng quốc doanh,
trong đó có Vietcombank, trong thời gian qua đã đòi hỏi ngân hàng nhỏ phải có
tài sản thế chấp cho các khoản vay mượn. Điều này đã khiến các ngân hàng vốn
đang thiếu thanh khoản, lại càng thêm khốn đốn. Không muốn phải thế chấp tài
sản, một số ngân hàng phải chạy đi tìm vay ở ngân hàng khác. Đó là lý do lãi
suất liên ngân hàng đã từng tăng lên đến 40%/năm kỳ hạn một tháng trong thời
điểm tuần cuối tháng 10 vừa qua.
Việc tăng cường đòi hỏi điều kiện đi kèm theo việc cho vay vốn không chỉ đẩy
lãi suất liên ngân hàng lên cao, mà còn khiến các ngân hàng co mình lại, giảm
cho vay trên thị trường này, hoặc cho vay và đòi hỏi lãi suất cao ngất. Theo tổng
giám đốc một ngân hàng TMCP hàng đầu, nếu đã trong hệ thống ngân hàng mà
không tin nhau, đối xử với ngân hàng đi vay như quan hệ tín dụng với một
doanh nghiệp, thì những ngân hàng khác càng thủ thế lo cho phận mình, chợ liên
ngân hàng càng vắng vẻ. Không những vậy, vay mượn ngoại tệ trên thị trường
này gần như đóng cửa từ giữa tuần trước, nhất là từ sau nghị định 95 ban hành
ngày 20.10, về chỉnh sửa và bổ sung các xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Giám đốc phụ trách khối ngoại hối của một
ngân hàng lớn cho biết, hầu hết các ngân hàng rút về tự lo cho nhu cầu USD cho
doanh nghiệp ở ngân hàng mình. “Một ngân hàng muốn vay mượn USD, ngày
trước “la” lên giữa chợ liên ngân hàng là có đáp ứng. Còn nay, họ phải đi lòng
vòng từng ngân hàng để hỏi mượn. Tỷ giá liên ngân hàng gần như không tồn tại
nữa, vì không đúng với thực trạng toàn hệ thống”, ông cho hay.
– Thiếu thanh khoản kéo dài
Ngân hàng lớn như BIDV, VietinBank và Agribank đã trở lại tăng cường hỗ
trợ vốn trên liên ngân hàng, cởi bỏ cơ chế thế chấp, thị trường liên ngân hàng
dần ổn định trở lại.
Song ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) vẫn duy trì cơ chế cho
vay phải thế chấp. Trên tờ VnEconomy ngày 3.11, đại diện Vietcombank cho
rằng, thông lệ thị trường đồng thời cũng như thực tế giao dịch tại Vietcombank,
nghiệp vụ này được tiến hành theo hai hình thức, là cho vay theo hạn mức tín
chấp và cho vay có tài sản đảm bảo. Tuy nhiên, theo giới tài chính và các
chuyên gia, thông lệ quốc tế và lâu nay tại Việt Nam không có quy định đòi hỏi
có thế chấp trên liên ngân hàng.
Lý do xuất hiện đòi hỏi này, là trước đây thị trường liên ngân hàng chỉ là nơi
giải quyết những thanh khoản ngắn hạn như qua đêm, 1 tuần, nửa tháng, tối đa
là 1 – 2 tháng. Nhưng một vài năm gần đây đã biến tướng, có những khoản vay
cả năm trời. Điều này không những cho thấy có thiếu hụt thanh khoản kéo dài
trong hệ thống, mà còn khiến tiền nằm trong hệ thống ngân hàng mà không đi ra
nền kinh tế phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh.
Tổng giám đốc một ngân hàng cho hay, từ lâu trên thị trường liên ngân hàng
không còn quan hệ vay mượn, mà là gởi tiền qua liên ngân hàng. Theo đó,
những khoản tiền hàng ngàn tỉ đồng được ngân hàng lớn gởi lấy lãi suất cao ở
ngân hàng nhỏ.
1.2 Đánh giá:
Những tháng đầu năm 2008, trên thị trường tiền tệ các ngân hàng đua nhau
tăng lãi suất huy động vốn, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng trong thời gian
này có thời điểm lên đến 35-40%/năm, nếu tình trạng này cứ tiếp tục kéo dài khả
năng đổ vỡ hệ thống ngân hàng có thể xảy ra. Nhờ các biện pháp chính sách tiền
tệ, đầu năm 2009 lãi suất huy động đã bắt đầu giảm xuống ở mức khá ổn định
đến tận quý III/2010, sau đó lãi suất huy động lại tăng cao trở lại, phần lớn các
NHTM tăng lãi suất huy động lên mức 12%/năm. Tuy nhiên, một số ngân hàng
khát vốn nhiều tháng đã âm thầm tăng lãi suất huy động với khá nhiều hình
thức. Ngày 14/12/2010, Hiệp hội ngân hàng tiếp tục đưa ra một lãi suất đồng
thuận, theo đó biên độ lãi suất huy động được nâng lên là 14% kể cả các hình
thức khuyến mãi.
Nguyên nhân là do (i) lạm phát gia tăng cùng với chính sách tiền tệ thắt chặt và
nhu cầu tăng trưởng tín dụng lớn đẩy mặt bằng lãi suất lên cao; (ii) gia tăng mực
độ giành giật thị phần của các TCTD bằng hình thức cạnh tranh lãi suất làm méo
mó giá cả của tiền tệ, lãi suất kỳ hạn ngắn cao hơn lãi suất kỳ hạn dài trong bối
cảnh áp lực lạm phát cao.
Đồ thị:Diễn biến lãi suất huy động và cho vay bằng VND từ năm 2007-3/2011
Nguồn: Tổng hợp và tính toán của Viện Chiến lược ngân hàng
2. Thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạc
Theo thông tư 19/2004/TT-BTC ngày 18/03/2004 của Bộ Tài chính, hiện
nay có hai loại trái phiếu đang được đấu thầu tại Ngân hàng Nhà nước là: Tín
phiếu Kho bạc Nhà nước và Trái phiếu Chính phủ bằng ngoại tệ (trái phiếu
ngoại tệ).
Thành viên thị trường: Trước đây, số đơn vị được NHNN công nhận
thành viên thị trường đấu thầu Trái phiếu kho bạc là 47 thành viên. Tuy nhiên
trong quá trình tham gia, có một số thành viên đã không tham dự một phiếu thầu
nào. Sau khi áp dụng Quy chế đấu thầu Trái phiếu chính phủ (TPCP) theo Quyết
định 935/2004/QĐ-NHNN ngày 23/07/2004 và triển khai chưong trình đấu thầu
TPCP qua mạng, NHNN xem xét và công nhận tổng số thành viên thị trường
đấu thầu TPCP đến nay là 20 thành viên.
Kỳ hạn tín phiếu Kho bạc đến nay đã đa dạng hơn trước, gồm 364 ngày,
273 ngày và 182 ngày. Bên cạnh các NHTM nhà nước, các NHTM cổ phần,
ngân hàng liên doanh và các chi nhánh ngân hàng nướcngoài cũng đã từng bước
trở thành thành viên tham gia thị trường.
2.1 Tình hình:
Tính chung từ năm 2000 đến nay, với vai trò là đại lý phát hành trái phiếu
Chính phủ (TPCP), NHNN đã huy động được 146.342 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ
36%/tổng khối lượng phát hành TPCP nói chung. Đây là một tỷ lệ khá cao so
với các loại TPCP có kỳ hạn khác. Chẳng hạn như TPCP loại kỳ hạn 2 năm có
tỷ lệ là 15,2%, TPCP kỳ hạn 5 năm là 28%… Tuy nhiên, thời gian qua, nhất là
thời điểm từ năm 2010 trở lại đây, khối lượng trúng thầu tín
phiếu giảm dần, thậm chí, có phiên không có thành viên nào tham gia. Mặc dù,
Kho bạc Nhà nước và NHNN đã có nhiều cố gắng, lãi suất chào ở mức cao
nhưng dường như thị trường vẫn quá “yên ắng”, lượng tiền thu về qua kênh này
vẫn quá khiêm tốn so với lượng tiền thu được từ các kênh huy động vốn
khác.
Nếu chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2011, Sở Giao dịch NHNN phối hợp
với Kho bạc Nhà nước (KBNN) đã tổ chức được 21 phiên, kỳ hạn phát hành là
364 ngày nhưng số tiền huy động chỉ là 2.150 tỷ đồng. Đây là một kết quả rất
thấp với các năm trước đây. Cụ thể, năm 2010 huy động được 8.350 tỷ đồng,
năm 2009 là 10.714 tỷ đồng và năm 2008 là 20.730 tỷ đồng.
Trong tổng số hơn hai chục phiên đấu thầu vừa qua thì có đến 16/21
phiên không có khối lượng trúng thầu. Điều đáng nói nữa là, ngoài việc khối
lượng trúng thầu khá khiêm tốn thì số lượng thành viên tham gia cũng rất ít,
trung bình chỉ có từ 1 đến 2 thành viên tham gia/phiên và thường tập trung vào
một vài thành viên. Cá biệt, có những phiên không có thành viên tham gia dự
thầu.
Nguyên nhân ảnh hưởng tới kết quả các phiên đấu thầu giai đoạn này là do
tình hình kinh tế trong nước và kinh tế trên thế giới có chiều hướng không thuận lợi
cùng với cơ cấu danh mục đầu tư chưa huận lợi để nhà đầu tư tham gia đối với loại
công cụ Nợ ngắn hạn của Chính phủ. Nhưng nguyên nhân chính mà nhà đầu tư chưa
“mặn mà” với tín phiếu lại nằm ở chính nội tại của cơ chế tổ chức phát hành và “sân
chơi” thứ cấp của loại giấy tờ có giá này. Theo đánh giá của Bộ Tài chính, công tác phát
hành tín phiếu qua NHNN thời gian qua phát sinh một số bất cập, đó là:
– Thành viên đấu thầu tín phiếu chỉ bao gồm các tổ chức tín dụng
(TCTD) có tài khoản tiền gửi thanh toán tại NHNN (Sở Giao dịch). Hiện nay,
rong tổng số 57 thành viên đấu thầu tín phiếu thì có tới 40 thành viên là các TCTD, có
14 thành viên là chi nhánh ngân hàng nước ngoài và có 3 thành viên là các công
ty tài chính. Sở dĩ thành viên của nghiệp vụ này chủ yếu là các TCTD, vì tín phiếu phát
hành dưới hình thức ghi sổ, người mua phải mở tài khoản chứng khoán và tài khoản
tiền gửi tại NHNN để thực hiện các giao dịch thanh toán tiền và tín phiếu theo kết quả
trúng thầu. Mọi khoản lãi, gốc được thanh toán trực tiếp vào tài khoản tiền chỉ định
của người mua. Trong khi đó, việc mở tài khoản thanh toán tại NHNN mới chỉ áp
dụng cho các TCTD là thành viên của hệ thống thanh toán, chưa áp dụng cho các đối
tượng là công ty chứng khoán, các quỹ đầu tư. Do vậy, phần nào đã hạn chế sự
tham gia của các thành viên đấu thầu có nhu cầu không phải là các TCTD. Đặc biệt,
việc các
công ty bảo hiểm, tổ chức bảo hiểm chưa tham gia đấu thầu tín phiếu cũng tạo nên tình
trạng lãng phí vốn hay quan hệ tiền gửi không kỳ hạn trực tiếp với các TCTD như hiện
nay.
