tiểu luận ‘ tại sao phải nghiên cứu kinh tế vi mô’ – Tài liệu text

tiểu luận ‘ tại sao phải nghiên cứu kinh tế vi mô’

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (122.93 KB, 8 trang )

ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong đời sống hằng ngày, con người cần đáp ứng đầy đủ các nhu cầu
vật chất và tinh thần. Nhu cầu của con người ngày càng tăng trong khi nguồn
lực thì chỉ có hạn. Vì vậy, để tồn tại con người không còn cách nào khác là
tiến hành các phương thức phân chia nguồn lực khan hiếm đó nhằm đáp ứng
nhu cầu sử dụng ngày càng cao.
Từ đó, các nhà kinh tế học đã cho hình thành một khái niệm là kinh tế
học. Nó là một bộ môn khoa học giúp cho con người hiểu về cách thức vận
hành nền kinh tế nói chung và cách thức ứng xử của từng chủ thể tham gia
kinh tế nói riêng. Vấn đề khan hiếm nguồn lực yêu cầu các nền kinh tế hay
các đơn vị kinh tế phải lựa chọn. các nhà kinh tế cho rằng kinh tế học chính
là “Khoa học của sự lựa chọn”.
Bộ phận của kinh tế học gồm: kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô.
Trong đó kinh tế học vĩ mô đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển nền
kinh tế tổng thể của một quốc gia. Vì vậy, nghiên cứu kinh tế học vĩ mô là
nhiệm vụ hàng đầu để thực hiện các chiến lược, chính sách phát triển kinh tế
của chính phủ.
NỘI DUNG
I. Sơ lược về kinh tế học vĩ mô:
1. Khái niệm:
Kinh tế vĩ mô là bộ môn khoa học nghiên cứu hoạt động nền kinh tế với tư
cách là một tổng thể.
Đây là một môn khoa học quan tâm đến việc nghiên cứu, phân tích và
lựa chọn các vấn đề của nền kinh tế tổng hợp của toàn bộ nền kinh tế của
“Một bức tranh lớn”.
2. Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu những cái gì?
1
Kinh tế học Vĩ mô nghiên cứu sự lựa chọn của mỗi quốc gia trước
những vấn đề kinh tế xã hội cơ bản như: Tăng trưởng kinh tế, lạm phát, thất
nghiệp, mức giá chung, cán cân thương mại, sự phân phối nguồn lực và
phân phối thu nhập giữa các thành viên trong xã hội, các chính sách kinh tế

(chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, chính sách thu nhập…).
Phân tích kinh tế vĩ mô hướng vào giải đáp các câu hỏi như: Điều gì
quyết định giá trị hiện tại của biến số này? Điều gì quy định những thay đổi
của các biến số này trong ngắn hạn và dài hạn? Trong kinh tế vĩ mô, chúng
ta sẽ khảo sát mỗi biến số ứng với mỗi khoảng thời gian khác nhau: Hiện tại,
ngắn hạn, và dài hạn. Mỗi khoảng thời gian lại đòi hỏi chúng ta phải sử dụng
các mô hình thích hợp để tìm ra các nhân tố quyết định các biến số kinh tế vĩ
mô này.
3. Phương pháp nghiên cứu:
Các nhà kinh tế học nghiên cứu kinh tế học vĩ mô một cách khách
quan. Khi nghiên cứu các nhà kinh tế sử dụng nhiều phương pháp khác
nhau: tư duy trừu tượng, phân tích thống kê số lớn, mô hình hóa kinh tế, mô
hình kinh tế lượng,…
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu phân thành:
– Phương pháp quan sát, lý thuyết và tiếp tục quan sát.
– Phương pháp sử dụng các mô hình.
II. Tại sao phải nghiên cứu kinh tế học vĩ mô?
1. Nghiên cứu kinh tế vĩ mô với tư cách là một tổng thể:
Nền kinh tế nhà nước là một nền kinh tế tổng thể, kinh tế học vĩ mô
nghiên cứu các vấn đề kinh tế cơ bản như: lạm phát, thất nghiệp, sản lượng
bình quân,… theo thời gian.
