Thị trường liên ngân hàng một số nước và việt nam – Tài liệu text
Thị trường liên ngân hàng một số nước và việt nam
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (907.27 KB, 33 trang )
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
MÔN: THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ
Thảo luận:
THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG
MỘT SỐ NƯỚC VÀ VIỆT NAM
HÀ NỘI, THÁNG 5 NĂM 2013
Chương 1 : Cơ sở lý luận về thị trường liên ngân hàng……………………………………………….3
I. Khái niệm, bản chất của thị trường liên ngân hàng……………………………………………….3
II. Đặc điểm của thị trường liên ngân hàng…………………………………………………………….3
III. Các chủ thể tham gia thị trường liên ngân hàng…………………………………………………4
1.Các tổ chức TD, chủ yếu là các NHTM:…………………………………………………………..4
2.Ngân hàng trung ương:…………………………………………………………………………………..5
IV. Các giao dịch chủ yếu trên thị trường liên ngân hàng…………………………………………5
V. Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng………………………………………………………………5
VI. Thanh toán trên thị trường liên ngân hàng………………………………………………………..5
VII. Vai trò của thị trường liên ngân hàng………………………………………………………………6
Chương 2 : Thị trường liên ngân hàng một số nước và Việt Nam…………………………………7
I.Thị trường liên ngân hàng Trung Quốc………………………………………………………………..7
1. Quá trình hình thành và phát triển thị trường liên ngân hàng Trung Quốc ………..7
2.Các bộ phận cấu thành thị trường liên ngân hàng Trung Quốc …………………………..8
3.Các chủ thể tham gia trên thị trường ……………………………………………………………….9
4.Thực trạng hoạt động thị trường liên ngân hàng Trung Quốc……………………………..9
II.Thị trường liên ngân hàng Nhật Bản…………………………………………………………………14
1.Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường liên ngân hàng Nhật Bản………….14
2.Các bộ phận cấu thành thị trường liên ngân hàng Nhật Bản……………………………..15
2.1.Thị trường vay mượn tiền tệ (Call Market):…………………………………………………15
3.Các chủ thể tham gia……………………………………………………………………………………16
4.Thực trạng hoạt động thị trường liên ngân hàng Nhật Bản……………………………….17
III.Thị trường liên ngân hàng Việt Nam……………………………………………………………….21
1.Quá trình phát triển của thị trường tiền tệ liên ngân hàng Việt Nam………………….21
2.Các bộ phận cấu thành thị trường liên ngân hàng Việt Nam…………………………….24
3.Thực trạng hoạt động thị trường liên ngân hàng Việt Nam………………………………25
4.Một số tồn tại và nguyên nhân………………………………………………………………………30
Chương 3: Một số giải pháp phát triển thị trường liên ngân hàng ở Việt Nam……………..31
1.Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý …………………………………………………………………………31
2.Phát triển thị trường repo…………………………………………………………………………………32
3.Nâng cao vai trò quản lý, điều hành của Ngân hàng Nhà nước VN ……………………..32
2
Chương 1 : Cơ sở lý luận về thị trường liên ngân hàng
I. Khái niệm, bản chất của thị trường liên ngân hàng
Thị trường liên ngân hàng là nơi các ngân hàng hoặc các TCTD vay mượn nhau
các khoản dự trữ dư thừa nhằm bù đắp nhu cầu ngân quỹ tạm thời cho các nghĩa vụ tài
chính thường xuyên.
Hiểu theo nghĩa rộng, thị trường liên ngân hàng là nơi thực hiện các giao dịch cơ
bản(Money Base – MB) giữa các ngân hàng, thông thường các giao dịch này thực hiện
thông qua tài khoản tiền gửi của các ngân hàng tại ngân hàng trung ương. Đây là thị
trường thực hiện các giao dịch vốn ngắn hạn dưới nhiều hình thức giữa các ngân hàng và
các tổ chức trung gian tài chính khác. Hiểu theo nghĩa hẹp, thị trường liên ngân hàng là
nơi thực hiện việc cho vay và đi vay lẫn nhau giữa các ngân hàng nhằm bù đắp nhu cầu
gây quỹ của mình.
II. Đặc điểm của thị trường liên ngân hàng
Một là, thị trường liên ngân hàng là thị trường vốn ngắn hạn: Tuy các quốc gia
không quy định thị trường liên ngân hàng là thị trường vốn ngắn hạn nhưng trong thực tế
các giao dịch trên thị trường liên ngân hàng chủ yều là giao dịch ngắn hạn.
Hai là, thị trường liên ngân hàng chủ yếu là thị trường bán buôn: Hàng hóa giao
dịch ở thị trường liên ngân hàng là mua bán tiền gửi ngân hàng, tức là khỏan dự trữ dư
thừa tạm thời với những giao dịch lớn trị giá hơn 1 triệu USD (tức là bán buôn). Ngòai ra,
các loại giấy tờ có giá ngắn hạn là hàng hóa được mua bán thường xuyên và khối lượng
lớn trên thị trường này.
Ba là, thị trường liên ngân hàng là thị trường vay mượn vay mượn với độ rủi ro
cao. Các giao dịch ở đây hầu như không có tài sản bảo đảm, các thủ tục pháp lý cực kỳ
đơn giản. Vì vậy, để trở thành thành viên của thị trường, các ngân hàng và các tổ chức
trung gian tài chính đáp ứng được các yêu cầu về vốn, ký quỹ, chuyên môn, đạo đức nghề
nghiệp và có giấy phép hành nghề.
3
Bốn là, thị trường liên ngân hàng là thị trường cực kỳ nhạy cảm và là thị trường
thông tin: Thị trường liên ngân hàng là một mạng lưới các quan hệ ngân hàng đại lý,
trong đó ngân hàng thương mại mở tài khỏan tiền gửi thanh tóan tại ngân hàng thương
mại khác. Hệ thống tài khỏan giữa các ngân hàng đại lý giúp cho thị trường liên ngân
hàng họat động hiệu quả.
Năm là, thị trường liên ngân hàng là thị trường vô hình, liên kết toàn cầu: Thông
qua hệ thống giao dịch hiện đại, các doanh vụ mua bán trên thị trường liên ngân hàng
được thực hiện trên cơ sở liên kết tòan cầu giữa các ngân hàng, các nhà kinh doanh phi
ngân hàng và một môi giới tiền tệ.
Sáu là, thị trường liên ngân hàng thực hiện giao dịch thông qua các công cụ hiện
đại: Thị trường liên ngân hàng là thị trường giao dịch mà chủ thể tham gia là các ngân
hàng, các nhà kinh doanh (dealers) và nhà môi giới (brockers). Trên thị trường liên ngân
hàng, người môi giới (đa số là ngân hàng) mua bán tiền gửi qua điện thoại, máy tính…
bằng các công cụ phái sinh như quyền lựa chọn, hợp đồng tương lai…
III. Các chủ thể tham gia thị trường liên ngân hàng.
1. Các tổ chức TD, chủ yếu là các NHTM:
Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường
xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để
cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán
Mục đích:
–
Kinh doanh tiền tệ từ nguốn vốn tạm thời nhàn rỗi.
–
Đảm bảo khả năng thanh khoản khi khách hàng rút tiền hoặc giải ngân, tăng tính
thanh khoản trên thị trường.
–
Huy động nguồn vốn với chi phí thấp để kinh doanh .NHTM huy động và tập
trung các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế; mặt khác với số vốn này NHTM
sẽ đáp ứng được nhu cầu vốn của nền kinh tế để sản xuất kinh doanh. Qua đó nó
thúc đẩy nền kinh tế phát triển
–
Giảm thiểu chi phí cơ hội do phải duy trì dự trữ bắt buộc.
4
2. Ngân hàng trung ương:
Ngân hàng trung ương là một định chế công cộng, có thể độc lập hoặc trực thuộc
Chính phủ, thực hiện chức năng độc quyền phát hành tiền, là ngân hàng của các ngân
hàng, ngân hàng của Chính phủ và chịu trách nhiệm trong việc quản lý Nhà nước về các
hoạt động về tiền tệ, tín dụng cho mục tiêu phát triển và ổn định của cộng đồng.
Mục đích: điều tiết thị trường thông qua các công cụ chính sách tiền tệ để duy trì các
điều kiện tiền tệ trên thị trường liên ngân hàng phù hợp với mục tiêu hoạt động
IV. Các giao dịch chủ yếu trên thị trường liên ngân hàng.
1. Gửi tiền và nhận tiền gửi ở ngân hàng khác
2. Vay và cho vay ngân hàng khác
3. Mua bán hẳn hoặc có kỳ hạn các giấy tờ có giá
V. Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng.
Lãi suất trên thị trường nội tệ liên ngân hàng là lãi suất thỏa thuận, thay đổi theo
thời gian và phù hợp với chính sách lãi suất của NHTW. Nói cách khác, sự thay đổi lãi
suất liên ngân hàng phụ thuộc vào sự thay đổi các yếu tố cấu thành cung – cầu vốn khả
dụng.
NHTW là người chi phối sự biến động của lãi suất liên ngân hàng mặc dù nó là lãi
suất thị trường và được hình thành do quan hệ cung cầu vốn khả dụng trên thị trường liên
ngân hàng. NHTW có thể thường xuyên tác động vào lãi suất nội tệ liên ngân hàng theo
yêu cầu của chính sách tiền tệ thông qua việc thiết kế một hệ thống lãi suất chủ đạo và sử
dụng để điều chỉnh lãi suất liên ngân hàng hàng ngày.
VI. Thanh toán trên thị trường liên ngân hàng.
Trên thị trường liên ngân hàng, các giao dịch liên ngân hàng đựơc thanh toán liên
ngân hàng hoặc qua hệ thống Chips (Clearing House Interbank Payments System). Đây
5
là hệ thống thanh toán được vi tính hóa với chủ sở hữu là các ngân hàng thanh toán bù trừ
lớn. Thông thường thanh toán giữa 2 ngân hàng liên quan được thực hiện thông qua Tung
tâm thanh toán bù trừ (Clearing House). Đây là một tổ chức mà tại đó các ngân hàng duy
trì một lượng tiền trên tài khoản của các ngân hàng khác nhằm thanh toán những giao
dịch liên ngân hàng.
Cũng có thể thực hiện thanh toán liên ngân hàng qua hệ thống Swipt ( có từ năm
1977) và thay thế cho bưu điện và điện tín. Hệ thống này được liên kết với nhau bằng vệ
tinh và các bức điện được chuyển hóa giữa các ngân hàng đựơc tiêu chuẩn hóa nhằm tối
đa hóa các sai sót do tập quán và ngôn ngữ. Hầu hết các ngân hàng trên thế giới, kể cả
Nga, các nước Đông Âu, Việt Nam… đều đã tham gia thị trường này.
VII. Vai trò của thị trường liên ngân hàng
1. Đối với NHTM
– Đảm bảo cho nguồn vốn của toàn hệ thống ngân hàng được điều hòa và phân bổ có hiệu
quả
– Thị trường liên ngân hàng tạo tính lỏng cho các khoản ngân quỹ nói riêng và các khoản
mục tài sản khác của NHTM
– Tác động tích cực đến yêu cầu quản lý vốn khả dụng của hệ thống NHTM
– Giảm chi phí cơ hội của việc duy trì dự trữ thường xuyên cho các NHTM
2. Đối với NHTW
– Thị trường nội tệ liên ngân hàng là nơi cung cấp thông tin về tình trạng vốn khả dụng
của hệ thống các tổ chức tín dụng
– Tiếp nhận và chuyển tải tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế.
6
Chương 2 : Thị trường liên ngân hàng một số nước và Việt Nam
I.
1.
Thị trường liên ngân hàng Trung Quốc
Quá trình hình thành và phát triển thị trường liên ngân hàng Trung Quốc
Thị trường liên ngân hàng Trung Quốc được thành lập vào năm 1996, tuy nhiên, các
ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng đã bắt đầu giao dịch với nhau từ những năm
80 của thế kỷ 20, khi chưa có sự quản lý điều hành của Ngân hàng Trung ương Trung
Quốc. Ban đầu, mối quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng được hình thành chủ yếu nhằm
cân đối các nguồn vốn trung và dài hạn. Vào năm 1993, thị trường liên ngân hàng trở nên
hỗn loạn do các doanh nghiệp và tổ chức phi tài chính sử dụng một lượng lớn nguồn vốn
vay (kỳ hạn ngắn) trên thị trường liên ngân hàng để đầu tư vào những tài sản rủi ro trên
thị trường chứng khoán hoặc bất động sản. Bên cạnh đó, giao dịch trên thị trường liên
ngân hàng còn không tuân theo khuôn khổ lãi suất của ngân hàng Trung ương Trung
Quốc (PBC). Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra lạm phát cao ở Trung
Quốc thời kỳ đó. Do vậy, xây dựng một thị trường liên ngân hàng có sự quản lý của Ngân
hàng Trung ương là mục tiêu quan trọng nhất trong quá trình cải cách thị trường tài
chính. Ngay từ năm 1996, Ngân hàng trung ương Trung Quốc đã đề ra các biện pháp cải
cách:
Thứ nhất, chất lượng của các tổ chức tài chính đã được xếp hạng.
Thứ hai, tất cả các thành viên giao dịch trên thị trường liên ngân hàng phải thực hiện
thông qua hệ thống giao dịch điện tử của Ngân hàng trung ương giúp cho Ngân hàng
Trung ương Trung Quốc nắm bắt kịp thời thông tin về cung cầu vốn khả dụng của hệ
thống ngân hàng.