– Hiện nay, chưa có một danh sách thành viên thống nhất đối với thị trường TPCP
nói chung (bao gồm cả TPCP, TPCP bảo lãnh, tín phiếu) nên khi muốn tham gia đấu
thầu loại trái phiếu nào thì nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục gia nhập thành viên tại đơn
vị tổ chức đầu thầu như tại Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội có một danh sách
thành viên riêng, Sở Giao dịch NHNN có một danh sách thành viên riêng… Do đó,
nhiều khi phát sinh tình trạng một nhà đầu tư có tư cách thành viên ở hai nơi hoặc có
thể là thành viên ở danh sách này nhưng lại không là thành viên ở danh sách kia, cho
dù cung đầu tư một loại giấy tờ có giá là TPCP.
– Số lượng nhà đầu tư đã được công nhận là thành viên tham gia đấu thầu tín
– Việc đầu tư vào tín phiếu của các thành viên chủ yếu nhằm mục đích dự
phòng an toàn về khả năng thanh toán vào giai đoạn nhạy cảm (Tết
dương lịch và tết âm lịch) qua giao dịch nghiệp vụ thị trường mở với NHNN
(OMO). Việc giao dịch mua/bán các loại giấy tờ có giá giữa các TCTD trên thị
trường liên ngân hàng với nhau chưa được thực hiện; phần vì do cơ sở hạ tầng
(công nghệ, pháp lý) của thị trường thứ cấp chưa phát triển, phần vì do chưa có
hướng dẫn chi tiết.
– Quy trình phát hành tín phiếu thời gian qua cũng bộc lộ bất cập,
chưa khoa học và thiếu lịch biểu cụ thể để nhà đầu tư biết và có kế hoạch chủ
động tham gia khi có nhu cầu. Mặt khác, thời gian qua, chưa tổ chức hình
thức đấu thầu kết hợp cả cạnh tranh và không canh tranh lãi suất trong một
phiên đấu thầu mặc d
đã có quy định về vấn đề này (Quy chế số
935/2004/QĐ-NHNN ngày 23/7/2004 của NHNN về đấu thầu tín phiếu kho bạc,
trái phiếu ngoại tệ qua NHNN).
– Công tác lưu ký và chuyển nhượng tín phiếu cũng là một vấn đề cần
phải tháo gỡ. Hiện nay, tín phiếu phát hành qua NHNN chỉ thực hiện lưu ký tại
Sở Giao dịch NHNN mà chưa được lưu ký và chuyển nhượng nên trái chủ chỉ
có thể tham gia các giao dịch thị trường tiền tệ với NHNN (OMO, tái cấp vốn,
thấu chi và cho vay qua đêm…). Nói cách khác, do hạn chế trong việc lưu ký nên
việc chuyển nhượng giữa các nhà đầu tư tín phiếu tại Việt Nam vẫn chưa thể
thực hiện được như thông lệ tại các nước trên thế giới.
Điều này đã dẫn tới tình trạng thị trường thứ cấp tín phiếu chưa phát triển, tính
thanh khoản bị hạn chế. Đây cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng
rất lớn tới sự phát triển của thị trường thứ cấp tín phiếu.
3. Thị trường mở:
+ Về thành viên:
Từ 2007 – 2011, tổng số lượt thành viên tham gia các phiên nghiệp vụ TTM
đạt 16.924 lượt và số thành viên tham gia tăng mạnh qua từng năm (năm 2008 là
3.208; năm 2009 là 3.121; năm 2010 là 6.106; 9 tháng đầu năm 2011 là 3.906).
Trong các phiên giao dịch, bên cạnh các thành viên là NHTM Nhà nước thì số
thành viên là các NHTM cổ phần và ngân hàng liên doanh, ngân hàng nước
ngoài tăng mạnh. Từ năm 2010 đến nay còn có sự tham gia của các thành viên
thuộc khối ngân hàng liên doanh, ngân hàng nước ngoài. Khối lượng GTCG của
các thành viên trong mỗi phiên giao dịch ngày càng đa dạng.
+ Về khối luợng giao dịch: Đây là thời kì nền kinh tế trong nước chịu nhiều
tác động tiêu cực bởi sự bất ổn tài chính của các nước trên thế giới và vấn đề nợ
công của khu vực Châu Âu. Đặc biệt là thời điểm những tháng cuối năm 2008
đầu năm 2009, các ngân hàng gặp khó khăn về thanh khoản, khi đó, NHNN kịp
thời can thiệp thông qua ngjiệp vụ TTM bằng việc tăng lượng cung tiền và áp
dụng phương pháp đấu thầu khối lượng, dường như ngay lập tức thì, lãi suất liên
ngân hàng giảm quanh mức 20%/năm.
Năm 2008, NVTTM đảo chiều so với năm 2007 với tổng số phiên giaodịch
là 402 phiên, tăng 47 phiên so với năm 2007; doanh số giao dịch đạt1.036.066 tỷ
đồng, tăng 148% so với năm 2007, trong đó doanh số muachiếm 91,42% và gấp
15 lần so với năm 2007, doanh số bán giảm 4,6%. Đặc biệt, mức lãi suất đặt
thầu trong một số phiên mua kỳ hạn trong quý I/2008 ở mức rất cao, có lúc lên
tới 40%/năm vì vậy NHNNVN đã áp dụng phươngthức đấu thầu khối lượng, lãi
suất thống nhất cho tất cả các kỳ hạn giao dịch(từ 9-15%/năm) để ổn định lãi
suất thị trường. Diễn biến này phản ánh những biến động bất thường của thị
trường tiền tệ năm 2008 và khó khăn về thanh khoản của các TCTD.
Năm 2011 Ngày 4/5 ngân hàng Nhà nước đã nâng lãi thị trường mở lên
14%/năm, từ mức 13%/năm trước đó. Đây là lần thứ 7 ngân hàng Nhà nước điều
chỉnh lãi suất trên thị trường mở (OMO) kể từ tháng 1/2010. Lần tăng lãi suất thị
trường mở gần đây nhất là vào 1/4, từ 12% lên 13%, cùng với quyết định tăng
lãi suất tái cấp vốn.Ngày 4/5, trong hai phiên buổi sáng và buổi chiều, NHNN đã
bơm ra lần lượt 38.000 tỷ đồng và 7.077 tỷ đồng trên OMO và hút về 33.019 tỷ
đồng. Như vậy, NHNN đã bơm ròng 12.058 tỷ đồng trên OMO trong ngày 4/5.
III. HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ Ở
VIỆT NAM (2007 -2011)
+ 5 ngân hàng thương mại Nhà nước là những ngân hàng lớn nhất, chiếm tới
trên 70% thị trường tín dụng của Việt Nam với hệ thống chi nhánh hoạt động
trên toàn bộ phạm vi lãnh thổ, nhưng lại hạch toán phụ thuộc với nhau nên việc
mua bán vốn dù có diễn ra cũng không có ý nghĩa. Trái lại, khối các ngân hàng
thương mại cổ phần và các ngân hàng liên doanh, chi nhánh các ngân hàng
nước ngoài lại chỉ có quy mô và thị phần rất nhỏ (trên dưới 25%). Tính chất
“địa hạt” được thể hiện rất rõ rệt, hoạt động mua bán vốn mới chỉ thực hiện
giữa các tổ chức tín dụng trong nước, (trừ trường hợp một vài ngân hàng như
Standard Chater Bank và Citybank có một vài món cho vay thông qua ngân
hàng Việt Nam trong thời gian gần đây), đặc biệt là chưa có sự mua bán vốn
với các tổ chức tín dụng của các nước khác trong khu vực và quốc tế. Do vậy,
hoạt động của thị trường tiền tệ liên ngân hàng không thể tránh khỏi tính chất
“chợ phiên” và “buồn tẻ”.
+ Công cụ hoạt động trên thị trường liên ngân hàng còn nghèo nàn cả về
chủng loại và thời hạn, mới chỉ giải quyết được phần nào yêu cầu về khả năng
thanh toán nhanh mà chưa đáp ứng được nhu cầu về nguồn và sử dụng vốn nói
chung của các tổ chức tín dụng. Các giao dịch trên thị trường liên ngân hàng
vẫn phổ biến dưới hình thức tín chấp hoặc bằng tiền gửi đối ứng tại ngân hàng
cho vay. Vì vậy, mà phạm vi hoạt động của thị trường liên ngân hàng chủ yếu
tập trung giữa những ngân hàng thương mại có uy tín và quan hệ thường xuyên
với nhau trong các nhóm liên minh.
+ Cho đến nay, vẫn chưa có một cơ quan chức năng nào của Nhà nước hay
Ngân hàng Nhà nước chịu trách nhiệm là người tổ chức, vận hành và quản lý
thị trường liên ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước chưa phát huy được vai trò là
người tổ chức, điều hành hoạt động thị trường liên ngân hàng, chưa kiểm soát
được các giao dịch và can thiệp kịp thời trong mọi tình huống, do vậy, sự phát
triển của thị trường hoàn toàn mang tính tự phát mà chưa có một định hướng
chiến lược cơ bản. Hệ thống thông tin chưa được hoàn thiện, thiếu thông tin và
thông tin không chính xác là một trong những cản trở khả năng điều tiết thị
trường của Ngân hàng Nhà nước.
+ Hệ thống thanh toán trong nội bộ từng ngân hàng và hệ thống thanh toán
liên ngân hàng dù đang được hiện đại hoá, song vẫn trong tình trạng manh mún
phân tán riêng rẽ trong mỗi ngân hàng hoặc từng nhóm nhỏ mà vẫn chưa “hoà
mạng” thống nhất, thậm chí chưa liên kết thống nhất giữa các trung tâm trong
nước. Điều này cũng là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng phân
đoạn thị trường và khả năng điều chuyển vốn giữa các tổ chức tín dụng kém
hiệu quả
+ Số thành viên tham gia vào thị trường mở tuy có xu hướngtăng qua các
năm nhưng vẫn chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số các Ngân hàng thương mại trên
thị trường tài chính và chủ yếu là các Ngân hàng thương mại có quy mô nhỏ đa
số vẫncòn đứng ngoài cuộc đã hạn chế hiệu quả điều tiết thị trường của nghiệp
vụ này.