2
Các nhà kinh tế học vĩ mô thu nhập số liệu, giá cả và nhiều biến số kinh
tế khác nhau của một quốc gia theo từng thời kỳ. Sau đó họ tìm cách xây
dựng những lý thuyết tổng quát, góp phần giải thích các số liệu này.
Các biến số kinh tế vĩ mô là những chỉ tiêu phản ánh rõ nét nền kinh tế
của một quốc gia. Để đánh giá một nền kinh tế, các nhà khoa học thường sử
dụng các biến số kinh tế vĩ mô chủ yếu sau:
– Tổng sản phẩm quốc dân (GNP): là một chỉ tiêu đo lường tổng giá
trị bằng tiền của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng mà một quốc

gia sản xuất trong một thời kỳ (thường lấy là một năm) bằng các yếu
tố sản xuất của mình.
– Chu kỳ kinh tế (kinh doanh): là sự dao động của tổng sản phẩm quốc
dân thực tế xung quanh xu hướng tăng lên của sản lượng lý thuyết
(tiềm năng).
– Thất nghiệp: khi những người trong độ tuổi lao động không có việc
làm sẽ trở thành thất nghiệp. nạn thất nghiệp thực tế đã trở thành vấn
đề nan giải của một quốc gia trong nền kinh tế thị trường.
– Lạm phát: là sự tăng giá trung bình của hàng hóa dịch vụ theo thời
gian. Lạm phát được đặc trưng bởi chỉ số chung của giá cả, của toàn
bộ hàng hóa cấu thành tổng sản phẩm quốc dân. Đây chính là GNP
danh nghĩa trên GNP thực tế.
Nhìn chung, các biến số kinh tế có mối quan hệ mật thiết vói nhau
không tách rời. Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là thước đo cơ bản nhất
đánh giá thành tựu của một nền kinh tế. Liên quan đến chu kỳ kinh tế là sự
đình trệ sản xuất, thất nghiệp và lạm phát, nghiên cứu sự thiếu hụt sản lượng
nhằm tìm ra các giải pháp ổn định kinh tế chống lại các chu kỳ kinh tế, thiếu
hụt kinh tế về bản chất đó chính là lỗ hổng GNP. Khi một nền kinh tế tăng
trưởng, có nghĩa là lực lượng lao động được sử dụng tốt hơn và có hiệu quả
3
hơn. Tuy nhiên, kinh tế tăng trưởng đồng nghĩa với việc lạm phát tăng lên và
ngược lại. Trong thời kỳ ngắn hạn, thất nghiêp tỷ lệ nghịch với lạm phát còn
trong dài hạn tỷ lệ thất nghiệp cơ bản phụ thuộc vào tỷ lệ lạm phát trong một
thời gian dài. Các biến số kinh tế giải thích các vấn đề kinh tế cơ bản có liên
quan đến nhau. Khi một vấn đề kinh tế xảy ra chúng sẽ kéo theo các vấn đề
kinh tế khác.
Đứng trên vị trí nghiên cứu với tư cách là một tổng thể kinh tế.
Ví dụ:

2. Các biến số kinh tế vĩ mô và ảnh hưởng của chúng:

2.1. Biến số kinh tế vĩ mô và đời sống xã hội:
Tất cả các biến số kinh tế vĩ mô đều đụng chạm đến cuộc sống của
chúng ta. Như: Khi dự báo nhu cầu sản phẩm của chính mình, hội đồng quản
trị ở các doanh nghiệp phải đoán xem thu nhập của người tiêu dùng tăng
nhanh đến mức nào; Người già sống bằng thu nhập cố định thường băn
khoăn về tốc độ tăng giá; Những công nhân thất nghiệp đang tìm kiếm việc
làm hi vọng nền kinh tế phục hồi và các doanh nghiệp tuyển thêm người…
Tất cả chúng ta đều bị ảnh hưởng bởi thực trạng của nền kinh tế.
Để đánh giá được tầm quan trọng của kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế,
chúng ta chỉ cần thường xuyên theo dõi thông tin trên báo chí, các phương
tiện truyền thông,… với các mục đề như: Quỹ thu nhập cá nhân tăng 4%,
ngân hàng và biến động kinh tế vĩ mô, giá vàng bất ngờ tăng mạnh,… hầu
như không ngày nào là xuất hiện trên báo chí.
Biến số kinh tế vĩ mô đánh giá được cuộc sống của người dân qua từng
thời kỳ. Các số liệu thống kê các chỉ số kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến
người dân, các doanh nghiệp các nhà kinh doanh,…
Ví dụ:
4
Trong lạm phát, đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là người dân và
doanh nghiệp nhỏ và vừa, do công nghệ lạc hậu, năng lực tài chính hạn chế.
Do vậy, doanh nghiệp cần cơ cấu lại sản xuất, tập trung vào những lĩnh vực
sản xuất kinh doanh mình có lợi thế cạnh tranh, thâm dụng lao động (lạm
phát tăng, tỷ lệ thất nghiệp sẽ diễn ra, cần sử dụng lực lượng lao động giá rẻ,
có tay nghề để giải quyết bài toán an sinh). Để cân bằng cán cân tiền – hàng,
giải quyết lạm phát phải có lộ trình cụ thể. Song, cũng phải chấp nhận lạm
phát, nhưng ở mức chịu đựng được của nền kinh tế để kích thích sản xuất
phát triển.
2.2. Biến số kinh tế vĩ mô và chính sách phát triển kinh tế của chính phủ:
Các chính sách kinh tế vĩ mô là biến số kinh tế vĩ mô chịu sự chi phối
trực tiếp hay gián tiếp của chính phủ. Thay đổi các chính sách này sẽ có tác

động đến một hay nhiều mục tiêu kinh tế vĩ mô của nhà nước. Đó là các mục
tiêu sau:
• Mục tiêu sản lượng.
• Mục tiêu công ăn việc làm.
• Mục tiêu ổn định giá cả.
• Mục tiêu kinh tế đối ngoại.
• Mục tiêu phân phối công bằng
Để thực hiện được các mục tiêu nêu trên, nhà nước có thể sử dụng
nhiều chính sách khác nhau. Dưới đây là một số chính sách kinh tế vĩ mô
chủ yếu:
• Chính sách tài khóa.
• Chính sách tiền tệ.
• Chính sách thu nhập.
• Chính sách kinh tế đối ngoại.
5
Các chính sách của chính phủ thông qua các kế hoạch đầu tư phát triển,
các nghị quyết của chính phủ,… những chính sách đó là công cụ để Nhà
nước quản lý và phát triển nền kinh tế.
Ví dụ:
Ngày 24/2/2011, Chính phủ ban hành Nghị quyết 11/NQ-CP để kiềm
chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội. Trong đó, sẽ
mạnh tay thắt chặt đầu tư công, không rót vốn đầu tư đối với dự án mới
chưa bức thiết.
Biến số kinh tế vĩ mô cũng phản ánh rõ nét và trung thực nhất về hiệu
quả các chính sách phát triển kinh tế của nhà nước được triển khai qua từng
thời kỳ (năm). Những chính sách kinh tế của nhà nước có hiệu quả hay
không đều ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người dân với những bất ổn
trong nền kinh tế hiện nay như: lạm phát tăng nhanh, chỉ số giá tiêu dùng
( CPI) tăng cao, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, đồng tiền mất giá,… đã khiến
cuộc sống của người dân trở nên khó khăn, đặc biệt là đối với những người

thu nhập thấp, những người sống dựa chủ yếu vào trợ cấp của chính phủ
( người già neo đơn, người tàn tật,…). Sự yếu kém của nhà nước trong các
chính sách kinh tế không chỉ làm hao tổn nguồn lực quốc gia rất lớn mà còn
làm suy giảm niềm tin của người dân đối với các môi trường chính sách vào
năng lực quản trị vĩ mô.