Thứ ba, Ngân Hàng Trung ương Trung Quốc giới hạn kỳ hạn đáo hạn và số lượng
cho vay, đi vay đối với tất cả các tổ chức tài chính. Theo đó thì đối với các ngân hàng
thương mại thời hạn đáo hạn lớn nhất của các khoản cho vay lẫn nhau trên thị trường liên
ngân hàng là không được vượt quá 4 tháng và số lượng cho vay, đi vay phải dựa trên
khoản mục cân dối tiền gửi. Còn đối với các Tổ chức tài chính phi ngân hàng thì kỳ hạn
đáo hạn ít hơn 7 ngày và số lượng cho vay, đi vay dựa trên khả năng của nguồn vốn.
7
2. Các bộ phận cấu thành thị trường liên ngân hàng Trung Quốc
Thị trường tiền tệ Trung Quốc được hình thành bởi các thị trường cấp dưới sau: Thị
trường liên ngân hàng, thị trường hợp đồng mua lại trái phiếu, thị trường trái phiếu, thị
trường tiền tệ và nghiệp vụ thị trường mở, thị trường tín phiếu). Sự phát triển của các thị
trường cấp dưới này cho thấy sự phát triển của thị trường tiền tệ Trung Quốc.
Từ tháng1/1996: Thị trường liên ngân hàng Trung quốc (được điều hành bởi NIFC)
bao gồm các thị trường bộ phận:
– Thị trường CHIBOR (Thị trường vay- cho vay LNH): Lãi suất liên ngân hàng
Trung Quốc – China Interbank Offered Rate (CHIBOR) là lãi suất thả nổi trên thị
trường tín dụng liên ngân hàng. Tháng 2/2007, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBC)
chính thức cho ra mắt hệ thống lãi suất cho vay liên ngân hàng mới SHIBOR áp dụng
trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Theo Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc, đây là kết
quả của những nỗ lực nhằm đẩy mạnh tự do hoá tỷ lệ lãi suất theo hướng thị trường và
củng cố hệ thống lãi suất chuẩn trên thị trường tiền tệ Trung Quốc. SHIBOR được tính
cho tất cả các ngày trong tuần kể cả ngày nghỉ bao gồm 16 kì hạn từ qua đêm cho đến 1
năm. Trong khi đó, CHIBOR chỉ có 7 kì hạn: qua đêm, 7 ngày, 14 ngày, 1tháng, 2 tháng,
3 tháng, 4 tháng. Sự đa dạng về kì hạn này đã tạo ra hàng loạt sản phẩm phái sinh giao
dịch trên thị trường liên ngân hàng từ đó thúc đẩy sự phát triển của thị trường liên ngân
hàng Trung Quốc.
– Thị trường trái phiếu LNH (Bond market) và thị trường mua lại trái phiếu (Repo
Bon market): Hoạt động repo trái phiếu ở Trung Quốc chính thức bắt đầu từ năm 1991.
Tuy nhiên, giai đoạn từ năm 1991 đến tháng 6/1997 hoạt động này mới chỉ diễn ra trên Sở
giao dịch chứng khoán Thượng Hải. Vào đầu năm 1997, nhằm ngăn chặn nguồn vốn từ các
ngân hàng thương mại chảy vào thị trường chứng khoán quá nhiều, PBC buộc các ngân
hàng thương mại phải rút vốn từ các giao dịch repo trái phiếu trên Sở giao dịch chứng
khoán về thực hiện trên thị trường trái phiếu liên ngân hàng.
– Thị trường ngoại hối liên ngân hàng.
8
3. Các chủ thể tham gia trên thị trường
3.1. Các tổ chức tín dụng
Bộ phận quan trọng các tổ chức tín dụng tham gia thị trường tiền tệ liên
ngân hàng Trung Quốc chính là các ngân hàng thương mại. Hiện nay, có thể nói số lượng
các ngân hàng thương mại của Trung Quốc khá lớn với nhiều hình thức ngân hàng như:
Ngân hàng chính sách (Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Trung Quốc, Ngân hàng phát
triển Trung Quốc, Ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc), Ngân hàng thương mại cấp
một: Ngân hàng Trung Quốc, các Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc, các Ngân hàng
nông nghiệp của Trung Quốc, và Ngân hàng Công thương Trung Quốc, Ngân hàng
thương mại cấp hai (gồm các ngân hàng thương mại nhỏ hơn), Ngân hàng thương mại
thành phố (chủ yếu được thành lập trên cơ sở hợp tác xã tín dụng đô thị) và Ngân hàng
nước ngoài.
3.2. Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBC)
Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc thành lập ngày 11 tháng 12 năm 1948 trên cơ sở
hợp nhất các ngân hàng Hoa Bắc, ngân hàng Bắc Hải và ngân hàng nông dân Tây Bắc.
Ngân hàng nhân dân Trung Quốc có quyền kiểm soát chính sách tiền tệ và quản lý các
định chế tài chính, tham gia vào thị trường tiền tệ liên ngân hàng với tư cách là Người
điều tiết thị trường thông qua các công cụ chính sách tiền tệ. Đây cũng là ngân hàng có
lượng tài sản tài chính nhiều hơn bất cứ định chế tài chính công cộng nào trong lịch sử.
3.3. Người môi giới và các trung gian giao dịch
4. Thực trạng hoạt động thị trường liên ngân hàng Trung Quốc
Thị trường cho vay và thị trường repo giữa các TCTD có sự tham gia của Ngân
hàng Nhân dân Trung Quốc và các tổ chức tín dụng trong đó NHTM chiếm phần lớn.
Dòng chảy của nguồn vốn giữa các tổ chức tài chính biểu thị theo các đặc điểm: thứ
nhất, các ngân hàng lớn đóng vai trò là nhà cung cấp quỹ ròng trên cả thị trường repo và
thị trường cho vay liên ngân hàng, và số tiền cho vay ròng của họ tiếp tục tăng. Thứ hai,
các ngân hàng nhỏ và vừa, các công ty chứng khoán, các công ty quản lý quỹ và các tổ
chức tài chính khác có nhu cầu tài chính ngày càng tăng. Cụ thể là các ngân hàng nhỏ và
9
vừa và các tổ chức tài chính gây quỹ nước ngoài trở thành người đi vay ròng trên thị
trường cho vay liên ngân hàng, chứ không phải là người cho vay ròng trong năm ngoái.
Bảng 4.1: Dòng vốn trong các tổ chức tài chính năm 2012
Đơn vị: 100 triệu nhân dân tệ
Repo
2012
2011
Ngân hàng lớn tài trợ trong nước
-550,748 -289,596
Ngân hàng vừa và nhỏ tài trợ trong nước
242,558
118,134
Công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ 130,067
66,659
Công ty bảo hiểm
53,270
24,926
Tổ chức tài chính tài trợ nước ngoài
20,734
10,079
Tổ chức tài chính khác
104,120
69,798
Nguồn: Hệ thống thương mại ngoại hối Trung Quốc CFETS
Cho vay
liên ngân hàng
2012
2011
-73,486 -18,514
5,112
-32,644
34,889
10,237
9,972
-9,571
23,513
13,464
Lãi suất liên ngân hàng
Đồ thị 4.1: Lãi suất qua đêm liên ngân hàng năm 2010-2012
Từ cuồi quý III năm 2010 đến đầu năm 2011, lãi suất SHIBOR biến động liên tục,
có những thời điểm biến động mạnh. Những kì hạn dài như 6 tháng, 9 tháng, 1 năm
SHIBOR có xu hướng tăng. Những kì hạn ngắn hơn thì có xu hướng tăng trong quý IV
10
năm 2010 và đang giảm dần trong quý I năm 2011. Các biểu đồ dưới đây đều cho thấy
vào thời điểm cuối năm 2010 lãi suất SHIBOR của tất cả các kì hạn đều tăng cao. Chính
phủ Trung Quốc cho biết chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10 của nước này đã tăng 4,4%
so với cùng kỳ 2009, cao nhất trong vòng 2 năm qua. Con số này cũng cao hơn nhiều so
với dự báo được giới phân tích đưa ra trước đó cũng như mức lạm phát của Trung Quốc
trong thánh 9 (3,6%). Để kiềm chế lạm phát, Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra hàng loạt
các giải pháp nhằm kiểm soát giá cả như tăng lãi suất cơ bản, hạn chế tăng trưởng tín
dụng và tăng trưởng nóng,… Như vậy lãi suất SHIBOR trong quý IV năm 2010 chính là
hệ quả của chính sách tiền tệ nước này.
Từ đầu năm 2011, nhìn chung lãi suất thị trường tiền tệ cao hơn trong những năm
trước. Sau khi lãi suất bình quân hàng tháng của trái phiếu cam kết repo và cho vay liên
ngân hàng tương ứng hàng năm đạt mức cao 4,94% và 4,56% vào tháng 6 thì đều sụt
giảm ngay sau đó. Vì một số yếu tố, như khối lượng tiền rút ra trước ngày lễ quốc khánh
và đánh giá hiệu quả cuối cùng theo quý của ngân hàng thương mại, lãi suất đã leo cao
đáng kể vào tháng 9 trên tương quan so sánh với tháng 6 và tháng 8. Tại thời điểm cuối
tháng 9, lãi suất qua đêm, lãi suất Shibor kì hạn 7 ngày, và 3 tháng tương ứng giậm chân
tại 4,8925%; 5,0025%; và 5,6466%, giảm 11; 160 và 75 điểm cơ bản từ cuối tháng 6.
Trong năm 2012, lãi suất trên thị trường tăng vào thời gian chuẩn bị cho Tết
Nguyên đán và giảm ngay sau đó, nhưng nhìn chung lãi suất vẫn ổn định và thấp hơn so
với năm trước. Trong tháng 12, lãi suất vay liên ngân hàng là 2,61%, giảm 72 điểm cơ
bản so với cùng kỳ năm ngoái. Vào cuối năm 2012, lãi suất qua đêm và lãi suất Shibor kì
hạn 7 ngày cố định tương ứng tại mức 3,87% và 4,58%, giảm 113 và 175 điểm cơ bản so
với cuối năm 2011; lãi suất Shibor kì hạn 3 tháng và 1 năm tương ứng là 3,90% và
4,40%, giảm 157 và 84 điểm.
11
So sánh giữa các năm, ta thấy lãi suất liên ngân hàng thể hiện tính mùa vụ của thị
trường liên ngân hàng Trung Quốc, luôn ở mức cao vào các dịp lễ tết Nguyên đán. Lãi
suất ngắn hạn có biên độ dao động lớn hơn so với lãi suất dài hạn chứng tỏ các giao dịch
cho vay, gửi tiền ở các kỳ hạn ngắn chủ yếu đáp ứng nhu cầu thanh khoản của các ngân
hàng.
Doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng
Tổng khối lượng giao dịch năm 2010 tăng mạnh so với năm 2009. So với hoạt động
vay mượn, hoạt động repo trái phiếu tỏ ra linh hoạt, an toàn và có lãi suất ổn định hơn. Vì
thế khối lượng giao dịch của hoạt động này trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng cũng
lớn hơn nhiều so với hoạt động vay mượn. Tổng khối lượng giao dịch repo trái phiếu trên
thị trường tiền tệ năm 2010 của Trung Quốc tăng mạnh so với năm 2009 từ 677007.32
triệu NDT lên 846533.48 triệu NDT tương đương với mức tăng 25.04%.
Ở cả 2 hoạt động, khối lượng giao dịch không phải tăng ở tất cả các kì hạn mà chỉ tăng ở
các kì hạn: qua đêm, 7 ngày, 1 tháng, 2
tháng, 3 tháng, 4 tháng, 6 tháng, 9 tháng.
Các kì hạn còn lại khối lượng giao dịch
giảm 1 lượng nhỏ. Ở hoạt động vay, cho
vay các ngân hàng khác, các kỳ hạn ngắn
được giao dịch với khối lượng lớn. Khối
Khối lượng giao dịch cho vay các kỳ hạn trên 2010
12
lượng giao dịch kỳ hạn qua đêm lên đến 244862 trăm triệu nhân dân tệ, chiếm 87,86%
tổng khối lượng giao dịch.
Đầu năm 2011, thị trường tiền tệ liên ngân hàng Trung Quốc có nhiều tín hiệu sụt
giảm so với năm 2010. Thứ nhất, về giao dịch cho vay: trong tháng 1/2011, khối lượng
giao dịch đạt 1.7 nghìn tỷ NDT giảm 36.8% so với tháng trước (12/2010). Trong đó,
giao dịch cho vay qua đêm đã chiếm khối lượng khoảng 1.4 nghìn tỷ NDT. Thứ hai, về
giao dịch repo: khối lượng giao dịch trong tháng 1/2011 đạt 6.9 nghìn tỷ NDT giảm
9.58% so với tháng 12/2010. Như vậy, có thể thấy rằng cùng với sự biến động thường
xuyên của lãi suất thì khối lượng giao dịch trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng Trung
Quốc cũng biến động liên tục. Các tác động từ chính sách tiền tệ hay những biến động
của nền kinh tế đều sẽ ảnh hưởng đến lãi suất liên ngân hàng cũng như khối lượng giao
dịch trên thị trường này.
Giao dịch repo và giao dịch cho vay liên ngân hàng trên thị trường phát triển mạnh
và khối lượng giao dịch tăng. Trong 3 quý đầu năm 2011, doanh thu của trái phiếu repo
đạt tổng cộng là 71,8 nghìn tỷ nhân dân tệ, với doanh thu trung bình ngày là 384,2 tỷ
nhân dân tệ, tăng 11,1% so với cùng kỳ. Doanh thu của giao dịch cho vay liên ngân hàng
đạt mức 23,9 nghìn tỷ nhân dân tệ, với doanh thu trung bình ngày là 127,6 tỷ nhân dân tệ,
tăng 18,4% so với cùng kỳ. Thị trường giao dịch vẫn tập trung vào các giao dịch qua
đêm, với trái phiếu repo qua đêm và giao dịch liên ngân hàng tương ứng chiếm 75,5% và
84,2% tổng doanh số, giảm 4,5 và 3,5 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm ngoái. Tổng
doanh số của hoạt động mua lại chứng khoán chính phủ tăng trên thị trường chứng khoán
tăng vọt lên 202,2% so với năm trước đạt tới 13,6 tỷ nhân dân tệ.