+ Hàng hóa tham gia thị trường mở còn nghèo nàn về chủng loại,các công
cụ tài chính chủ yếu giao dịch trên thị trường mở bao gồm các loạigiấy tờ có giá
phát hành bằng đồng Việt Nam như: tín phiếu Ngân hàng nhà nước, trái phiếu
Chính phủ (trái phiếu kho bạc, tín phiếu kho bạc, trái phiếu công trình trung
ương, trái phiếu đầu tư do Quỹ hỗ trợ phát hành công trái) và trái phiếu chính
quyền địa phương do UBND thành phố HCM và UBND thành phố Hà Nội phát
hành. Trong khi đó, Ngân hàng nhà nước các nước trên thế giới sử dụng
nhiềuloại giấy tờ có giá khác nhau để giao dịch trên thị trường mở như: trái
phiếu,tín phiếu kho bạc, tín phiếu của Ngân hàng nhà nước, chứng chỉ tiền gửi,
thương phiếu, hối phiếu của các ngân hàng, hợp đồng mua lại (Repo) – các loại
giấy tờ này có tính thanh khoản cao và dễ trao đổi trên thị trường nên dễ được
các bên chấp nhận trong giao dịch.
+ Phương thức giao dịch còn đơn điệu. Chỉ áp dụng mua bán hẳn với Tín
phiếu NHTW, mua bán kì hạn với tín phiếu Kho bạc NN.
+ Việc điều tiết lượng tiền trên thị trường mở còn thực hiện một chiều, chủ
yếu là dùng là kênh bơm tiền đáp ứng nhu cầu thiếu hụt vốn khảdụng của các
Ngân hàng thương mại mà chưa thực hiện tốt chức năng của nghiệp vụ này là sử
dụng như một kênh thu hút tiền nhà rỗi của các Ngân hàng thương mại nhằm
trung hoà nguồn vốn được bơm quá nhiều qua kênh khác. Hơn nữa, hình thức
đấu thầu khối lượng cũng khiến cho các ngân hàng nhỏ, nắm giữ ít giấy tờ có
giákhông cạnh tranh được về khối lượng đặt thầu với các ngân hàng lớn nên chỉ
trúng thầu với khối lượng ít và phải vay lại của các ngân hàng lớn với lãi suất
cao hơn.
+ Việc dự đoán chính xác sự biến động hàng ngày của cung- cầu vốn khả
dụng còn gặp những khó khăn nhất định, ảnh hưởng đến mức độchính xác
của dự báo,đặc biệt là chế độ thông tin phục vụ cho công tác dự đoán, từ đó
đã hạn chế đến chất lượng của việc dự đoán vốn khả dụng.
+ Số lượng thành viên tham gia trên thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạc
vẫn còn hạn hẹp, thành viên chủ yếu vẫn là các NHTM.
+ Lãi suất trên thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc vẫn còn nhiều bất cập.
Hiện nay, lãi suất áp dụng lãi suất chỉ đạo trong đấu thầu tín phiếu Kho bạc
nên lãi suất trúng thầu chưa hình thành theo các nguyên tắc thị trường.
+ Hệ thống cơ sở hạ tầng còn nhiều hạn chế nhất định.
Phần 3. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ VIỆT NAM
(2007 – 2011)
1. Định hướng phát triển thị trường tiền tệ Việt Nam
+ Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý cho sự phát triển của thị trường tiền
tệ.
+ Thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao vai trò điều tiết, hướng dẫn thị
trường của NHNN
+ Tăng cường năng lực quản lý và sử dụng vốn, năng lực kinh doanh của
các tổ chức tín dụng – các thành viên chủ yếu của thị trường.
2. Giải pháp phát triển các bộ phận cấu thành thị trường tiền tệ Việt
Nam
2.1 Giải pháp hoàn thiện và phát triển thị trường tiền tệ liên ngân
hàng:
+ Tổ chức lại các ngân hàng thương mại Nhà nước. Trước hết, thay đổi cơ
chế tài chính trong các ngân hàng này theo hướng hạch toán độc lập giữa các chi
nhánh với nhau và với Hội sở chính. Tiếp theo đó, tiến hành cổ phần hoá các
ngân hàng thương mại Nhà nước. Với giải pháp này thì số lượng các chủ thể
tham gia trên thị trường sẽ không chỉ tăng lên về mặt số lượng mà còn khẳng
định ý nghĩa thực sự của các giao dịch. Sau khi các chi nhánh của các ngân hàng
thương mại được hạch toán kinh doanh độc lập, sẽ không còn trông chờ vào
nguồn vốn điều chuyển từ Hội sở chính mà sẽ mua bán với bất cứ chủ thể nào có
lợi nhất. Như vậy, mỗi địa phương (tỉnh hoặc thành phố) sẽ trở thành những
trung tâm mua bán vốn của những chi nhánh của các ngân hàng thương mại Nhà
nước khác nhau với nhau.
+ Đa dạng và chuẩn hoá các công cụ trên thị trường. Bên cạnh những
công cụ sẵn có, cần được chuẩn hoá theo những khuôn khổ pháp lý thống nhất,
cần sớm đưa vào thị trường các công cụ giao dịch khác như các công cụ chứng
khoán phái sinh, các loại thương phiếu, các bảo lãnh của ngân hàng (bank
acceptances), kỳ phiếu ngân hàng, v.v… Những công cụ này không chỉ góp
phần đa dạng hoá dịch vụ ngân hàng – tài chính mà còn tạo điều kiện cho các
chủ thể tham gia có cơ hội lựa chọn nhằm đáp ứng cao nhất nhu cầu về nguồn và
sử dụng nguồn khi tham gia thị trường.
+ Khuyến khích các tổ chức tín dụng Việt Nam tham gia vào hoạt động
thị trường tiền tệ trong khu vực và trên thế giới, trước hết là thị trường
Hongkong và Singapore. Hiện nay, mới chỉ có Ngân hàng Ngoại thương Việt
Nam thực hiện được hoạt động này và đạt được một thành công góp phần sử
dụng nguồn vốn một cách có hiệu quả, nhất là nguồn tiết kiệm ngoại tệ huy
động từ trong nước. Để thúc đẩy các tổ chức tín dụng tham gia hoạt động thị
trường tiền tệ quốc tế, Ngân nhà Nhà nước cũng cần thay đổi một số những quy
định pháp lý về quản lý ngoại hối và sự di chuyển của những luồng vốn. Song,
quan trọng hơn, các tổ chức tín dụng vẫn phải tích cực và chủ động trong việc
vươn ra thị trường nước ngoài, tranh thủ sự cộng tác với các ngân hàng có uy tín
của nước ngoài thông qua những quan hệ như là quan hệ ngân hàng đại lý, uỷ
thác, trung gian giải ngân.
+ Nâng cao trình độ công nghệ của ngân hàng thương mại và các tổ
chức tín dụng trong nước. Chất lượng hoạt động của các ngân hàng thương mại
là điều kiện nhằm đem lại sự ổn định cho thị trường. Các ngân hàng cần có hệ
thống thông tin với khả năng thu thập và xử lý và cung cấp thông tin hiệu quả
cho hoạt động quản lý nguồn vốn, chất lượng sử dụng vốn và dự báo chính xác
diễn biến của thị trường. Trên thực tế, để thực hiện được các nghiệp vụ phái sinh
nhằm hạn chế rủi ro và lợi ích của ngân hàng cũng như tham gia các hoạt động
khác của thị trường tiền tệ là rất phức tạp, đòi hỏi các ngân hàng phải không
ngừng đổi mới công nghệ, hiện đại hoá hệ thống thanh toán mà còn phải đào tạo
đội ngũ nhân lực và học tập những bài học kinh nghiệm của các ngân hàng hiện
đại trên thế giới.
+ Nâng cao năng lực tổ chức, điều hành thị trường liên ngân hàng của
Ngân hàng Nhà nước. Cần sớm thành lập Vụ Thị trường Tiền tệ trực tiếp thực
hiện tổ chức, quản lý, điều hành thị trường liên ngân hàng. Đổi mới cơ chế hoạt
động của Ngân hàng Nhà nước trên thị trường tiền tệ sao cho Ngân hàng Nhà
nước trở thành là ngân hàng bán buôn lớn nhất trên thị trường tiền tệ.
Ngân hàng Nhà nước cần sớm xây dựng quy chế hoạt động đối với các thành
viên tham gia hoạt động thị trường liên ngân hàng phù hợp với thông lệ quốc tế,
nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của thị trường. Thiết lập quy chế về
thông tin: cơ quan kiểm duyệt thông tin, đội ngũ cán bộ xử lý, cung cấp thông
tin phù hợp, cơ chế phối hợp thông tin với các cơ quan chức năng, v.v…. nhằm
tránh tình trạng chồng chéo thông tin, bóp méo thông tin.
Đầu tư cho các điều kiện về cơ sở vật chất và kỹ thuật đáp ứng yêu cầu
tổng hợp, cập nhật thông tin, dự báo diễn biến thị trường, vốn khả dụng, trình độ
quản trị kinh doanh, rủi ro, khả năng quản lý vốn khả dụng của Ngân hàng Nhà
nước từng bước gắn kết thị trường tiền tệ trong nước với thị trường tài chính
quốc tế. Bên cạnh đó, thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao năng lực cán bộ về kỹ
thuật xử lý giao dịch phát sinh trên thị trường, các kỹ thuật vận hành hệ thống
thanh toán điện tử liên ngân hàng.
+ Hoàn thiện cơ chế xác định lãi suất của thị trường. Lãi suất – giá
bao giờ cũng là yếu tố quan trọng nhất đối với bất kỳ thị trường nào. Ngân hàng
Nhà nước cần sớm ban hành và tổ chức thực hiện cơ chế xác định giá theo
hướng khớp lệnh hoặc đấu giá, trước hết tại các trung tâm tài chính lớn như Hà
Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh. Lãi suất được xác định ở những trung
tâm này sẽ làm cơ sở tham chiếu cho các địa phương còn lại trong cả nước.
Đồng thời, các tổ chức tín dụng sẽ căn cứ vào lãi suất nói trên để xác định lãi
suất của thị trường bán lẻ – huy động hoặc cho vay vốn đối với nền kinh tế. Nói
cách khác, các tổ chức tín dụng có thể chủ động thoả thuận lãi suất với các đối
tượng khách hàng mà không phải mò mẫm hay bám dựa vào lãi suất “chỉ đạo”
của Ngân hàng Nhà nước hay lãi suất của thị trường tiền tệ nước ngoài SIBOR
hay LIBOR, v.v… Mặt khác, việc hình thành lãi suất như trên sẽ tạo điều kiện
gắn kết thị trường tiền tệ trong nước với thị trường các nước trong khu vực và
quốc tế, góp phần cho các tổ chức tín dụng chủ động tham gia hoạt động trên thị
trường và với các ngân hàng nước ngoài.
