Mô Hình Thị Trường Tiền Tệ Mỹ – Tài liệu text

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản vừa đủ của tài liệu tại đây ( 853.61 KB, 35 trang )

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ – KINH TẾ HOA KỲ

Thị trường sơ cấp

Thị trường liên ngân hang và hợp đồng mua lại

Thị trường tín phiếu kho bạc Thị trường Tiền Tệ Mỹ

Nghiệp vụ thị trường

***Phương Thức Giao Dịch :

Mua và bán trái phiếu chính phủ: Khi Cục dự trữ liên bang (Fed) mua trái phiếu

chính phủ, tiền Được Đưa thêm vào lưu thông. Bởi có thêm tiền trong lưu thông, lãi suất

sẽ giảm xuống và chi tiêu, vay ngân hàng sẽ gia tăng. Khi Fed bán ra trái phiếu chính

phủ, tác Động sẽ diễn ra ngược lại, tiền rút bớt khỏi lưu thông, khan hiếm tiền sẽ làm

tăng lãi suất dẫn Đến vay nợ từ ngân hàng khó khăn hơn.

Quy định lượng tiền mặt dự trữ: Ngân hàng thành viên cho vay phần lớn lượng

tiền mà nó quản lý. Nếu Fed yâu cầu các ngân hàng này phải dự trữ một phần lượng tiền

này, khi Đó phần cho vay sẽ giảm Đi, vay mượn khó hơn và lãi suất tăng lên.

Thay đổi lãi suất của khoản vay từ Fed: Các ngân hàng thành viên của Fed vay

tiền từ Fed để trang trải các nhu cầu ngắn hạn. Lãi suất mà Fed ấn định cho các khoản

24

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ – KINH TẾ HOA KỲ

vay này gọi là lãi suất chiết khấu. Hoạt động này có ảnh hưởng, tuy nhỏ hơn, về số

lượng tiền các thành viên sẽ được vay.

Cục dự trữ liên bang thực hiện chính sách tiền tệ chủ yếu bằng cách Định hướng

“lãi suất quỹ vốn tại Fed”. Đây là tỷ lệ các ngân hàng ấn Định với nhau cho khoản vay

qua Đêm các quỹ đặt cọc tại Cục dự trữ liên bang. Tỷ lệ này do thị trường quyết định chứ

Fed không ép buộc. Tuy vậy, Fed sẽ cố gắng tác Động tỷ lệ này ở con số phù hợp với tỷ

lệ mong muốn bằng cách bổ sung hoặc hạn chế nguồn cung tiền tệ thông qua hoạt Động

của nó trên thị trường.

Cục dự trữ liên bang còn ấn định tỷ lệ chiết khấu – lãi suất mà các ngân hàng

thương mại phải trả khi vay tiền từ Fed. Tuy nhiên, các ngân hàng thường lựa chọn cách

vay quỹ đặt cọc tại Fed từ một ngân hàng khác mặc dù lãi suất này cao hơn tỷ lệ chiết

khấu của Fed. Lý do của cách lựa chọn này là việc vay tiền từ Fed mang tính công khai

rộng rãi, nó sẽ đưa đến chú ý của công chúng về khả năng thanh khoản và mức độ tin cậy

của ngân hàng Đang Đi vay.

Cả hai tỷ lệ trên chi phối lãi suất ưu đãi, là tỷ lệ thường cao hơn 3% so với “lãi

suất quỹ vốn tại Fed”. Lãi suất ưu đãi là tỷ lệ mà các ngân hàng tính lãi đối với khoản

vay của những khách hàng tin cậy nhất.

Ở mức lãi suất thấp, các hoạt động kinh tế được thúc đẩy vì chi phí đi vay thấp, do

đó mà người tiêu dùng và các doanh nghiệp tăng cường mua bán. Ngược lại, lãi suất cao

đưa đến kìm hãm kinh tế vì chi phí đi vay cao hơn. Cục dự trữ liên bang thường điều

chỉnh “lãi suất quỹ vốn tại Fed” mỗi lần ở mức 0,25% hoặc 0,5%. Từ năm 2001 Đến giữa

năm 2003, Fed hạ lãi suất 13 lần, từ 6,25% xuống 1% nhằm chống lại xu hướng suy thoái

kinh tế. Tháng 11 năm 2002, lãi suất do Fed điều chỉnh chỉ còn 1,75% và nhiều mức thấp

hơn cả tỷ lệ lạm phát. Ngày 25/03/2003, “lãi suất quỹ vốn tại FED” tụt xuống mức 1%,

con số thấp nhất kể từ tháng 07 năm 1958 – 0,68%. Bắt đầu từ giữa tháng 06/2004, Cục

dự trữ liên bang bắt đầu nâng lãi suất định hướng 17 lần liên tục lên 5,25% ngày

08/08/2006.