Trong năm 2012, doanh số của các hợp đồng mua trái phiếu trên thị trường trái
phiếu liên ngân hàng đạt 141,7 nghìn tỷ nhân dân tệ, với doanh số trung bình hàng ngày
569,1 tỷ nhân dân tệ, tăng 43,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Doanh thu của các khoản
vay liên ngân hàng đạt 46,7 nghìn tỷ nhân dân tệ, với doanh thu trung bình hàng ngày đạt
187,6 tỷ nhân dân tệ, tăng 40,2% so với cùng kỳ. Kỳ hạn qua đêm chiếm tới 80,7% 86,3% doanh số tương ứng trên thị trương repo và thị trường cho vay liên ngân hàng,
tăng 5,9 và 4,6 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm ngoái.
13
Giấy tờ có giá được giao dịch trên thị trưởng liên ngân hàng Trung Quốc ngày càng
đa dạng. Nhiều loại chứng khoán phái sinh như: hợp đồng hoán đổi lãi suất, hợp đồng lãi
suất kì hạn, các sản phẩm quản lý lợi nhuận tài chính,… bắt đầu được sử dụng trong thời
gian gần đây. Khối lượng giao dịch các loại chứng khoán này tăng nhanh chóng qua các
năm, nhất là giao dịch hoán đổi lãi suất.
Bảng 4.2: Khối lượng giao dịch phái sinh, 2006-2012
Nguồn: Hệ thống thương mại ngoại hối Trung Quốc
II.
Thị trường liên ngân hàng Nhật Bản
1. Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường liên ngân hàng Nhật Bản
Trước chiến tranh thế giới thứ 2, thị trường tiền tệ liên ngân hànglà thị trường
duy nhất có thể tồn tại và đáng lưu ý trong thời kì này. Thực chất đây là thị trường các
ngân hàng vay mượn, gửi tiền lẫn nhau. Thị trường này được thành lập bởi những nhà
ngân hàng tiên phong, khi mà chính phủ cố gắng giảm sự phụ thuộc của các ngân hàng
vào việc vay từ Ngân Hàng Trung Ương Nhật.
Từ sau sau chiến tranh thế giới thứ 2, hai cơ quan chức năng nắm vai trò điều
hành trên thị trường tiền tệ Nhật Bản là Bộ tài chính và Ngân hàng trung ương Nhật Bản
(BOJ). Lãi trên thị trường đã được điều chỉnh theo kiểu hành chính dựa trên những số
liệu suất của các nước khác trên thế giới mà không tuân theo luật cung cầu trong nước.
Trong giai đoạn này thị trường tiền tệ Nhật Bản hoạt động gặp rất nhiều hạn chế. Chỉ có
thị trường tiền tệ liên ngân hàng là phát triển tốt. Hoạt động này chỉ giới hạn trong giao
14
dịch giữa các tổ chức tài chính. Lãi
suất trên thị trường này tương đối là
lỏng so với hầu hết các loại lãi suất
ngắn hạn và dài hạn khác.
Năm 1985, thị trường liên
ngân hàng chiếm 68% thị trường tiền
tệ còn 32 % của thị trường mở.
Đến năm 1989, thị trường mở
chiếm tỷ trọng lớn hơn 54% so 46%
của thị trường liên ngân hàng
Giao dịch repo, bắt đầu từ năm
1996, đã trở thành nòng cốt trong thị trường tiền tệ.
Thị trường liên ngân hàng, thị trường đã từng nắm giữ vị trí chủ đạo, thì lại thu hẹp
một chút. Nguyên nhân chính của sự thay đổi này là sự suy giảm lan rộng của kinh tế
trong nước.
Khối lượng giao dịch của các thị trường giai đoạn 1980 1988
2. Các bộ phận cấu thành thị trường liên ngân hàng Nhật Bản
2.1.
Thị trường vay mượn tiền tệ (Call Market):
Có 2 loại giao dịch trên Call Market: có đảm bảo và không có đảm bảo. Các hối
phiếu, các khoản nợ ngắn hạn của chính phủ và các loại chứng khoán khác được chấp
nhận là vật đảm bảo trong các giao dịch có đảm bảo. Các giao dịch có kỳ hạn trong nửa
ngày làm việc được gọi là các “giao dịch nửa ngày” (half-day call transaction). Các giao
dịch có kỳ hạn đến ngày làm việc tiếp theo được gọi là giao dịch qua đêm (overnight call
transaction), và các giao dịch có ngày đáo hạn dài hơn qua đêm được gọi là giao dich kì
hạn (term call transaction). Các giao dịch trên được thực hiện chủ yếu bởi các công ty tư
bản “tanshi”. Việc thanh toán được thực hiện hoặc vào ngày ghi trên hợp đồng hoặc vào
các ngày sau đó. Các giao dịch được thanh toán vào ngày ghi trên hợp đồng được gọi là
các giao dịch “cùng ngày” (same-day-start transaction) đối với các giao dịch có đảm bảo,
15
và giao dịch tiền mặt (cash transaction) đối với các giao dịch không có đảm bảo. Chủ yếu
các giao dịch là qua đêm, chịu ảnh hưởng mạnh bởi việc tổ chức thị trường tiền tệ của
NHTW Nhật Bản.
2.2
Thị trường mua, bán chi phiếu (general collateral (GC) repo)
là việc thực hiện mua, bán các chứng từ có giá của các ngân hàng với nhau, ngân hàng
cho vay bằng cách mua chi phiếu của ngân hàng đi vay.
Đồ thị2.1: Dòng vốn giữa thị trường vay mượn có bảo đảm và thị trường thu mua chi phiếu
3. Các chủ thể tham gia
Theo ước tính, có khoảng 500 ngân hàng và công ty tham gia vào thị trường liên ngân
hàng, bao gồm:
• Ngân hàng trung ương Nhật Bản
• Các ngân hàng trong nước được cấp phép:
Ngân hàng thành phố: Ngân hàng Mizuho, ngân hàng Tokyo-Mitsubishi
UFJ, Sumitomo Mitsui Banking Corporation, Ngân hàng Resona, Mizuho Corporate
Bank, Saitama Ngân hàng Resona.
Các ngân hàng khu vực: Các ngân hàng thành viên của Hiệp hội các ngân
hàng khu vực.
16
Các ngân hàng khu vực II: các ngân hàng thành viên của Hiệp hội thứ hai
của các ngân hàng khu vực.
Ngân hàng tín thác: là các quỹ tín thác có thêm hoạt động kinh doanh ngân
hàng thông thường.
• Các ngân hàng nước ngoài tại Nhật Bản
• Các nhà đầu tư có tổ chức như các công ty đầu tư tín thác,công ty bảo hiểm
nhân thọ
• Công ty tư bản ngắn hạn (Tanshi) là tổ chức trung gian huy động vốn ngắn hạn của các
thành viên sau đó sử dụng vốn đó cho các thành viên có nhu cầu vay vốn. Công ty tư bản
ngắn hạn thực chất là công ty môi giới. Công ty này do Bộ Tài chính chỉ định, chịu sự
giám sát và chỉ đạo của Bộ Tài chính và NHTW Nhật Bản. Công ty tư bản ngắn hạn hoạt
động với 2 chức năng:
−
Thực hiện môi giới, kết nối các thông tin nhận được do các thành viên cung cấp.
−
Là người đi vay với các ngân hàng thừa vốn, người cho vay ngân hàng thiếu
vốn.
Hiện nay ở Nhật Bản đang có 6 công ty tư bản ngắn hạn hoạt động làm trung gian chuyển
vốn trong thị trường tiền tệ liên ngân hàng.
4. Thực trạng hoạt động thị trường liên ngân hàng Nhật Bản
4.1.
Hoạt động vay mượn tiền tệ
4.1.1. Lãi suất liên ngân hàng
Ngân hàng Nhật Bản (BOJ) theo đuổi chính sách tiền tệ nới lỏng suốt những
năm đầu của thập kỷ 2000, giữ lãi suất cho vay ở mức 0%. Nhật Bản thậm chí thả lỏng
chính sách tiền tệ hơn nữa khi BOJ thực hiện chính sách nới lỏng cho vay cả về khối
lượng, khiến cho hệ thống tài chính tràn ngập tiền mặt, với hy vọng phục hồi tốc độ tăng
tín dụng và nhu cầu của tư nhân trong nước. Môi trường kinh tế thay đổi nhanh chóng
17
cũng xóa nhòa những nguy cơ tiềm ẩn của chính sách tiền tệ tự do của BOJ. Bức tranh
lạc quan này càng khuyến khích BOJ kéo dài chính sách thả lỏng tiền tệ.
Đồ thị 4.1 :Diễn biến lãi suất vay mượn không có bảo đảm và lãi suất repo
Năm 2010, do nguồn quỹ dồi dào, lãi suất vay mượn qua đêm dao động quanh
mức 0.1%, đứng tại mốc 0.096% vào cuối tháng 6 và 0.113% cuối tháng 9.
Tháng 5/2010, BOJ tiếp tục nới lỏng chính sách tiền tệ, hướng lãi suất vay mượn
qua đêm không có bảo đảm thay đổi trong khoảng từ 0%-0.1% thay vì dao động quanh
0.1% như trước đây. BOJ quy định lãi suất tiền gửi tại ngân hàng trung ương
(complementary deposit facility) bằng 0.1%. Đây được coi là mức lãi sàn (floor) vì khi
vay mượn với mức lãi suất trong khoảng 0% – 0.1%, các tổ chức tài chính có thể đem số
vốn đó gửi vào tài khoản tại BOJ và kiếm lợi nhuận. Công cụ này giúp duy trì chức năng
của thị trường tiền tệ dù lượng tiền trong nền kinh tế đã dư thừa.
Tháng 12, lãi suất vay mượn qua đêm vẫn theo xu hướng giảm, có ngày đã xuống
mốc 0.07% .
Trong năm tài khóa 2011, Ngân hàng tiếp tục theo đuổi chính sách nới lỏng tiền tệ
mạnh mẽ bằng cách duy trì chính sách lãi suất gần như bằng không và liên tục tăng số
tiền qua chương trình mua tài sản trên một quy mô đáng kể từ khoảng 40 đến 65 nghìn tỷ
yên.
18
11/3/2011, động đất và sóng thần xảy ra ở Nhật Bản đã gây ảnh hưởng to lớn đến
nền kinh tế. Những người cho vay bán tháo chứng khoán, các khoản vay… khiến giá
chứng khoán nhanh chóng giảm xuống, lãi suất nói chung và lãi suất vay mượn qua đêm
nói riêng đều tăng. Dự đoán trước được tình hình này, ngay ngày 14/3, BOJ đã 3 lần bơm
ra nền kinh tế tổng cộng 21.8 nghìn tỷ yên. Lãi suất vay mượn qua đêm nhờ đó đã giảm
về dưới 0.1%.
4.1.2. Doanh số giao dịch
Đồ thị 4.2 Khối lượng giao dịch vay mượn liên ngân hàng thông qua công ty tư bản “tanshi”
Số lượng giao dịch trên thị trường nhìn chung ở mức thấp. Điều này cho thấy tại
các ngân hàng có nguồn vốn dự trữ dồi dào và không cần vay mượn liên ngân hàng để bù
đắp thanh khoản. Tỷ trọng các khoản vay mượn có bảo đảm ngày càng tăng.
19
Đồ thị 4.3: Khối lượng giao dịch vay mượn tiền tệ không có bảo đảm
Khối lượng giao dịch không có bảo đảm được thực hiện qua công ty tư bản
“tanshi” năm 2011 duy trì quanh mức 3-5 nghìn tỷ yên. Cũng giống như năm 2010, chủ
thể cho vay chính là các ngân hàng tín thác (chủ yếu là các quý tương hỗ) và công ty bảo
hiểm nhân thọ với lãi suất cho vay nhỏ hơn 0.1%. Trong số các chủ thể đi vay chính,
ngân hàng thành phố và ngân hàng khu vực chiếm tỷ lệ đáng kể.
Đồ thị4.4 : Khối lượng giao dịch vay mượn tiền tệ có bảo đảm
Trong khi đó, khối lượng giao dịch có bảo đảm năm 2011 tăng, trong năm khối
lượng giao dịch có nhiều biến động. Bên đi vay, ta thấy sự tăng lên của khối lượng giao
dịch được thực hiện bởi công tư tư bản “tanshi”, trong khi đó các ngân hàng và công ty
chứng khoán lại đi vay ít đi trên thị trường vay mượn có bảo đảm. Với bên cho vay, các
ngân hàng tín thác luôn chiếm tỷ trọng lớn trong số các tổ chức tín dụng cho vay. Trong
năm 2011, ngân hàng tín thác và các ngân hàng khu vực đều tăng khối lượng tiền cho
vay.
4.2 Hoạt động mua bán chi phiếu
Lãi suất vay mượn không có đảm bảo thường nhỏ hơn lãi suất repo. Tuy nhiên khi
cộng các khoản chi phí khác như phí môi giới thì có thể lớn hơn, nhỏ hơn, hoặc tương
20
đương. Lãi suất repo được đẩy lên quanh ngưỡng 0.13% giữa tháng 11 năm 2010 khi các
ngân hàng bán trái phiếu chính phủ (JGBs). Điều này dẫn đến tồn 1 lượng chứng khoán
lớn tại các công ty chứng khoán khiến giá chứng khoán giảm, đẩy lãi suất trong đó có lãi
suất repo GC tăng lên. Tuy nhiên từ cuối tháng 11, áp lực tăng đã rút bớt. Sang tháng 12,
lãi suất GC nằm trong khoảng 0.1%-0.11%. Tháng 4/2011, lãi suất repo GC cũng giảm
sâu xuống dưới 0.1% do cung tiền tăng lên sau thảm họa động đất.
