Chiến cục Đông Xuân 1953–1954 – Wikipedia tiếng Việt

Chiến cục Đông Xuân 1953 – 1954 là tên gọi để chỉ một chuỗi các cuộc tiến công chiến lược trên toàn chiến trường Đông Dương của lực lượng vũ trang Quân đội Nhân dân Việt Nam phối hợp với các lực lượng kháng chiến Lào, Campuchia trong chiến tranh Đông Dương (1945 – 1954). Mục đích nhằm đánh bại Kế hoạch Navarre, làm thất bại kế hoạch của Pháp và Mĩ muốn đảo ngược tình hình bằng một thắng lợi quyết định; làm thay đổi cục diện chiến tranh có lợi cho ba nước Đông Dương.

Hoàn cảnh sinh ra[sửa|sửa mã nguồn]

Tình thế chiến trường Đông Dương năm 1953[sửa|sửa mã nguồn]

Sau 8 năm thực thi cuộc chiến tranh, quân Pháp đã bị sa lầy trong một đại chiến tiêu tốn không có lối thoát. Quân Pháp sa lầy và suy yếu nghiêm trọng : những chiến dịch liên tục bị thất bại, số quân thiệt hại từ đầu đại chiến đã lên đến 390.000 quân, vùng chiếm đóng bị thu hẹp. Quân Pháp một mặt phải tập trung chuyên sâu lực lượng để mong xoay chuyển tình thế, mặt khác lại phải lo phân tán quân để chiếm đất giành dân, đối phó với du kích. Mâu thuẫn giữa 2 kế hoạch ngày càng thâm thúy, không hề tháo gỡ. [ 5 ]

Chi phí cho chiến tranh ngày càng cao làm cho nền kinh tế tài chính Pháp kiệt quệ. Tình hình chính trị xã hội bất ổn, nhiều chính phủ lập lên đổ xuống nhiều lần. Nước Pháp hầu như không còn đủ sức chịu đựng gánh nặng chiến tranh Đông Dương. Cuộc chiến sang năm thứ chín đã chứng tỏ Pháp chỉ còn cách duy nhất là tìm một “lối thoát danh dự”, nếu không muốn dâng Đông Dương cho Mỹ.

Trong khi đó, lực lượng kháng chiến của Quân đội Nhân dân Nước Ta ngày càng vững mạnh, đã giải phóng nhiều khu vực to lớn ở Tây Nguyên, khu 5, những tỉnh Cao – Bắc – Lạng, … và nhiều khu vực ở đồng bằng Bắc bộ, trấn áp hơn 2/3 chủ quyền lãnh thổ. Các đơn vị chức năng đã được tổ chức triển khai đến cấp sư đoàn, những binh chủng pháo binh và pháo cao xạ đã được đào tạo và giảng dạy hoàn thành xong .

Trước tình hình đó, để cứu vãn tình thế, Pháp tranh thủ thêm viện trợ của Mỹ, tập trung mọi cố gắng đẩy mạnh chiến tranh hòng tìm ra một lối thoát “trong thắng lợi”. Viện trợ của Mỹ cho Pháp tăng vọt, chiếm gần 80% chiến phí của Pháp.[6] Pháp đề nghị Mỹ viện trợ 650 triệu đô la cho niên khóa 1953, và được chấp nhận 385 triệu.[7] Mỹ hứa năm 1954 sẽ tăng viện trợ cho Pháp tại Đông Dương lên gấp đôi. Mỹ cũng chuyển giao cho Pháp nhiều trang thiết bị, vũ khí, trong đó có 123 máy bay và 212 tàu chiến các loại.

Ngày 7/5/1953, với sự thỏa thuận của Mỹ, Pháp cử tướng Henri Navarre sang Đông Dương làm Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp. Henri Navarre là đại tướng 5 sao, 55 tuổi, đang phụ trách nhiệm vụ Tham mưu trưởng cho Thống tướng Juin ở cơ quan phòng thủ OTAN (Cơ quan thuộc NATO). Navarre chưa hề bước chân tới Đông Dương, nên ban đầu Navarre đã từ chối, nhưng Thủ tướng Mayer khẩn khoản: “Việc Đại tướng không biết chút gì về Đông Dương cũng là một lý do để tôi cử đại tướng. Đại tướng sẽ nhìn vấn đề bằng một cặp mắt mới mẻ… Chúng ta đang bị kẹt trong một ngõ cụt. Chúng ta phải tìm một lối thoát danh dự cho nước Pháp, Đại tướng hãy giúp chúng tôi”

Ngày ngày 21 tháng 5 năm 1953 tướng Navarre, có tướng Không quân Bodet và tướng Gambiez phụ tá, tới trường bay Gia Lâm cùng với Tổng trưởng Letourneau. Navarre tìm hiểu và điều tra và nghiên cứu tình hình Đông Dương trong một tháng, rồi trở về Pháp tường trình hiệu quả trước Hội đồng những Tham mưu trưởng do Thống chế Juin chủ tọa ngày ngày 17 tháng 7 năm 1953. Ngày 24-7, Navarre trình diễn kế hoạch trước Hội đồng Quốc phòng do Tổng thống Pháp chủ tọa. Kế hoạch quân sự chiến lược Navarre sinh ra .

Kế hoạch Navarre[sửa|sửa mã nguồn]

Kế hoạch quân sự chiến lược Navarre là kế hoạch kế hoạch có quy mô to lớn, bộc lộ sự cố gắng lớn nhất và cũng là sau cuối của quân đội Pháp, có sự ủng hộ và giúp sức to lớn của Mỹ trong cuộc cuộc chiến tranh xâm lược tại Đông Dương .Kế hoạch này sinh ra nhằm mục đích tìm kiếm một thắng lợi quân sự chiến lược quyết định hành động để làm cơ sở cho một cuộc tranh luận tự do trên thế mạnh. Kế hoạch của Bộ Chỉ huy Pháp tại Đông Dương gồm hai bước :
Để triển khai kế hoạch này, Pháp cho triển khai thiết kế xây dựng và tập trung chuyên sâu lực lượng cơ động lớn, lan rộng ra quân đội địa phương – Quân đội Quốc gia Nước Ta, càn quét bình định vùng trấn áp. Thực hành tiến công kế hoạch ở vùng Khu V, … Navarre được nhà nước Pháp cấp thêm cho 9 tiểu đoàn tinh luyện, tăng cường bắt lính và tăng trưởng quân đánh thuê bản xứ, chuyển quân từ những mặt trận khác tập trung chuyên sâu về đồng bằng Bắc Bộ lên đến 84 tiểu đoàn .Điều quan trọng hơn, Kế hoạch Navarre được Mỹ đống ý. Mỹ gánh chịu mọi khoản ngân sách cho kế hoạch đó, gồm gần 400 triệu đôla. Tính đến tháng 1-1954, riêng về vũ khí và phương tiện đi lại cuộc chiến tranh, Mỹ đã viện trợ cho quân Pháp ở Đông Dương 360 máy bay, 1.400 xe tăng và xe bọc thép, 390 tàu chiến và tàu quân sự chiến lược, 16.000 xe quân sự chiến lược những loại, 175.000 súng trường và súng máy .

Thời gian này ở tất cả các cấp bộ trong quân đội viễn chinh Pháp đều có cố vấn Mỹ. Người Mỹ có thể đến bất cứ nơi nào kiểm tra tình hình không cần sự chấp thuận của Tổng chỉ huy Pháp. Sự phụ thuộc quá nhiều của Pháp vào Mỹ khiến tướng Navarre than phiền trong hồi ký: “Địa vị của chúng ta đã chuyển thành địa vị của một kẻ đánh thuê đơn thuần cho Mỹ”.[8]

Trước khi vào mùa khô năm 1953, Navarre đã đưa lực lượng cơ động kế hoạch và giải pháp lên tới 82 tiểu đoàn. Với việc tăng trưởng ồ ạt quân đội bản xứ người Việt link theo chủ trương của Mỹ, và quân tăng viện mới đưa từ Pháp sang, từ mặt trận Triều Tiên về, Navarre đã tổ chức triển khai được 18 quân đoàn cơ động kế hoạch, trong đó có 11 quân đoàn Âu Phi, 7 quân đoàn lính Việt. Navarre tập trung chuyên sâu già nửa số quân cơ động, 44 tiểu đoàn, ở đồng bằng Bắc Bộ, trong đó có 7 quân đoàn cơ động mạnh được tổ chức triển khai từ trước, để đối phó với cuộc tiến công của QĐNDVN trên mặt trận chính .