Có thể, Fed cũng đã nỗ lực các hoạt động mua bán trên thị trường nhằm thay đổi

tỷ lệ cho vay dài hạn, tuy nhiên năng lực của nó yếu hơn rất nhiều các định chế tài chính

tư nhân.

-Ưu Điểm :

+ thị trường tiền tệ hoạt động tốt dưới sự điều hành của cục dự trữ liên bang hoa kì

.

+ hàng hóa trên thị trường tiền tệ được sư dụng linh hoạt, đa dạng và phần lớn là

25

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ – KINH TẾ HOA KỲ

những công cụ ngắn hạn như: tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi ,kì phiếu công

ty….Đều là những loại công cụ có tính thanh khoản cao và được giao dịch với khối lượng

lớn.

-Nhược Điểm: thị trường tiền tệ của mỹ rất nhạy cảm đối với các biến động về

chính trị.

2. Hệ Thống Tài Chính Mỹ Dựa Vào Thị Trường

Cấu trúc hệ thống tài chính Mỹ dựa vào thị trường (market based hay security

dominated financial market) với thị trường chứng khoán phát triển bậc nhất thế giới.

Khối lượng tín dụng do ngân hàng cung ứng cho doanh nghiệp là rất nhỏ trong khi lượng

cổ phiếu, trái phiếu mới phát hành trên thị trường tài chính của các doanh nghiệp chiếm

khoảng 15-20%

3. Mối Quan Hệ Giữa Các Chủ Thể Trong Hệ Thống Tài Chính

Mỹ là 1 trong những quốc gia điển hình được đánh giá là có hệ thống tài chính dựa

vào thị trường: thị trường chứng khoán có vai trò tích cực hơn là ngân hàng trong việc tài

trợ vốn và cung cấp các công cụ quản lí rủi ro cho các chủ thể kinh tế. – Chính sách của

Nhà nước có ảnh hưởng nhất định đến cấu trúc của hệ thống tài chính và theo đó là tầm

ảnh hưởng tương đối của hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán. Mỹ đã áp dụng

những chính sách, quy định hạn chế đối với hệ thống ngân hàng để thúc đẩy doanh

nghiệp tìm nguồn tài trợ từ thị trường chứng khoán và theo đó thúc đẩy sự phát triển của

thị trường chứng khoán. VD như Mỹ đã áp dụng những điều luật hạn chế khả năng mở

các chi nhánh của ngân hàng và điều luật Glass-Steagall (1933) hạn chế không cho phép

các ngân hang nắm giữ cổ phiếu đã khiến các công ty lớn của Mỹ phải tìm nguồn tài trợ

từ thị trường tài chính và do đó góp phần làm tăng vai trò của thị trường tài chính trong

hệ thống tài chính.

– Thị trường chứng khoán: có vai trò tích cực trong việc cung cấp các công cụ

quản lí rủi ro, phù hợp với cả những giao dịch tiêu chuẩn và những giao dịch riêng biệt

của các nhà đẩu tư, khuyến khích được sự hình thành các doanh nghiệp mới, tạo điều

kiện cho các doanh nghiệp nhỏ huy động vốn mở rộng và phát triển sản xuất, tạo đà cho

sự đổi mới liên tục trong toàn bộ nền kinh tế và theo đó là sự tăng trưởng,phát triển kinh

tế. Thị trường chứng khoán Mỹ yêu cầu tính minh bạch cao, các bản cáo bạch luôn phải

đúng, chính xác và đúng thời hạn.Yêu cầu của thị trường chứng khoán Mỹ có nhiều cấp

độ khác nhau, dành cho các công ty cổ phần có số vốn và quy mô kinh doanh khác nhau.

– Ở Mỹ, các ngân hàng hoạt động trong một hệ thống quản lý ngân hàng kép (dual

banking system) – nghĩa là chính quyền liên bang và tiểu liên bang đều có quyền kiểm

soát đối với ngân hàng.Các cơ quan quản lý Ngân hàng tại Mỹ bao gồm: Hệ thống dự trữ

liên bang, Cục quản lý tiền, Công ty bảo hiểm tiền gửi liên bang, Bộ tư pháp, Ủy

banchứng khoán và Hội đồng ngân hàng bang.

-Kênh dẫn vốn gián tiếp:

26

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ – KINH TẾ HOA KỲ

+ Ngoài các loại tiền gửi như của Việt Nam thì Mỹ còn có các loại tiền gửi đặc biệt. Đó

là tiền gửi phối hợp giữa tiền gửi dùng séc và tiền gửi tiết kiệm vào các tài khoản giao

dịch bao gồm lệnh rút tiền giao dịch và dịch vụ chuyển ngân tự động.