5. Đánh giá thị trường liên ngân hàng Nhật Bản
Thứ nhất, quy mô giao dịch lớn, tuy đã giảm nhiều so với giai đoạn trước những vẫn
đóng vai trò quan trọng với các ngân hàng cũng như nền kinh tế.
Thứ hai, áp dụng 2 phương thức giao dich: Trực tiếp giữa các ngân hàng và gián tiếp
thông qua môi giới là các công ty tư bản ngắn hạn “tanshi”.
Thứ ba, quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng có thể được đảm bảo, cũng có thể
không cần đảm bảo. Hiện nay, vay và cho vay có đảm bảo đang có xu hướng tăng.
Thứ tư, cơ chế điều hoà vốn thị trường, có sự điều tiết của NHTW.
III.
Thị trường liên ngân hàng Việt Nam
1. Quá trình phát triển của thị trường tiền tệ liên ngân hàng Việt Nam
1.1.
Giai đoạn 1992-1998
Ngày 7/10/1992 Chỉ thị số 07/CT- NH do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban
hành đã xác nhận và xác lập quan hệ cho vay và đi vay giữa các tổ chức tín dụng
(TCTD). Có thể nói đây là văn bản pháp lý đầu tiên cho phép TTLNH tồn tại và phát
triển ở Việt Nam tuy nhiên chỉ đề cập đến quan hệ cho vay/ đi vay mà chưa đề cập tới
quan hệ gửi tiền/ nhận tiền gửi, vay vốn giữa các TCTD phải có tài sản đảm bảo cũng
gây trở và chưa phù hợp với hoạt động của TTLNH và vốn cho vay chỉ được thực hiện
bằng Việt Nam đồng”
Để thúc đẩy giao dịch trên thị trường liên ngân hàng, ngày 21/6/1993,
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của thị
trường liên ngân hàng kèm theo Quyết định số 114/QĐ-NH14. Theo quy chế này thì
21
hàng tuần các TCTD là thành viên của TTLNH do NHNN tổ chức cùng gặp nhau tại
NHNN để đưa ra nhu cầu vay/ cho vay của mình trên thị trường, từ đó, hình thành nên
khối lượng giao dịch và lãi suất giao dịch. Điều này tạo cơ hội cho các TCTD hiểu biết
lẫn nhau, đồng thời còn được sự hỗ trợ của NHNN với vai trò người cho vay cuối cùng
khi cần thiết. Tuy nhiên giao dịch theo hình thức này chỉ họp 1 tuần 1 phiên nên không
đáp ứng được nhu cầu phát sinh hàng ngày của các TCTD.
Khắc phục những tồn tại này ngày 6/10/1993, Thống đốc NHNN ban hành
Quyết định số 190/QĐ- NH14 về việc sửa đổi, bổ sung một số Điều trong Quyết định số
114/QĐ- NH14. Điểm sửa đổi quan trọng là chuyển từ hình thức giao dịch (1tuần 1
phiên) tại trung tâm thị trường sang giao dịch trực tiếp với nhau vào tất cả các ngày
trong tuần với trung tâm thị trường bằng điện thoại, fax. Các thành viên có thể trao đổi
trực tiếp với nhau để thỏa thuận các điều kiện của khoản vay hoặc có thể giao dịch bằng
điện thoại với trung tâm giao dịch để trung tâm “kết nối” giữa thành viên có nhu cầu
cho vay và đi vay lại với nhau, sau đó các thành viên sẽ tự thỏa thuận các điều kiện của
khoản vay với nhau.
Cùng ngày 6/10/1993, NHNN đã ban hành Quy chế bảo lãnh vay vốn trên
thị trường liên ngân hàng, kèm theo Quyết định số 189/QĐ- NH14 của Thống đốc
NHNN. Theo quy chế này thì các giao dịch cho vay/ đi vay lẫn nhau giữa các TCTD
chưa có sự “tin tưởng” lẫn nhau có thể được NHNN xem xét bảo lãnh. Sự ra đời của
Quyết định số 189/QĐ- NH14 thực sự đã thúc đẩy các giao dịch trên thị trường liên
ngân hàng, đặc biệt là các giao dịch vốn bằng ngoại tệ.
Trong thời kỳ này, thị trường liên ngân hàng có 1 số đặc điểm sau:
•
Các giao dịch được thực hiện thông qua NHNN, NHNN vừa là người tổ chức, vừa
là thành viên của thị trường.
•
Lãi suất có hai loại: một do Thống đốc NHNN chỉ định, một do sự thỏa thuận của
các TCTD.
•
Các giao dịch thường dựa trên cơ sở tín chấp giữa các NHTM quốc doanh.
Khi nhìn nhận tổng quát thì hoạt động của thị trường liên ngân hàng trong giai đoạn này
có một số thành tựu sau:
22
•
NHNN đã đảm nhiệm được vai trò trung gian trên thị trường liên ngân hàng, tạo
điều kiện cho các TCTD có điều kiện tìm hiểu và tin tưởng lẫn nhau.
•
NHNN đã kịp thời thay đổi các cơ sở pháp lý phù hợp với thị trường.
Tuy nhiên hoạt động của TTLNH vẫn còn kém hiệu quả, manh mún, các thành viên
chưa thực sự tin tưởng nhau và thị trường chưa thực sự sôi động còn mang tính tập dượt
là chủ yếu.
1.2.
Giai đoạn 1998 đến nay
Trong giai đoạn này môi trường pháp lý cho hoạt động liên ngân hàng đã được
cải thiện rõ rệt. Ngày 15/10/2001, NHNN ban hành Quy chế về cho vay lẫn nhau giữa
các TCTD kèm theo Quyết định số 1310/2001/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN. Theo
đó các tổ chức cho vay/đi vay có thể thỏa thuận mức vay, lãi suất, thời hạn, điều kiện cho
vay.
Tuy nhiên, khủng hoảng tài chính Mỹ đã khiến TTLNH xuất hiện rất nhiều bất
cập, nguồn vốn của xã hội không được chảy về đúng nơi thiếu vốn (nền kinh tế) mà luẩn
quẩn trong hệ thống các TCTD với nhau. Đáng lẽ, ngân hàng là trung gian tài chính phân
bổ nguồn vốn từ tiết kiệm đến đầu tư và tín dụng phải đi vào sản xuất để tạo nhiều hơn
của cải và giải quyết việc làm. Nhưng thực tế lại khác, chính việc làm này của các
NHTM đã làm lãi suất cho vay liên ngân hàng có thời điểm bị đẩy lên 43%năm (năm
2008) kéo theo lãi suất huy vốn trên thị trường 1 (thị trường dân cư) cũng cao theo, cuộc
đua lãi suất diễn ra ngày một mạnh, gây ảnh hưởng xấu đến toàn bộ nền kinh tế. Đến
Xem thêm: Thị trường tiền tệ liên ngân hàng việt nam thực trạng và giải pháp phát triển – Tài liệu text
tháng 6 năm 2012 NHNN chính thức ban hành Thông tư số 21/2012/TT-NHNN quy định
về hoạt động cho vay, đi vay; mua, bán có kỳ hạn GTCG giữa các TCTD, chi nhánh ngân
hàng nước ngoài. Tiếp đó đến đầu tháng 01/2013, NHNN tiếp tục ban hành Thông tư số
01/2013/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều tại Thông tư số 21. Thông tư 01 đã nới
lỏng quy định về hoạt động nhận và gửi tiền của TCTD hơn so với Thông tư 21, cụ thể đã
bổ sung quy định TCTD được thực hiện các hoạt động gửi tiền, nhận tiền gửi thanh toán
và các giao dịch gửi tiền, nhận tiền gửi có kỳ hạn tối đa là 3 tháng tại các TCTD khác.
Đây chính là bước thay đổi tạo điều kiện cho TTLNH có nhiều điều kiện phát triển hơn.
Như vậy, TTLNH trong giai đoạn này có những đặc điểm sau:
23
• Cách thức giao dịch liên ngân hàng trong giai đoạn này rất đa dạng và phù hợp, cụ
thể là các TCTD có thể mở tài khoản tiền gửi lẫn nhau, khi có nhu cầu vay/ đi vay thì các
bên có thể thỏa thuận (qua điện thoại hoặc mạng vi tính), nhờ đó giảm được chi phí giao
dịch. Ngoài ra các TCTD còn có thể thực hiện chuyển giao vốn thông qua mua, bán
GTCG với nhau.
• Thời hạn của các giao dịch liên ngân hàng cũng phong phú và linh động hơn. Thời
hạn giao dịch có thể là qua đêm, 3 ngày, 1 tuần, 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng
• Đây là bước phát triển rất phù hợp với tiến trình hội nhập và phát triển của nền kinh
tế nói chung và thị trường tiền tệ nói riêng.
2. Các bộ phận cấu thành thị trường liên ngân hàng Việt Nam
Tính đến hiện tại thì thị trường tiền tệ Việt Nam được phân chia thành 4 thị trường,
bao gồm:
− Thị trường cho vay, gửi tiền giữa các TCTD;
− Thị trường mua, bán có kỳ hạn giấy tờ có giá (GTCG) giữa các TCTD với
NHNN;
− Thị trường mua bán có kỳ hạn GTCG giữa các TCTD;
− Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
Các chủ thể tham gia trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng Việt Nam gồm có hai chủ
thể chính là NHNN và các TCTD.
Hàng hóa trên TTLNH, về bản chất đó chính là các khoản dự trữ dư thừa thể hiện trên
số dư tài khoản tiền gửi của các TCTD tại NHNN, có thể cả nội tệ và ngoại tệ. Xét trên
từng thị trường thành phần cụ thể thì có một số quy định và đặc điểm riêng biệt, như trên
thị trường mua bán các GTCG, thì các GTCG được phép mua, bán là : Tín phiếu Ngân
hàng Nhà nước; Trái phiếu Chính phủ; Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh; Trái phiếu
Chính quyền địa phương; Giấy tờ có giá do các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng
nước ngoài phát hành (bao gồm cả giấy tờ có giá do chính tổ chức tín dụng, chi nhánh
ngân hàng nước ngoài đó phát hành) theo quy định của Ngân hàng Nhà nước; các loại tín
phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu do tổ chức khác phát hành.
24
3. Thực trạng hoạt động thị trường liên ngân hàng Việt Nam
3.1
Thị trường cho vay và gửi tiền (giữa các TCTD với nhau và với NHTW)
3.1.1 Lãi suất liên ngân hàng
%
Đồ thị3.1 : Lãi suất liên ngân hàng các kỳ hạn 2011-2012
Lãi suất trên thị trường LNH có những thay đổi lớn, liên tục do NHNN điều chỉnh cặp
LS chỉ đạo nhằm thực hiện các mục tiêu CSTT của NHNN. Như trong năm 2008, cầu về
vốn của các TCTD tăng cao đã gây nên một cuộc chạy đua lãi suất trên thị trường LNH,
đẩy lãi suất BQ LNH lên rất cao, NHNN đã phải từng bước giảm LSTCK và LSTCV
nhằm tạo thêm VLD cho các TCTD có thể bù đắp khả năng thanh toán và cung cấp vốn
cho nền kinh tế. Hay khi nền kinh tế rơi vào khủng hoảng (2009-2010), lạm phát ở mức
quá cao, để kiềm chế lạm phát, NHNN thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt, liên tục nâng
LSTCK, LSTCV (LSTCK từ 6% (cuối 2009) lên 13% (năm 2010), LSTCV từ 8% (cuối
2009) lên 15% (năm 2010). Vào năm 2012, NHNN 6 lần hạ trần lãi suất. LSTCK,
LSTCV cũng giảm xuống kéo theo xu hướng giảm của lãi suất liên ngân hàng.
Lãi suất trên thị trường LNH cũng biến động theo mùa vụ, ví dụ như vào những tháng
cuối năm, giáp Tết nguyên đán, nhu cầu VLĐ của các TCTD tăng cao, đẩy lãi suất trên
thị trường LNH tăng theo.