+ Thống nhất thị trường liên ngân hàng. Thị trường liên ngân hàng hiện
nay gồm có thị trường nội tệ liên ngân hàng và thị trường ngoại tệ liên ngân
hàng. Sự phân tách thị trường đã tạo ra những bất cập trong việc quản lý dòng
vốn. Ngoài ra, trong điều kiện hệ thống thông tin chưa hoàn chỉnh, dẫn đến việc
truyền tải và quản lý thông tin thiếu chính xác. Điều này gây khó khăn khi thị
trường mở rộng quy mô. Do vậy, cần thống nhất thị trường liên ngân hàng và có
quy chế hoạt động phù hợp.
2.2 Giải pháp hoàn thiện và phát triển thị trường đấu thầu trái phiếu
Kho bạc.
+ Cần có cơ chế để các NHTM cổ phần và Ngân hàng khác có quy mô
nhỏ hơn có thể trúng thầu tín phiếu trên thị trường này. Đặc biệt là Bộ Tài chính
cần có biện pháp đưa các Công ty bảo hiểm, tổ chức bảo hiểm tham gia đấu thầu
tín phiếu, không nên để tình trạng lãng phí vốn hay quan hệ tiền gửi không kỳ
hạn trực tiếp với các TCTD như hiện nay.
+ Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính phối hợp tăng khối lượng tín
phiếu Kho bạc Nhà nước đấu thầu hàng quý, hàng năm. Có thể tăng tần suất các
phiên đấu thầu từ 1 phiên/1tuần hiện nay lên 2 phiên/tuần. Linh hoạt hơn nữa lãi
suất đấu thầu qua các phiên theo sát diễn biến trên thị trường. Thời hạn tín phiếu
cũng có thể đa dạng hơn, như kỳ hạn 60 ngày, 90 ngày… thay cho chỉ có loại
360 ngày như hiện nay
+ Lãi suất tín phiếu Kho bạc cần đựoc tự do, hình thành trên quan hệ
cung-cầu. Xây dựng đường cong lãi suát chuẩn.
+ Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của thị trường đấu thầu tín
phiếu kho bạc.
+ Nâng cao vai trò của ngân hàng thương mại trên thị trường tiền tệ như
là những người tạo lập thị trường.
+ Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng nhằm phục vụ cho các giao dịch và
thu thập xử lý thông tin của thị trường.
+ Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, đào tạo cán bộ phục vụ cho
hoạt động của thị trường.
+ Xây dựng hệ thống các nhà kinh doanh trái phiếu, tín phiếu kho bạc có
vốn tự có lớn.
+ Phát triển các nhà đầu tư có tổ chức và lôi cuốn các nhà đầu tư nước
ngoài vào kinh doanh trái phiếu.
2.3 Giải pháp phát triển hoạt động thị trường mở.
+ Cần rà soát lại cơ sở pháp lý để điều chỉnh theo hướng thu hút thành
viên.
+ Đa dạng hoá trên thị trường mở.
+ Hoàn thiện các quy định lưu ký giấy tờ có giá tại NHNN và xây dựng
thị trường mở thực sự là một kênh đầu tư hấp dẫn.
+ Cải tiến, nâng cấp hạ tầng cho thị trường mở.
+ Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến thông tin để thu hút thêm
các tổ chức tín dụng tham gia thị trường mở.
+ Nâng cao năng lực cán bộ xây dựng và điều hành nghiệp vụ thị trường
mở.
III.KẾT THÚC VẤN ĐỀ
Bước sang năm 2012, cuộc khủng hoảng tài chính thế giới tiếp tục có
những tác động bất lợi và nền kinh tế thế giới chưa thể nhanh chóng phục
hồi. Diễn biến này sẽ tiếp tục tác động bất lợi đến nền kinh tế trong nước và
hoạt động của thị trường tiền tệ nước ta. Thị trường tiền tệ nước ta từ khi
hình thành cho đến nay cũng trải qua những bước thăng trầm của nó. Sự ổn
định và phát triển của thị trường tiền tệ góp phần vào sự ổn định và phát triển
của nền kinh tế. Xuất phát từ vai trò của thị trường tiền tệ đối với nền kinh tế,
cũng như những tác động của thị trường tiền tệ Việt Nam trong thời gian gần
đây, nhóm nghiên cứu đã tiến hành tìm hiểu hoạt động của thị trường tiền tệ
Việt Nam từ năm 2007 tới năm 2011.
Sau khi tìm hiểu về thị trường tiền tệ Việt Nam, nhóm đã hoàn thành xong
đề tài của mình. Trên cơ sở vận dụng lý thuyết đã học, sự hướng dẫn của
Giảng viên và kết hợp với kiến thức thực tế, nhóm đã phản ánh được thực
trạng thị trường tiền tệ Việt Nam trong thời gian từ năm 2007 đến năm 2011.
Cụ thể: Đề tài đã phân tích thực trạng qua từng năm, cũng như kết quả đạt
được, những hạn chế, nguyên nhân cho vấn đề trên. Trên cơ sở đó nhóm đã
đưa ra một số giải pháp phù hợp với tham vọng góp phần ổn định và phát
triển thị trường tiền tệ Việt Nam.
Mặc dù nhóm có nhiều cố gắng, nhưng do thời gian và kiến thức có hạn
nên nội dung đề tài không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Rất mong nhận
được sự góp ý của Giảng viên và các bạn học viên để đề tài được hoàn thiện
hơn.
22
Định nghĩa thị trường tiền tệ : + Điều 9 khoản 2 Luật Ngân hàng Nhà nước ( NHNN ) lao lý : “ Thịtrường tiền tệ là thị trường vốn thời gian ngắn, nơi mua, bán những sách vở có giángắn hạn, gồm có tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN, chứng từ tiềngửi và những sách vở có giá ( GTCG ) thời gian ngắn khác. + Từ năm 2004, NHNN được cho phép sử dụng cả GTCG dài hạn trong giaodịch nhiệm vụ thị trường mở. 2. Chức năng của thị trường tiền tệ : + Là “ kênh ” để ngân hàng nhà nước nhà nước Việt Nam thực thi chủ trương tiềntệ vương quốc. + Chuyển vốn trong thời điểm tạm thời rảnh rỗi đến nơi thiếu vốn, có suất sinh lợi cao … 3. Các công cụ thanh toán giao dịch trên thị trường : • Tín phiếu kho bạcGiấy ghi nhận tiền gửi ( CD ) của ngân hàng nhà nước • Thương phiếu4. Hối phiếu được ngân hàng nhà nước chấp nhậnThành viên tham gia thị trường tiền tệ Việt Nam + Ngân hàng Nhà nước + Tổ chức tín dụng thanh toán ( ngân hàng nhà nước thương mại, công ty kinh tế tài chính, công tycho thuê kinh tế tài chính, .. ) + Doanh nghiệp + nhà nước, chính quyền sở tại địa phương + Cá nhân5. Phương thức hoạt động giải trí + Giao dịch trực tiếp hoặc gián tiếp + Phương tiện thanh toán giao dịch : điện thoại cảm ứng, fax, mạng lưới hệ thống thanh toán giao dịch điện tử, 6. Các bộ phận cấu thành thị trường tiền tệ + Thị trường tiền tệ liên ngân hàng nhà nước + Thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc + Thị trường mởPhần 2 : THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ VIỆTNAM 5 NĂM GẦN ĐÂY ( 2007 – 2011 ) I. Các chủ thể tham gia : Cho đến nay lượng thành viên tham gia những nhiệm vụ thị trường tiềntệ vẫn còn hạn hẹp. Mới chỉ có 5 Ngân hàng thương mại Nhà nước ( NHTMNN ), Ngân hàng chính sách xã hội, 37 Ngân hàng thương mạicổ phần, 4 Ngân hàng liên kết kinh doanh, 27 Trụ sở Ngân hàng quốc tế, Quỹ tín dụng TW, 900 Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở, 1 số ít công ty bảohiểm và tái bảo hiểm, Quỹ góp vốn đầu tư … Tuy nhiên tham gia là thành viêncủa thị trường liên ngân hàng nhà nước, thị trường đấu tín phiếu Kho bạc Nhànước, thị trường mở, … thì không phải là những tổ chức triển khai trên, phần đông chỉ cócác NHTMNN, NHTM CP đô thị, ngân hàng nhà nước liên kết kinh doanh, chi nhánhNgân hàng quốc tế, 1 số ít công ty bảo hiểm, … Đặc biệt, trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng nhà nước đã hình thành nhómcác ngân hàng nhà nước thường đáp ứng nguồn tiền VND đa phần là những NHTMNhà nước và ngược lại nhóm những NHTM CP và Trụ sở ngânhàng quốc tế, ngân hàng nhà nước liên kết kinh doanh là những ngân hàng nhà nước thường có nhucầu vay tiền VND. Việc điều chuyển vốn thường chỉ diễn ra một chiềugiữa những ngân hàng nhà nước thường cho vay và nhóm ngân hàng nhà nước thường đi vay. Trên thực tiễn thị trường phần nhiều chưa hình thành những thành viên cótính chuyên nghiệp như những nhà môi giới, những nhà tạo lập thị trường, cáccông ty nhìn nhận xếp loại … Điều này làm hạn chế hạn chế sự phát triểncủa thị trường tiền tệ. II. Các bộ phận cấu thành thị trường tiền tệ : 1. Thị trường liên ngân hàng1. 