+ Có các hoạt động huy động vốn khác như đầu tư cho chứng khoán. Đây là nguồn lợi rất

lớn đối với không chỉ các trung gian tài chính Mỹ mà với bất kì nước nào. Nếu tính về

thời hạn có những chứng khoán có thời hạn rất ngắn mà chỉ có ở Mỹ chỉ có thời hạn là

24h có thỏa ước mua lại do ngân hang thương mại phát hành để vay trong 24h gọi là thỏa

ước qua đêm

-Kênh dẫn vốn trực tiếp:

Với sự thống trị của đồng Dola Mỹ trên thế giới,thị trường ngoại hối, thị trường

tiền tệ và thị trường chứng khoán của Mỹ hoạt động rất hiệu quả và làm “ông trùm” trên

thị trường tài chính thế giới. Nó không chỉ lớn về khối lượng giao dịch, giá trị giao dịch

mà còn rất đông các thành viên tham gia, đặc biệt là các NHTW các nước khác trên thế

giới. Sự huy động vốn cũng như đầu tư vốn ở đây rất hiệu quả.”Không quá khó để huy

động vốn từ thị trường chứng khoán Mỹ” là một nhận định trên 1 tờ báo.

4. Sự Luân Chuyển Vốn

a. Phương thức luân chuyển vốn:

Hệ thống tài chính Mỹ cũng giống như các hệ thống tài chính khác, sự luân

chuyển vốn đều diễn ra bằng cả 2 phương thức : Luân chuyển vốn trực tiếp (thị trường tài

chính) và luân chuyển vốn gián tiếp (trung gian tài chính).

+ Trong thị trường, người cần vốn là các doanh nghiệp, các tổ chức kinh doanh

trong và ngoài nước. Các trung gian tài chính sẽ đáp ứng đầy đủ kịp thời nhu cầu vốn và

đồng thời cũng nhận được các khoản lợi nhất định thông qua việc cho vay với lãi suất lớn

hơn lãi suất mà họ trả cho những người gửi tiết kiệm.Tuy nhiên các trung gian tài chính

của Mỹ luôn có 1 nguồn vốn rất lớn dự trữ đảm bảo nguồn vốn luôn được khai thông

trong thị trường tiền tệ. Hơn nữa cấu trúc của hệ thống các trung gian tài chính của Mỹ

cũng rất thông suốt mạch lạc khiến cho khả năng huy động và cung ứng vốn rất nhanh

chóng kịp thời đồng thời cũng huy động được 1 lượng vốn lớn trong thời gian ngắn đảm

bảo cho các hoạt động kinh doanh.

+ Ở Mỹ vốn của các tổ chức Ngân hàng cũng như các trung gian tài chính khác

không được phân bố rộng rãi mà chỉ tập trung trong tay của 1 số cổ đông lớn. Vì thế quá

trình huy động cũng như cung ứng vốn là vô cùng tiện lợi và nhanh chóng.

+ Các thị trường vốn ở Mỹ là huyết mạch của chủ nghĩa tư bản. Các công ty đến

đây nhằm huy động lượng vốn cần thiết để xây dựng nhà máy, văn phòng, máy bay, tàu

hoả, tàu thuỷ, điện thoại và nhiều tài sản khác; để tiến hành nghiên cứu và phát triển sản

phẩm; và để trang trải cho hàng loạt các hoạt động cần thiết khác của tập đoàn. Phần lớn

số tiền này đến từ các tổ chức lớn như các quỹ trợ cấp, các công ty bảo hiểm, các ngân

hàng, các hiệp hội, và các trường cao đẳng và đại học.Nó cũng đến từ các cá nhân ngày

càng nhiều.Vào giữa những năm 1990, hơn 40% số gia đình Mỹ sở hữu cổ phiếu thường.

+ Rất ít nhà đầu tư sẵn sàng mua cổ phần trong một công ty trừ khi họ biết rằng họ

có thể bán chúng sau này nếu cần tiền cho những mục đích khác. Thị trường chứng khoán

27

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ – KINH TẾ HOA KỲ

và những thị trường vốn khác cho phép các nhà đầu tư mua và bán cổ phiếu liên tục.

Những thị trường này còn đóng những vai trò khác nữa trong nền kinh tế Mỹ. Chúng là

một nguồn thu nhập cho các nhà đầu tư. Khi cổ phiếu hoặc các tài sản tài chính khác tăng

giá trị thì các nhà đầu tư trở nên giàu có hơn; thường thường họ tiêu một phần số tài sản

tăng thêm này để hỗ trợ bán hàng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

b.Cơ cấu, vận động vốn:

Do hệ thống tài chính Mỹ là hệ thống tài chính dựa vào thị trường nên khố lượng

tín dụng ngân hàng cung ứng là rất nhỏ ( đối với doanh nghiệp với tín dụng dài hận thậm

chí là bằng 0) .Vốn chủ yếu được huy động trên thị trường chứng khoán- Nơi náo nhiệt

và nhộn nhịp nhất trên thị trường chính Mỹ.