Ví dụ:
Chỉ số CPI và GDP của Việt Nam qua 3 giai đoạn phát triển kinh tế
( Đơn vị: %)
CPI GDP
1996 – 2000 3,4 6,96
2001 – 2005 5,1 7,51
2006 – 2010 11,4 7,2
6
Như vậy, trong vòng 5 năm, tính cộng dồn đơn giản, lạm phát đã tăng
gần 60% trong khi tổng tăng trưởng GDP chỉ đạt 35,1%. Chưa tính đến việc
phân bổ lợi ích tăng trưởng có xu hướng tập trung cho nhóm người giàu và
đầu cơ, chỉ hai con số nêu trên đã đủ chứng tỏ thu nhập thực tế và mức sống
thực của người dân, nhất là tầng lớp nghèo, bị giảm sút rất mạnh.
Năm 2010, kinh tế việt nam có sự phục hồi nhanh chóng sau khủng
hoảng kinh tế toàn cầu. Tốc độ tăng GDP quý I đạt 5,83%, quý II 6,4%, quý
III tăng lên 7,14%, quý IV là 7,41%. Đến năm 2010, tổng mức đầu tư toàn
xã hội lên tới 41% GDP thì tốc độ tăng trưởng chỉ đạt 6,7%, chỉ số ICOR đã
tăng tới mức quá cao trên 8 so với 6,6 của năm 2008. Khi kinh tế thế giới bị
suy trầm thì đà sa sút của Việt Nam lại không quá nặng vì kinh tế vẫn tăng
trưởng hơn 5% vào năm 2009, là năm mà lợi tức bình quân một đầu người
đã vượt cái ngưỡng tâm lý là 1.000 Mỹ kim một năm. Tuy nhiên, nguồn đầu
tư quá lớn trong khi hiệu quả đầu tư không cao; sự yếu kém trong môi tường
đầu tư; nhập siêu quá lớn trong khi xuất khẩu không tăng, nhập khẩu thì vẫn
quá nhiều để duy trì nhịp độ sản xuất khiến giữ trữ ngoại tệ trong nước bị
bào mỏng – chỉ còn 14 tỷ đô la giữ trữ. Đó là bất trắc về cơ cấu kinh tế vĩ

mô, thứ nhất là sự thiếu quân bình, thứ hai là khả năng đối phó quá yếu của
chính quyền.

Vì vậy, sự quản lý của nhà nước thông qua các chính sách vĩ mô đã tác
động trực tiếp lên các hoạt động kinh tế và đời sống của người dân. Nền
kinh tế phát triển đi lên hay đi xuống đều do sự quản lý của nhà nước và
hiệu quả của các chính sách kinh tế vĩ mô mang lại.
3. kinh tế học vĩ mô là một bộ môn khoa học chưa hoàn thiện:
7
Kinh tế học vĩ mô là một ngành khoa học non trẻ và chưa hoàn chỉnh.
Khả năng dự báo của các kinh tế vĩ mô về đường hướng phát triển tương lai
của các sự kiện kinh tế chưa thể nắm vững hoàn toàn. Song, như các bạn sẽ
thấy, chúng ta biết khá nhiều về phương thức hoạt động của nền kinh tế.
Mục tiêu của chúng ta trong việc nghiên cứu kinh tế vĩ mô không phải
chỉ dừng lại ở phạm vi lí giải các biến cố kinh tế, mà còn nhằm cải thiện chất
lượng của chính sách kinh tế. Các công cụ tài chính và tiền tệ của chính phủ
có thể tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế – bao gồm cả mặt tích cực và tiêu
cực – và khoa kinh tế vĩ mô giúp cho các nhà hoạch định chính sách đánh
giá những chính sách khác nhau. Nhà kinh tế vĩ mô phải nghiên cứu nền
kinh tế như nó đang tồn tại và suy ngẫm xem chúng ta nên làm gì để cải
thiện nó.
KẾT LUẬN
Qua bài tiểu luận trên, có thể nói rằng kinh tế học vĩ mô tác động rất lớn
đến cuộc sống của chúng ta.