1 Tình hình : • Năm 2007 : Một số ngân hàng nhà nước quy mô nhỏ, hoặc mới quy đổi quy mô, do sai lầm đáng tiếc từđịnh hướng kinh doanh thương mại nên quá tập trung chuyên sâu vào cho vay với mong ước tạo ra sựđột biến trong tăng trưởng quy mô, hoặc hỗ trợ vốn cho những nghành nghề dịch vụ góp vốn đầu tư mạohiểm. Sự việc thái quá đến mức lãi suất vay trên thị trường liên ngân hàng nhà nước có thời gian vọttới hàng chục Xác Suất / năm. Gặp lúc thanh khoản không ổn định, khá nhiều ngân hànglâm vào khó khăn vất vả và rủi ro tiềm ẩn mất không thay đổi cả mạng lưới hệ thống trở thành hiện thực … • Năm 2010 : Có những ngân hàng nhà nước thương mại do kêu gọi vốn trên thị trường 1 bị hạnchế đã sử dụng nguồn vốn kêu gọi trên thị trường 2 cho vay thị trường 1, tạo ra những rủi ro đáng tiếc tiềm ẩn cho cả mạng lưới hệ thống. Đáng chê trách hơn, có những “ ông chủ ” cùng một lúc nắm mấy ngân hàng nhà nước đã triển khai thanh toán giao dịch “ đanchéo ” lẫn nhau trên thị trường liên ngân hàng nhà nước, gây nên thực trạng lộn xộn. • Năm 2011 : – Vay mượn trên liên ngân hàng nhà nước căng thẳngViệc vay mượn trên thị trường này, từ đầu năm nay đã không thuận tiện gì, lạicàng khó khăn vất vả từ hơn một tháng trở lại đây. Một số ngân hàng nhà nước quốc doanh, trong đó có VCB, trong thời hạn qua đã yên cầu ngân hàng nhà nước nhỏ phải cótài sản thế chấp ngân hàng cho những khoản vay mượn. Điều này đã khiến những ngân hàng nhà nước vốnđang thiếu thanh toán, lại càng thêm khốn đốn. Không muốn phải thế chấp ngân hàng tàisản, một số ít ngân hàng nhà nước phải chạy đi tìm vay ở ngân hàng nhà nước khác. Đó là nguyên do lãisuất liên ngân hàng nhà nước đã từng tăng lên đến 40 % / năm kỳ hạn một tháng trong thờiđiểm tuần cuối tháng 10 vừa mới qua. Việc tăng cường yên cầu điều kiện kèm theo đi kèm theo việc cho vay vốn không chỉ đẩylãi suất liên ngân hàng nhà nước lên cao, mà còn khiến những ngân hàng nhà nước co mình lại, giảmcho vay trên thị trường này, hoặc cho vay và yên cầu lãi suất vay cao ngất. Theo tổnggiám đốc một ngân hàng nhà nước TMCP số 1, nếu đã trong mạng lưới hệ thống ngân hàng nhà nước màkhông tin nhau, đối xử với ngân hàng nhà nước đi vay như quan hệ tín dụng thanh toán với mộtdoanh nghiệp, thì những ngân hàng nhà nước khác càng thủ thế lo cho phận mình, chợ liênngân hàng càng vắng vẻ. Không những vậy, vay mượn ngoại tệ trên thị trườngnày gần như đóng cửa từ giữa tuần trước, nhất là từ sau nghị định 95 ban hànhngày 20.10, về chỉnh sửa và bổ trợ những xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnhvực tiền tệ và hoạt động giải trí ngân hàng nhà nước. Giám đốc đảm nhiệm khối ngoại hối của mộtngân hàng lớn cho biết, hầu hết những ngân hàng nhà nước rút về tự lo cho nhu yếu USD chodoanh nghiệp ở ngân hàng nhà nước mình. ” Một ngân hàng nhà nước muốn vay mượn USD, ngàytrước ” la ” lên giữa chợ liên ngân hàng nhà nước là có cung ứng. Còn nay, họ phải đi lòngvòng từng ngân hàng nhà nước để hỏi mượn. Tỷ giá liên ngân hàng nhà nước gần như không tồn tạinữa, vì không đúng với tình hình toàn mạng lưới hệ thống “, ông cho hay. – Thiếu thanh khoản kéo dàiNgân hàng lớn như Ngân hàng Đầu tư và Phát triển BIDV, VietinBank và Agribank đã trở lại tăng cường hỗtrợ vốn trên liên ngân hàng nhà nước, cởi bỏ chính sách thế chấp ngân hàng, thị trường liên ngân hàngdần không thay đổi trở lại. Song ngân hàng nhà nước Ngoại thương Việt Nam ( VCB ) vẫn duy trì chính sách chovay phải thế chấp ngân hàng. Trên tờ VnEconomy ngày 3.11, đại diện thay mặt Ngân hàng Ngoại thương VCB chorằng, thông lệ thị trường đồng thời cũng như thực tiễn thanh toán giao dịch tại VCB, nhiệm vụ này được thực thi theo hai hình thức, là cho vay theo hạn mức tínchấp và cho vay có gia tài bảo vệ. Tuy nhiên, theo giới kinh tế tài chính và cácchuyên gia, thông lệ quốc tế và lâu nay tại Việt Nam không có lao lý đòi hỏicó thế chấp ngân hàng trên liên ngân hàng nhà nước. Lý do Open yên cầu này, là trước kia thị trường liên ngân hàng nhà nước chỉ là nơigiải quyết những thanh khoản thời gian ngắn như qua đêm, 1 tuần, nửa tháng, tối đalà 1 – 2 tháng. Nhưng một vài năm gần đây đã biến tướng, có những khoản vaycả năm trời. Điều này không những cho thấy có thiếu vắng thanh khoản kéo dàitrong mạng lưới hệ thống, mà còn khiến tiền nằm trong mạng lưới hệ thống ngân hàng nhà nước mà không đi ranền kinh tế tài chính Giao hàng tăng trưởng sản xuất kinh doanh thương mại. Tổng giám đốc một ngân hàng nhà nước cho hay, từ lâu trên thị trường liên ngân hàngkhông còn quan hệ vay mượn, mà là gởi tiền qua liên ngân hàng nhà nước. Theo đó, những khoản tiền hàng ngàn tỉ đồng được ngân hàng nhà nước lớn gởi lấy lãi suất vay cao ởngân hàng nhỏ. 1.2 Đánh giá : Những tháng đầu năm 2008, trên thị trường tiền tệ những ngân hàng nhà nước đua nhautăng lãi suất vay kêu gọi vốn, lãi suất vay trên thị trường liên ngân hàng nhà nước trong thời giannày có thời gian lên đến 35-40 % / năm, nếu thực trạng này cứ liên tục lê dài khảnăng đổ vỡ mạng lưới hệ thống ngân hàng nhà nước hoàn toàn có thể xảy ra. Nhờ những giải pháp chủ trương tiềntệ, đầu năm 2009 lãi suất vay kêu gọi đã khởi đầu giảm xuống ở mức khá ổn địnhđến tận quý III / 2010, sau đó lãi suất vay kêu gọi lại tăng cao trở lại, phần nhiều cácNHTM tăng lãi suất vay kêu gọi lên mức 12 % / năm. Tuy nhiên, một số ít ngân hàngkhát vốn nhiều tháng đã bí mật tăng lãi suất vay kêu gọi với khá nhiều hìnhthức. Ngày 14/12/2010, Thương Hội ngân hàng nhà nước liên tục đưa ra một lãi suất vay đồngthuận, theo đó biên độ lãi suất vay kêu gọi được nâng lên là 14 % kể cả những hìnhthức tặng thêm. Nguyên nhân là do ( i ) lạm phát kinh tế ngày càng tăng cùng với chủ trương tiền tệ thắt chặt vànhu cầu tăng trưởng tín dụng thanh toán lớn đẩy mặt phẳng lãi suất vay lên cao ; ( ii ) ngày càng tăng mựcđộ giành giật thị trường của những TCTD bằng hình thức cạnh tranh đối đầu lãi suất vay làm méomó Chi tiêu của tiền tệ, lãi suất vay kỳ hạn ngắn cao hơn lãi suất vay kỳ hạn dài trong bốicảnh áp lực đè nén lạm phát kinh tế cao. Đồ thị : Diễn biến lãi suất vay kêu gọi và cho vay bằng VND từ năm 2007 – 3/2011 Nguồn : Tổng hợp và giám sát của Viện Chiến lược ngân hàng2. Thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạcTheo thông tư 19/2004 / TT-BTC ngày 18/03/2004 của Bộ Tài chính, hiệnnay có hai loại trái phiếu đang được đấu thầu tại Ngân hàng Nhà nước là : Tínphiếu Kho bạc Nhà nước và Trái phiếu nhà nước bằng ngoại tệ ( trái phiếungoại tệ ). Thành viên thị trường : Trước đây, số đơn vị chức năng được NHNN công nhậnthành viên thị trường đấu thầu Trái phiếu kho bạc là 47 thành viên. Tuy nhiêntrong quy trình tham gia, có một số ít thành viên đã không tham gia một phiếu thầunào. Sau khi vận dụng Quy chế đấu thầu Trái phiếu cơ quan chính phủ ( TPCP ) theo Quyếtđịnh 935 / 2004 / QĐ-NHNN ngày 23/07/2004 và tiến hành chưong trình đấu thầuTPCP qua mạng, NHNN xem xét và công nhận tổng số thành viên thị trườngđấu thầu TPCP đến nay là 20 thành viên. Kỳ hạn tín phiếu Kho bạc đến nay đã phong phú hơn trước, gồm 364 ngày, 273 ngày và 182 ngày. Bên cạnh những NHTM nhà nước, những NHTM CP, ngân hàng nhà nước liên kết kinh doanh và những Trụ sở ngân hàng nhà nước nướcngoài cũng đã từng bướctrở thành thành viên tham gia thị trường. 2.1 Tình hình : Tính chung từ năm 2000 đến nay, với vai trò là đại lý phát hành trái phiếuChính phủ ( TPCP ), NHNN đã kêu gọi được 146.342 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ36 % / tổng khối lượng phát hành TPCP nói chung. Đây là một tỷ suất khá cao sovới những loại TPCP có kỳ hạn khác. Chẳng hạn như TPCP loại kỳ hạn 2 năm cótỷ lệ là 15,2 %, TPCP kỳ hạn 5 năm là 28 % … Tuy nhiên, thời hạn qua, nhất làthời điểm từ năm 2010 trở lại đây, khối lượng trúng thầu tínphiếu giảm dần, thậm chí còn, có phiên không có thành viên nào tham gia. Mặc dù, Kho bạc Nhà nước và NHNN đã có nhiều nỗ lực, lãi suất vay chào ở mức caonhưng có vẻ như thị trường vẫn quá ” yên ắng “, lượng tiền thu về qua kênh nàyvẫn quá nhã nhặn so với lượng tiền thu được từ những kênh kêu gọi vốnkhác. Nếu chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2011, Sở Giao dịch NHNN phối hợpvới Kho bạc Nhà nước ( KBNN ) đã tổ chức triển khai được 21 phiên, kỳ hạn phát hành là364 ngày nhưng số tiền kêu gọi chỉ là 2.150 tỷ đồng. Đây là một tác dụng rấtthấp với những năm trước đây. Cụ thể, năm 2010 kêu gọi được 8.350 tỷ đồng, năm 2009 là 10.714 tỷ đồng và năm 2008 là 20.730 tỷ đồng. Trong tổng số hơn hai chục phiên đấu thầu vừa qua thì có đến 16/21 phiên không có khối lượng trúng thầu. Điều đáng nói nữa là, ngoài việc khốilượng trúng thầu khá nhã nhặn thì số lượng thành viên tham gia cũng rất ít, trung bình chỉ có từ 1 đến 2 thành viên tham gia / phiên và thường tập trung chuyên sâu vàomột vài thành viên. Cá biệt, có những phiên không có thành viên tham gia dựthầu. Nguyên nhân ảnh hưởng tới tác dụng những phiên đấu thầu tiến trình này là dotình hình kinh tế tài chính trong nước và kinh tế tài chính trên quốc tế có khunh hướng không thuận lợicùng với cơ cấu tổ chức hạng mục góp vốn đầu tư chưa huận lợi để nhà đầu tư tham gia so với loạicông cụ Nợ thời gian ngắn của nhà nước. Nhưng nguyên do chính mà nhà đầu tư chưa ” mặn mà ” với tín phiếu lại nằm ở chính nội tại của chính sách tổ chức triển khai phát hành và ” sânchơi ” thứ cấp của loại sách vở có giá này. Theo nhìn nhận của Bộ Tài chính, công tác làm việc pháthành tín phiếu qua NHNN thời hạn qua phát sinh một số ít chưa ổn, đó là : – Thành viên đấu thầu tín phiếu chỉ gồm có những tổ chức triển khai tín dụng thanh toán ( TCTD ) có thông tin tài khoản tiền gửi thanh toán giao dịch tại NHNN ( Sở Giao dịch ). Hiện nay, rong tổng số 57 thành viên đấu thầu tín phiếu thì có tới 40 thành viên là những TCTD, có14 thành viên là Trụ sở ngân hàng nhà nước quốc tế và có 3 thành viên là những côngty kinh tế tài chính. Sở dĩ thành viên của nhiệm vụ này đa phần là những TCTD, vì tín phiếu pháthành dưới hình thức ghi sổ, người mua phải mở thông tin tài khoản sàn chứng khoán và tài khoảntiền gửi tại NHNN để thực thi những thanh toán giao dịch thanh toán giao dịch tiền và tín phiếu theo kết quảtrúng thầu. Mọi khoản lãi, gốc được giao dịch thanh toán trực tiếp vào thông tin tài khoản tiền chỉ địnhcủa người mua. Trong khi đó, việc mở thông tin tài khoản thanh toán giao dịch tại NHNN mới chỉ ápdụng cho những TCTD là thành viên của mạng lưới hệ thống thanh toán giao dịch, chưa vận dụng cho những đốitượng là công ty sàn chứng khoán, những quỹ góp vốn đầu tư. Do vậy, phần nào đã hạn chế sựtham gia của những thành viên đấu thầu có nhu yếu không phải là những TCTD. Đặc biệt, việc cáccông ty bảo hiểm, tổ chức triển khai bảo hiểm chưa tham gia đấu thầu tín phiếu cũng tạo nên tìnhtrạng tiêu tốn lãng phí vốn hay quan hệ tiền gửi không kỳ hạn trực tiếp với những TCTD như hiệnnay. – Hiện nay, chưa có một list thành viên thống nhất so với thị trường TPCPnói chung ( gồm có cả TPCP, TPCP bảo lãnh, tín phiếu ) nên khi muốn tham gia đấuthầu loại trái phiếu nào thì nhà đầu tư phải thực thi thủ tục gia nhập thành viên tại đơnvị tổ chức triển khai đầu thầu như tại Sở Giao dịch sàn chứng khoán TP. Hà Nội có một danh sáchthành viên riêng, Sở Giao dịch NHNN có một list thành viên riêng … Do đó, nhiều khi phát sinh thực trạng một nhà đầu tư có tư cách thành viên ở hai nơi hoặc cóthể là thành viên ở list này nhưng lại không là thành viên ở list kia, chodù cung góp vốn đầu tư một loại sách vở có giá là TPCP. – Số lượng nhà đầu tư đã được công nhận là thành viên tham gia đấu thầu tín – Việc góp vốn đầu tư vào tín phiếu của những thành viên đa phần nhằm mục đích mục tiêu dựphòng bảo đảm an toàn về năng lực giao dịch thanh toán vào quy trình tiến độ nhạy cảm ( Tếtdương lịch và tết nguyên đán ) qua thanh toán giao dịch nhiệm vụ thị trường mở với NHNN ( OMO ). Việc thanh toán giao dịch mua / bán những loại sách vở có giá giữa những TCTD trên thịtrường liên ngân hàng nhà nước với nhau chưa được thực thi ; phần vì do hạ tầng ( công nghệ tiên tiến, pháp lý ) của thị trường thứ cấp chưa tăng trưởng, phần vì do chưa cóhướng dẫn chi tiết cụ thể. – Quy trình phát hành tín phiếu thời hạn qua cũng thể hiện chưa ổn, chưa khoa học và thiếu lịch biểu đơn cử để nhà đầu tư biết và có kế hoạch chủđộng tham gia khi có nhu yếu. Mặt khác, thời hạn qua, chưa tổ chức triển khai hìnhthức đấu thầu phối hợp cả cạnh tranh đối đầu và không canh tranh lãi suất vay trong mộtphiên đấu thầu mặc dđã có pháp luật về yếu tố này ( Quy chế số935 / 2004 / QĐ-NHNN ngày 23/7/2004 của NHNN về đấu thầu tín phiếu kho bạc, trái phiếu ngoại tệ qua NHNN ). – Công tác lưu ký và chuyển nhượng ủy quyền tín phiếu cũng là một yếu tố cầnphải tháo gỡ. Hiện nay, tín phiếu phát hành qua NHNN chỉ thực thi lưu ký tạiSở Giao dịch NHNN mà chưa được lưu ký và chuyển nhượng ủy quyền nên trái chủ chỉcó thể tham gia những thanh toán giao dịch thị trường tiền tệ với NHNN ( OMO, tái cấp vốn, thấu chi và cho vay qua đêm … ). Nói cách khác, do hạn chế trong việc lưu ký nênviệc chuyển nhượng ủy quyền giữa những nhà đầu tư tín phiếu tại Việt Nam vẫn chưa thểthực hiện được như thông lệ tại những nước trên quốc tế. Điều này đã dẫn tới thực trạng thị trường thứ cấp tín phiếu chưa tăng trưởng, tínhthanh khoản bị hạn chế. Đây cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởngrất lớn tới sự tăng trưởng của thị trường thứ cấp tín phiếu. 3. Thị trường mở : + Về thành viên : Từ 2007 – 2011, tổng số lượt thành viên tham gia những phiên nhiệm vụ TTMđạt 16.924 lượt và số thành viên tham gia tăng mạnh qua từng năm ( năm 2008 là3. 208 ; năm 2009 là 3.121 ; năm 2010 là 6.106 ; 9 tháng đầu năm 2011 là 3.906 ). Trong những phiên thanh toán giao dịch, bên cạnh những thành viên là NHTM Nhà nước thì sốthành viên là những NHTM CP và ngân hàng nhà nước liên kết kinh doanh, ngân hàng nhà nước nướcngoài tăng mạnh. Từ năm 2010 đến nay còn có sự tham gia của những thành viênthuộc khối ngân hàng nhà nước liên kết kinh doanh, ngân hàng nhà nước quốc tế. Khối lượng GTCG củacác thành viên trong mỗi phiên thanh toán giao dịch ngày càng phong phú. + Về khối luợng thanh toán giao dịch : Đây là thời kì nền kinh tế tài chính trong nước chịu nhiềutác động xấu đi bởi sự không ổn định kinh tế tài chính của những nước trên quốc tế và yếu tố nợcông của khu vực Châu Âu. Đặc biệt là thời gian những tháng cuối năm 2008 đầu năm 2009, những ngân hàng nhà nước gặp khó khăn vất vả về thanh khoản, khi đó, NHNN kịpthời can thiệp trải qua ngjiệp vụ TTM bằng việc tăng lượng cung tiền và ápdụng giải pháp đấu thầu khối lượng, có vẻ như ngay lập tức thì, lãi suất vay liênngân hàng giảm quanh mức 20 % / năm. Năm 2008, NVTTM hòn đảo chiều so với năm 2007 với tổng số phiên giaodịchlà 402 phiên, tăng 47 phiên so với năm 2007 ; doanh thu thanh toán giao dịch đạt1. 036.066 tỷđồng, tăng 148 % so với năm 2007, trong đó doanh thu muachiếm 91,42 % và gấp15 lần so với năm 2007, doanh thu bán giảm 4,6 %. Đặc biệt, mức lãi suất vay đặtthầu trong một số ít phiên mua kỳ hạn trong quý I / 2008 ở mức rất cao, có lúc lêntới 40 % / năm vì thế NHNNVN đã vận dụng phươngthức đấu thầu khối lượng, lãisuất thống nhất cho toàn bộ những kỳ hạn thanh toán giao dịch ( từ 9-15 % / năm ) để không thay đổi lãisuất thị trường. Diễn biến này phản ánh những dịch chuyển không bình thường của thịtrường tiền tệ năm 2008 và khó khăn vất vả về thanh khoản của những TCTD.Năm 2011 Ngày 4/5 ngân hàng nhà nước Nhà nước đã nâng lãi thị trường mở lên14 % / năm, từ mức 13 % / năm trước đó. Đây là lần thứ 7 ngân hàng nhà nước Nhà nước điềuchỉnh lãi suất vay trên thị trường mở ( OMO ) kể từ tháng 1/2010. Lần tăng lãi suất vay thịtrường mở gần đây nhất là vào 1/4, từ 12 % lên 13 %, cùng với quyết định hành động tănglãi suất tái cấp vốn. Ngày 4/5, trong hai phiên buổi sáng và buổi chiều, NHNN đãbơm ra lần lượt 38.000 tỷ đồng và 7.077 tỷ đồng trên OMO và hút về 33.019 tỷđồng. Như vậy, NHNN đã bơm ròng 12.058 tỷ đồng trên OMO trong ngày 4/5. III. HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ ỞVIỆT NAM ( 2007 – 2011 ) + 5 ngân hàng nhà nước thương mại Nhà nước là những ngân hàng nhà nước lớn nhất, chiếm tớitrên 70 % thị trường tín dụng thanh toán của Việt Nam với mạng lưới hệ thống Trụ sở hoạt độngtrên hàng loạt khoanh vùng phạm vi chủ quyền lãnh thổ, nhưng lại hạch toán nhờ vào với nhau nên việcmua bán vốn dù có diễn ra cũng không có ý nghĩa. Trái lại, khối những ngân hàngthương mại CP và những ngân hàng nhà nước liên kết kinh doanh, Trụ sở những ngân hàngnước ngoài lại chỉ có quy mô và thị trường rất nhỏ ( xấp xỉ 25 % ). Tính chất “ địa hạt ” được biểu lộ rất rõ ràng, hoạt động giải trí mua và bán vốn mới chỉ thực hiệngiữa những tổ chức triển khai tín dụng thanh toán trong nước, ( trừ trường hợp một vài ngân hàng nhà nước nhưStandard Chater Bank và Citybank có một vài món cho vay trải qua ngânhàng Việt Nam trong thời hạn gần đây ), đặc biệt quan trọng là chưa có sự mua và bán vốnvới những tổ chức triển khai tín dụng thanh toán của những nước khác trong khu vực và quốc tế. Do vậy, hoạt động giải trí của thị trường tiền tệ liên ngân hàng nhà nước không hề tránh khỏi đặc thù “ chợ phiên ” và “ buồn tẻ ”. + Công cụ hoạt động giải trí trên thị trường liên ngân hàng nhà nước còn nghèo nàn cả vềchủng loại và thời hạn, mới chỉ xử lý được phần nào nhu yếu về khả năngthanh