Sau cuộc khủng hoảng hệ thống tài chính Mỹ năm 2008, Tổng thống Obama đã

có những chính sách cũng như những giải pháp để nhanh chóng phục hồi lại hệ thống tài

chính đi vào khuôn khổ và hùng mạnh như trước,vận động vốn có hiệu quả.

5.Thực Trạng Hệ Thống Tài Chính Mỹ

Mỹ đứng thứ 2 trong top 10 điểm đến hấp dẫn nhất thế giới của vốn FDI trong

năm 2010 Thu hút vốn FDI năm 2008: 316,1 tỷ USD Bất chấp khủng hoảng và suy thoái,

nước Mỹ vẫn tăng một bậc về Chỉ số niềm tin FDI trong báo cáo năm 2008 so với năm

2007(theo báo cáo của A.T. Kearney). Điều này cho thấy giới đầu tư toàn cầu muốn tìm

nhiều hơn đến với những điểm đến có độ an toàn cao. Với môi trường kinh doanh tương

đối thông thoáng và mức giá gần đây đã xuống thấp cho các thương vụ mua bán và sáp

nhập, đặc biệt là trong ngành tài chính, nước Mỹ đã tăng sức hấp dẫn đối với các nhà đầu

tư nước ngoài. Hiện tại: Quỹ MMF của Mỹ nắm giữ 1.000 tỉ USD nợ châu Âu và rủi ro

hệ thống. Nguyên do là 3 ngân hàng lớn của châu Âu BNP Paribas SA, Credit Agricole

và Societe Generale bị cơ quan xếp hạng tín dụng Moody’s đe dọa sẽ hạ bậc tín nhiệm nợ

đã huy động được nguồn vốn rất lớn bằng cách bán nợ cho 10 quỹ MMF lớn nhất của

Mỹ. Một yếu điểm khác cần quan tâm là việc duy trì nền kinh tế thị trường ở Mỹ. Bất

chấp những bất ổn kinh tế, nước Mỹ vẫn triệt để duy trì “nền kinh tế thị trường”. Người

Mỹ cho rằng một nền kinh tế nhìn chung vận hành tốt nhất khi các quyết định về sản xuất

cái gì và định giá hàng hóa như thế nào được hình thành thông qua hoạt động trao đổi qua

lại của hàng triệu người mua và người bán độc lập, chứ không phải bởi chính phủ hay

những lợi ích cá nhân có thế lực nào, và bởi vậy nó có thể là chỉ dẫn tối ưu cho nền kinh

tế nên sản xuất cái gì cần thiết nhất. Tuy nhiên cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khởi

nguồn ở Mỹ từ năm 2007 đã bộc lộ những điểm yếu của hệ thống tài chính Mỹ nói riêng

và cơ chế kinh tế thị trường của Mỹ nói chung. Đặc biệt là sự thái quá của cơ chế thị

trường tự do, thiếu giám sát của Chính phủ, kích thích xu hướng chạy theo các hoạt động

rủi ro cao vì mục tiêu lợi nhuận ngắn hạn, trong khi hệ thống các quy định cũng như hệ

thống giám sát tài chính chưa theo kịp sự phát triển của các định chế tài chính và sản

phẩm dịch vụ tài chính phức tạp, công cụ phái sinh, đưa ra giải pháp dài hạn, mang tính

tái cấu trúc và thay đổi tổng thể hệ thống tài chính Mỹ nhằm ngăn chặn hữu hiệu và vững

chắc các nguy cơ khủng hoảng tương tự trong tương lai.

28

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ – KINH TẾ HOA KỲ

V.KINH TẾ MĨ ĐỐI VỚI THẾ GIỚI

Trong hai cuộc chiến tranh thế giới, đặc biệt là sau Thế chiến thứ hai, Mỹ đã sử

dụng hệ thống chính trị ưu việt của mình để từng bước phát triển sức mạnh kinh tế siêu

cường, trở thành cường quốc số một thế giới. Đặc biệt sau sự tan rã của Liên Xô, Mỹ

càng cho thấy sức mạnh của mình trên thế giới.