Nghiên cứu kinh tế học vĩ mô, xây dựng các chính sách phát triển kinh
tế hoàn thiện đưa nền kinh tế phát triển bền vững là mục tiêu của các quốc
gia hiện nay.
Mặc dù bộ môn khoa học kinh tế học vĩ mô còn non trẻ và chưa hoàn
thiện. Nghiên cứu kinh tế học vĩ mô là công việc vô cùng quan trọng, cần
thiết để hoàn chỉnh bộ môn và nắm vững hơn các phương thức hoạt động

kinh tế.
8
( chủ trương tài khóa, chủ trương tiền tệ, chủ trương thu nhập … ). Phân tích kinh tế vĩ mô hướng vào giải đáp những câu hỏi như : Điều gìquyết định giá trị hiện tại của biến số này ? Điều gì pháp luật những thay đổicủa những biến số này trong thời gian ngắn và dài hạn ? Trong kinh tế vĩ mô, chúngta sẽ khảo sát mỗi biến số ứng với mỗi khoảng chừng thời hạn khác nhau : Hiện tại, thời gian ngắn, và dài hạn. Mỗi khoảng chừng thời hạn lại yên cầu tất cả chúng ta phải sử dụngcác quy mô thích hợp để tìm ra những tác nhân quyết định hành động những biến số kinh tế vĩmô này. 3. Phương pháp nghiên cứu : Các nhà kinh tế học nghiên cứu kinh tế học vĩ mô một cách kháchquan. Khi nghiên cứu những nhà kinh tế sử dụng nhiều giải pháp khácnhau : tư duy trừu tượng, nghiên cứu và phân tích thống kê số lớn, quy mô hóa kinh tế, môhình kinh tế lượng, … Phương pháp nghiên cứu hầu hết phân thành : – Phương pháp quan sát, kim chỉ nan và liên tục quan sát. – Phương pháp sử dụng những quy mô. II. Tại sao phải nghiên cứu kinh tế học vĩ mô ? 1. Nghiên cứu kinh tế vĩ mô với tư cách là một tổng thể và toàn diện : Nền kinh tế nhà nước là một nền kinh tế toàn diện và tổng thể, kinh tế học vĩ mônghiên cứu những yếu tố kinh tế cơ bản như : lạm phát kinh tế, thất nghiệp, sản lượngbình quân, … theo thời hạn. Các nhà kinh tế học vĩ mô thu nhập số liệu, Ngân sách chi tiêu và nhiều biến số kinhtế khác nhau của một vương quốc theo từng thời kỳ. Sau đó họ tìm cách xâydựng những triết lý tổng quát, góp thêm phần lý giải những số liệu này. Các biến số kinh tế vĩ mô là những chỉ tiêu phản ánh rõ nét nền kinh tếcủa một vương quốc. Để nhìn nhận một nền kinh tế, những nhà khoa học thường sửdụng những biến số kinh tế vĩ mô đa phần sau : – Tổng sản phẩm quốc dân ( GNP ) : là một chỉ tiêu thống kê giám sát tổng giátrị bằng tiền của toàn bộ sản phẩm & hàng hóa và dịch vụ ở đầu cuối mà một quốcgia sản xuất trong một thời kỳ ( thường lấy là một năm ) bằng những yếutố sản xuất của mình. – Chu kỳ kinh tế ( kinh doanh thương mại ) : là sự xê dịch của tổng sản phẩm quốcdân trong thực tiễn xung quanh khuynh hướng tăng lên của sản lượng kim chỉ nan ( tiềm năng ). – Thất nghiệp : khi những người trong độ tuổi lao động không có việclàm sẽ trở thành thất nghiệp. nạn thất nghiệp trong thực tiễn đã trở thành vấnđề nan giải của một vương quốc trong nền kinh tế thị trường. – Lạm phát : là sự tăng giá trung bình của sản phẩm & hàng hóa dịch vụ theo thờigian. Lạm phát được đặc trưng bởi chỉ số chung của Ngân sách chi