Chủ trương của Quân đội Nhân dân Nước Ta[sửa|sửa mã nguồn]

Trước mùa khô 1953 – 1954, so sánh lực lượng về quân số, Pháp đã vượt lên khá xa. Tổng quân số của Pháp là 445.000 người, gồm 146.000 quân Âu Phi ( 33 % ) và 299.000 quân đánh thuê bản xứ của Quốc gia Nước Ta ( 67 % ). Tổng quân số của QĐNDVN là 252.000 người. Như vậy, quân Pháp đông hơn 193.000 người. Riêng quân đội đánh thuê bản xứ của Quốc gia Nước Ta cũng đã đông hơn 47.000 người .Lực lượng đơn cử 2 bên lúc này như sau :– Về bộ binh, Pháp có 267 tiểu đoàn. Về pháo binh, Pháp có 25 tiểu đoàn ; quân địa phương có 8 tiểu đoàn. Về cơ giới, Pháp có 10 trung đoàn, 6 tiểu đoàn và 10 đại đội ; quân địa phương có 1 trung đoàn và 7 đại đội. Về không quân, Pháp có 580 máy bay ; quân địa phương có 25 máy bay thám thính và liên lạc. Về thủy quân, Pháp có 391 tàu ; quân địa phương có 104 tàu loại nhỏ và 8 tàu ngư lôi. Lực lượng QĐNDVN vẫn đơn thuần là bộ binh, gồm 6 đại đoàn, 18 trung đoàn và 19 tiểu đoàn. Về pháo binh, QĐNDVN có 2 trung đoàn, 8 tiểu đoàn và 4 đại đội. Về phòng không, QĐNDVN có 1 trung đoàn và 2 tiểu đoàn .– Tính theo số tiểu đoàn bộ binh, QĐNDVN có tổng số 127 tiểu đoàn so với 267 tiểu đoàn của Pháp. Biên chế tiểu đoàn của QĐNDVN là 635 người ; biên chế tiểu đoàn Pháp từ 800 – 1.000 người .Pháp tuy có lợi thế tiêu biểu vượt trội về chiến binh, nhưng thế trận cuộc chiến tranh nhân dân của QĐNDVN đã làm cho Pháp phải phân tán trên khắp những mặt trận. Không những Pháp không hề tập trung chuyên sâu hàng loạt lợi thế đó vào một trận đánh quyết định hành động, mà cũng chưa đủ lực lượng để mở một cuộc tiến công lớn vào những đại đoàn nòng cốt QĐNDVN trên miền Bắc. Trong tổng số 267 tiểu đoàn, thì 185 tiểu đoàn đã phải trực tiếp làm trách nhiệm chiếm đóng, chỉ còn 82 tiểu đoàn làm trách nhiệm cơ động giải pháp và kế hoạch. Già nửa lực lượng cơ động Pháp, 44 tiểu đoàn, phải tập trung chuyên sâu trên miền Bắc để đối phó với nòng cốt QĐNDVN. Vào thời gian này, nếu tính chung trên mặt trận Bắc Bộ, lực lượng QĐNDVN mới bằng 2/3 lực lượng Pháp ( 76 tiểu đoàn / 112 tiểu đoàn ), nhưng tính riêng lực lượng cơ động kế hoạch, thì lực lượng QĐNDVN đã vượt hơn về số tiểu đoàn ( 56/44 ). [ 8 ]

Quân ủy Trung ương nhận định: “Kế hoạch Navarre ra đời trong hoàn cảnh bị động, trong thế thua nên nó chứa đựng đầy mâu thuẫn và nảy sinh mầm mống thất bại ngay từ đầu. Nắm được sự mâu thuẫn này thì quân Pháp thất bại là không thể tránh khỏi.”

Cuối tháng 8 năm 1953, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam báo cáo với Tổng quân ủy một bản kế hoạch tác chiến với bốn nhiệm vụ:
1. Đẩy mạnh chiến tranh du kích ở địch hậu, phá tan âm mưu bình định của địch, phá kế hoạch mở rộng quân ngụy Việt.
2. Bộ đội chủ lực dùng phương thức hoạt động thích hợp tiêu diệt từng bộ phận sinh lực địch, có thể tác chiến lớn trên chiến trường đồng bằng để rèn luyện bộ đội.
3. Có kế hoạch bố trí lực lượng tiêu diệt địch khi chúng đánh ra vùng tự do.
4. Tăng cường hoạt động lên hướng Tây Bắc (Lai Châu), Thượng Lào và các chiến trường khác để phân tán chủ lực địch.[9]

Chủ trương chiến lược của Bộ Tổng Tham mưu là “Tập trung lực lượng mở những cuộc tiến công vào những hướng quan trọng về chiến lược mà địch tương đối yếu nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực của địch, giải phóng đất đai, đồng thời buộc chúng phải bị động phân tán lực lượng đối phó với ta trên những địa điểm xung yếu mà chúng không thể bỏ, do phải phân tán binh lực mà tạo ra cho ta những điều kiện thuận lợi mới để tiêu diệt thêm từng bộ phận sinh lực của chúng”. Phương châm tác chiến là “Tích cực, chủ động, cơ động và linh hoạt; đánh ăn chắc, tiến ăn chắc, chắc thắng thì đánh cho kì thắng, không chắc thắng thì kiên quyết không đánh.”

Trong cuộc họp, chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết: “Địch tập trung quân cơ động để tạo nên sức mạnh… Không sợ! Ta buộc chúng phải phân tán binh lực thì sức mạnh đó không còn”.[8]

Theo đó QĐNDVN sẽ mở một loạt chiến dịch tại nhiều vùng để phân tán chiến binh địch, không cho quân Pháp co cụm tạo thành một lực lượng cơ động đủ mạnh để xoay chuyển tình thế. Về sử dụng chiến binh, Bộ Tổng Tham mưu dự kiến : [ 1 ]

– Mặt trận Tây Bắc và Thượng Lào là hướng chính, có Đại đoàn 316 và Trung đoàn 148. Bước đầu sử dụng Đại đoàn 316 tiêu diệt quân Pháp ở Lai Châu, giải phóng hoàn toàn khu Tây Bắc; bước thứ hai, phối hợp giữa đại đoàn 316 với Trung đoàn 148 của khu Tây Bắc, bộ đội tình nguyện và Quân giải phóng Pathet Lào giải phóng tỉnh Phong Xa Lỳ. Hướng này do Lê Quảng Ba, Chu Huy Mân, Tư lệnh và Chính ủy Đại đoàn 316 phụ trách.
– Mặt trận Trung Du có từ 2 tới 3 đại đoàn và bộ đội địa phương. Đại đoàn 320 và các trung đoàn chủ lực của Liên khu 3 sẽ chiến đấu thu hẹp phạm vi chiếm đóng của Pháp, đánh giao thông, phá hủy các phương tiện vận chuyển đường bộ, đường thủy, đường không. Ở khắp các vùng tạm chiếm từ trung du, đồng bằng Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ, đến chiến trường Lào và Campuchia sẽ đẩy mạnh chiến tranh du kích buộc Pháp phải căng mỏng lực lượng đối phó.
– Mặt trận Hữu ngạn Liên khu 3 (Trung và Hạ Lào) có 2 đại đoàn, trong đó, một bộ phận vào địch hậu. Lực lượng gồm Trung đoàn 66 của Đại đoàn 304, Trung đoàn 101 của Đại đoàn 325, do Hoàng Sâm, Tư lệnh Đại đoàn 304 và Trần Quý Hai, Tư lệnh kiêm Chính ủy Đại đoàn 325 phụ trách, phối hợp với Pathet Lào mở rộng đất đai, đánh thông hành lang Nam – Bắc Đông Dương. Tại đây sẽ thành lập Bộ chỉ huy Mặt trận Trung và Hạ Lào.
– Mặt trận Tây Nguyên có các trung đoàn chủ lực của Liên khu 5. Hai trung đoàn 108 và 803, chủ lực của Liên khu 5, do Nguyễn Chánh, Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên khu 5 trực tiếp phụ trách, sẽ chiếm bàn đạp Bắc Tây Nguyên, phá kế hoạch củng cố và bình định Nam Việt Nam của Pháp.

Khối nòng cốt còn lại gồm những Đại đoàn 308, 312, 304 ( thiếu Trung đoàn 66 ), Đại đoàn Công Pháo 351, Trung đoàn 246 bí hiểm giấu quân tại trung du, chuẩn bị sẵn sàng cơ động lên Tây Bắc, và đánh quân Pháp tiến công .Riêng Đại đoàn 325 ( thiếu Trung đoàn 101 ) để lại Trung đoàn 18 hoạt động giải trí ở Bình-Trị-Thiên, Trung đoàn 95 ra Nghệ An chỉnh huấn, làm lực lượng dự bị cho Bộ, sẵn sàng chuẩn bị cơ động trên những hướng .Đây là phác thảo kế hoạch tác chiến chiến cục Đông Xuân 1953 – 1954 .

Các cuộc tiến công kế hoạch trong Đông Xuân 1953 – 1954[sửa|sửa mã nguồn]

Hướng Tây Bắc và Thượng Lào[sửa|sửa mã nguồn]

Trung tuần tháng 11 năm 1953, theo kế hoạch, Đại đoàn 316 từ khu vực trú quân tại Thanh Hóa tiến lên Tây Bắc. Từ đầu tháng 11, bộ phận chuẩn bị sẵn sàng mặt trận của 316, do Tham mưu trưởng Vũ Lập đứng vị trí số 1, đã lên đường. Ngày 15 tháng 11 năm 1953, 316 vượt sông Đà .Trong trong thực tiễn, đây chỉ là cuộc hành quân của cơ quan chỉ huy đại đoàn cùng với Trung đoàn 174 về Thạch Thành, Thanh Hóa chỉnh huấn sau chiến dịch Thượng Lào. Hai trung đoàn khác của 316 vẫn không rời địa phận Tây Bắc. Trung đoàn 98 ở lại Sầm Nưa một thời hạn, củng cố căn cứ địa, tháng 9 năm 1953 quay về Sơn La. Trung đoàn 176 được trao trách nhiệm tiễu phỉ, khoảng chừng 2000 lính, do Pháp nhen nhóm dọc hai bờ sông Đà đang quấy rối hậu phương .