Tuy nhiên, những yếu tố đã kể trên cùng với những diễn biến nhanh chóng của

tình hình thế giới, thêm vào đó là cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, đã khiến sức

mạnh của Mỹ bắt đầu giảm sút. Theo thống kê, sức mạnh kinh tế của Mỹ so với quy mô

kinh tế toàn cầu trong 10 năm đầu thế kỷ 21 đã giảm 30%, và nếu so với sự phát triển

nhanh chóng của các nước đang phát triển như Trung Quốc và Ấn Độ, con số này còn lớn

hơn. Tất nhiên, sự suy giảm sức mạnh kinh tế sẽ ảnh hưởng đến khả năng lãnh đạo thế

giới của Mỹ. Ngoài ra, do chịu gánh nặng rất lớn về kinh tế và quân sự trong hơn 10 năm

qua ở hai chiến trường Iraq và Afghanistan, cùng với đó là duy trì “trách nhiệm cảnh

sát thế giới”, Mỹ đã phải tiêu tốn mức chi tiêu quốc phòng rất lớn. Trong khi đó, suy

giảm kinh tế dẫn đến suy giảm sức mạnh quân sự, điều này tất yếu sẽ ảnh hưởng đến khả

năng lãnh đạo thế giới của Mỹ.

1. Quan điểm của học giả Anh có thiên hướng khẳng định Mỹ sẽ tiếp tục vai

trò lãnh đạo nền kinh tế toàn cầu, bất chấp sự khủng hoảng và sự suy yếu vị thế lien

quan đến Mỹ

(1) Mặc dù bị ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng tín dụng, Mỹ vẫn sẽ thể

hiện một khả năng phục hồi mạnh mẽ. Để đi đến quan điểm lạc quan này, căn cứ quan

trọng nhất mà giới phân tích dựa vào là Mỹ có một lực lượng lao động có khả năng linh

hoạt và đổi mới

(2) Một nhân tố khác giúp cho Mỹ phục hồi lại tốc độ tăng trưởng thời kỳ tiền

khủng hoảng là khả năng thu hút đầu tư nước ngoài. Trong ngắn hạn, sức thu hút của

thị trường Mỹ có thể bị che khuất do các mối quan ngại về các rủi ro kinh tế đang diễn ra,

và tính thanh khoản chậm do vị thế con nợ và các yếu điểm của nền kinh tế nội địa Mỹ.

Tuy nhiên, theo kinh nghiệm cho rằng các nhà đầu tư nước ngoài sẽ lựa chọn Mỹ nhằm

kiếm lợi nhuận từ một thị trường tài chính phát triển cao, thanh khoản tốt và có các

thể chế chính trị và luật định mạnh

(3) Mỹ là một quốc gia có nền kinh tế linh hoạt và có các nguồn tài nguyên thiên

nhiên và nhân lực cần thiết để vượt qua các khó khăn hiện nay. Mỹ là nơi thu hút và mở

cửa đối với di trú; là quốc gia có các học viện hàng đầu về nâng cao kiến thức, và sở

29

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ – KINH TẾ HOA KỲ

hữu một xã hội và nền kinh tế có tính hệ thống nhất trên thế giới. Hơn nữa, đồng USD

vẫn sẽ tiếp tục lãnh đạo hệ thống tiền tệ quốc tế. Đồng Euro chưa thể có được vai trò

toàn cầu, và vì vậy, sẽ không thể trở thành một thách thức đối với sự thống trị của đồng

USD, trong khi các đồng tiền khác đều chưa phải là sự lựa chọn quốc tế.

(4) Là một bá chủ về tiền tệ toàn cầu, Mỹ sẽ tiếp tục lưu hành khoản nợ của

mình bằng chính đồng USD, và vì vậy, được hưởng một khả năng linh hoạt mạnh mẽ

trong đáp ứng các khoản nợ nước ngoài bằng chính đồng USD của Mỹ. Hiện tại, các

quốc gia thặng dư có thể quyết định dừng bảo hộ khoản nợ của Mỹ, tái định giá đồng tiền

của họ, và giảm dự trữ đồng USD. Tuy nhiên, khả năng này rất thấp, xuất phát từ ảnh

hưởng của tổn thất về vốn đối với các quốc gia đang dự trữ đồng USD

(5) Mặc dù đang có dư luận về việc “tách riêng”, nhưng Mỹ vẫn là động lực của

sự tăng trưởng kinh tế thế giới. Sau những năm có tăng trưởng cao, các nền kinh tế thị

trường đang trỗi dậy chắc chắn là “tự lập” hơn so với trước, và tương đối cách ly khỏi

ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính, một phần vì các khu vực tài chính của họ vẫn

còn tương đối nhỏ và không gắn kết với nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, các quốc gia này

vẫn phụ thuộc vào nhu cầu nhập khẩu của các nền kinh tế phát triển

Như vậy, theo đánh giá của các học giả Anh thì Mỹ vẫn sẽ tiếp tục giữ vai trò

lãnh đạo đối với các vấn đề kinh tế quốc tế, bất chấp các ảnh hưởng của cuộc khủng

hoảng toàn cầu đối với Mỹ. Thách thức lớn nhất của Mỹ trong khẳng định vai trò lãnh

đạo thế giới là tìm ra giải pháp nhằm hài hoà đòi hỏi của dân Mỹ về việc ưu tiên giải

quyết các vấn đề nội địa, đồng thời vẫn chứng tỏ được vai trò lãnh đạo ở phương diện

quốc tế

2.Tác động của chính sách Mỹ

(1) Những chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ của Hoa Kỳ có khả năng sẽ

tạo nên những ảnh hưởng quan trọng tới phần còn lại của thế giới.