toán nhanh mà chưa phân phối được nhu yếu về nguồn và sử dụng vốn nóichung của những tổ chức triển khai tín dụng thanh toán. Các thanh toán giao dịch trên thị trường liên ngân hàngvẫn thông dụng dưới hình thức tín chấp hoặc bằng tiền gửi đối ứng tại ngân hàngcho vay. Vì vậy, mà khoanh vùng phạm vi hoạt động giải trí của thị trường liên ngân hàng nhà nước chủ yếutập trung giữa những ngân hàng nhà nước thương mại có uy tín và quan hệ thường xuyênvới nhau trong những nhóm liên minh. + Cho đến nay, vẫn chưa có một cơ quan chức năng nào của Nhà nước hayNgân hàng Nhà nước chịu nghĩa vụ và trách nhiệm là người tổ chức triển khai, quản lý và vận hành và quản lýthị trường liên ngân hàng nhà nước. Ngân hàng Nhà nước chưa phát huy được vai trò làngười tổ chức triển khai, quản lý và điều hành hoạt động giải trí thị trường liên ngân hàng nhà nước, chưa kiểm soátđược những thanh toán giao dịch và can thiệp kịp thời trong mọi trường hợp, do vậy, sự pháttriển của thị trường trọn vẹn mang tính tự phát mà chưa có một định hướngchiến lược cơ bản. Hệ thống thông tin chưa được hoàn thành xong, thiếu thông tin vàthông tin không đúng chuẩn là một trong những cản trở năng lực điều tiết thịtrường của Ngân hàng Nhà nước. + Hệ thống thanh toán giao dịch trong nội bộ từng ngân hàng nhà nước và mạng lưới hệ thống thanh toánliên ngân hàng nhà nước dù đang được hiện đại hoá, tuy nhiên vẫn trong thực trạng manh múnphân tán riêng rẽ trong mỗi ngân hàng nhà nước hoặc từng nhóm nhỏ mà vẫn chưa “ hoàmạng ” thống nhất, thậm chí còn chưa link thống nhất giữa những TT trongnước. Điều này cũng là một nguyên do quan trọng dẫn đến thực trạng phânđoạn thị trường và năng lực điều chuyển vốn giữa những tổ chức triển khai tín dụng thanh toán kémhiệu quả + Số thành viên tham gia vào thị trường mở tuy có xu hướngtăng qua cácnăm nhưng vẫn chiếm tỷ suất rất nhỏ trong tổng số những Ngân hàng thương mại trênthị trường kinh tế tài chính và hầu hết là những Ngân hàng thương mại có quy mô nhỏ đasố vẫncòn đứng ngoài cuộc đã hạn chế hiệu suất cao điều tiết thị trường của nghiệpvụ này. + Hàng hóa tham gia thị trường mở còn nghèo nàn về chủng loại, những côngcụ kinh tế tài chính đa phần thanh toán giao dịch trên thị trường mở gồm có những loạigiấy tờ có giáphát hành bằng đồng Việt Nam như : tín phiếu Ngân hàng nhà nước, trái phiếuChính phủ ( trái phiếu kho bạc, tín phiếu kho bạc, trái phiếu khu công trình trungương, trái phiếu góp vốn đầu tư do Quỹ tương hỗ phát hành công trái ) và trái phiếu chínhquyền địa phương do Ủy Ban Nhân Dân thành phố TP HCM và Ủy Ban Nhân Dân thành phố TP.HN pháthành. Trong khi đó, Ngân hàng nhà nước những nước trên quốc tế sử dụngnhiềuloại sách vở có giá khác nhau để thanh toán giao dịch trên thị trường mở như : tráiphiếu, tín phiếu kho bạc, tín phiếu của Ngân hàng nhà nước, chứng từ tiền gửi, thương phiếu, hối phiếu của những ngân hàng nhà nước, hợp đồng mua lại ( Repo ) – những loạigiấy tờ này có tính thanh toán cao và dễ trao đổi trên thị trường nên dễ đượccác bên gật đầu trong thanh toán giao dịch. + Phương thức thanh toán giao dịch còn đơn điệu. Chỉ vận dụng mua và bán hẳn với Tínphiếu NHTW, mua và bán kì hạn với tín phiếu Kho bạc NN. + Việc điều tiết lượng tiền trên thị trường mở còn triển khai một chiều, chủyếu là dùng là kênh bơm tiền cung ứng nhu yếu thiếu vắng vốn khảdụng của cácNgân hàng thương mại mà chưa thực thi tốt công dụng của nhiệm vụ này là sửdụng như một kênh lôi cuốn tiền nhà rỗi của những Ngân hàng thương mại nhằmtrung hoà nguồn vốn được bơm quá nhiều qua kênh khác. Hơn nữa, hình thứcđấu thầu khối lượng cũng khiến cho những ngân hàng nhà nước nhỏ, nắm giữ ít sách vở cógiákhông cạnh tranh đối đầu được về khối lượng đặt thầu với những ngân hàng nhà nước lớn nên chỉtrúng thầu với khối lượng ít và phải vay lại của những ngân hàng nhà nước lớn với lãi suấtcao hơn. + Việc Dự kiến đúng mực sự dịch chuyển hàng ngày của cung – cầu vốn khảdụng còn gặp những khó khăn vất vả nhất định, ảnh hưởng tác động đến mức độchính xáccủa dự báo, đặc biệt quan trọng là chính sách thông tin ship hàng cho công tác làm việc Dự kiến, từ đóđã hạn chế đến chất lượng của việc Dự kiến vốn khả dụng. + Số lượng thành viên tham gia trên thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạcvẫn còn hạn hẹp, thành viên đa phần vẫn là những NHTM. + Lãi suất trên thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc vẫn còn nhiều chưa ổn. Hiện nay, lãi suất vay vận dụng lãi suất vay chỉ huy trong đấu thầu tín phiếu Kho bạcnên lãi suất vay trúng thầu chưa hình thành theo những nguyên tắc thị trường. + Hệ thống hạ tầng còn nhiều hạn chế nhất định. Phần 3. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ VIỆT NAM ( 2007 – 2011 ) 1. Định hướng tăng trưởng thị trường tiền tệ Việt Nam + Tiếp tục triển khai xong khung pháp lý cho sự tăng trưởng của thị trường tiềntệ. + Thực hiện những giải pháp nhằm mục đích nâng cao vai trò điều tiết, hướng dẫn thịtrường của NHNN + Tăng cường năng lượng quản trị và sử dụng vốn, năng lượng kinh doanh thương mại củacác tổ chức triển khai tín dụng thanh toán – những thành viên đa phần của thị trường. 2. Giải pháp tăng trưởng những bộ phận cấu thành thị trường tiền tệ ViệtNam2. 1 Giải pháp triển khai xong và tăng trưởng thị trường tiền tệ liên ngânhàng : + Tổ chức lại những ngân hàng nhà nước thương mại Nhà nước. Trước hết, biến hóa cơchế kinh tế tài chính trong những ngân hàng nhà nước này theo hướng hạch toán độc lập giữa những chinhánh với nhau và với Hội sở chính. Tiếp theo đó, triển khai cổ phần hoá cácngân hàng thương mại Nhà nước. Với giải pháp này thì số lượng những chủ thểtham gia trên thị trường sẽ không chỉ tăng lên về mặt số lượng mà còn khẳngđịnh ý nghĩa thực sự của những thanh toán giao dịch. Sau khi những Trụ sở của những ngân hàngthương mại được hạch toán kinh doanh thương mại độc lập, sẽ không còn trông chờ vàonguồn vốn điều chuyển từ Hội sở chính mà sẽ mua và bán với bất kỳ chủ thể nào cólợi nhất. Như vậy, mỗi địa phương ( tỉnh hoặc thành phố ) sẽ trở thành nhữngtrung tâm mua và bán vốn của những Trụ sở của những ngân hàng nhà nước thương mại Nhànước khác nhau với nhau. + Đa dạng và chuẩn hoá những công cụ trên thị trường. Bên cạnh nhữngcông cụ sẵn có, cần được chuẩn hoá theo những khuôn khổ pháp lý thống nhất, cần sớm đưa vào thị trường những công cụ thanh toán giao dịch khác như những công cụ chứngkhoán phái sinh, những loại thương phiếu, những bảo lãnh của ngân hàng nhà nước ( bankacceptances ), kỳ phiếu ngân hàng nhà nước, v.v … Những công cụ này không chỉ gópphần đa dạng hoá dịch vụ ngân hàng nhà nước – kinh tế tài chính mà còn tạo điều kiện kèm theo cho cácchủ thể tham gia có thời cơ lựa chọn nhằm mục đích cung ứng cao nhất nhu yếu về nguồn vàsử dụng nguồn khi tham gia thị trường. + Khuyến khích những tổ chức triển khai tín dụng thanh toán Việt Nam tham gia vào hoạt độngthị trường tiền tệ trong khu vực và trên quốc tế, trước hết là thị trườngHongkong và Nước Singapore. Hiện nay, mới chỉ có Ngân hàng Ngoại thương ViệtNam thực thi được hoạt động giải trí này và đạt được một thành công xuất sắc góp thêm phần sửdụng nguồn vốn một cách có hiệu suất cao, nhất là nguồn tiết kiệm chi phí ngoại tệ huyđộng từ trong nước. Để thôi thúc những tổ chức triển khai tín dụng thanh toán tham gia hoạt động giải trí thịtrường tiền tệ quốc tế, Ngân nhà Nhà nước cũng cần biến hóa 1 số ít những quyđịnh pháp lý về quản trị ngoại hối và sự chuyển dời của những luồng vốn. Song, quan trọng hơn, những tổ chức triển khai tín dụng thanh toán vẫn phải tích cực và dữ thế chủ động trong việcvươn ra thị trường quốc tế, tranh thủ sự cộng tác với những ngân hàng nhà nước có uy tíncủa quốc tế trải qua những quan hệ như là quan hệ ngân hàng nhà nước đại lý, uỷthác, trung gian giải ngân cho vay. + Nâng cao trình độ công nghệ tiên tiến của ngân hàng nhà nước thương mại và những tổchức tín dụng thanh toán trong nước. Chất lượng hoạt động giải trí của những ngân hàng nhà nước thương mạilà điều kiện kèm theo nhằm mục đích đem lại sự không thay đổi cho thị trường. Các ngân hàng nhà nước cần có hệthống thông tin với năng lực tích lũy và giải quyết và xử lý và phân phối thông tin hiệu quảcho hoạt động giải trí