Tối ngày 20, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận được tin một số tiểu đoàn Dù của Pháp đã nhảy xuống Điện Biên Phủ. Tại đây, trong thời gian này chỉ có một tiểu đoàn cùng với trung đoàn bộ của Trung đoàn độc lập 148 đang đóng quân. Cuộc hội ý Tổng Quân ủy được triệu tập đã nhận định: “Địch đã phát hiện 316 đang tiến quân lên Tây Bắc. Chúng cảm thấy Lai Châu và Thượng Lào bị uy hiếp, nên đưa một bộ phận lực lượng lên Tây Bắc đối phó.”

Ngay đêm hôm đó, một bức điện khẩn được gửi cho 316 đang trên đường hành quân: “Địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ là để che chở cho Lai Châu và Thượng Lào bị uy hiếp. Như vậy là bị động phân tán lực lượng để đối phó với ta, tình hình căn bản có lợi cho ta… Nắm cơ hội tốt, tạo cơ hội tốt để tiêu diệt địch”. Mệnh lệnh quy định 316 tổ chức thành những tiểu đoàn hành quân cho nhanh, chậm nhất ngày 6 tháng 12 năm 1953 phải có mặt ở Tuần Giáo.

Đầu tháng 12 năm 1953, Bộ Tổng Tư lệnh ra lệnh cho Đại đoàn 308 vượt sông Hồng, đưa Trung đoàn 36 đi trước, theo đường tắt, nhanh gọn chốt chặn ở Pom Lót, phía nam-tây nam Điện Biên Phủ, ngăn không cho quân Pháp rút sang Lào. Cùng lên đường với 308 có Trung đoàn Sơn pháo 675 của 851. Pháo và đạn được chuyển bằng xe hơi, những pháo thủ đều đi bộ .

Quân Pháp nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, Tây Bắc đã thực sự trở thành hướng chính như dự kiến của Bộ Tổng Tư lệnh trong kế hoạch Đông Xuân. Trước đây, quyết tâm của Trung ương Đảng là sau khi giải phóng Lai Châu, sẽ phối hợp cùng với bộ đội Pathet Lào giải phóng tỉnh Phông Xa Lỳ trực tiếp uy hiếp Luông Phabăng, kinh đô của nhà vua Lào. Chiến trường Tây Bắc đã thay đổi và còn tiếp tục thay đổi. Tổng Quân ủy nhận định quân Pháp có thể giữ cả Lai Châu và Điện Biên Phủ, cũng có thể tập trung về Điện Biên Phủ. Nếu quân Pháp không rút như ở Nà Sản, thì sẽ biến Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm lớn. Hướng chuẩn bị của QĐNDVN là đánh công kiên tập đoàn cứ điểm.

Ngay 6 tháng 12 năm 1953, tờ trình của Tổng Quân ủy được gửi lên Bộ Chính trị, nêu: “Thời gian tác chiến ở Điện Biên Phủ ước độ bốn mươi lăm ngày”. Trận đánh có thể khởi đầu vào tháng 2 năm 1954. Đây “sẽ là một trận công kiên lớn nhất từ trước tới nay”, sẽ phải sử dụng 3 đại đoàn bộ binh, toàn bộ pháo binh, công binh, lực lượng phòng không. Nếu kể cả cơ quan chỉ huy chiến dịch, các đơn vị trực thuộc, bộ đội bảo vệ tuyến cung cấp, bộ đội bổ sung, thì “quân số tổng quát của chiến dịch sẽ là 42.000 người”. Dự kiến đánh Điện Biên Phủ đệ trình Bộ Chính trị được chuẩn bị theo tinh thần “đánh chắc tiến chắc”.

Cũng trong ngày 6 tháng 12, quân Pháp được tin 316 đã xuất hiện ở Tuần Giáo, trực tiếp uy hiếp Lai Châu. Cônhi lập tức ra lệnh cho Trung tá Tơrăngca (Trancart) thực hiện cuộc hành binh Pollux, đưa toàn bộ lực lượng từ Lai Châu về Điện Biên Phủ. Lực lượng chính quy của vùng tác chiến Tây Bắc (Z O.N.O.), tương đương với ba tiểu đoàn, đóng tại thị xã Lai Châu sẽ được không vận về Mường Thanh bằng máy bay. “Binh đoàn biệt kích không vận hỗn hợp” (G.C.M.A) bảo vệ cho lực lượng chính quy rút lui xong sẽ đi theo đường Pa vi (Pavie) nối liền Lai Châu với Điện Biên Phủ.

Ngày 7 tháng 12 năm 1953, cơ quan tác chiến báo cáo giải trình quân Pháp đang rút những tiểu đoàn đóng ở thị xã Lai Châu về Điện Biên Phủ bằng máy bay, một bộ phận đã tới Mường Thanh. Bộ Tổng Tham mưu thông tin gấp cho sở chỉ huy tiền phương kịp thời xử trí .Đại đoàn 316 vừa trải qua 20 đêm hành quân liên tục. Đại đoàn trưởng Lê Quảng Ba và Chính ủy Chu Huy Mân quyết định hành động đưa Tiểu đoàn 439 của Trung đoàn 98, do phó Chính ủy Trung đoàn Phạm Quang Vinh trực tiếp đảm nhiệm, tiến gấp lên phía bắc chiếm thị xã Lai Châu, một tiểu đoàn khác của 98 tạm dừng lại Tuần Giáo đề phòng quân Pháp nhảy dù trên không tập kích phía sau vào hậu phương trực tiếp của chiến dịch, đại bộ phận đơn vị chức năng tiến về con đường Lai Châu – Điện Biên Phủ .Tối ngày 10, Tiểu đoàn 439 tới Pa Ham, một đồn nhỏ cách thị xã Lai Châu 32 km, được tin quân Pháp ở những vị trí chung quanh mới dồn về đây chừng ba đại đội. Nửa đêm, tiểu đoàn khởi đầu tiến công. Quân Pháp cầm cự được nửa giờ rồi bỏ chạy. Ngày 12 tháng 12 năm 1953, QĐNDVN tiến vào thị xã Lai Châu sau gần một thế kỷ nằm dưới sự đô hộ của Pháp. Đèo Văn Long, quốc vương của ” xứ Thái tự trị “, cùng với mái ấm gia đình đã được máy bay Pháp đưa về Thành Phố Hà Nội .Sáng ngày 12, Đại đội 674 của Tiểu đoàn 251 Trung đoàn 174 tiến xuống Mường Pồn thì phát hiện trong bản có nhiều quân Pháp từ Lai Châu rút về đang tập trung chuyên sâu tại đây. Đại đội lập tức triển khai vây hãm và nổ súng. Quân Pháp có máy bay yểm trợ, thấy lực lượng đối phương ít, nhất quyết xung phong để mở đường đi về Điện Biên Phủ. Chiến sĩ liên lạc Bế Văn Đàn mang lệnh đến cho Tiểu đội Chu Văn Pù giữa lúc cả Tiểu đội chỉ còn bốn người đang phải chặn đánh một cánh quân từ trên cao tràn xuống. Chu Văn Pù có khẩu trung liên trong tay nhưng không biết đặt vào đâu, Bế Văn Đàn lao tới nhấc hai chân súng đặt lên vai mình để Pù hoàn toàn có thể tác xạ, đợt tiến công của quân Pháp bị chặn lại. Bế Văn Đàn trúng đạn tử trận, sau này được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân .Về phía Pháp, để tương hỗ cho cuộc hành quân Pollux, Đờ Cát, chỉ huy vừa được chỉ định của tập đoàn lớn cứ điểm Điện Biên Phủ, ra lệnh cho Lănggơle chỉ huy Binh đoàn Không vận số 2 ( Groupement aéroporté No2, viết tắt là G.A.P. 2 ) tăng cường, gồm Tiểu đoàn Dù Lê dương số 1 ( 1 er BEP ), Tiểu đoàn Dù Nước Ta số 5 ( 5 è BPVN ), và Tiểu đoàn Dù 8 xung kích ( 8 è BPC ), hai cụm pháo 105 ly, với bốn máy bay ném bom B-26 Invader và hai máy bay trinh thám yểm trợ, đi theo đường Pa vi lên Mường Pồn đón những đơn vị chức năng còn lại từ Lai Châu rút về. Với số lượng những đơn vị chức năng và phương tiện đi lại được kêu gọi, đây không còn là một cuộc hành binh nhỏ như kế hoạch bắt đầu. Cônhi đã thông tư cho Đờ Cát cần triển khai việc ngăn ngừa bằng cách mở những cuộc tiến công vào sâu khu vực của đối phương .7 giờ ngày 11 tháng 12, Binh đoàn Không vận số 2 lên đường. 11 giờ 30, quân Pháp đến Bản Tấu cách Mường Thanh 6 km. Tiểu đoàn 888 chốt chặn tại đây lập tức nổ súng, ba tiểu đoàn dù bị chôn chân tại chỗ suốt ngày 11. Ba đại đội biệt kích Thái ở Mường Pồn đang bị Đại đội 674 chặn đánh, khẩn thiết lôi kéo cánh quân cứu viện cố mở đường tới giải vây. Suốt từ ngày 11 đến ngày 13, cánh quân cứu viện chỉ tới được đèo Pu San hiểm trở, cao 1.168 mét, nơi có Tiểu đoàn 215 và Đại đội Phòng không 677 chốt giữ. Mặc dù có máy bay B-26 yểm trợ, thả cả bom napalm, quân Pháp không hề vượt qua 4 km từ Pu San đến Mường Pồn .Sáng ngày 13, Đại đội 674 vây hãm Mường Pồn được Đại đội 317 đến tiếp sức, mở đợt tiến công ở đầu cuối tàn phá hàng loạt quân Thái đóng ở Mường Pồn. Buổi trưa ngày 13, Binh đoàn Không vận số 2 thấy tiếng súng phía Mường Pồn ngừng lại. Ngay sau đó, máy bay trinh thám báo tin những đơn vị chức năng ở đây đã bị hủy hoại .