25
2.1. Thị trường vay mượn tiền tệ ( Call Market ) : ………………………………………………… 153. Các chủ thể tham gia …………………………………………………………………………………… 164. Thực trạng hoạt động giải trí thị trường liên ngân hàng Nhật Bản ………………………………. 17III. Thị trường liên ngân hàng Nước Ta ………………………………………………………………. 211. Quá trình tăng trưởng của thị trường tiền tệ liên ngân hàng Nước Ta …………………. 212. Các bộ phận cấu thành thị trường liên ngân hàng Nước Ta ……………………………. 243. Thực trạng hoạt động giải trí thị trường liên ngân hàng Nước Ta ……………………………… 254. Một số sống sót và nguyên do ……………………………………………………………………… 30C hương 3 : Một số giải pháp tăng trưởng thị trường liên ngân hàng ở Nước Ta …………….. 311. Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý ………………………………………………………………………… 312. Phát triển thị trường repo ………………………………………………………………………………… 323. Nâng cao vai trò quản trị, quản lý và điều hành của Ngân hàng Nhà nước việt nam …………………….. 32C hương 1 : Cơ sở lý luận về thị trường liên ngân hàngI. Khái niệm, thực chất của thị trường liên ngân hàngThị trường liên ngân hàng là nơi những ngân hàng hoặc những TCTD vay mượn nhaucác khoản dự trữ dư thừa nhằm mục đích bù đắp nhu yếu ngân quỹ trong thời điểm tạm thời cho những nghĩa vụ và trách nhiệm tàichính liên tục. Hiểu theo nghĩa rộng, thị trường liên ngân hàng là nơi thực thi những thanh toán giao dịch cơbản ( Money Base – MB ) giữa những ngân hàng, thường thì những thanh toán giao dịch này thực hiệnthông qua thông tin tài khoản tiền gửi của những ngân hàng tại ngân hàng TW. Đây là thịtrường thực thi những thanh toán giao dịch vốn thời gian ngắn dưới nhiều hình thức giữa những ngân hàng vàcác tổ chức triển khai trung gian kinh tế tài chính khác. Hiểu theo nghĩa hẹp, thị trường liên ngân hàng lànơi thực thi việc cho vay và đi vay lẫn nhau giữa những ngân hàng nhằm mục đích bù đắp nhu cầugây quỹ của mình. II. Đặc điểm của thị trường liên ngân hàngMột là, thị trường liên ngân hàng là thị trường vốn thời gian ngắn : Tuy những quốc giakhông lao lý thị trường liên ngân hàng là thị trường vốn thời gian ngắn nhưng trong thực tếcác thanh toán giao dịch trên thị trường liên ngân hàng chủ yều là thanh toán giao dịch thời gian ngắn. Hai là, thị trường liên ngân hàng hầu hết là thị trường bán sỉ : Hàng hóa giaodịch ở thị trường liên ngân hàng là mua và bán tiền gửi ngân hàng, tức là khỏan dự trữ dưthừa trong thời điểm tạm thời với những thanh toán giao dịch lớn trị giá hơn 1 triệu USD ( tức là bán sỉ ). Ngòai ra, những loại sách vở có giá thời gian ngắn là sản phẩm & hàng hóa được mua và bán liên tục và khối lượnglớn trên thị trường này. Ba là, thị trường liên ngân hàng là thị trường vay mượn vay mượn với độ rủi rocao. Các thanh toán giao dịch ở đây hầu hết không có gia tài bảo vệ, những thủ tục pháp lý cực kỳđơn giản. Vì vậy, để trở thành thành viên của thị trường, những ngân hàng và những tổ chứctrung gian kinh tế tài chính phân phối được những nhu yếu về vốn, ký quỹ, trình độ, đạo đức nghềnghiệp và có giấy phép hành nghề. Bốn là, thị trường liên ngân hàng là thị trường cực kỳ nhạy cảm và là thị trườngthông tin : Thị trường liên ngân hàng là một mạng lưới những quan hệ ngân hàng đại lý, trong đó ngân hàng thương mại mở tài khỏan tiền gửi thanh tóan tại ngân hàng thươngmại khác. Hệ thống tài khỏan giữa những ngân hàng đại lý giúp cho thị trường liên ngânhàng họat động hiệu suất cao. Năm là, thị trường liên ngân hàng là thị trường vô hình dung, link toàn thế giới : Thôngqua mạng lưới hệ thống thanh toán giao dịch văn minh, những doanh vụ mua và bán trên thị trường liên ngân hàngđược thực thi trên cơ sở link tòan cầu giữa những ngân hàng, những nhà kinh doanh phingân hàng và một môi giới tiền tệ. Sáu là, thị trường liên ngân hàng triển khai thanh toán giao dịch trải qua những công cụ hiệnđại : Thị trường liên ngân hàng là thị trường thanh toán giao dịch mà chủ thể tham gia là những ngânhàng, những nhà kinh doanh ( dealers ) và nhà môi giới ( brockers ). Trên thị trường liên ngânhàng, người môi giới ( đa phần là ngân hàng ) mua và bán tiền gửi qua điện thoại cảm ứng, máy tính … bằng những công cụ phái sinh như quyền lựa chọn, hợp đồng tương lai … III. Các chủ thể tham gia thị trường liên ngân hàng. 1. Các tổ chức triển khai TD, đa phần là những NHTM : Ngân hàng thương mại là tổ chức triển khai kinh doanh thương mại tiền tệ mà hoạt động giải trí đa phần và thườngxuyên là nhận tiền kí gửi từ người mua với nghĩa vụ và trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó đểcho vay, triển khai nhiệm vụ chiết khấu và làm phương tiện đi lại thanh toánMục đích : Kinh doanh tiền tệ từ nguốn vốn trong thời điểm tạm thời nhàn nhã. Đảm bảo năng lực thanh khoản khi người mua rút tiền hoặc giải ngân cho vay, tăng tínhthanh khoản trên thị trường. Huy động nguồn vốn với ngân sách thấp để kinh doanh thương mại. NHTM kêu gọi và tậptrung những nguồn vốn rảnh rỗi trong nền kinh tế tài chính ; mặt khác với số vốn này NHTMsẽ cung ứng được nhu yếu vốn của nền kinh tế tài chính để sản xuất kinh doanh thương mại. Qua đó nóthúc đẩy nền kinh tế tài chính phát triểnGiảm thiểu ngân sách thời cơ do phải duy trì dự trữ bắt buộc. 2. Ngân hàng TW : Ngân hàng TW là một định chế công cộng, hoàn toàn có thể độc lập hoặc trực thuộcChính phủ, thực thi tính năng độc quyền phát hành tiền, là ngân hàng của những ngânhàng, ngân hàng của nhà nước và chịu nghĩa vụ và trách nhiệm trong việc quản trị Nhà nước về cáchoạt động về tiền tệ, tín dụng thanh toán cho tiềm năng tăng trưởng và không thay đổi của hội đồng. Mục đích : điều tiết thị trường trải qua những công cụ chủ trương tiền tệ để duy trì cácđiều kiện tiền tệ trên thị trường liên ngân hàng tương thích với tiềm năng hoạt độngIV. Các thanh toán giao dịch hầu hết trên thị trường liên ngân hàng. 1. Gửi tiền và nhận tiền gửi ở ngân hàng khác2. Vay và cho vay ngân hàng khác3. Mua bán hẳn hoặc có kỳ hạn những sách vở có giáV. Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng. Lãi suất trên thị trường nội tệ liên ngân hàng là lãi suất vay thỏa thuận hợp tác, biến hóa theothời gian và tương thích với chủ trương lãi suất vay của NHTW. Nói cách khác, sự biến hóa lãisuất liên ngân hàng phụ thuộc vào vào sự đổi khác những yếu tố cấu thành cung – cầu vốn khảdụng. NHTW là người chi phối sự dịch chuyển của lãi suất vay liên ngân hàng mặc dầu nó là lãisuất thị trường và được hình thành do quan hệ cung và cầu vốn khả dụng trên thị trường liênngân hàng. NHTW hoàn toàn có thể tiếp tục ảnh hưởng tác động vào lãi suất vay nội tệ liên ngân hàng theoyêu cầu của chủ trương tiền tệ trải qua việc phong cách thiết kế một mạng lưới hệ thống lãi suất vay chủ yếu và sửdụng để kiểm soát và điều chỉnh lãi suất vay liên ngân hàng hàng ngày. VI. Thanh toán trên thị trường liên ngân hàng. Trên thị trường liên ngân hàng, những thanh toán giao dịch liên ngân hàng đựơc thanh toán giao dịch liênngân hàng hoặc qua mạng lưới hệ thống Chips ( Clearing House Interbank Payments System ). Đâylà mạng lưới hệ thống thanh toán giao dịch được vi tính hóa với chủ sở hữu là những ngân hàng giao dịch thanh toán bù trừlớn. Thông thường giao dịch thanh toán giữa 2 ngân hàng tương quan được triển khai trải qua Tungtâm giao dịch thanh toán bù trừ ( Clearing House ). Đây là một tổ chức triển khai mà tại đó những ngân hàng duytrì một lượng tiền trên thông tin tài khoản của những ngân hàng khác nhằm mục đích giao dịch thanh toán những giaodịch liên ngân hàng. Cũng hoàn toàn có thể thực thi giao dịch thanh toán liên ngân hàng qua mạng lưới hệ thống Swipt ( có từ năm1977 ) và thay thế sửa chữa cho bưu điện và điện tín. Hệ thống này được link với nhau bằng vệtinh và những bức điện được chuyển hóa giữa những ngân hàng đựơc tiêu chuẩn hóa nhằm mục đích tốiđa hóa những sai sót do tập quán và ngôn từ. Hầu hết những ngân hàng trên quốc tế, kể cảNga, những nước Đông Âu, Nước Ta … đều đã tham gia thị trường này. VII. Vai trò của thị trường liên ngân hàng1. Đối với NHTM – Đảm bảo cho nguồn vốn của toàn mạng lưới hệ thống ngân hàng được điều hòa và phân chia có hiệuquả – Thị trường liên ngân hàng tạo tính lỏng cho những khoản ngân quỹ nói riêng và những khoảnmục gia tài khác của NHTM – Tác động tích cực đến nhu yếu quản trị vốn khả dụng của mạng lưới hệ thống NHTM – Giảm ngân sách thời cơ của việc duy trì dự trữ tiếp tục cho những NHTM2. Đối với NHTW – Thị trường nội tệ liên ngân hàng là nơi cung ứng thông tin về thực trạng vốn khả dụngcủa mạng lưới hệ thống những tổ chức triển khai tín dụng thanh toán – Tiếp nhận và chuyển tải ảnh hưởng tác động của chủ trương tiền tệ đến nền kinh tế tài chính. Chương 2 : Thị trường liên ngân hàng một số ít nước và Việt NamI. 1. Thị trường liên ngân hàng Trung QuốcQuá trình hình thành và tăng trưởng thị trường liên ngân hàng Trung QuốcThị trường liên ngân hàng Trung Quốc được xây dựng vào năm 1996, tuy nhiên, cácngân hàng thương mại và tổ chức triển khai tín dụng thanh toán đã khởi đầu thanh toán giao dịch với nhau từ những năm80 của thế kỷ 20, khi chưa có sự quản trị quản lý của Ngân hàng Trung ương TrungQuốc. Ban đầu, mối quan hệ tín dụng thanh toán giữa những ngân hàng được hình thành đa phần nhằmcân đối những nguồn vốn trung và dài hạn. Vào năm 1993, thị trường liên ngân hàng trở nênhỗn loạn do những doanh nghiệp và tổ chức triển khai phi kinh tế tài chính sử dụng một lượng lớn nguồn vốnvay ( kỳ hạn ngắn ) trên thị trường liên ngân hàng để góp vốn đầu tư vào những gia tài rủi ro đáng tiếc trênthị trường sàn chứng khoán hoặc bất động sản. Bên cạnh đó, thanh toán giao dịch trên thị trường liênngân hàng còn không tuân theo khuôn khổ lãi suất vay của ngân hàng Trung ương TrungQuốc ( PBC ). Đây là một trong những nguyên do đa phần gây ra lạm phát kinh tế cao ở TrungQuốc thời kỳ đó. Do vậy, thiết kế xây dựng một thị trường liên ngân hàng có sự quản trị của Ngânhàng Trung ương là tiềm năng quan trọng nhất trong quy trình cải cách thị trường tàichính. Ngay từ năm 1996, Ngân hàng TW Trung Quốc đã đề ra những giải pháp cảicách : Thứ nhất, chất lượng của những tổ chức triển khai kinh tế tài chính đã được xếp hạng. Thứ hai, tổng thể những thành viên thanh toán giao dịch trên thị trường liên ngân hàng phải thực hiệnthông qua mạng lưới hệ thống thanh toán giao dịch điện tử của Ngân hàng TW giúp cho Ngân hàngTrung ương Trung Quốc chớp lấy kịp thời thông tin về cung và cầu vốn khả dụng của hệthống ngân hàng. Thứ ba, Ngân Hàng Trung ương Trung Quốc số lượng giới hạn kỳ hạn đáo hạn và số lượngcho vay, đi vay so với toàn bộ những tổ chức triển khai kinh tế tài chính. Theo đó thì so với những ngân hàngthương mại thời hạn đáo hạn lớn nhất của những khoản cho vay lẫn nhau trên thị trường liênngân hàng là không được vượt quá 4 tháng và số lượng cho vay, đi vay phải dựa trênkhoản mục cân dối tiền gửi. Còn so với những Tổ chức kinh tế tài chính phi ngân hàng