(2) Nếu Mỹ tăng lãi suất huy động, sẽ có 2 trường hợp:

i. Kinh tế Mỹ phục hồi nhanh hơn dự kiến, cùng với đó là đồng USD tăng giá và

kim ngạch xuất nhập khẩu sẽ tăng cho các quốc gia khác.

ii. Lạm phát ở Mỹ tăng cao có thể xảy ra cùng với việc đồng USD tăng giá

nhưng sẽ cản trở sự phát triển toàn cầu khi chính sách tiền tệ của Mỹ làm giảm nhu

cầu từ Mỹ.

30

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ – KINH TẾ HOA KỲ

iii. Mức rủi ro của nền kinh tế Mỹ bị đánh giá lại, việc này sẽ có khả năng liên

quan đến sự mất giá của đồng USD – gây ảnh hưởng xấu đến các quốc gia khác vì đầu

tư toàn cầu sụt giảm do tăng tâm lí đề phòng rủi ro.

(3) Việc Mỹ không sử dụng chính sách tài khóa để kích cầu sẽ gây ảnh hưởng

lớn đến kinh tế quốc tế.Mặc dù ảnh hưởng toàn cầu của việc cắt giảm chi tiêu công

được giới hạn, nhưng thất bại trong việc nâng trần nợ công sẽ tác động rất xấu đến

nền kinh tế.Về trung hạn, nếu như những chính sách chi tiêu không được cải cách và

mức thâm hụt ngân sách không được cải thiện, sẽ xảy ra tình trạng mất lòng tin vào

toàn nền kinh tế Hoa Kỳ.

(4) Nếu mức rủi ro của toàn bộ nền kinh tế Mỹ bị tăng lên thì có thể làm giảm

vài phần trăm GDP toàn cầu. Các hành động sớm và kiên quyết trong chính sách tài

khóa, đặc biệt là việc thông qua một kế hoạch trung hạn toàn diện sẽ giúp nền kinh tế

Mỹ và kinh tế toàn cầu phát triển một cách bền vững hơn.

ADB một lần nữa lạc quan hơn IMF và kỳ vọng là kinh tế Mỹ sẽ tăng trưởng ổn định

và sự suy thoái của khu vực đồng tiền chung châu Âu dường như đang kết thúc. Nhật

Bản bắt đầu niên khóa với năm 2013 với sự tăng trưởng mạnh sau khi thực hiện những

chính sách kinh tế mới

3.Chứng khoán toàn cầu đi lên nhờ tín hiệu tích cực từ kinh tế Mỹ

Chứng khoán toàn cầu đã đồng loạt đi lên mạnh mẽ trong hai ngày cuối tuần qua,

lấy lại hầu như toàn bộ những gì đã mất trong các phiên trước đó, trong đó chứng khoán

Mỹ và Nhật Bản đồng thời lập các mức đỉnh cao kỷ lục mới.

Sau khi tăng giảm trái chiều và khá lình xình, thậm chí “đỏ sàn” trong một số

phiên đầu tuần, chứng khoán Mỹ nói riêng và thế giới nói chung đã đảo chiều đi lên

mạnh mẽ từ phiên hôm thứ Năm (30/10), sau khi Bộ Thương mại Mỹ đưa ra báo cáo cho

biết GDP của nền kinh tế lớn nhất thế giới trong quý 3 đã đạt nhịp độ tăng trưởng 3,5%,

cao hơn mức dự báo 3,0% của chính phủ và giới chuyên gia, và chỉ kém mức tăng 4,6%

trong quý 2.

Như vậy, trong sáu tháng đầu năm nay, nhịp độ tăng GDP của Mỹ đạt mức cao

nhất kể từ năm 2003, chủ yếu do đầu tư của các doanh nghiệp và chi tiêu tiêu dùng tăng.

Thông tin tích cực này đến ngay sau quyết định của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ

(Fed, Ngân hàng trung ương) chấm dứt toàn bộ chương trình nới lỏng định lượng (QE)

kéo dài sáu năm nay sau phiên họp mới nhất, càng cho thấy nền kinh tế Mỹ đã phục hồi

ổn định, bất chấp kinh tế toàn cầu đang có chiều hướng phát triển chậm lại.