Phóng viên chiến trường Bernard Fall kể về trận đánh này: “Bộ phận đi đầu do Thiếu tá Lơcléc và Đại úy Tua rê (Tourret) chỉ huy vừa mới bắt đầu rút về hướng đông – nam lúc 16 giờ 50 thì bị một hỏa lực dữ dội của địch bắn xâu chuỗi. Theo tường trình trong báo cáo của G.A.P.2 thì Việt Minh không có máy bay quan sát cũng như những đơn vị tuần tiễu điều chỉnh đường bắn, vẫn thành công trong việc bố trí trọng pháo cách nơi những lính dù vừa hạ trại 500 mét, và dội đạn xuống họ một cách cực kỳ chính xác. Chỉ trong ít phút họ đã chịu đựng những tổn thất nghiêm trọng… Và chưa hết! Đối phương không còn bị cái nút Mường Pồn chặn lại đã bắt kịp cả G.A.P.2. Trưa ngày 14 tháng 12, đạn pháo bắt đầu bắn vào đơn vị bảo vệ phía sau gồm những binh lính của Tiểu đoàn Dù Lê dương 1. Giống như buổi sáng, Việt Minh tìm cách tiếp cận mục tiêu thật nhanh để tránh những trận oanh kích của không quân. 14 giờ 50, Tiểu đoàn Lê dương Dù 1 báo cáo họ đang bị đối phương chiến đấu giáp lá cà dữ dội và yêu cầu máy bay tiêm kích yểm hộ. Không quân lại tiếp tục can thiệp, nhưng lần này đã có một báo hiệu không lành cho những gì sẽ diễn ra ở Điện Biên Phủ sau này; 15 giờ, một máy bay trinh sát báo cáo trúng đạn phòng không Việt Minh, và 16 giờ, một máy bay tiêm kích và một chiếc Morane khác lần lượt báo cáo trúng đạn…” [10]

Từ chiều ngày 13 tháng 12 năm 1953, cuộc truy lùng quân Pháp diễn ra trên tổng thể những hướng. Đại đoàn 316 chia làm nhiều nhóm đuổi theo quân Pháp hàng trăm km đường rừng, suốt ngày đêm, tích hợp tiến công vừa lôi kéo đầu hàng. Số hàng binh Thái rất đông, nhiều hàng binh có cả mái ấm gia đình. Cán bộ 316 đã tập hợp tù binh cùng với dân tuyên truyền lý giải, nói sẽ trả tự do cho tù binh nếu được nhân dân bảo vệ là sẽ không để họ liên tục cầm súng chiến đấu cho Pháp .

Tổng kết sau 2 tuần, Đại đoàn 316 đã tiêu diệt và làm tan rã 25 đại đội, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng. Bernard Fall kết luận về cuộc hành quân Pollux: “Bây giờ chỉ còn công việc tính sổ những thiệt hại trong tuần lễ cuối cùng của cuộc đánh vận động. Khi lực lượng Pháp rời Lai Châu ngày 9 tháng 12, họ gồm 2.101 người, trong đó có 8 trung úy, và 34 hạ sĩ quan Pháp. Khi những người sống sót của đại đội lừa ngựa Thái và đại đội nhẹ 428 tới Điện Biên Phủ, ngày 22 tháng 12, chỉ còn 10 người Pháp, trong đó có viên Trung úy Ulpat và 175 binh lính Thái. Gần 2.000 lính biệt kích, hàng trăm người dân sự, cũng như 2 sĩ quan, 25 hạ sĩ quan Pháp không còn lên tiếng khi điểm danh. Hơn thế, Việt Minh đã thu được đủ vũ khí để trang bị cho một trung đoàn”. Trong bản báo cáo của mình về trận đánh này, Lănggơle, chỉ huy G.A.P.2, đã nhấn mạnh “sự thuần thục lạ lùng của kẻ thù khi bố trí những vị trí pháo binh và vị trí trú quân ngoài tầm quan sát của không quân và lực lượng thám báo mặt đất…”

Tới đầu tháng 1-1954, QĐNDVN đã vượt qua đợt dự kiến cho chiến dịch Tây Bắc. Hình thái chiến trường lúc này đã thay đổi đáng kể: giữa Tây Bắc xuất hiện một tập đoàn cứ điểm lớn với gần 11.000 quân Pháp án ngữ tại Điện Biên Phủ. Bộ Chỉ huy Quân đội Nhân dân Việt Nam nhìn nhận trận Điện Biên Phủ như cơ hội đánh tiêu diệt lớn, tạo chiến thắng vang dội để từ đó chấm dứt kháng chiến trường kỳ, và đã chấp nhận thách thức của quân Pháp để tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đây là trận quyết chiến chiến lược của QĐNDVN. Trung ương Đảng đã hạ quyết tâm: “Tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ để tạo nên một bước ngoặt mới trong chiến tranh, trước khi đế quốc Mỹ can thiệp sâu hơn vào Đông Dương.”

QĐNDVN sau đó đã huy động 4 đại đoàn bộ binh và 1 đại đoàn công pháo (khoảng 48 ngàn quân) bao vây và tiến công cụm cứ điểm suốt 3 tháng, cuối cùng đã giành thắng lợi quyết định cho toàn cuộc chiến tại nơi đây (xem chi tiết tại Chiến dịch Điện Biên Phủ).

Hướng Trung và Hạ Lào[sửa|sửa mã nguồn]

Từ cuối tháng 11 năm 1953, cùng với cuộc tiến quân lên Tây Bắc, một cánh quân khác của QĐNDVN cũng lên đường tiến xuống Trung, Hạ Lào. Tham gia tiến công ở hướng này có Trung đoàn 66 của Đại đoàn 304, những trung đoàn 101 và 18 của Đại đoàn 325, cùng với những đơn vị chức năng tình nguyện của Liên khu 4, Liên khu 5 đã sang phối hợp với bạn hoạt động giải trí từ những năm trước, và một số ít đơn vị chức năng Pathet Lào. Bộ Chỉ huy chiến dịch Trung Lào, lấy mật danh là ” Mặt trận D ” được xây dựng gồm Hoàng Sâm, Tư lệnh Đại đoàn 304, Trần Quý Hai, Tư lệnh kiêm Chính ủy Đại đoàn 325 được cử tham gia Bộ Chỉ huy Liên quân .

Lực lượng QĐNDVN tiến vào Trung, Hạ Lào theo ba đường. Các trung đoàn 66, 101, Tiểu đoàn 274 (thuộc Trung đoàn 18), và Đại đoàn Bộ binh 325 hành quân theo tỉnh lộ Nghệ An vào Chu Lễ, Hương Khê rồi vượt đèo Quân và dốc Trẫm – Trẹo sang bắc Trung Lào. Trung đoàn 18 (thiếu 1 tiểu đoàn) theo Quốc lộ 1 tới Kỳ Anh, vượt đèo Móng Gà sang Cổ Áng theo đường Ba Rền, U Bò tiến vào phía bắc đường 9. Tiểu đoàn 436 thuộc Trung đoàn 101 theo đường xuyên Trường Sơn tiến thẳng xuống Hạ Lào.

Những cánh quân và hàng vạn dân công đã bị máy bay thám thính Pháp phát hiện. Tướng Buốcgun ( Bourgound ), Tư lệnh mới ở miền Trung Đông Dương, sắp xếp ba cụm phòng thủ nhằm mục đích bịt những cửa ngõ phía đông. Một cụm ở khu vực Căm Cớt, Lạc Sao trên đường số 8, gồm Tiểu đoàn số 9 và một đại đội pháo 105 ly. Một cụm ở Nhommarát trên đường số 12, gồm hai tiểu đoàn bộ binh Maroc, một tiểu đoàn bộ binh Algérie và một tiểu đoàn pháo 105 ly. Một cụm ở Nậm Thun, có Tiểu đoàn Bộ binh Cơ giới Xpahi ( Spahis ) số 6 làm lực lượng dự bị .

Bộ Chỉ huy Liên quân Lào – Việt đề ra trong kế hoạch đợt 1, tiến công cụm cứ điểm phòng ngự then chốt trên đường số 12. Lực lượng sử dụng là hai trung đoàn, dùng chiến thuật đánh điểm diệt viện. Trung đoàn 66 đánh cứ điểm Mụ Giạ, Trung đoàn 101 phục kích đánh viện trên đường số 12. Tiếp đó, hai đơn vị sẽ theo đường 12 đánh về Nhommarát để chiếm phía đông tỉnh Khăm Muộn.

