Kinh tế Thái Lan – Wikipedia tiếng Việt

Kinh tế Thái Lan là một nền kinh tế thị trường công nghiệp mới phụ thuộc lớn vào du lịch và xuất khẩu với kim ngạch xuất khẩu chiếm khoảng 60% GDP. Đây là nền kinh tế lớn thứ 2 trong khu vực ASEAN (chỉ sau Indonesia), xếp hạng 25 toàn cầu theo GDP danh nghĩa[17], xếp thứ 21 thế giới xét theo sức mua tương đương[18], đứng thứ 28 trên thế giới về tổng giá trị thương hiệu quốc gia (thống kê năm 2020).[19]Mặc dù thị trường lớn, nhu cầu nội địa cao,phát triển nhanh. Tuy nhiên, nền kinh tế Thái Lan rất dễ bị tổn thương trước những tác động bên ngoài, ví dụ như đại dịch Covid-19[20]

Theo những số liệu của UN, IMF và Ngân hàng Thế giới ; tính cho đến hết năm 2019, GDP danh nghĩa của Thái Lan được ước tính vào thời gian 530 tỷ USD [ 21 ] hoặc 1,3 nghìn tỷ USD nếu xét theo GDP nhu cầu mua sắm tương tự [ 22 ]. GDP trung bình đầu người theo nhu cầu mua sắm tương tự đạt mức 21,361 nghìn USD / người [ 23 ] hoặc 7,800 nghìn USD / người theo danh nghĩa. Thái Lan là nền kinh tế tài chính lớn thứ 2 tại Khu vực Đông Nam Á chỉ sau Indonesia, đứng thứ 8 châu Á và xếp hạng 22 trên quốc tế theo danh nghĩa [ 24 ] hoặc thứ 7 châu Á và 20 toàn thế giới nếu xét theo nhu cầu mua sắm [ 25 ] – đây là vị trí mà vương quốc này đã nắm giữ và duy trì trong nhiều năm qua. Sự phục sinh của Thái Lan từ cơn khủng hoảng cục bộ kinh tế tài chính châu Á 1997 – 98 dựa trên xuất khẩu, phần nhiều là do nhu yếu bên ngoài từ Hoa Kỳ và những thị trường quốc tế khác .

Chính quyền của cựu Thủ tướng Thaksin – nhậm chức vào tháng 2 năm 2001 đã thực hiện mục tiêu kích cầu nội địa và giảm sự phụ thuộc của Thái Lan vào ngoại thương và đầu tư. Kể từ đó, chính quyền Thaksin đã tinh lọc thông điệp kinh tế của mình, đi theo chính sách kinh tế “đường đôi” kết hợp kích thích nội địa với xúc tiến các thị trường mở và đầu tư nước ngoài. Loạt chính sách này được biết đến với tên gọi phổ biến là “Học thuyết kinh tế học Thaksin” (Thaksinomics). Cầu về hàng xuất khẩu của Thái Lan yếu đã giữ tăng trưởng GDP năm 2001 còn 1,9%. Tuy nhiên, trong giai đoạn 2002-03, sự kích thích nội địa và phục hồi xuất khẩu đã khiến cho nền kinh tế tăng trưởng tốt hơn với tốc độ tăng GDP thực 5,3% (2002) và 6,3% (2003).

Người Thái gốc Hoa là thế lực nắm huyết mạch kinh tế của Thái Lan, họ là nhóm người thống trị và kiểm soát nền kinh tế Thái Lan[26]. Tại Thái Lan, người Thái gốc Hoa chỉ chiếm 14% dân số, nhưng nắm giữ tới gần 90% vốn của các doanh nghiệp và trên 50% vốn của ngành ngân hàng. Năm 2000, các ngân hàng và các công ty tài chính của người Thái gốc Hoa ở Thái Lan có tổng tài sản lên tới trên 22,2 tỷ USD, lớn hơn khối tài sản 21,8 tỷ USD của Chính phủ và Hoàng gia Thái Lan cộng lại. Chính vì vậy mà quyền lực và địa vị của người Thái gốc Hoa ở Thái Lan rất cao, nhiều người gốc Hoa từng làm thủ tướng Thái Lan như anh em Thủ tướng nhà Thaksin Shinawatra, cựu thủ tướng Abhisit Vejjajiva,… Người Thái gốc Hoa cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể trong chính phủ Thái Lan.[27]

Xu hướng kinh tế tài chính vĩ mô[sửa|sửa mã nguồn]

Bảng dưới đây cho thấy khuynh hướng tổng mẫu sản phẩm quốc nội của Thái Lan theo thời giá thị trường estimated theo Quỹ tiền tệ Quốc tế với số liệu tính bằng Baht Thái .