Thông tin trên, cùng với những nhận định khả quan của Fed về thị trường việc

làm, đã khiến thị trường chứng khoán Phố Wall bật mạnh trong phiên 30/10, kéo các thị

trường Châu á và châu âu khởi sắc theo.

31

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ – KINH TẾ HOA KỲ

Đà tăng càng mạnh lên trong phiên cuối tuần ngày 31/10 sau khi Ngân hàng trung

ương Nhật Bản (BOJ) thông báo sẽ tiếp tục mở rộng chương trình nới lỏng tiền tệ khổng

lồ để “xốc” lại nền kinh tế đang tăng trưởng èo uột của nước này.

Ngày 31/10, BOJ đã bất ngờ công bố quyết định gây ngạc nhiên theo đó cho biết,

ngân hàng này sẽ tăng thêm 20.000 tỷ yen (182 tỷ USD) trong chương trình mua tài sản

hiện tại, đưa tổng số tiền của gói kích thích này lên 80.000 tỷ yen hàng năm.

Đây là đợt nới lỏng đầu tiên trong gói kích thích kinh tế khổng lồ của BOJ kể từ

khi ngân hàng này tung ra chương trình nói trên vào tháng Tư, như một phần trong những

nỗ lực của Tokyo nhằm kích hoạt nền kinh tế tăng trưởng trở lại và tránh khỏi bị rơi vào

giảm phát.

Quyết định này cũng đã khiến đồng yen tụt ngay xuống 110,90 yen = 1 USD mức thấp nhất của đồng yen so với đồng USD kể từ tháng 1/2008.

Quyết định này của BoJ, cộng thêm vào bức tranh kinh tế sáng sủa của Mỹ, đã đẩy

các sàn chứng khoán trên toàn thế giới, từ châu Á, qua châu Âu, sang Mỹ, đồng loạt đi

lên.

Tại Nhật Bản, chỉ số Nikkei 225 chốt phiên cuối tuần và cũng là phiên cuối cùng

của tháng Mười (31/10) tăng vọt 4,83% (tương đương tăng 755,56 điểm) lên 16.413,76

điểm – mức cao nhất kể từ tháng 11/2007.

Màu xanh cũng rộ lên trên khắp các sàn chủ chốt của châu Á trong cùng ngày.

Tại châu Âu, chỉ số chứng khoán nước Anh chốt phiên cuối tuần tăng 1,3%; trong lúc của

Pháp và Đức tăng 2,2% và 2,3%.

Tại Mỹ, cả ba chỉ số chủ chốt của Phố Wall đều bật mạnh, đặc biệt là hai chỉ số

Dow Jones Industrial Average và S&P 500, trong đó Dow Jones tăng 1,1% lên mức cao

kỷ lục mới 17.390,52 điểm, vượt qua kỷ lục cũ trước đó tới hơn 100 điểm; S&P 500 tăng

1,2% lên 2.018,05 điểm, cũng cao hơn kỷ lục cũ 7 điểm. Nasdaq Composite cũng tăng

1,4% kể từ 3/2000.

Chỉ số chứng khoán khu vực Mỹ Latinh cũng dậy sóng, với chỉ số Ibovespa của

Brazil vọt tới 4,4% và chứng khoán Mexico tăng 1,0%./.

3. Vấn đề đầu tư vốn

Hoa Kỳ là quốc gia có lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào lớn nhất

trên thế giới và cũng là nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất trên thế giới.Các

dòng vốn đầu tư từ nước ngoài đổ vào Mỹ dường như có tốc độ tăng nhanh hơn cả tốc độ

tăng trưởng của nước Mỹ và cao hơn so với tốc độ tăng đầu tư nước ngoài tại bất kỳ nơi

32

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ – KINH TẾ HOA KỲ

nào khác trên thế giới là do. Theo báo cáo của BEA, đầu tư trực tiếp trung bình từ năm

1960 đến 2013 của Mỹ là 17.525,83 USD.

4. Thị trường chứng khoán, trái phiếu, cổ phiếu

Thị trường chứng khoán Mỹ hiện là một thị trường quan trọng nhất thế giới với

đầy đủ các loại thị trường chứng khoán khác nhau Điều này phản ánh tiềm lực và vị thế

quan trọng của nền kinh tế Mỹ trong nền kinh tế thế giới, nó không chỉ giới hạn trong

phạm vi của thị trường chứng khoán thuần tuý mà nó còn có thị trường giao dịch chứng

khoán phi tập trung rộng lớn, tinh vi và hiện đại. Điều đáng chú ý là hai phần ba số

nghiệp vụ giao dịch chứng khoán ở Mỹ được thực hiện trên thị trường phi tập trung, nhất

là việc phát hành, chuyển nhượng chứng khoán và những chuyển dịch trái phiếu của

Chính phủ với số lượng lớn. Ngoài thị trường cổ phiếu và trái phiếu – hai hình thức chứng