Ở hướng thứ yếu của chiến dịch, một tiểu đoàn của Trung đoàn 101 và bộ đội Lào đánh Lạc Sao, Căm Cớt sau đó tăng trưởng theo trục đường số 8, đánh xuống đường 12 .Theo kế hoạch, ngày 23 tháng 12, Trung đoàn 66 nổ súng tiến công cứ điểm Mụ Giạ mở màn chiến dịch. Nhưng một vấn đề giật mình đã xảy ra. Sáng ngày 20, đoàn cán bộ Trung đoàn 101 do Trung đoàn trưởng Trần Văn Bành và Chính ủy Hoàng Văn Thái đứng vị trí số 1, đi thám thính thực địa trên đường 12 tìm nơi sắp xếp trận địa phục kích đánh viện. Tới suối Nậm On, đoàn cán bộ chạm trán với một toán lính Pháp đang lùng sục trong vùng. Cuộc đọ súng diễn ra nhanh chóng, bắt sống một đại úy cùng với bốn lính Âu Phi thuộc cụm phòng thủ trên đường số 12. Viên đại úy cho biết cách đây bốn hôm, Tiểu đoàn Cơ động Algérie số 27 ( 27 è BTA ) và một đại đội pháo 105 ly từ Thà Khẹc, Nhommarát đã lên đây thiết kế xây dựng thêm một cứ điểm ở khu vực cầu Khăm He, Binh đoàn Cơ động số 2 cũng mới thiết lập một sở chỉ huy ở gần cầu Kha Ma trên đường số 12 .Trung đoàn trưởng 101 nhận định và đánh giá quân Pháp mới tới còn đứng chân chưa vững nên đánh điện báo cáo giải trình Bộ Chỉ huy Liên quân, và ý kiến đề nghị cho chuyển từ trách nhiệm phục kích sang khẩn trương tập kích hủy hoại tiểu đoàn Âu Phi ở cứ điểm Khăm He. Đề nghị của trung đoàn được bộ chỉ huy chấp thuận đồng ý .Bộ binh được lệnh bỏ lại trang bị nặng và lập tức lên đường. Trung đội thám thính và một đại đội bộ binh đi đầu mở đường. Cán bộ chỉ huy trung đoàn và những tiểu đoàn trưởng cùng đi với phân đội thám thính để kịp thời hạ quyết tâm chiến đấu. Trời vừa tối, trung đoàn ra tới đường 12. Đêm ngày 21 tháng 12, Trung đoàn 101 bí hiểm tiếp cận tiềm năng và nổ súng tiến công .Các phân đội hiệp đồng đúng theo kế hoạch, thọc sâu vào giữa đồn rồi tỏa rộng chia cắt quân Pháp, phối hợp trong đánh ra, ngoài đánh vào. Gần sáng, trận đánh kết thúc. Hầu hết binh lính thuộc Tiểu đoàn Algérie số 27 và đại đội pháo 105 ly bị tàn phá. QĐNDVN thu ở Khăm He nhiều vũ khí, quân trang quân dụng, trong đó có 4 khẩu lựu pháo 105 ly nguyên vẹn cùng với một ngàn viên đạn pháo .Đêm ngày 23 tháng 12, theo kế hoạch, Trung đoàn 66 mở cuộc tiến công vào khu vực then chốt ở Trung Lào : cụm cứ điểm Mụ Giạ, Ba Chào. Tin thất thủ ở Khăm He, Kha Ma đã làm cho quân Pháp ở cả hai nơi này tháo chạy. Cuộc công đồn biến thành truy kích. Trung đoàn cắt đường rừng, vượt sông, bắt kịp quân Pháp ở ngã ba Nacacham, hủy hoại 1 số ít. Một tiểu đoàn Marốc từ Ba Chào rút về, cùng một đại đội lính Lào chạy vào đồn Pa Cuội, dựa vào công sự đối phó. Trung đoàn 66 tiến công đồn Pa Cuội, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn Marốc và đại đội Lào tại đây. Tướng Buốcgun chỉ có những lực lượng đóng rải rác nên không hề ngăn ngừa những đợt tiến công của QĐNDVN .

Cũng trong hai ngày 23 và 24-12, một đơn vị QĐNDVN tiến công Lại Sao, Căm Cớt, diệt một loạt vị trí dọn đường số 12, chiếm thị xã Nhommarát, tiến vào Thà Khẹc, kiểm soát toàn tỉnh Khăm Muộn với 40.000 kilômét vuông và hàng chục vạn dân. Phòng tuyến Trung Lào của Pháp tan vỡ. Trước tình thế “Đông Dương bị cắt làm đôi”, Navarre điều thêm một binh đoàn cơ động và một binh đoàn không vận từ đồng bằng Bắc Bộ vào, tổ chức Xên, nằm trên đường số 9 gần Xavanakhét, thành một tập đoàn cứ điểm với 10 tiểu đoàn.

Cuối tháng 12 năm 1953, quân Pháp ở Trung Lào đã lên tới 26 tiểu đoàn, trở thành nơi tập trung chuyên sâu quân lớn thứ ba trên mặt trận Đông Dương. Chỉ trong đợt 1 chiến dịch, lực lượng QĐNDVN và quân Giải phóng Lào ở Trung Lào đã vượt dự kiến. 50.000 dân công những tỉnh từ Nghệ An trở vào đã cùng bộ đội lên đường qua Lào ship hàng chiến dịch. Như vậy, Navarre đã buộc phải phân tán khối cơ động ra ba nơi : đồng bằng Bắc Bộ, Tây Bắc và Trung Lào. Kế hoạch Navarre tập trung chuyên sâu quân cơ động thành ” Quả đấm thép ” giành thắng lợi quyết định hành động như dự kiến bắt đầu đã phá sản .Rạng sáng ngày 30 tháng 1, tiến trình 2 trên mặt trận Hạ Lào cũng khởi đầu. Trong kế hoạch Đông Xuân 1953 – 1954, QĐNDVN chủ trương đưa một trung đoàn của Đại đoàn 325 thọc sâu xuống Hạ Lào, tạo thêm cho Pháp một giật mình nữa, đồng thời mở ra một địa phận cho nòng cốt tăng trưởng xuống phía nam. Một khó khăn vất vả rất lớn ở hướng này là đường tiếp tế quá xa và hầu hết không có dân. Từ vùng Thanh Hóa, Nghệ An đến Hạ Lào, bộ đội phải vượt 1.200 km đường rừng hiểm trở dọc Trường Sơn, cuộc hành quân phải lê dài khoảng chừng hai tháng. Trong chiến dịch nếu tiêu thụ hết số đạn mang theo, chỉ còn cách duy nhất là cướp súng đạn của Pháp để liên tục chiến đấu .Sau khi tranh luận với bạn Lào và đại đoàn, Bộ Tổng Tư lệnh quyết định hành động chỉ đưa Tiểu đoàn 436 thuộc Trung đoàn 101 của 325, do Trung đoàn phó Lê Kích chỉ huy ; xuống Hạ Lào cùng phối hợp với 1 đại đội quân tình nguyện Liên khu 5 và bộ đội, du kích Pathet Lào. Đơn vị được Bộ tăng cường quân số, hỏa lực, biên chế lên tới 760 người, gồm 5 đại đội bộ binh, 2 đại đội hỏa lực. Các tỉnh Nghệ An, thành phố Hà Tĩnh, Quảng Trị, Thừa Thiên và Liên khu 5 sẽ lo việc tiếp tế, kêu gọi dân công chuyển đạn, gạo tới khu vực tập trung, là một địa thế căn cứ du kích của bộ đội Lào ở tỉnh Atôpơ. Mũi thọc sâu của một tiểu đoàn tăng cường vào một hướng hiểm yếu sẽ có sức mạnh không kém một cánh quân .Tiểu đoàn 486 khởi đầu rời Nam Đàn, Nghệ An. Sau gần hai tháng hành quân dọc Trường Sơn, 436 xuất hiện tại địa thế căn cứ ở tỉnh Atôpơ, cực nam Lào. Lực lượng Pháp ở đây có một tiểu đoàn tăng cường, gồm một ngàn quân, sắp xếp thành hai cụm phòng ngự. Cụm thứ nhất là khu vực thị xã Atôpơ và trường bay, có bốn đại đội. Cụm thứ hai là cứ điểm Pui, phía tây – nam thị xã Atôpơ 19 km, có một đại đội xung kích và một trung đội pháo. Đại đội xung kích này là đơn vị chức năng thiện chiến nhất trong khu vực, được đặt ở Pui nhằm mục đích án ngữ cửa ngõ khu du kích của Lào .Kế hoạch của QĐNDVN gồm hai bước. Bước một, tập trung chuyên sâu toàn Tiểu đoàn 436 đánh cứ điểm Pui, đại đội quân tình nguyện Liên khu 5 và bộ đội, du kích Lào vây hãm khu vực thị xã. Bước hai, Tiểu đoàn 436 cùng những đơn vị chức năng bạn tiến công giải phóng toàn vùng Atôpơ .Đêm ngày 29 tháng 1 năm 1953, Tiểu đoàn 436 tiến công vị trí Pui. Chỉ sau 30 phút chiến đấu, QĐNDVN đã hủy hoại trọn vẹn vị trí. Quân Pháp ở thị xã Atôpơ giật mình, tưởng có một cánh quân lớn của QĐNDVN đang tràn xuống Hạ Lào, vội vã rút về Pắc Xế. Tình hình Pắc Xế cũng trở nên hoảng sợ. Quân Pháp đốt cháy kho tàng, tàn phá vũ khí nặng sẵn sàng chuẩn bị rút lui. Khi Tiểu đoàn 436 hoạt động tới Pắc Xế, thấy trong thị xã có nhiều đám cháy, lập tức cùng bộ đội Lào tiến công thẳng vào thị xã. Quân Pháp chỉ chống cự lẻ tẻ rồi bỏ Pắc Xế, rút về Xaravan .Cuộc tiến công của QĐNDVN ở Trung Lào đã khiến báo chí truyền thông ở Paris loan tin : ” Đông Dương đã bị cắt làm đôi “. Đòn bồi tiếp làm cho tướng Navarre thêm quan ngại. Navarre muốn đưa thêm một lực lượng cơ động về hướng này nhưng đã sử dụng gần hết quân cơ động, mà còn phải lo tăng cường binh sĩ cho Điện Biên Phủ .Tại Hạ Lào, tới giữa tháng 2-1954, Tiểu đoàn 436 và lực lượng vũ trang Lào đã trấn áp hàng loạt cao nguyên Bôlôven, trong đó có tỉnh Atôpơ, rộng gần 20.000 km vuông. Navarre lại phải điều lực lượng xuống Hạ Lào tổ chức triển khai nhiều cụm cứ điểm bảo vệ những thị xã Xaravan và Pắc Xế .Sau khi giải phóng cao nguyên Bôlôven, tháng 3-1954, một bộ phận liên quân Việt – Lào đã tăng trưởng xuống phía nam, phối hợp với bộ đội Itxarắc Campuchia giải phóng Viên Sai, Xiêm Pang, uy hiếp Tung Trung. Ơ miền đông Campuchia, quân tình nguyện Nước Ta cùng bộ đội Itxarắc giải phóng hầu hết Công-pông Chàm. Căn cứ miền đông và đông bắc Campuchia đã thông suốt với vùng giải phóng ở Trung, Hạ Lào và Tây Nguyên .