quản trị nguồn vốn, chất lượng sử dụng vốn và dự báo chính xácdiễn biến của thị trường. Trên trong thực tiễn, để thực thi được những nhiệm vụ phái sinhnhằm hạn chế rủi ro đáng tiếc và quyền lợi của ngân hàng nhà nước cũng như tham gia những hoạt độngkhác của thị trường tiền tệ là rất phức tạp, yên cầu những ngân hàng nhà nước phải khôngngừng thay đổi công nghệ tiên tiến, hiện đại hoá mạng lưới hệ thống giao dịch thanh toán mà còn phải đào tạođội ngũ nhân lực và học tập những bài học kinh nghiệm kinh nghiệm tay nghề của những ngân hàng nhà nước hiệnđại trên quốc tế. + Nâng cao năng lượng tổ chức triển khai, điều hành quản lý thị trường liên ngân hàng nhà nước củaNgân hàng Nhà nước. Cần sớm xây dựng Vụ Thị trường Tiền tệ trực tiếp thựchiện tổ chức triển khai, quản trị, quản lý thị trường liên ngân hàng nhà nước. Đổi mới chính sách hoạtđộng của Ngân hàng Nhà nước trên thị trường tiền tệ sao cho Ngân hàng Nhànước trở thành là ngân hàng nhà nước bán sỉ lớn nhất trên thị trường tiền tệ. Ngân hàng Nhà nước cần sớm thiết kế xây dựng quy định hoạt động giải trí so với những thànhviên tham gia hoạt động giải trí thị trường liên ngân hàng nhà nước tương thích với thông lệ quốc tế, nhằm mục đích tạo điều kiện kèm theo thuận tiện cho hoạt động giải trí của thị trường. Thiết lập quy định vềthông tin : cơ quan kiểm duyệt thông tin, đội ngũ cán bộ giải quyết và xử lý, cung ứng thôngtin tương thích, chính sách phối hợp thông tin với những cơ quan chức năng, v.v …. nhằmtránh thực trạng chồng chéo thông tin, bóp méo thông tin. Đầu tư cho những điều kiện kèm theo về cơ sở vật chất và kỹ thuật cung ứng yêu cầutổng hợp, update thông tin, dự báo diễn biến thị trường, vốn khả dụng, trình độquản trị kinh doanh thương mại, rủi ro đáng tiếc, năng lực quản trị vốn khả dụng của Ngân hàng Nhànước từng bước kết nối thị trường tiền tệ trong nước với thị trường tài chínhquốc tế. Bên cạnh đó, liên tục tu dưỡng, nâng cao năng lượng cán bộ về kỹthuật giải quyết và xử lý thanh toán giao dịch phát sinh trên thị trường, những kỹ thuật quản lý và vận hành hệ thốngthanh toán điện tử liên ngân hàng nhà nước. + Hoàn thiện chính sách xác lập lãi suất vay của thị trường. Lãi suất – giábao giờ cũng là yếu tố quan trọng nhất so với bất kỳ thị trường nào. Ngân hàngNhà nước cần sớm phát hành và tổ chức triển khai triển khai chính sách xác lập giá theohướng khớp lệnh hoặc đấu giá, trước hết tại những TT kinh tế tài chính lớn như HàNội, TP. Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh. Lãi suất được xác lập ở những trungtâm này sẽ làm cơ sở tham chiếu cho những địa phương còn lại trong cả nước. Đồng thời, những tổ chức triển khai tín dụng thanh toán sẽ địa thế căn cứ vào lãi suất vay nói trên để xác lập lãisuất của thị trường kinh doanh bán lẻ – kêu gọi hoặc cho vay vốn so với nền kinh tế tài chính. Nóicách khác, những tổ chức triển khai tín dụng thanh toán hoàn toàn có thể dữ thế chủ động thoả thuận lãi suất vay với những đốitượng người mua mà không phải mò mẫm hay bám dựa vào lãi suất vay “ chỉ huy ” của Ngân hàng Nhà nước hay lãi suất vay của thị trường tiền tệ quốc tế SIBORhay LIBOR, v.v … Mặt khác, việc hình thành lãi suất vay như trên sẽ tạo điều kiệngắn kết thị trường tiền tệ trong nước với thị trường những nước trong khu vực vàquốc tế, góp thêm phần cho những tổ chức triển khai tín dụng thanh toán dữ thế chủ động tham gia hoạt động giải trí trên thịtrường và với những ngân hàng nhà nước quốc tế. + Thống nhất thị trường liên ngân hàng nhà nước. Thị trường liên ngân hàng nhà nước hiệnnay gồm có thị trường nội tệ liên ngân hàng nhà nước và thị trường ngoại tệ liên ngânhàng. Sự phân tách thị trường đã tạo ra những chưa ổn trong việc quản trị dòngvốn. Ngoài ra, trong điều kiện kèm theo mạng lưới hệ thống thông tin chưa hoàn hảo, dẫn đến việctruyền tải và quản trị thông tin thiếu đúng mực. Điều này gây khó khăn vất vả khi thịtrường lan rộng ra quy mô. Do vậy, cần thống nhất thị trường liên ngân hàng nhà nước và cóquy chế hoạt động giải trí tương thích. 2.2 Giải pháp triển khai xong và tăng trưởng thị trường đấu thầu trái phiếuKho bạc. + Cần có chính sách để những NHTM CP và Ngân hàng khác có quy mônhỏ hơn hoàn toàn có thể trúng thầu tín phiếu trên thị trường này. Đặc biệt là Bộ Tài chínhcần có giải pháp đưa những Công ty bảo hiểm, tổ chức triển khai bảo hiểm tham gia đấu thầutín phiếu, không nên để thực trạng tiêu tốn lãng phí vốn hay quan hệ tiền gửi không kỳhạn trực tiếp với những TCTD như lúc bấy giờ. + Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính phối hợp tăng khối lượng tínphiếu Kho bạc Nhà nước đấu thầu hàng quý, hàng năm. Có thể tăng tần suất cácphiên đấu thầu từ 1 phiên / 1 tuần lúc bấy giờ lên 2 phiên / tuần. Linh hoạt hơn nữa lãisuất đấu thầu qua những phiên theo sát diễn biến trên thị trường. Thời hạn tín phiếucũng hoàn toàn có thể phong phú hơn, như kỳ hạn 60 ngày, 90 ngày … thay cho chỉ có loại360 ngày như lúc bấy giờ + Lãi suất tín phiếu Kho bạc cần đựoc tự do, hình thành trên quan hệcung-cầu. Xây dựng đường cong lãi suát chuẩn. + Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động giải trí của thị trường đấu thầu tínphiếu kho bạc. + Nâng cao vai trò của ngân hàng nhà nước thương mại trên thị trường tiền tệ nhưlà những người tạo lập thị trường. + Hiện đại hoá công nghệ tiên tiến ngân hàng nhà nước nhằm mục đích ship hàng cho những thanh toán giao dịch vàthu thập giải quyết và xử lý thông tin của thị trường. + Tăng cường công tác làm việc thông tin tuyên truyền, huấn luyện và đào tạo cán bộ ship hàng chohoạt động của thị trường. + Xây dựng mạng lưới hệ thống những nhà kinh doanh trái phiếu, tín phiếu kho bạc cóvốn tự có lớn. + Phát triển những nhà đầu tư có tổ chức triển khai và hấp dẫn những nhà đầu tư nướcngoài vào kinh doanh thương mại trái phiếu. 2.3 Giải pháp tăng trưởng hoạt động giải trí thị trường mở. + Cần thanh tra rà soát lại cơ sở pháp lý để kiểm soát và điều chỉnh theo hướng lôi cuốn thànhviên. + Đa dạng hoá trên thị trường mở. + Hoàn thiện những pháp luật lưu ký sách vở có giá tại NHNN và xây dựngthị trường mở thực sự là một kênh góp vốn đầu tư mê hoặc. + Cải tiến, tăng cấp hạ tầng cho thị trường mở. + Tăng cường công tác làm việc tuyên truyền thông dụng thông tin để lôi cuốn thêmcác tổ chức triển khai tín dụng thanh toán tham gia thị trường mở. + Nâng cao năng lượng cán bộ thiết kế xây dựng và quản lý và điều hành nhiệm vụ thị trườngmở. III.KẾT THÚC VẤN ĐỀBước sang năm 2012, cuộc khủng hoảng cục bộ kinh tế tài chính quốc tế liên tục cónhững ảnh hưởng tác động bất lợi và nền kinh tế tài chính quốc tế chưa thể nhanh gọn phụchồi. Diễn biến này sẽ liên tục tác động ảnh hưởng bất lợi đến nền kinh tế tài chính trong nước vàhoạt động của thị trường tiền tệ nước ta. Thị trường tiền tệ nước ta từ khihình thành cho đến nay cũng trải qua những bước thăng trầm của nó. Sự ổnđịnh và tăng trưởng của thị trường tiền tệ góp thêm phần vào sự không thay đổi và phát triểncủa nền kinh tế tài chính. Xuất phát từ vai trò của thị trường tiền tệ so với nền kinh tế tài chính, cũng như những ảnh hưởng tác động của thị trường tiền tệ Việt Nam trong thời hạn gầnđây, nhóm điều tra và nghiên cứu đã triển khai khám phá hoạt động giải trí của thị trường tiền tệViệt Nam từ năm 2007 tới năm 2011. Sau khi tìm hiểu và khám phá về thị trường tiền tệ Việt Nam, nhóm đã hoàn thành xong xongđề tài của mình. Trên cơ sở vận dụng triết lý đã học, sự hướng dẫn củaGiảng viên và phối hợp với kiến thức và kỹ năng thực tiễn, nhóm đã phản ánh được thựctrạng thị trường tiền tệ Việt Nam trong thời hạn từ năm 2007 đến năm 2011. Cụ thể : Đề tài đã nghiên cứu và phân tích tình hình qua từng năm, cũng như hiệu quả đạtđược, những hạn chế, nguyên do cho yếu tố trên. Trên cơ sở đó nhóm đãđưa ra 1 số ít giải pháp tương thích với tham vọng góp thêm phần không thay đổi và pháttriển thị trường tiền tệ Việt Nam. Mặc dù nhóm có nhiều cố gắng nỗ lực, nhưng do thời hạn và kiến thức và kỹ năng có hạnnên nội dung đề tài không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Rất mong nhậnđược sự góp ý của Giảng viên và những bạn học viên để đề tài được hoàn thiệnhơn. 22
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Thị Trường