khoán cơ bản nhất thì cùng với sự phát triển của các định chế tài chính và tiền tệ, ở Mỹ

còn xuất hiện thị trường các công cụ có gốc chứng khoán như thị trường đặt trước, thị

trường tương lai, thị trường quyền lựa chọn, thị trường buôn bán cổ phiếu kiểu thương

mại… tức là những thị trường mà ở đó sự buôn bán xảy ra không phải đối với hàng hoá

hay chứng khoán tự thân mà ở công cụ “phái sinh” từ chứng khoán.Một điểm khác nổi

bật trên thị trường chứng khoán Mỹ là các thị trường chứng khoán khu vực đều nhận

được sự tài trợ về khối lượng giao dịch buôn bán và tổng số vốn của thị trường chứng

khoán của thị trường chứng khoán New York và Hiệp hội quốc gia về định giá tự động

của thương gia chứng khoán.

Mỹ đứng thứ 2 trong top 10 điểm đến hấp dẫn nhất thế giới của vốn FDI trong

năm 2010 Thu hút vốn FDI năm 2008: 316,1 tỷ USD Bất chấp khủng hoảng và suy thoái,

nước Mỹ vẫn tăng một bậc về Chỉ số niềm tin FDI trong báo cáo năm 2008 so với năm

2007(theo báo cáo của A.T. Kearney). Điều này cho thấy giới đầu tư toàn cầu muốn tìm

nhiều hơn đến với những điểm đến có độ an toàn cao. Với môi trường kinh doanh tương

đối thông thoáng và mức giá gần đây đã xuống thấp cho các thương vụ mua bán và sáp

nhập, đặc biệt là trong ngành tài chính, nước Mỹ đã tăng sức hấp dẫn đối với các nhà đầu

tư nước ngoài.

Thị trường Trái phiếu Chính phủ Mỹ là thị trường có khả năng chuyển đổi cao

nhất trên thế giới.Thị trường Trái phiếu công ty tại Mỹ là thị trường trái phiếu công ty

lớn nhất thế giới, cung cấp sự lựa chọn hấp dẫn cho các khoản vay ngân hàng. Việc phát

hành trái phiếu công ty chịu sự kiểm soát của Ủy ban chứng khoán và cần phải có xếp

hạng tín dụng của cơ quan.

Thị trường cổ phiếu Mỹ luôn được coi là thị trường quan trọng hàng đầu thế

giới Mỗi biến động của thị trường này đều được giới tài chính toàn cầu ngóng theo. Thị

trường cổ phiếu Mỹ không chỉ có thị trường phát hành quy mô lớn mà còn có các công cụ

33

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ – KINH TẾ HOA KỲ

phái sinh đa dạng bảo hiểm rủi ro, giúp cho các giao dịch được thông suốt, nên đã thu hút

ngày càng nhiều các nhà đầu tư khắp nơi. Năm 2000 tổng số vốn huy động từ thị trường

chứng khoán Mỹ gấp 2 lần số vốn huy động từ thị trường chứng khoán lớn thứ hai thế

giới là Nhật Bản, gấp 3 lần số vốn huy động từ thị trường chứng khoán của EU và gấp 6

lần số vốn huy động từ thị trường chứng khoán Anh. Đến cuối năm 2002 tổng số vốn huy

động từ thị trường chứng khoán của Mỹ lên tới con số trên 14.000 tỷ USD chiếm 149%

GDP. Doanh số giao dịch và số công ty niêm yết của thị trường chứng khoán Mỹ cũng

tăng lên rất nhiều trong năm 2002. Hệ thống tài chính nước này hiện mạnh hơn so với

trước suy thoái và sẵn sàng cung cấp nguồn vốn cần thiết cho sự mở rộng của nền kinh tế.

VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO:

http://economix.blogs.nytimes.com/2013/06/17/the-current-u-s-economy-text-andsubtext/?_r=0

http://business.time.com/2013/01/16/what-the-current-economic-outlook-means-foramerican-families/

http://www.ncseif.gov.vn/sites/vie/Pages/nhungkhokhancuanenkinh-nd-15921.html

http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_useconomy.html

http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_economyinbrief.html

http://www.tinkinhte.com/Kinh%20t%E1%BA%BF%20M%E1%BB%B9/nd5-search.1/

http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_useconomy_ii.html

http://idoc.vn/tai-lieu/khai-quat-ve-nen-kinh-te-my.html

http://photos.state.gov/libraries/vietnam/8616/ebook/USA-economy-in-brief.pdf

http://vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_t%E1%BA%BF_Hoa_K%E1%BB%B3

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130623/9-ly-do-kinh-te-my-se-tiep-tuc-thong-trithe-gioi.aspx

34