Hướng Tây Nguyên và Liên khu 5[sửa|sửa mã nguồn]

Tháng 2-1954, lúc bộ đội ở Điện Biên Phủ mở màn kéo pháo ra thì tiếng súng khởi đầu nổ ở Bắc Tây Nguyên. Tây Nguyên nằm ở Nam Trung Bộ nối liền hai miền Nước Ta, tiếp giáp với Hạ Lào và Bắc Campuchia, có vị trí kế hoạch quan trọng bậc nhất trên mặt trận Đông Dương. Từ lâu, Tây Nguyên vẫn được quân Pháp coi là một hậu phương bảo đảm an toàn .

QĐNDVN nhận định: chừng nào Tây Nguyên còn bị Pháp khống chế thì cục diện chiến đấu ở Nam Đông Dương còn khó được cải thiện. Và nếu Liên khu 5 không mở rộng vùng tự do về phía tây thì cũng khó giữ vững được các tỉnh ở đồng bằng hiện nay. Nhiệm vụ quân sự cho Liên khu 5 trong Đông Xuân này là “tranh thủ thời gian, tích cực tăng cường lực lượng võ trang của liên khu về số lượng và chất lượng, phát triển mạnh về hướng Tây Nguyên và Hạ Lào, chủ yếu hiện nay là hướng Bắc Tây Nguyên để tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, mở rộng căn cứ địa (kể cả vùng tự do hiện nay) về phía Tây, củng cố vùng hành lang Bắc Tây Nguyên nối Liên khu 5 và Hạ Lào và phát triển rộng ra, phá âm mưu của địch củng cố Tây Nguyên và chiếm rộng ra vùng ven biển”.

Liên ủy khu 5 đã quyết định hành động trao trách nhiệm bảo vệ vùng tự do cho lực lượng địa phương, tập trung chuyên sâu bộ đội nòng cốt tiến công lên Tây Nguyên. Nhiệm vụ của vùng tự do liên khu được pháp luật : địch đánh đến địa phương nào thì nơi đó tự tìm mọi cách đối phó, tiêu tốn địch, kìm chân không cho Pháp nhanh gọn lan rộng ra khoanh vùng phạm vi trấn áp, hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại. Địa phương nào Pháp chưa đánh tới, phải tích cực động viên, tổ chức triển khai nhân dân Giao hàng tiền tuyến .Nhiệm vụ của bộ đội nòng cốt liên khu gồm hai trung đoàn 108, 803 và hai tiểu đoàn nòng cốt độc lập là phối hợp với những lực lượng địa phương mở chiến dịch Bắc Kon Tum. Cuộc tiến công ở Tây Nguyên dự kiến sẽ triển khai theo hai bước :

  • Bước một, trên hướng chủ yếu, sử dụng Trung đoàn 108 và liên đội đặc công diệt hai cứ điểm Măng Đen, Măng Bút, kéo quân tiếp viện của Pháp từ Kon Tum ra cho Trung đoàn 803 đánh viện trên đường Công Trây – Măng Đen; tiếp đó tiêu diệt Công Trây, uy hiếp thị xã Kon Tum, đánh quân cứu viện trên đường Kon Tum – Công Trây.
  • Bước hai, tiến công tiêu diệt hệ thống cứ điểm của Pháp từ Đắc Tô đến Đắc Lây, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng Bắc Kon Tum. Trên hướng thứ yếu của chiến dịch, đường 19 – An Khê, Trung đoàn địa phương 120 cùng một tiểu đoàn chủ lực tiêu diệt các cứ điểm Kà Tưng, Ba Bả – Cà Tu, cắt đường giao thông, thu hút giam chân một bộ phận lực lượng của Pháp.

Bộ Chỉ huy chiến dịch được xây dựng do Nguyễn Chánh, Bí thư liên Khu ủy trực tiếp làm Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh kiêm Chính ủy chiến dịch. Trước đó, bộ đội Liên khu 5 đã được tăng cường vũ khí, đặc biệt quan trọng là ĐKZ ( súng không giật ) để làm trách nhiệm công đồn. Bộ Tư lệnh Liên khu quyết định hành động tổ chức triển khai một tuyến đường hiên chạy bí hiểm từ đồng bằng lên Tây Nguyên để bảo vệ trường hợp giật mình. Các tỉnh Quảng Nam, Tỉnh Quảng Ngãi, Tỉnh Bình Định, Phú Yên đều lập kho dự trữ gạo, muối cho chiến dịch. Riêng trong đợt l, liên khu đã kêu gọi 100.000 dân công làm công tác làm việc phục vụ hầu cần .Đêm ngày 26 tháng 1 năm 1954, trên hướng thứ yếu của chiến dịch, bộ đội tàn phá những vị trí Kà Tung, Ba Bả – Ka Tú, Búp Bê. Đêm hôm sau, 27 tháng 1, trên hướng hầu hết, Trung đoàn 108 và tiểu đoàn đặc công tiến công ba vị trí : Măng Đen, Măng Bút, Công Trây trong mạng lưới hệ thống phòng ngự Bắc Tây Nguyên. 2 vị trí sau nhanh gọn bị diệt, riêng trận Măng Đen diễn ra rất kinh khủng, do đây là cứ điểm then chốt trong mạng lưới hệ thống phòng thủ Bắc Tây Nguyên. Mỗi khu có những lô cốt bê tông nối tiếp với nhau bằng một mạng lưới hệ thống giao thông vận tải hào ngầm, xung quanh có hàng rào dây thép gai rộng từ 30 đến 90 mét, ở giữa có cả một trường bay nhỏ. Cuộc chiến đấu diễn ra giằng co suốt đêm, đến 7 giờ ngày 28 tháng 1, trận đánh mới kết thúc .Chỉ sau một đêm, những cứ điểm mạnh trong mạng lưới hệ thống phòng ngự Bắc Tây Nguyên đã bị san phẳng. Đường vào Kon Tum đã để ngỏ, Bắc Tây Nguyên đứng trước rủi ro tiềm ẩn tan vỡ trong khi quân Pháp không còn quân cơ động để phản ứng lại .Mười ngày đầu tháng 2 năm 1954, bộ đội Liên khu 5 đã chiếm thị xã Kon Tum, trấn áp cả vùng Bắc Tây Nguyên. Bộ đội Liên khu 5 còn truy kích quân Pháp rút về Plây Cu trên chặng đường dài 200 km, tiến đến sát đường 19. Ngày 18 tháng 2 năm 1954, Trung đoàn 80 tiến công cứ điểm Đắc Đoa, nam Kon Tum 15 km, loại khỏi vòng chiến đấu hai đại đội. Cùng thời hạn đó đặc công tập kích vào những cơ sở kho tàng, cơ quan chỉ huy Pháp trong thị xã Plây Cu .Tổng kết chiến dịch, QĐNDVN đã trấn áp một địa phận kế hoạch quan trọng ở bắc Tây Nguyên rộng 16.000 km vuông, với 20 vạn dân, phá thế uy hiếp của Pháp so với phía sau sống lưng những tỉnh Quảng Nam, Tỉnh Quảng Ngãi. Vùng tự do từ ven biển Quảng Nam, Tỉnh Quảng Ngãi đến biên giới Việt – Lào, đã thông suốt với vùng tây nam Bôlôven của nước Lào .Trước tình hình Tây Nguyên bị uy hiếp nghiêm trọng, Navarre buộc phải ra lệnh cho De Beaufort tạm ngừng Chiến dịch Atlante ở đồng bằng Liên khu 5, rút 1 số ít đơn vị chức năng lên tăng cường cho Plây Cu, và kiểm soát và điều chỉnh lại lực lượng ở miền nam Trung Bộ. Quân Pháp được sắp xếp thành hai khối lớn. Khối thứ nhất ở Tây Nguyên, 24 tiểu đoàn, có trách nhiệm bảo vệ Plây Cu, và đề phòng tiến xuống phía nam đánh vào cao nguyên Đắc Lắc. Khối thứ hai ở đồng bằng, 16 tiểu đoàn, bảo vệ thị xã Tuy Hòa, những vị trí mới chiếm đóng ở Phú Yên, và làm lực lượng dự bị ở Nha Trang, Ninh Hòa. Với cách sắp xếp mới này, Navarre đã chuyển sang dành ưu tiên số một cho vùng rừng núi Tây Nguyên thay vì đồng bằng duyên hải miền Trung .