thì kỳ hạnđáo hạn ít hơn 7 ngày và số lượng cho vay, đi vay dựa trên năng lực của nguồn vốn. 2. Các bộ phận cấu thành thị trường liên ngân hàng Trung QuốcThị trường tiền tệ Trung Quốc được hình thành bởi những thị trường cấp dưới sau : Thịtrường liên ngân hàng, thị trường hợp đồng mua lại trái phiếu, thị trường trái phiếu, thịtrường tiền tệ và nhiệm vụ thị trường mở, thị trường tín phiếu ). Sự tăng trưởng của những thịtrường cấp dưới này cho thấy sự tăng trưởng của thị trường tiền tệ Trung Quốc. Từ tháng1 / 1996 : Thị trường liên ngân hàng Trung quốc ( được quản lý và điều hành bởi NIFC ) gồm có những thị trường bộ phận : – Thị trường CHIBOR ( Thị trường vay – cho vay LNH ) : Lãi suất liên ngân hàngTrung Quốc – China Interbank Offered Rate ( CHIBOR ) là lãi suất vay thả nổi trên thịtrường tín dụng thanh toán liên ngân hàng. Tháng 2/2007, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc ( PBC ) chính thức cho ra đời mạng lưới hệ thống lãi suất vay cho vay liên ngân hàng mới SHIBOR áp dụngtrên thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Theo Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc, đây là kếtquả của những nỗ lực nhằm mục đích tăng cường tự do hoá tỷ suất lãi suất vay theo hướng thị trường vàcủng cố mạng lưới hệ thống lãi suất vay chuẩn trên thị trường tiền tệ Trung Quốc. SHIBOR được tínhcho tổng thể những ngày trong tuần kể cả ngày nghỉ gồm có 16 kì hạn từ qua đêm cho đến 1 năm. Trong khi đó, CHIBOR chỉ có 7 kì hạn : qua đêm, 7 ngày, 14 ngày, 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng, 4 tháng. Sự phong phú về kì hạn này đã tạo ra hàng loạt loại sản phẩm phái sinh giaodịch trên thị trường liên ngân hàng từ đó thôi thúc sự tăng trưởng của thị trường liên ngânhàng Trung Quốc. – Thị trường trái phiếu LNH ( Bond market ) và thị trường mua lại trái phiếu ( RepoBon market ) : Hoạt động repo trái phiếu ở Trung Quốc chính thức mở màn từ năm 1991. Tuy nhiên, tiến trình từ năm 1991 đến tháng 6/1997 hoạt động giải trí này mới chỉ diễn ra trên Sởgiao dịch sàn chứng khoán Thượng Hải. Vào đầu năm 1997, nhằm mục đích ngăn ngừa nguồn vốn từ cácngân hàng thương mại chảy vào kinh doanh thị trường chứng khoán quá nhiều, PBC buộc những ngânhàng thương mại phải rút vốn từ những thanh toán giao dịch repo trái phiếu trên Sở thanh toán giao dịch chứngkhoán về triển khai trên thị trường trái phiếu liên ngân hàng. – Thị trường ngoại hối liên ngân hàng. 3. Các chủ thể tham gia trên thị trường3. 1. Các tổ chức triển khai tín dụngBộ phận quan trọng những tổ chức triển khai tín dụng thanh toán tham gia thị trường tiền tệ liênngân hàng Trung Quốc chính là những ngân hàng thương mại. Hiện nay, hoàn toàn có thể nói số lượngcác ngân hàng thương mại của Trung Quốc khá lớn với nhiều hình thức ngân hàng như : Ngân hàng chủ trương ( Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Trung Quốc, Ngân hàng pháttriển Trung Quốc, Ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc ), Ngân hàng thương mại cấpmột : Ngân hàng Trung Quốc, những Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc, những Ngân hàngnông nghiệp của Trung Quốc, và Ngân hàng Công thương Trung Quốc, Ngân hàngthương mại cấp hai ( gồm những ngân hàng thương mại nhỏ hơn ), Ngân hàng thương mạithành phố ( hầu hết được xây dựng trên cơ sở hợp tác xã tín dụng thanh toán đô thị ) và Ngân hàngnước ngoài. 3.2. Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc ( PBC ) Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc xây dựng ngày 11 tháng 12 năm 1948 trên cơ sởhợp nhất những ngân hàng Hoa Bắc, ngân hàng Bắc Hải và ngân hàng nông dân Tây Bắc. Ngân hàng nhân dân Trung Quốc có quyền trấn áp chủ trương tiền tệ và quản trị cácđịnh chế tài chính, tham gia vào thị trường tiền tệ liên ngân hàng với tư cách là Ngườiđiều tiết thị trường trải qua những công cụ chủ trương tiền tệ. Đây cũng là ngân hàng cólượng gia tài kinh tế tài chính nhiều hơn bất kể định chế kinh tế tài chính công cộng nào trong lịch sử dân tộc. 3.3. Người môi giới và những trung gian giao dịch4. Thực trạng hoạt động giải trí thị trường liên ngân hàng Trung QuốcThị trường cho vay và thị trường repo giữa những TCTD có sự tham gia của Ngânhàng Nhân dân Trung Quốc và những tổ chức triển khai tín dụng thanh toán trong đó NHTM chiếm hầu hết. Dòng chảy của nguồn vốn giữa những tổ chức triển khai kinh tế tài chính bộc lộ theo những đặc thù : thứnhất, những ngân hàng lớn đóng vai trò là nhà cung ứng quỹ ròng trên cả thị trường repo vàthị trường cho vay liên ngân hàng, và số tiền cho vay ròng của họ liên tục tăng. Thứ hai, những ngân hàng nhỏ và vừa, những công ty sàn chứng khoán, những công ty quản trị quỹ và những tổchức kinh tế tài chính khác có nhu yếu kinh tế tài chính ngày càng tăng. Cụ thể là những ngân hàng nhỏ vàvừa và những tổ chức triển khai kinh tế tài chính gây quỹ quốc tế trở thành người đi vay ròng trên thịtrường cho vay liên ngân hàng, chứ không phải là người cho vay ròng trong năm ngoái. Bảng 4.1 : Dòng vốn trong những tổ chức triển khai kinh tế tài chính năm 2012 Đơn vị : 100 triệu nhân dân tệRepo20122011Ngân hàng lớn hỗ trợ vốn trong nước-550, 748 – 289,596 Ngân hàng vừa và nhỏ hỗ trợ vốn trong nước242, 558118,134 Công ty sàn chứng khoán và công ty quản trị quỹ 130,06766,659 Công ty bảo hiểm53, 27024,926 Tổ chức kinh tế tài chính hỗ trợ vốn nước ngoài20, 73410,079 Tổ chức kinh tế tài chính khác104, 12069,798 Nguồn : Hệ thống thương mại ngoại hối Trung Quốc CFETSCho vayliên ngân hàng20122011-73, 486 – 18,5145,112 – 32,64434,88910,2379,972 – 9,57123,51313,464 Lãi suất liên ngân hàngĐồ thị 4.1 : Lãi suất qua đêm liên ngân hàng năm 2010 – 2012T ừ cuồi quý III năm 2010 đến đầu năm 2011, lãi suất vay SHIBOR dịch chuyển liên tục, có những thời gian dịch chuyển mạnh. Những kì hạn dài như 6 tháng, 9 tháng, 1 nămSHIBOR có khuynh hướng tăng. Những kì hạn ngắn hơn thì có khuynh hướng tăng trong quý IV10năm 2010 và đang giảm dần trong quý I năm 2011. Các biểu đồ dưới đây đều cho thấyvào thời gian cuối năm 2010 lãi suất vay SHIBOR của toàn bộ những kì hạn đều tăng cao. Chínhphủ Trung Quốc cho biết chỉ số giá tiêu dùng ( CPI ) tháng 10 của nước này đã tăng 4,4 % so với cùng kỳ 2009, cao nhất trong vòng 2 năm qua. Con số này cũng cao hơn nhiều sovới dự báo được giới nghiên cứu và phân tích đưa ra trước đó cũng như mức lạm phát kinh tế của Trung Quốctrong thánh 9 ( 3,6 % ). Để kiềm chế lạm phát kinh tế, nhà nước Trung Quốc đã đưa ra hàng loạtcác giải pháp nhằm mục đích trấn áp giá thành như tăng lãi suất vay cơ bản, hạn chế tăng trưởng tíndụng và tăng trưởng nóng, … Như vậy lãi suất vay SHIBOR trong quý IV năm 2010 chính làhệ quả của chủ trương tiền tệ nước này. Từ đầu năm 2011, nhìn chung lãi suất vay thị trường tiền tệ cao hơn trong những nămtrước. Sau khi lãi suất vay trung bình hàng tháng của trái phiếu cam kết repo và cho vay liênngân hàng tương ứng hàng năm đạt mức cao 4,94 % và 4,56 % vào tháng 6 thì đều sụtgiảm ngay sau đó. Vì 1 số ít yếu tố, như khối lượng tiền rút ra trước đợt nghỉ lễ quốc khánhvà nhìn nhận hiệu suất cao ở đầu cuối theo quý của ngân hàng thương mại, lãi suất vay đã leo caođáng kể vào tháng 9 trên đối sánh tương quan so sánh với tháng 6 và tháng 8. Tại thời gian cuốitháng 9, lãi suất vay qua đêm, lãi suất vay Shibor kì hạn 7 ngày, và 3 tháng tương ứng giậm chântại 4,8925 % ; 5,0025 % ; và 5,6466 %, giảm 11 ; 160 và 75 điểm cơ bản từ cuối tháng 6. Trong năm 2012, lãi suất vay trên thị trường tăng vào thời hạn chuẩn bị sẵn sàng cho TếtNguyên đán và giảm ngay sau đó, nhưng nhìn chung lãi suất vay vẫn không thay đổi và thấp hơn sovới năm trước. Trong tháng 12, lãi suất vay vay liên ngân hàng là 2,61 %, giảm 72 điểm cơbản so với cùng kỳ năm ngoái. Vào cuối năm 2012, lãi suất vay qua đêm và lãi suất vay Shibor kìhạn 7 ngày cố định và thắt chặt tương ứng tại mức 3,87 % và 4,58 %, giảm 113 và 175 điểm cơ bản sovới cuối năm 2011 ; lãi suất vay Shibor kì hạn 3 tháng và 1 năm tương ứng là 3,90 % và4, 40 %, giảm 157 và 84 điểm. 11S o sánh giữa những năm, ta thấy lãi suất vay liên ngân hàng biểu lộ tính mùa vụ của thịtrường liên ngân hàng Trung Quốc, luôn ở mức cao vào những dịp lễ tết Nguyên đán. Lãisuất thời gian ngắn có biên độ giao động lớn hơn so với lãi suất vay dài hạn chứng tỏ những giao dịchcho vay, gửi tiền ở những kỳ hạn ngắn hầu hết cung ứng nhu yếu thanh khoản của những ngânhàng. Doanh số thanh toán giao dịch trên thị trường liên ngân hàngTổng khối lượng thanh toán giao dịch năm 2010 tăng mạnh so với năm 2009. So với hoạt độngvay mượn, hoạt động giải trí repo trái phiếu tỏ ra linh động, bảo đảm an toàn và có lãi suất vay không thay đổi hơn. Vìthế khối lượng thanh toán giao dịch của hoạt động giải trí này trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng cũnglớn hơn nhiều so với hoạt động giải trí vay mượn. Tổng khối lượng thanh toán giao dịch repo trái phiếu trênthị trường tiền tệ năm 2010 của Trung Quốc tăng mạnh so với năm 2009 từ 677007.32 triệu NDT lên 846533.48 triệu NDT tương tự với mức tăng 25.04 %. Ở cả 2 hoạt động giải trí, khối lượng thanh toán giao dịch không phải tăng ở toàn bộ những kì hạn mà chỉ tăng ởcác kì hạn : qua đêm, 7 ngày, 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng, 4 tháng, 6 tháng, 9 tháng. Các kì hạn còn lại khối lượng giao dịchgiảm 1 lượng nhỏ. Ở hoạt động giải trí vay, chovay những ngân hàng khác, những kỳ hạn ngắnđược thanh toán giao dịch với khối lượng lớn. KhốiKhối lượng thanh toán giao dịch cho vay những kỳ hạn trên 201012 lượng thanh toán giao dịch kỳ hạn qua đêm lên đến 244862 trăm triệu nhân dân tệ, chiếm 87,86 % tổng khối lượng thanh toán giao dịch. Đầu năm 2011, thị trường tiền tệ liên ngân hàng Trung Quốc có nhiều tín hiệu sụtgiảm so với năm 2010. Thứ nhất, về thanh toán giao dịch cho vay : trong tháng 1/2011, khối lượnggiao dịch đạt 1.7 nghìn tỷ NDT giảm 36.8 % so với tháng trước ( 12/2010 ). Trong đó, thanh toán giao dịch cho vay qua đêm đã chiếm khối lượng khoảng chừng 1.4 nghìn tỷ NDT. Thứ hai, vềgiao dịch repo : khối lượng thanh toán giao dịch trong tháng 1/2011 đạt 6.9 nghìn tỷ NDT giảm9. 