tiêu, của toànbộ sản phẩm & hàng hóa cấu thành tổng sản phẩm quốc dân. Đây chính là GNPdanh nghĩa trên GNP thực tiễn. Nhìn chung, những biến số kinh tế có mối quan hệ mật thiết vói nhaukhông tách rời. Tổng sản phẩm quốc dân ( GNP ) là thước đo cơ bản nhấtđánh giá thành tựu của một nền kinh tế. Liên quan đến chu kỳ luân hồi kinh tế là sựđình trệ sản xuất, thất nghiệp và lạm phát kinh tế, nghiên cứu sự thiếu vắng sản lượngnhằm tìm ra những giải pháp không thay đổi kinh tế chống lại những chu kỳ luân hồi kinh tế, thiếuhụt kinh tế về thực chất đó chính là lỗ hổng GNP. Khi một nền kinh tế tăngtrưởng, có nghĩa là lực lượng lao động được sử dụng tốt hơn và có hiệu quảhơn. Tuy nhiên, kinh tế tăng trưởng đồng nghĩa tương quan với việc lạm phát kinh tế tăng lên vàngược lại. Trong thời kỳ thời gian ngắn, thất nghiêp tỷ suất nghịch với lạm phát kinh tế còntrong dài hạn tỷ suất thất nghiệp cơ bản phụ thuộc vào vào tỷ suất lạm phát kinh tế trong mộtthời gian dài. Các biến số kinh tế lý giải những yếu tố kinh tế cơ bản có liênquan đến nhau. Khi một yếu tố kinh tế xảy ra chúng sẽ kéo theo những vấn đềkinh tế khác. Đứng trên vị trí nghiên cứu với tư cách là một tổng thể và toàn diện kinh tế. Ví dụ : 2. Các biến số kinh tế vĩ mô và tác động ảnh hưởng của chúng : 2.1. Biến số kinh tế vĩ mô và đời sống xã hội : Tất cả những biến số kinh tế vĩ mô đều đụng chạm đến đời sống củachúng ta. Như : Khi dự báo nhu yếu mẫu sản phẩm của chính mình, hội đồng quảntrị ở những doanh nghiệp phải đoán xem thu nhập của người tiêu dùng tăngnhanh đến mức nào ; Người già sống bằng thu nhập cố định và thắt chặt thường bănkhoăn về vận tốc tăng giá ; Những công nhân thất nghiệp đang tìm kiếm việclàm hy vọng nền kinh tế phục hồi và những doanh nghiệp tuyển thêm người … Tất cả tất cả chúng ta đều bị ảnh hưởng tác động bởi tình hình của nền kinh tế. Để nhìn nhận được tầm quan trọng của kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế, tất cả chúng ta chỉ cần tiếp tục theo dõi thông tin trên báo chí truyền thông, những phươngtiện truyền thông online, … với những mục đề như : Quỹ thu nhập cá thể tăng 4 %, ngân hàng nhà nước và dịch chuyển kinh tế vĩ mô, giá vàng giật mình tăng mạnh, … hầunhư không ngày nào là Open trên báo chí truyền thông. Biến số kinh tế vĩ mô nhìn nhận được đời sống của người dân qua từngthời kỳ. Các số liệu thống kê những chỉ số kinh tế ảnh hưởng tác động trực tiếp đếnngười dân, những doanh nghiệp những nhà kinh doanh, … Ví dụ : Trong lạm phát kinh tế, đối tượng người tiêu dùng chịu tác động ảnh hưởng nặng nề nhất là người dân vàdoanh nghiệp nhỏ và vừa, do công nghệ tiên tiến lỗi thời, năng lượng kinh tế tài chính hạn chế. Do vậy, doanh nghiệp cần cơ cấu tổ chức lại sản xuất, tập trung chuyên sâu vào những lĩnh vựcsản xuất kinh doanh thương mại mình có lợi thế cạnh tranh đối đầu, thâm dụng lao động ( lạmphát tăng, tỷ suất thất nghiệp sẽ diễn ra, cần sử dụng lực lượng lao động giá rẻ, có kinh nghiệm tay nghề để xử lý bài toán phúc lợi ). Để cân đối cán cân tiền – hàng, xử lý lạm phát kinh tế phải có lộ trình đơn cử. Song, cũng phải gật đầu lạmphát, nhưng ở mức chịu đựng được của nền kinh tế để kích thích sản xuấtphát triển. 