Hướng đồng bằng sông Hồng[sửa|sửa mã nguồn]

Ở đồng bằng Bắc Bộ, Pháp chủ động tấn công bằng Chiến dịch Hải Âu, cấu thành từ hai cuộc hành quân lớn là cuộc hành quân Mouette (Hải Âu) vào tây nam Ninh Bình nhằm vào Đại đoàn 320 của Quân đội Nhân dân Việt Nam và cuộc hành quân Pélican (Bồ nông) vào ven biển Thanh Hóa. Cuộc tiến công không đạt được mục tiêu đề ra là đánh gục Đại đoàn 320, quân Pháp phải rút lui (xem chi tiết tại Chiến dịch Hải Âu).

Từ hạ tuần tháng 12 năm 1953, Liên Khu ủy Bộ Tư lệnh Liên khu 3, và Bộ Tư lệnh khu Tả Ngạn họp bàn xác định phương hướng, chủ trương tiếp tục tiến công trên toàn địa bàn. Hội nghị cán bộ đảng Liên khu 3 đề ra 4 mục tiêu:
– Tập trung lực lượng của liên khu cùng Đại đoàn 320 tiến công đập tan phòng tuyến Sông Đáy, mở rộng vùng tự đo liên khu nối liền với các khu du kích sau lưng địch ở đồng bằng.
– Triệt để đánh phá giao thông vận tải, uy hiếp hậu phương địch, ngăn chặn tiếp tế cho Điện Biên Phủ và các chiến trường khác.
– Tích cực phá kế hoạch bắt lính phát triển ngụy quân, đẩy mạnh công tác binh vận làm tan rã hàng ngũ quân địch.
– Động viên mọi lực lượng tập trung sức người, sức của chi viện cho chiến trường chính Tây Bắc, Điện Biên Phủ và các chiến trường khác.

Tháng 1 năm 1954, Đại đoàn 320 tiến công chọc thủng phòng tuyến Sông Đáy, thông suốt những khu địa thế căn cứ Thanh Liêm ( Hà Nam ), Ý Yên ( Tỉnh Nam Định ) với vùng tự do ở đồng bằng Liên khu 3. Sau đó, đại đoàn tiến sâu vào đồng bằng Bắc Bộ, cùng với những trung đoàn 42, 46, 50, 246, 238, những tiểu đoàn địa phương tỉnh và dân quân du kích tiến công trên khắp những vùng quan trọng, tăng trưởng những khu du kích, lan rộng ra cơ sở cách mạng. Hầu hết đường giao thông vận tải thủy bộ, đường tàu của Pháp đều bị đánh phá. Trên đường số 5, con đường huyết mạch tiếp nối Thành Phố Hà Nội với cảng TP. Hải Phòng, dân quân du kích Thành Phố Hải Dương, đặc biệt quan trọng là huyện Kim Thành, đánh nhiều trận địa lôi táo bạo, làm giao thông vận tải tê liệt hàng tuần lễ. Bộ đội liên khu dùng lực lượng nhỏ nhưng tinh luyện tập kích hậu cứ của Pháp, như trận đột nhập thị xã Đồ Sơn và thành phố Tỉnh Nam Định. Các địa thế căn cứ và khu du kích của đã chiếm 3/4 đất đai vùng Pháp tạm trấn áp ở châu thổ sông Hồng .

Đêm ngày 4 tháng 3 năm 1954, tại đồng bằng Bắc Bộ, bộ đội bí mật đột nhập sân bay Gia Lâm, đốt cháy 12 máy bay và 1 kho xăng. Hai ngày sau, đêm 6 tháng 3, bộ đội địa phương Kiến An đột nhập sân bay Cát Bi, phá hủy 4 máy bay B-26 Invader và 6 máy bay Moran. Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi ngay một bức điện tuyên dương toàn thể cán bộ, chiến sĩ đã tập kích sân bay Gia Lâm và Cát Bi đã “đánh thẳng vào nơi trung tâm quân sự của địch ở sát Hà Nội và Hải Phòng, đã phá hủy một bộ phận quan trọng không quân địch, tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều chiến thắng sắp tới trên chiến trường toàn quốc”.[11]

Các hướng phối hợp khác[sửa|sửa mã nguồn]

Ở Bình – Trị – Thiên, cực Nam Trung Bộ, du kích đánh mạnh trên những đường giao thông vận tải, lật đổ nhiều đoàn tàu, chống những cuộc càn quét, lan rộng ra những địa thế căn cứ du kích và khu du kích, tăng cường công tác làm việc binh vận làm tan rã hàng ngũ quân đội Quốc gia Nước Ta. Từ ngày 20 tháng 1 đến ngày 20 tháng 2 năm 1954, QĐNDVN đã hủy hoại 17 cầu, 18 cống từ Đông Hà lên Rào Quán trên đường 9, tàn phá và bức rút 6 vị trí, giải phóng trọn vẹn huyện Hướng Hóa. Riêng huyện Vĩnh Linh có tới ba vạn dân sát cánh cùng du kích phá hoại cầu đường giao thông .

Tại Thừa Thiên, bộ đội địa phương và dân quân du kích chống càn, giữ vững và mở rộng vùng căn cứ. Quân du kích còn đánh địa lôi liên tiếp trên nhiều đoạn đường ở Hương Thủy, Lăng Cô, Mỹ Chánh, Phú Lộc, Huế – Quảng Trị, Huế – Đà Nẵng,… lật đổ hàng chục đoàn tàu quân sự, mỗi lần tiêu diệt từ 1 trung đội đến 1 tiểu đoàn. Chỉ riêng trận Lăng Cô (Thừa Thiên) đã lật đổ 2 đầu máy, 19 toa, diệt 400 lính. Trận Phố Trạch (Quảng Trị), tập kích diệt 200 lính, thu 2 đại bác.