NămGDPTỷ giá hối đoái (USD/baht)Chỉ số lạm phát (2000=100)
1980662.48220,47 Baht41
19851.056.49627,15 Baht53
19902.191.10025,58 Baht64
19954.186.21224,91 Baht81
20004.922.73140,11 Baht100
20056.924.27341,02 Baht111

Để so sánh nhu cầu mua sắm tương tự, tỷ giá USD / Baht Thái Lan chỉ được tính từ 22 →. 34 .Trước khủng hoảng cục bộ kinh tế tài chính, nền kinh tế tài chính Thái Lan đã trải qua nhiều năm tăng trưởng kinh tế tài chính nhanh do ngành sản xuất dẫn dắt với vận tốc tăng 9,4 % trong một thập kỷ cho đến năm 1996. Các yếu tố mang lại thành công xuất sắc kinh tế tài chính trong những năm đến 1997 là nguồn tài nguyên vạn vật thiên nhiên và lao động dồi dào và rẻ, chủ nghĩa bảo lãnh kinh tế tài chính và những doanh nghiệp trong nước phối hợp những chủ trương góp vốn đầu tư quốc tế cởi mở và sự khuyến khích lan rộng ra nghành tư nhân. Nền kinh tế tài chính Thái Lan về thực chất là một mạng lưới hệ thống Free Enterprise. Một số dịch vụ nhất định như phát điện, giao thông vận tải vận tải đường bộ thuộc sở hữu Nhà nước và do Nhà nước quản lý và vận hành nhưng cơ quan chính phủ đang xem xét việc tư hữu hóa những nghành nghề dịch vụ này ngay sau khi thoát khỏi khủng hoảng cục bộ kinh tế tài chính .

Chính phủ Hoàng gia Thái Lan hoan nghênh đầu tư nước ngoài và các nhà đầu tư sẵn lòng đáp ứng một số yêu cầu nhất định có thể nộp đơn xin một số đặc quyền đầu tư thông qua Cục Đầu tư. Để thu hút thêm đầu tư nước ngoài, chính phủ đã sửa đổi các quy định về đầu tư.

Phong trào lao động có tổ chức triển khai vẫn yếu và chia rẽ ở Thái Lan ; chỉ 3 % lực lượng lao động vào công đoàn. Năm 200, Luật Quan hệ Lao động Doanh nghiệp Nhà nước đã được trải qua, được cho phép những người làm thuê trong nghành nghề dịch vụ Quốc doanh quyền tương tự như những người làm trong nghành tư nhân, gồm có cả quyền gia nhập công đoàn .

Khoảng 60% lực lượng lao động của Thái Lan làm trong ngành nông nghiệp.[cần dẫn nguồn] Lúa là loại cây trồng quan trọng nhất của quốc gia này; Thái Lan là một quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất trên thế giới. Các sản phẩm nông nghiệp khác có số lượng đáng kể là tôm, cá và các loại thủy sản, sắn, cao su, ngũ cốc, và đường ăn. Kim ngạch xuất khẩu các loại thực phẩm chế biến như cá ngừ, dứa, đóng hộp và tôm đông lạnh đang gia tăng.

Lĩnh vực sản xuất đang ngày càng đa dạng hóa của Thái Lan đã góp phần lớn nhất cho tăng trưởng trong thời kỳ bùng nổ kinh tế tài chính. Các ngành có vận tốc tăng nhanh có : máy tính và đồ điện tử, hàng may mặc và đồ da, đồ gỗ, những loại sản phẩm từ gỗ, thực phẩm đóng hộp, đồ chơi, những mẫu sản phẩm từ chất dẻo, đá quý và đồ trang sức đẹp. Các mẫu sản phẩm công nghệ cao như : linh phụ kiện và mạch tích hợp, đồ điện, xe cơ giới hiện đang đứng vị trí số 1 tăng trưởng xuất khẩu của Thái Lan .

Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Thái Lan và nhà cung cấp lớn thứ hai chỉ sau Nhật Bản. Trong khi các thị trường truyền thống của Thái Lan là Bắc Mỹ, Nhật Bản, và châu Âu. Sự phục hồi của các đối tác thương mại trong khu vực Đông Nam Á cũng góp phần giúp quốc gia này tăng xuất khẩu lên mức 5,8% trong năm 2002. Tuy nhiên, tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính trước đó đã khiến nước này vốn phụ thuộc vào xuất khẩu tới các thị trường truyền thống trên nay buộc phải tìm cách thâm nhập vào phần còn lại của châu Á. Kể từ năm 2005, sự gia tăng mạnh mẽ về xuất khẩu ô tô lắp ráp, chế tạo cho các thương hiệu xe hơi Nhật Bản (như Toyota, Nissan, Isuzu, Honda,…) đã giúp tăng nhanh cán cân thương mại, ước tính quốc gia này sản xuất và xuất khẩu được trung bình hơn 1 triệu chiếc xe hơi mỗi năm, nhờ thành tích này, Thái Lan đã gia nhập vào top 10 quốc gia xuất khẩu ô tô lớn trên thế giới với biệt danh “Detroit của Đông Nam Á”.