58 % so với tháng 12/2010. Như vậy, hoàn toàn có thể thấy rằng cùng với sự dịch chuyển thườngxuyên của lãi suất vay thì khối lượng thanh toán giao dịch trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng TrungQuốc cũng dịch chuyển liên tục. Các tác động ảnh hưởng từ chủ trương tiền tệ hay những biến độngcủa nền kinh tế tài chính đều sẽ tác động ảnh hưởng đến lãi suất vay liên ngân hàng cũng như khối lượng giaodịch trên thị trường này. Giao dịch repo và thanh toán giao dịch cho vay liên ngân hàng trên thị trường tăng trưởng mạnhvà khối lượng thanh toán giao dịch tăng. Trong 3 quý đầu năm 2011, lệch giá của trái phiếu repođạt tổng số là 71,8 nghìn tỷ nhân dân tệ, với lệch giá trung bình ngày là 384,2 tỷnhân dân tệ, tăng 11,1 % so với cùng kỳ. Doanh thu của thanh toán giao dịch cho vay liên ngân hàngđạt mức 23,9 nghìn tỷ nhân dân tệ, với lệch giá trung bình ngày là 127,6 tỷ nhân dân tệ, tăng 18,4 % so với cùng kỳ. Thị trường thanh toán giao dịch vẫn tập trung chuyên sâu vào những thanh toán giao dịch quađêm, với trái phiếu repo qua đêm và thanh toán giao dịch liên ngân hàng tương ứng chiếm 75,5 % và84, 2 % tổng doanh thu, giảm 4,5 và 3,5 điểm Tỷ Lệ so với cùng kỳ năm ngoái. Tổngdoanh số của hoạt động giải trí mua lại sàn chứng khoán chính phủ nước nhà tăng trên thị trường chứng khoántăng vọt lên 202,2 % so với năm trước đạt tới 13,6 tỷ nhân dân tệ. Trong năm 2012, doanh thu của những hợp đồng mua trái phiếu trên thị trường tráiphiếu liên ngân hàng đạt 141,7 nghìn tỷ nhân dân tệ, với doanh thu trung bình hàng ngày569, 1 tỷ nhân dân tệ, tăng 43,1 % so với cùng kỳ năm ngoái. Doanh thu của những khoảnvay liên ngân hàng đạt 46,7 nghìn tỷ nhân dân tệ, với lệch giá trung bình hàng ngày đạt187, 6 tỷ nhân dân tệ, tăng 40,2 % so với cùng kỳ. Kỳ hạn qua đêm chiếm tới 80,7 % 86,3 % doanh thu tương ứng trên thị trương repo và thị trường cho vay liên ngân hàng, tăng 5,9 và 4,6 điểm Phần Trăm so với cùng kỳ năm ngoái. 13G iấy tờ có giá được thanh toán giao dịch trên thị trưởng liên ngân hàng Trung Quốc ngày càngđa dạng. Nhiều loại sàn chứng khoán phái sinh như : hợp đồng hoán đổi lãi suất vay, hợp đồng lãisuất kì hạn, những mẫu sản phẩm quản trị doanh thu kinh tế tài chính, … mở màn được sử dụng trong thờigian gần đây. Khối lượng thanh toán giao dịch những loại sàn chứng khoán này tăng nhanh gọn qua cácnăm, nhất là thanh toán giao dịch hoán đổi lãi suất vay. Bảng 4.2 : Khối lượng thanh toán giao dịch phái sinh, 2006 – 2012N guồn : Hệ thống thương mại ngoại hối Trung QuốcII. Thị trường liên ngân hàng Nhật Bản1. Lịch sử hình thành và tăng trưởng của thị trường liên ngân hàng Nhật Bản Trước cuộc chiến tranh quốc tế thứ 2, thị trường tiền tệ liên ngân hànglà thị trườngduy nhất hoàn toàn có thể sống sót và đáng chú ý quan tâm trong thời kì này. Thực chất đây là thị trường cácngân hàng vay mượn, gửi tiền lẫn nhau. Thị trường này được xây dựng bởi những nhàngân hàng tiên phong, khi mà chính phủ nước nhà nỗ lực giảm sự nhờ vào của những ngân hàngvào việc vay từ Ngân Hàng Trung Ương Nhật. Từ sau sau cuộc chiến tranh quốc tế thứ 2, hai cơ quan chức năng nắm vai trò điềuhành trên thị trường tiền tệ Nhật Bản là Bộ kinh tế tài chính và Ngân hàng TW Nhật Bản ( BOJ ). Lãi trên thị trường đã được kiểm soát và điều chỉnh theo kiểu hành chính dựa trên những sốliệu suất của những nước khác trên quốc tế mà không tuân theo luật cung và cầu trong nước. Trong tiến trình này thị trường tiền tệ Nhật Bản hoạt động giải trí gặp rất nhiều hạn chế. Chỉ cóthị trường tiền tệ liên ngân hàng là tăng trưởng tốt. Hoạt động này chỉ số lượng giới hạn trong giao14dịch giữa những tổ chức triển khai kinh tế tài chính. Lãisuất trên thị trường này tương đối làlỏng so với hầu hết những loại lãi suấtngắn hạn và dài hạn khác. Năm 1985, thị trường liênngân hàng chiếm 68 % thị trường tiềntệ còn 32 % của thị trường mở. Đến năm 1989, thị trường mởchiếm tỷ trọng lớn hơn 54 % so 46 % của thị trường liên ngân hàng Giao dịch repo, khởi đầu từ năm1996, đã trở thành nòng cốt trong thị trường tiền tệ. Thị trường liên ngân hàng, thị trường đã từng nắm giữ vị trí chủ yếu, thì lại thu hẹpmột chút. Nguyên nhân chính của sự đổi khác này là sự suy giảm lan rộng của kinh tếtrong nước. Khối lượng thanh toán giao dịch của những thị trường quy trình tiến độ 1980 19882. Các bộ phận cấu thành thị trường liên ngân hàng Nhật Bản2. 1. Thị trường vay mượn tiền tệ ( Call Market ) : Có 2 loại thanh toán giao dịch trên Call Market : có bảo vệ và không có bảo vệ. Các hốiphiếu, những khoản nợ thời gian ngắn của chính phủ nước nhà và những loại sàn chứng khoán khác được chấpnhận là vật bảo vệ trong những thanh toán giao dịch có bảo vệ. Các thanh toán giao dịch có kỳ hạn trong nửangày thao tác được gọi là những “ thanh toán giao dịch nửa ngày ” ( half-day call transaction ). Các giaodịch có kỳ hạn đến ngày thao tác tiếp theo được gọi là thanh toán giao dịch qua đêm ( overnight calltransaction ), và những thanh toán giao dịch có ngày đáo hạn dài hơn qua đêm được gọi là giao dich kìhạn ( term call transaction ). Các thanh toán giao dịch trên được thực thi đa phần bởi những công ty tưbản “ tanshi ”. Việc thanh toán giao dịch được thực thi hoặc vào ngày ghi trên hợp đồng hoặc vàocác ngày sau đó. Các thanh toán giao dịch được thanh toán giao dịch vào ngày ghi trên hợp đồng được gọi làcác thanh toán giao dịch “ cùng ngày ” ( same-day-start transaction ) so với những thanh toán giao dịch có bảo vệ, 15 và thanh toán giao dịch tiền mặt ( cash transaction ) so với những thanh toán giao dịch không có bảo vệ. Chủ yếucác thanh toán giao dịch là qua đêm, chịu tác động ảnh hưởng mạnh bởi việc tổ chức triển khai thị trường tiền tệ củaNHTW Nhật Bản. 2.2 Thị trường mua, bán chi phiếu ( general collateral ( GC ) repo ) là việc triển khai mua, bán những chứng từ có giá của những ngân hàng với nhau, ngân hàngcho vay bằng cách mua chi phiếu của ngân hàng đi vay. Đồ thị2. 1 : Dòng vốn giữa thị trường vay mượn có bảo vệ và thị trường thu mua chi phiếu3. Các chủ thể tham giaTheo ước tính, có khoảng chừng 500 ngân hàng và công ty tham gia vào thị trường liên ngânhàng, gồm có : • Ngân hàng TW Nhật Bản • Các ngân hàng trong nước được cấp phép : Ngân hàng thành phố : Ngân hàng Mizuho, ngân hàng Tokyo-MitsubishiUFJ, Sumitomo Mitsui Banking Corporation, Ngân hàng Resona, Mizuho CorporateBank, Saitama Ngân hàng Resona. Các ngân hàng khu vực : Các ngân hàng thành viên của Thương Hội những ngânhàng khu vực. 16 Các ngân hàng khu vực II : những ngân hàng thành viên của Thương Hội thứ haicủa những ngân hàng khu vực. Ngân hàng tín thác : là những quỹ tín thác có thêm hoạt động giải trí kinh doanh thương mại ngânhàng thường thì. • Các ngân hàng quốc tế tại Nhật Bản • Các nhà đầu tư có tổ chức triển khai như những công ty góp vốn đầu tư tín thác, công ty bảo hiểmnhân thọ • Công ty tư bản thời gian ngắn ( Tanshi ) là tổ chức triển khai trung gian kêu gọi vốn thời gian ngắn của cácthành viên sau đó sử dụng vốn đó cho những thành viên có nhu yếu vay vốn. Công ty tư bảnngắn hạn thực ra là công ty môi giới. Công ty này do Bộ Tài chính chỉ định, chịu sựgiám sát và chỉ huy của Bộ Tài chính và NHTW Nhật Bản. Công ty tư bản thời gian ngắn hoạtđộng với 2 tính năng : Thực hiện môi giới, liên kết những thông tin nhận được do những thành viên phân phối. Là người đi vay với những ngân hàng thừa vốn, người cho vay ngân hàng thiếuvốn. Hiện nay ở Nhật Bản đang có 6 công ty tư bản thời gian ngắn hoạt động giải trí làm trung gian chuyểnvốn trong thị trường tiền tệ liên ngân hàng. 4. Thực trạng hoạt động giải trí thị trường liên ngân hàng Nhật Bản4. 1. Hoạt động vay mượn tiền tệ4. 1.1. Lãi suất liên ngân hàngNgân hàng Nhật Bản ( BOJ ) theo đuổi chủ trương tiền tệ thả lỏng suốt nhữngnăm đầu của thập kỷ 2000, giữ lãi suất vay cho vay ở mức 0 %. Nhật Bản thậm chí còn thả lỏngchính sách tiền tệ hơn nữa khi BOJ triển khai chủ trương thả lỏng cho vay cả về khốilượng, khiến cho mạng lưới hệ thống kinh tế tài chính tràn ngập tiền mặt, với kỳ vọng phục sinh vận tốc tăngtín dụng và nhu yếu của tư nhân trong nước. Môi trường kinh tế tài chính đổi khác nhanh chóng17cũng xóa nhòa những rủi ro tiềm ẩn tiềm ẩn của chủ trương tiền tệ tự do của BOJ. Bức tranhlạc quan này càng khuyến khích BOJ lê dài chủ trương thả lỏng tiền tệ. Đồ thị 4.1 : Diễn biến lãi suất vay vay mượn không có bảo vệ và lãi suất vay repoNăm 2010, do nguồn quỹ dồi dào, lãi suất vay vay mượn qua đêm xê dịch quanhmức 0.1 %, đứng tại mốc 0.096 % vào cuối tháng 6 và 0.113 % cuối tháng 9. Tháng 5/2010, BOJ liên tục thả lỏng chủ trương tiền tệ, hướng lãi suất vay vay mượnqua đêm không có bảo vệ đổi khác trong khoảng chừng từ 0 % – 0.1 % thay vì giao động quanh0. 1 % như trước đây. BOJ pháp luật lãi suất vay tiền gửi tại ngân hàng TW ( complementary deposit facility ) bằng 0.1 %. Đây được coi là mức lãi sàn ( floor ) vì khivay mượn với mức lãi suất vay trong khoảng chừng 0 % – 0.1 %, những tổ chức triển khai kinh tế tài chính hoàn toàn có thể đem sốvốn đó gửi vào thông tin tài khoản tại BOJ và kiếm doanh thu. Công cụ này giúp duy trì chức năngcủa thị trường tiền tệ dù lượng tiền trong nền kinh tế tài chính đã dư thừa. Tháng 12, lãi suất vay vay mượn qua đêm vẫn theo khuynh hướng giảm, có ngày đã xuốngmốc 0.07 %. Trong năm tài khóa 2011, Ngân hàng liên tục theo đuổi chủ trương thả lỏng tiền tệmạnh mẽ bằng cách duy trì chủ trương lãi suất vay gần như bằng không và liên tục tăng sốtiền qua chương trình mua gia tài trên một quy mô đáng kể từ khoảng chừng 40 đến 65 nghìn tỷyên. 1811/3/20 11, động đất và sóng thần xảy ra ở Nhật Bản đã gây ảnh hưởng tác động to lớn đếnnền kinh tế tài chính. Những người cho vay bán tháo sàn chứng khoán, những khoản vay … khiến giáchứng khoán nhanh gọn giảm xuống, lãi suất vay nói chung và lãi suất vay vay mượn qua đêmnói riêng đều tăng. Dự đoán trước được tình hình này, ngay ngày 14/3, BOJ đã 3 lần bơmra nền kinh tế tài chính tổng số 21.8 nghìn tỷ yên. Lãi suất vay mượn qua đêm nhờ đó đã giảmvề dưới 0.1 %. 4.1.2. Doanh số giao dịchĐồ thị 4.2 Khối lượng thanh toán giao dịch vay mượn liên ngân hàng trải qua công ty tư bản “ tanshi ” Số lượng thanh toán giao dịch trên thị trường nhìn chung ở mức thấp. Điều này cho thấy tạicác ngân hàng có nguồn vốn dự trữ dồi dào và không cần vay mượn liên ngân hàng để bùđắp thanh khoản. Tỷ trọng những khoản vay mượn có bảo vệ ngày càng tăng. 19 Đồ thị 4.3 : Khối lượng thanh toán giao dịch vay mượn tiền tệ không có bảo đảmKhối lượng thanh toán giao dịch không có bảo vệ được thực thi qua công ty tư bản “ tanshi ” năm 2011 duy trì quanh mức 3-5 nghìn tỷ yên. Cũng giống như năm 2010, chủthể cho vay chính là những ngân hàng tín thác ( đa phần là những quý tương hỗ ) và công ty bảohiểm nhân thọ với lãi suất vay cho vay nhỏ hơn 0.1 %. Trong số những chủ thể đi vay chính, ngân hàng thành phố và ngân hàng khu vực chiếm tỷ suất đáng kể. Đồ thị4. 4 : Khối lượng thanh toán giao dịch vay mượn tiền tệ có bảo đảmTrong khi đó, khối lượng thanh toán giao dịch có bảo vệ năm 2011 tăng, trong năm khốilượng thanh toán giao dịch có nhiều dịch chuyển. Bên đi vay, ta thấy sự tăng lên của khối lượng giaodịch được triển khai bởi công tư tư bản “ tanshi ”, trong khi đó những ngân hàng và công tychứng khoán lại đi vay ít đi trên thị trường vay mượn có bảo vệ. Với bên cho vay, cácngân hàng tín thác luôn chiếm tỷ trọng lớn trong số những tổ chức triển khai tín dụng thanh toán cho vay. Trongnăm 2011, ngân hàng tín thác và những ngân hàng khu vực đều tăng khối lượng tiền chovay. 