2.2. Biến số kinh tế vĩ mô và chủ trương tăng trưởng kinh tế của cơ quan chính phủ : Các chủ trương kinh tế vĩ mô là biến số kinh tế vĩ mô chịu sự chi phốitrực tiếp hay gián tiếp của cơ quan chính phủ. Thay đổi những chủ trương này sẽ có tácđộng đến một hay nhiều tiềm năng kinh tế vĩ mô của nhà nước. Đó là những mụctiêu sau : • Mục tiêu sản lượng. • Mục tiêu công ăn việc làm. • Mục tiêu không thay đổi giá thành. • Mục tiêu kinh tế đối ngoại. • Mục tiêu phân phối công bằngĐể triển khai được những tiềm năng nêu trên, nhà nước hoàn toàn có thể sử dụngnhiều chủ trương khác nhau. Dưới đây là một số ít chủ trương kinh tế vĩ môchủ yếu : • Chính sách tài khóa. • Chính sách tiền tệ. • Chính sách thu nhập. • Chính sách kinh tế đối ngoại. Các chủ trương của chính phủ nước nhà trải qua những kế hoạch góp vốn đầu tư tăng trưởng, những nghị quyết của chính phủ nước nhà, … những chủ trương đó là công cụ để Nhànước quản trị và tăng trưởng nền kinh tế. Ví dụ : Ngày 24/2/2011, nhà nước phát hành Nghị quyết 11 / NQ-CP để kiềmchế lạm phát kinh tế, không thay đổi kinh tế vĩ mô, bảo vệ phúc lợi xã hội. Trong đó, sẽmạnh tay thắt chặt góp vốn đầu tư công, không rót vốn góp vốn đầu tư so với dự án Bất Động Sản mớichưa bức thiết. Biến số kinh tế vĩ mô cũng phản ánh rõ nét và trung thực nhất về hiệuquả những chủ trương tăng trưởng kinh tế của nhà nước được tiến hành qua từngthời kỳ ( năm ). Những chủ trương kinh tế của nhà nước có hiệu suất cao haykhông đều tác động ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của dân cư với những bất ổntrong nền kinh tế lúc bấy giờ như : lạm phát kinh tế tăng nhanh, chỉ số giá tiêu dùng ( CPI ) tăng cao, tỷ suất thất nghiệp ngày càng tăng, đồng xu tiền mất giá, … đã khiếncuộc sống của người dân trở nên khó khăn vất vả, đặc biệt quan trọng là so với những ngườithu nhập thấp, những người sống dựa hầu hết vào trợ cấp của chính phủ nước nhà ( người già neo đơn, người tàn tật, … ). Sự yếu kém của nhà nước trong cácchính sách kinh tế không chỉ làm hao tổn nguồn lực vương quốc rất lớn mà cònlàm suy giảm niềm tin của người dân so với những thiên nhiên và môi trường chủ trương vàonăng lực quản trị vĩ mô. Ví dụ : Chỉ số CPI và GDP của Nước Ta qua 3 quá trình tăng trưởng kinh tế ( Đơn vị : % ) CPI GDP1996 – 2000 3,4 6,962001 – 2005 5,1 7,512006 – 2010 11,4 7,2 Như vậy, trong vòng 5 năm, tính cộng dồn đơn thuần, lạm phát kinh tế đã tănggần 60 % trong khi tổng tăng trưởng GDP chỉ đạt 35,1 %. Chưa tính đến việcphân bổ quyền lợi tăng trưởng có khuynh hướng tập trung chuyên sâu cho nhóm người giàu vàđầu cơ, chỉ hai số lượng nêu trên đã đủ chứng tỏ thu nhập