Để phối hợp với cuộc tiến công ở Tây Nguyên, bộ đội và du kích Nam Trung Bộ tập kích thành phố Nha Trang, đốt cháy hàng triệu lít xăng, đột kích thị xã Ninh Hòa ( Khánh Hòa ), đột nhập Suối Dầu đốt cháy một kho xăng lớn. Bộ đội địa phương Quảng Nam, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận đã diệt nhiều cứ điểm đại đội, tiểu đoàn, tập kích táo bạo vào La Lung ( Phú Yên ) diệt trên 1 tiểu đoàn, và tiến sâu vào vùng Pháp tạm chiếm hủy hoại nhiều vị trí và tháp canh. Từng vùng to lớn được giải phóng như Điện Bàn ở Quảng Nam ( có trên bốn vạn dân ), vùng Hòn Khói và tây – bắc Khánh Hòa. Ở cực Nam Trung Bộ, phối hợp tiến công quân sự chiến lược với đấu tranh của quần chúng, nhân dân đã cùng Trung đoàn 812 giải phóng hai huyện Tánh Linh và Lương Sơn ở Bình Thuận .Tại Nam Bộ, từ giữa năm 1953, Pháp buộc phải rút quân ồ ạt từ Nam Bộ ra chi viện cho chiến trường Trung Bộ và Hạ Lào. Lực lượng Âu-Phi chỉ còn 3 tiểu đoàn không đủ biên chế, 12 tiểu đoàn quân đội Quốc gia Nước Ta mới xây dựng thì năng lực chiến đấu yếu, ý thức sút kém. Trung ương Cục thông tư ” chuẩn bị sẵn sàng đón lấy thời cơ “. Lực lượng nòng cốt của QĐNDVN ở Nam Bộ chỉ có ba tiểu đoàn của Khu là 302, 304, 307 và bảy tiểu đoàn của những tỉnh là : 300, 303, 306, 308, 310, 311, 410, ngoài lực lượng này còn có những đại đội, trung đội bộ đội địa phương của những huyện và dân quân du kích xã. [ 12 ] So với địch không những ít hơn về số lượng mà trang bị vũ khí cũng kém hơn, vì thế trách nhiệm của Nam Bộ trong Đông Xuân 1953 – 1954 hầu hết là hoạt động giải trí đều khắp ở những vùng địch hậu, tích hợp đánh nhỏ, đánh vừa theo kiểu du kích nhằm mục đích tiêu tốn, cầm chân và gây không ổn định hậu phương .Từ cuối năm 1953 sang những tháng đầu năm 1954, trào lưu cuộc chiến tranh du kích tăng trưởng mạnh, bộ đội và du kích tổ chức triển khai thành từng phân đội nhỏ đánh tiêu tốn trên khắp những vùng du kích và vùng tạm chiếm .Trong thời hạn phối hợp chiến đấu với Điện Biên Phủ, tại Phân liên khu miền Tây, những lực lượng vũ trang tăng trưởng vùng giải phóng, tàn phá và bức rút trên 1.000 đồn trại, tháp canh. Ngày 24 tháng 2 năm 1954, Tiểu đoàn 309 phối hợp với bộ đội địa phương huyện Vàm Cỏ tổ chức triển khai phục kích ở Tầm Vu, tàn phá và bắt sống hàng loạt Tiểu đoàn 502 của Quốc gia Nước Ta và Đại đội Pháp số 14, thu nhiều vũ khí và vật dụng quân sự chiến lược. Từ đêm ngày 1 tháng 3 năm 1954, 1 tiểu đoàn được tăng cường Đại đội 552 tỉnh Bạc Liêu, cùng du kích triển khai vây hãm Q. lỵ An Biên và hàng loạt những tháp canh từ Q. lỵ ra Xẻo Rô, dùng súng cối pháo kích đồn An Biên, nhằm mục đích kéo quân tăng viện từ Rạch Giá tới. Ngày 4, quân Pháp tại những tháp canh đều bị tàn phá, bức hàng hoặc chạy trốn. Nhiều đợt quân tăng viện bị phục kích, thiệt hại 1 tiểu đoàn, quân Pháp ở Q. lỵ phải phá vây bỏ đồn .Cuối tháng 3 năm 1954, QĐNDVN hủy hoại tiếp đồn Xẻo Rô, trấn áp trọn vẹn Q. An Biên. Ở Mỹ Tho, chỉ một đại đội của tỉnh đã đánh tan một tiểu đoàn trong trận hoạt động ở Kênh Bùi, thu nhiều vũ khí với hàng chục trung liên, đại liên và súng cối .Tại Phân liên khu miền Đông, Bộ đội Vĩnh Long đột nhập bến tàu, bắn chìm và hỏng nặng 7 tàu chiến. Bộ đội biệt động Hồ Chí Minh đột nhập kho bom cảng hàng không Tân Sơn Nhất, một trong những kho bom lớn nhất Đông Dương, tàn phá trên 800 tấn bom, tàn phá cả đại đội lính Âu Phi bảo vệ. Bộ đội Bà Rịa – Chợ Lớn đột nhập khách sạn Ô Cấp, diệt hơn 100 sĩ quan Pháp và cả cố vấn Mỹ …Phối hợp tác chiến trên mặt trận toàn Đông Dương, hàng loạt Tiểu đoàn nòng cốt 302 của Phân liên khu miền Đông, gồm 5 đại đội, được điều động sang Đông Campuchia. Tiểu đoàn 302 đã cùng bộ đội Itxarắc tăng trưởng cuộc chiến tranh du kích, tàn phá đồn An Sông ( Prâyveng ), đồn Ta Pang Phóng, tiến công những đồn Păng Cà Nhây, Bốt Cho, Tà Nốt, chống càn ở Trắc Tô, diệt và bắt sống nhiều địch, thu nhiều vũ khí .Tổng kết lại, Phân liên khu miền Đông đã đánh 2.133 trận lớn nhỏ, hủy hoại và bức hàng 197 đồn bốt, tháp canh. 4.000 binh lính Quốc gia Nước Ta rã ngũ, trong đó có nhiều đại đội, trung đội không hề thiết kế xây dựng lại. Hệ thống đồn bốt bị thu hẹp dần, vùng du kích ngày càng lan rộng ra. Chiến khu Đ tăng trưởng, phía nam giáp sông Đồng Nai, phía bắc giáp đường 14, phía tây giáp đường 16. Chiến khu Dương Minh Châu nối tiếp với Định Thành, mở sang cả phía đông sông TP HCM, phía bắc giáp biên giới Campuchia. Chiến khu Đồng Tháp Mười lan rộng ra phía nam xuống sát kênh Nguyễn Văn Tiếp, phía tây ra tới ven sông Tiền, phía đông tới ven sông Vàm Cỏ Đông, phía bắc lên tới đường số 1. Ba chiến khu trên cùng với 1 số ít chiến khu khác và hàng trăm địa thế căn cứ vệ tinh, đã tạo thành một mạng lưới hệ thống địa thế căn cứ kháng chiến to lớn, liên hoàn, xen kẽ nhau trên hàng loạt mặt trận .
Trong khoảng chừng thời hạn một tháng, kể từ khi hoãn cuộc tiến công vào Điện Biên Phủ đến cuối tháng 2 năm 1954, hàng loạt kế hoạch Đông Xuân 1953 – 1954 đã được tiến hành trên toàn mặt trận Đông Dương. Với những đơn vị chức năng không lớn hoạt động giải trí ở những hướng khác nhau, quân dân ba nước Đông Dương đã thực thi được tiềm năng tiên phong, cơ bản nhưng rất quan trọng trong kế hoạch là làm cho lực lượng cơ động Pháp buộc phải phân tán .Trong tháng 2 năm 1954, lực lượng cơ động Pháp đã buộc phải phân tán ra năm nơi :

  • Tại Trung và Hạ Lào: có Binh đoàn Cơ động người Việt số 51, và những tiểu đoàn rút từ binh đoàn cơ động số 1, số 5 và Binh đoàn Cơ động Dù ở Bắc Bộ (GM1, GM5, GM Pa ra). Navarre thành lập thêm một tập đoàn cứ điểm tại Xên, với tên gọi là “Binh đoàn tác chiến trung Lào” (GOML), và sau đó, một tập đoàn cứ điểm mới tại Xaravan, Hạ Lào.
  • Tại Thượng Lào: có Binh đoàn Cơ động số 7, Tiểu đoàn 1 Dù thuộc địa, Tiểu đoàn 10 Tabor, Trung đoàn 11 Bộ binh thuộc địa, Tiểu đoàn 414 Bộ binh thuộc địa (GM7, 1er BPC, 10è Tabor, 11è RIC, 414è RIC), Tiểu đoàn 301 Khinh quân Việt. Trong số này có 8 tiểu đoàn cơ động mới điều từ Bắc Bộ sang. Navarre lập thêm hai tập đoàn cứ điểm ở Luông Phabăng và Mường Sài.
  • Tại Tây Nguyên, có 5 binh đoàn cơ động: Binh đoàn Cơ động 100 (GM100) mới từ Triều Tiên về, Binh đoàn Cơ động 21 (GM21) từ Nam Bộ ra, Binh đoàn Cơ động 11 (GM11) từ Bình Trị Thiên vào, các binh đoàn 41, 42 (GM41, GM42) vốn ở tại chỗ. Thêm một tập đoàn cứ điểm nữa đang xuất hiện ở An Khê. Tại đồng bằng Liên khu 5 có 16 tiểu đoàn, trong đó có Binh đoàn Cơ động số 10 (GM10) mới từ Pháp sang.
  • Tại Điện Biên Phủ: có Binh đoàn tác chiến Tây Bắc (2 tiểu đoàn và 7 đại đội) gồm những tiểu đoàn được lựa chọn trong số những đơn vị ưu tú nhất, được coi là “ngọn giáo” (fer de lance) của đội quân viễn chinh.
  • Tại đồng bằng Bắc Bộ, nơi tập trung khối cơ động – nổi tiếng của Navarre hồi đầu mùa khô, chỉ còn lại 3 binh đoàn cơ động. Phần lớn những đơn vị của các binh đoàn này cũng không còn là cơ động, vì phải chia ra để bảo vệ những khu vực, tuyến đường quan trọng.

Có thể nói chín phần mười trong tổng số 82 tiểu đoàn cơ động kế hoạch và giải pháp của Navarre đã phân tán khi trận đánh chính chưa nổ ra. Những hoạt động giải trí Đông-Xuân của QĐNDVN đã làm đảo lộn thế sắp xếp của Pháp trên những mặt trận, mở động vùng giải phóng tại Nước Ta và Lào thêm hàng chục ngàn km vuông, liên tục tăng trưởng ở nhiều hướng, đặc biệt quan trọng là vùng địch hậu Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ .

Điều quan trọng là QĐNDVN đã tạo ra một điểm quyết chiến chiến lược. Hạ tuần tháng 11 năm 1953, Navarre ném xuống Điện Biên Phủ 6 tiểu đoàn với ý định ngăn chặn một đại đoàn chủ lực của QĐNDVN đang tiến vào Tây Bắc. Vào lúc đó, Castor chỉ là một cuộc hành binh thứ yếu, một nhiệm vụ quân sự – chính trị có tính địa phương, nhằm giữ nguyên trạng tình hình trên chiến trường chính với chủ trương phòng ngự chiến lược của Navarre. Chỉ ba tháng sau, từ những cuộc điều binh của QĐNDVN trên bàn cờ chiến cuộc Đông Xuân, Điện Biên Phủ đã trở thành nơi quyết định vận mệnh chiến tranh.

QĐNDVN đã ghìm chân quân Pháp trên khắp các chiến trường, Navarre không còn gì nhiều để cứu nguy cho “con nhím” Điện Biên Phủ nếu nó bị bao vây. Tất cả đều đã chín muồi cho trận đánh quyết định của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

  • Spencer C.Tucker, Encyclopedia of the Vietnam War, ABC-CLIO, 2000.
  • William Duiker, Ho Chi Minh: A Life, Hyperion, 2000.

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]