4.2 Hoạt động mua và bán chi phiếuLãi suất vay mượn không có bảo vệ thường nhỏ hơn lãi suất vay repo. Tuy nhiên khicộng những khoản ngân sách khác như phí môi giới thì hoàn toàn có thể lớn hơn, nhỏ hơn, hoặc tương20đương. Lãi suất repo được đẩy lên quanh ngưỡng 0.13 % giữa tháng 11 năm 2010 khi cácngân hàng bán trái phiếu cơ quan chính phủ ( JGBs ). Điều này dẫn đến tồn 1 lượng chứng khoánlớn tại những công ty sàn chứng khoán khiến giá sàn chứng khoán giảm, đẩy lãi suất vay trong đó có lãisuất repo GC tăng lên. Tuy nhiên từ cuối tháng 11, áp lực đè nén tăng đã rút bớt. Sang tháng 12, lãi suất vay GC nằm trong khoảng chừng 0.1 % – 0.11 %. Tháng 4/2011, lãi suất vay repo GC cũng giảmsâu xuống dưới 0.1 % do cung tiền tăng lên sau thảm họa động đất. 5. Đánh giá thị trường liên ngân hàng Nhật BảnThứ nhất, quy mô thanh toán giao dịch lớn, tuy đã giảm nhiều so với quy trình tiến độ trước những vẫnđóng vai trò quan trọng với những ngân hàng cũng như nền kinh tế tài chính. Thứ hai, vận dụng 2 phương pháp giao dich : Trực tiếp giữa những ngân hàng và gián tiếpthông qua môi giới là những công ty tư bản thời gian ngắn “ tanshi ”. Thứ ba, quan hệ tín dụng thanh toán giữa những ngân hàng hoàn toàn có thể được bảo vệ, cũng có thểkhông cần bảo vệ. Hiện nay, vay và cho vay có bảo vệ đang có khuynh hướng tăng. Thứ tư, chính sách điều hoà vốn thị trường, có sự điều tiết của NHTW.III.Thị trường liên ngân hàng Việt Nam1. Quá trình tăng trưởng của thị trường tiền tệ liên ngân hàng Việt Nam1. 1. Giai đoạn 1992 – 1998 Ngày 7/10/1992 Chỉ thị số 07 / CT – NH do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước banhành đã xác nhận và xác lập quan hệ cho vay và đi vay giữa những tổ chức triển khai tín dụng thanh toán ( TCTD ). Có thể nói đây là văn bản pháp lý tiên phong được cho phép TTLNH sống sót và pháttriển ở Nước Ta tuy nhiên chỉ đề cập đến quan hệ cho vay / đi vay mà chưa đề cập tớiquan hệ gửi tiền / nhận tiền gửi, vay vốn giữa những TCTD phải có gia tài bảo vệ cũnggây trở và chưa tương thích với hoạt động giải trí của TTLNH và vốn cho vay chỉ được thực hiệnbằng Nước Ta đồng ” Để thôi thúc thanh toán giao dịch trên thị trường liên ngân hàng, ngày 21/6/1993, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã phát hành Quy chế tổ chức triển khai và hoạt động giải trí của thịtrường liên ngân hàng kèm theo Quyết định số 114 / QĐ-NH14. Theo quy định này thì21hàng tuần những TCTD là thành viên của TTLNH do NHNN tổ chức triển khai cùng gặp nhau tạiNHNN để đưa ra nhu yếu vay / cho vay của mình trên thị trường, từ đó, hình thành nênkhối lượng thanh toán giao dịch và lãi suất vay thanh toán giao dịch. Điều này tạo thời cơ cho những TCTD hiểu biếtlẫn nhau, đồng thời còn được sự tương hỗ của NHNN với vai trò người cho vay cuối cùngkhi thiết yếu. Tuy nhiên thanh toán giao dịch theo hình thức này chỉ họp 1 tuần 1 phiên nên khôngđáp ứng được nhu yếu phát sinh hàng ngày của những TCTD.Khắc phục những sống sót này ngày 6/10/1993, Thống đốc NHNN ban hànhQuyết định số 190 / QĐ – NH14 về việc sửa đổi, bổ trợ một số ít Điều trong Quyết định số114 / QĐ – NH14. Điểm sửa đổi quan trọng là chuyển từ hình thức thanh toán giao dịch ( 1 tuần 1 phiên ) tại TT thị trường sang thanh toán giao dịch trực tiếp với nhau vào toàn bộ những ngàytrong tuần với TT thị trường bằng điện thoại cảm ứng, fax. Các thành viên hoàn toàn có thể trao đổitrực tiếp với nhau để thỏa thuận hợp tác những điều kiện kèm theo của khoản vay hoặc hoàn toàn có thể thanh toán giao dịch bằngđiện thoại với TT thanh toán giao dịch để TT “ liên kết ” giữa thành viên có nhu cầucho vay và đi vay lại với nhau, sau đó những thành viên sẽ tự thỏa thuận hợp tác những điều kiện kèm theo củakhoản vay với nhau. Cùng ngày 6/10/1993, NHNN đã phát hành Quy chế bảo lãnh vay vốn trênthị trường liên ngân hàng, kèm theo Quyết định số 189 / QĐ – NH14 của Thống đốcNHNN. Theo quy định này thì những thanh toán giao dịch cho vay / đi vay lẫn nhau giữa những TCTDchưa có sự “ tin cậy ” lẫn nhau hoàn toàn có thể được NHNN xem xét bảo lãnh. Sự sinh ra củaQuyết định số 189 / QĐ – NH14 thực sự đã thôi thúc những thanh toán giao dịch trên thị trường liênngân hàng, đặc biệt quan trọng là những thanh toán giao dịch vốn bằng ngoại tệ. Trong thời kỳ này, thị trường liên ngân hàng có 1 số đặc thù sau : Các thanh toán giao dịch được thực thi trải qua NHNN, NHNN vừa là người tổ chức triển khai, vừalà thành viên của thị trường. Lãi suất có hai loại : một do Thống đốc NHNN chỉ định, một do sự thỏa thuận hợp tác củacác TCTD.Các thanh toán giao dịch thường dựa trên cơ sở tín chấp giữa những NHTM quốc doanh. Khi nhìn nhận tổng quát thì hoạt động giải trí của thị trường liên ngân hàng trong quy trình tiến độ nàycó 1 số ít thành tựu sau : 22NHNN đã đảm nhiệm được vai trò trung gian trên thị trường liên ngân hàng, tạođiều kiện cho những TCTD có điều kiện kèm theo khám phá và tin cậy lẫn nhau. NHNN đã kịp thời biến hóa những cơ sở pháp lý tương thích với thị trường. Tuy nhiên hoạt động giải trí của TTLNH vẫn còn kém hiệu suất cao, manh mún, những thành viênchưa thực sự tin cậy nhau và thị trường chưa thực sự sôi động còn mang tính tập dượtlà hầu hết. 1.2. Giai đoạn 1998 đến nayTrong tiến trình này thiên nhiên và môi trường pháp lý cho hoạt động giải trí liên ngân hàng đã đượccải thiện rõ ràng. Ngày 15/10/2001, NHNN phát hành Quy chế về cho vay lẫn nhau giữacác TCTD kèm theo Quyết định số 1310 / 2001 / QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN. Theođó những tổ chức triển khai cho vay / đi vay hoàn toàn có thể thỏa thuận hợp tác mức vay, lãi suất vay, thời hạn, điều kiện kèm theo chovay. Tuy nhiên, khủng hoảng cục bộ tài chính Mỹ đã khiến TTLNH Open rất nhiều bấtcập, nguồn vốn của xã hội không được chảy về đúng nơi thiếu vốn ( nền kinh tế tài chính ) mà luẩnquẩn trong mạng lưới hệ thống những TCTD với nhau. Đáng lẽ, ngân hàng là trung gian kinh tế tài chính phânbổ nguồn vốn từ tiết kiệm ngân sách và chi phí đến góp vốn đầu tư và tín dụng thanh toán phải đi vào sản xuất để tạo nhiều hơncủa cải và xử lý việc làm. Nhưng trong thực tiễn lại khác, chính việc làm này của cácNHTM đã làm lãi suất vay cho vay liên ngân hàng có thời gian bị đẩy lên 43 % năm ( năm2008 ) kéo theo lãi suất vay huy vốn trên thị trường 1 ( thị trường dân cư ) cũng cao theo, cuộcđua lãi suất vay diễn ra ngày một mạnh, gây ảnh hưởng tác động xấu đến hàng loạt nền kinh tế tài chính. Đếntháng 6 năm 2012 NHNN chính thức phát hành Thông tư số 21/2012 / TT-NHNN quy địnhvề hoạt động giải trí cho vay, đi vay ; mua, bán có kỳ hạn GTCG giữa những TCTD, Trụ sở ngânhàng quốc tế. Tiếp đó đến đầu tháng 01/2013, NHNN liên tục phát hành Thông tư số01 / 2013 / TT-NHNN sửa đổi, bổ trợ 1 số ít điều tại Thông tư số 21. Thông tư 01 đã nớilỏng lao lý về hoạt động giải trí nhận và gửi tiền của TCTD hơn so với Thông tư 21, đơn cử đãbổ sung lao lý TCTD được triển khai những hoạt động giải trí gửi tiền, nhận tiền gửi thanh toánvà những thanh toán giao dịch gửi tiền, nhận tiền gửi có kỳ hạn tối đa là 3 tháng tại những TCTD khác. Đây chính là bước đổi khác tạo điều kiện kèm theo cho TTLNH có nhiều điều kiện kèm theo tăng trưởng hơn. Như vậy, TTLNH trong tiến trình này có những đặc thù sau : 23 • Cách thức thanh toán giao dịch liên ngân hàng trong quy trình tiến độ này rất phong phú và tương thích, cụthể là những TCTD hoàn toàn có thể mở thông tin tài khoản tiền gửi lẫn nhau, khi có nhu yếu vay / đi vay thì cácbên hoàn toàn có thể thỏa thuận hợp tác ( qua điện thoại thông minh hoặc mạng vi tính ), nhờ đó giảm được ngân sách giaodịch. Ngoài ra những TCTD còn hoàn toàn có thể triển khai chuyển giao vốn trải qua mua, bánGTCG với nhau. • Thời hạn của những thanh toán giao dịch liên ngân hàng cũng nhiều mẫu mã và linh động hơn. Thờihạn thanh toán giao dịch hoàn toàn có thể là qua đêm, 3 ngày, 1 tuần, 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng • Đây là bước tăng trưởng rất tương thích với tiến trình hội nhập và tăng trưởng của nền kinhtế nói chung và thị trường tiền tệ nói riêng. 2. Các bộ phận cấu thành thị trường liên ngân hàng Việt NamTính đến hiện tại thì thị trường tiền tệ Nước Ta được phân loại thành 4 thị trường, gồm có : − Thị trường cho vay, gửi tiền giữa những TCTD ; − Thị trường mua, bán có kỳ hạn sách vở có giá ( GTCG ) giữa những TCTD vớiNHNN ; − Thị trường mua và bán có kỳ hạn GTCG giữa những TCTD ; − Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Các chủ thể tham gia trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng Nước Ta gồm có hai chủthể chính là NHNN và những TCTD.Hàng hóa trên TTLNH, về thực chất đó chính là những khoản dự trữ dư thừa bộc lộ trênsố dư thông tin tài khoản tiền gửi của những TCTD tại NHNN, hoàn toàn có thể cả nội tệ và ngoại tệ. Xét trêntừng thị trường thành phần đơn cử thì có một số ít pháp luật và đặc thù riêng không liên quan gì đến nhau, như trênthị trường mua và bán những GTCG, thì những GTCG được phép mua, bán là : Tín phiếu Ngânhàng Nhà nước ; Trái phiếu nhà nước ; Trái phiếu được nhà nước bảo lãnh ; Trái phiếuChính quyền địa phương ; Giấy tờ có giá do những tổ chức triển khai tín dụng thanh toán, Trụ sở ngân hàngnước ngoài phát hành ( gồm có cả sách vở có giá do chính tổ chức triển khai tín dụng thanh toán, chi nhánhngân hàng quốc tế đó phát hành ) theo lao lý của Ngân hàng Nhà nước ; những loại tínphiếu, kỳ phiếu, trái phiếu do tổ chức triển khai khác phát hành. 243. Thực trạng hoạt động giải trí thị trường liên ngân hàng Việt Nam3. 1T hị trường cho vay và gửi tiền ( giữa những TCTD với nhau và với NHTW ) 3.1.1 Lãi suất liên ngân hàngĐồ thị3. 1 : Lãi suất liên ngân hàng những kỳ hạn 2011 – 2012L ãi suất trên thị trường LNH có những đổi khác lớn, liên tục do NHNN kiểm soát và điều chỉnh cặpLS chỉ huy nhằm mục đích thực thi những tiềm năng CSTT của NHNN. Như trong năm 2008, cầu vềvốn của những TCTD tăng cao đã gây nên một cuộc chạy đua lãi suất vay trên thị trường LNH, đẩy lãi suất vay BQ LNH lên rất cao, NHNN đã phải từng bước giảm LSTCK và LSTCVnhằm tạo thêm VLD cho những TCTD hoàn toàn có thể bù đắp năng lực thanh toán giao dịch và phân phối vốncho nền kinh tế tài chính. Hay khi nền kinh tế tài chính rơi vào khủng hoảng cục bộ ( 2009 – 2010 ), lạm phát kinh tế ở mứcquá cao, để kiềm chế lạm phát kinh tế, NHNN thực thi chủ trương tiền tệ thắt chặt, liên tục nângLSTCK, LSTCV ( LSTCK từ 6 % ( cuối 2009 ) lên 13 % ( năm 2010 ), LSTCV từ 8 % ( cuối2009 ) lên 15 % ( năm 2010 ). Vào năm 2012, NHNN 6 lần hạ trần lãi suất vay. LSTCK, LSTCV cũng giảm xuống kéo theo khuynh hướng giảm của lãi suất vay liên ngân hàng. Lãi suất trên thị trường LNH cũng dịch chuyển theo mùa vụ, ví dụ như vào những thángcuối năm, giáp Tết nguyên đán, nhu yếu VLĐ của những TCTD tăng cao, đẩy lãi suất vay trênthị trường LNH tăng theo. 25
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Thị Trường