trong thực tiễn và mức sốngthực của dân cư, nhất là những tầng lớp nghèo, bị giảm sút rất mạnh. Năm 2010, kinh tế việt nam có sự phục sinh nhanh gọn sau khủnghoảng kinh tế toàn thế giới. Tốc độ tăng GDP quý I đạt 5,83 %, quý II 6,4 %, quýIII tăng lên 7,14 %, quý IV là 7,41 %. Đến năm 2010, tổng mức góp vốn đầu tư toànxã hội lên tới 41 % GDP thì vận tốc tăng trưởng chỉ đạt 6,7 %, chỉ số ICOR đãtăng tới mức quá cao trên 8 so với 6,6 của năm 2008. Khi kinh tế quốc tế bịsuy trầm thì đà sa sút của Nước Ta lại không quá nặng vì kinh tế vẫn tăngtrưởng hơn 5 % vào năm 2009, là năm mà cống phẩm trung bình một đầu ngườiđã vượt cái ngưỡng tâm ý là 1.000 Mỹ kim một năm. Tuy nhiên, nguồn đầutư quá lớn trong khi hiệu suất cao góp vốn đầu tư không cao ; sự yếu kém trong môi tườngđầu tư ; nhập siêu quá lớn trong khi xuất khẩu không tăng, nhập khẩu thì vẫnquá nhiều để duy trì nhịp độ sản xuất khiến giữ trữ ngoại tệ trong nước bịbào mỏng mảnh – chỉ còn 14 tỷ đô la giữ trữ. Đó là nguy hiểm về cơ cấu tổ chức kinh tế vĩmô, thứ nhất là sự thiếu quân bình, thứ hai là năng lực đối phó quá yếu củachính quyền. Vì vậy, sự quản trị của nhà nước trải qua những chủ trương vĩ mô đã tácđộng trực tiếp lên những hoạt động giải trí kinh tế và đời sống của dân cư. Nềnkinh tế tăng trưởng đi lên hay đi xuống đều do sự quản trị của nhà nước vàhiệu quả của những chủ trương kinh tế vĩ mô mang lại. 3. kinh tế học vĩ mô là một bộ môn khoa học chưa hoàn thành xong : Kinh tế học vĩ mô là một ngành khoa học non trẻ và chưa hoàn hảo. Khả năng dự báo của những kinh tế vĩ mô về đường hướng tăng trưởng tương laicủa những sự kiện kinh tế chưa thể nắm vững trọn vẹn. Song, như những bạn sẽthấy, tất cả chúng ta biết khá nhiều về phương pháp hoạt động giải trí của nền kinh tế. Mục tiêu của tất cả chúng ta trong việc nghiên cứu kinh tế vĩ mô không phảichỉ dừng lại ở khoanh vùng phạm vi lí giải những biến cố kinh tế, mà còn nhằm mục đích cải tổ chấtlượng của chủ trương kinh tế. Các công cụ kinh tế tài chính và tiền tệ của chính phủcó thể tác động ảnh hưởng can đảm và mạnh mẽ đến nền kinh tế – gồm có cả mặt tích cực và tiêucực – và khoa kinh tế vĩ mô giúp cho những nhà hoạch định chủ trương đánhgiá những chủ trương khác nhau. Nhà kinh tế vĩ mô phải nghiên cứu nềnkinh tế như nó đang sống sót và suy ngẫm xem tất cả chúng ta nên làm gì để cảithiện nó. KẾT LUẬNQua bài tiểu luận trên, hoàn toàn có thể nói rằng kinh tế học vĩ mô ảnh hưởng tác động rất lớnđến đời sống của tất cả chúng ta. Nghiên cứu kinh tế học vĩ mô, kiến thiết xây dựng những chủ trương tăng trưởng kinhtế triển khai xong đưa nền kinh tế tăng trưởng bền vững và kiên cố là tiềm năng của những quốcgia lúc bấy giờ. Mặc dù bộ môn khoa học kinh tế học vĩ mô còn non trẻ và chưa hoànthiện. Nghiên cứu kinh tế học vĩ mô là việc làm vô cùng quan trọng, cầnthiết để hoàn hảo bộ môn và nắm vững hơn những phương pháp hoạt độngkinh tế .