Tiểu luận phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh – Tài liệu text
Tiểu luận phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (642.59 KB, 27 trang )
Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD: PGS,TS. Đào Duy Huân
Nhóm Đồng Tháp thực hiện Trang 1
Chương 1 : Mở đầu
1.1 Lý do
Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên mà mọi thành tựu khoa học và công
nghệ xuất hiện một cách hết sức nhanh chóng và thường xuyên được đổi mới. Ngày
nay nghiên cứu khoa học là một trong những hoạt động có tốc độ phát triển nhanh
nhất thời đại. Bộ máy nghiên cứu khoa học đã trở thành khổng lồ, nó đang nghiên
cứu tất cả các góc cạnh của thế giới. Các thành tựu nghiên cứu khoa học đã được
ứng dụng vào mọi lĩnh vực của cuộc sống. Khoa học đã làm đảo lộn nhiều quan
niệm truyền thống, nó làm cho sức sản xuất xã hội tăng lên gấp bội so với vài thập
niên gần đây.
Về phần mình, bản thân khoa học càng cần được nghiên cứu một cách khoa
học. Một mặt, phải tổng kết thực tiễn nghiên cứu khoa học để khái quát những lý
thuyết về quá trình sáng tạo khoa học; mặt khác, phải tìm ra được các biện pháp tổ
chức, quản lý và nghiên cứu khoa học tốt hơn làm cho bộ máy khoa học vốn đã
mạnh, lại phát triển mạnh hơn và đi đúng quỹ đạo hơn.
Sự phát triển của khoa học hiện đại không những đem lại cho con người
những hiểu biết sâu sắc về thế giới, mà còn đem lại cho con người cả những hiểu
biết về phương pháp nhận thức thế giới. Chính vì vậy mà phương pháp nghiên cứu
khoa học đã gắn liền với hoạt động có ý thức của con người, là một trong những
yếu tố quyết định sự thành công của hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới.
Và cũng chính vì vậy mà hiện nay việc nghiên cứu phương pháp nghiên cứu
khoa học ngày càng trở nên cần thiết nhằm giúp cho công tác nghiên cứu khoa học
đạt hiệu quả hơn, phát triển mạnh mẽ hơn.
1.2 Mục đích của tiểu luận
Trên cơ sở khoa học và phương pháp luận khoa học, tiểu luận trình bày một
cách có hệ thống các phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh, giúp
người đọc hiểu được những nội dung cơ bản của từng phương pháp.
Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD: PGS,TS. Đào Duy Huân
Nhóm Đồng Tháp thực hiện Trang 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu của tiểu luận
Phạm vi nghiên cứu chính của tiểu luận : trình bày các phương pháp nghiên
cứu khoa học trong kinh doanh.
1.4 Những đóng góp của tiểu luận
Từ cơ sở lý thuyết về các phương pháp nghiên cứu khoa học, tiểu luận trình
bày khái quát về nghiên cứu khoa học và hệ thống về nội dung các phương pháp
nghiên cứu khoa học trong kinh doanh. Qua đó, đưa ra hạn chế và ưu điểm của từng
phương pháp và rút ra giá trị bài học thực tiễn.
1.4 Kết cấu của tiểu luận
Kết cấu của tiểu luận bao gồm 4 chương :
Chương 1 Mở đầu : nêu lý do, mục đích, những đóng góp của tiểu luận;
Chương 2: Khái luận về nghiên cứu và Phương pháp nghiên cứu khoa học;
Chương 3 : Trình bày phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh;
Chương 4 : Kết luận.
/\
Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD: PGS,TS. Đào Duy Huân
Nhóm Đồng Tháp thực hiện Trang 3
Chương 2: Khái luận về nghiên cứu khoa học
2.1 Đề tài nghiên cứu khoa học
2.1.1 Khái niệm đề tài nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học là một hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra hoặc thử
nghiệm. Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức đạt được từ các thí nghiệm
nghiên cứu khoa học để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới
tự nhiên và xã hội và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao
hơn, giá trị hơn. Nghiên cứu khoa học là hoạt động trí tuệ bằng những phương pháp
nhất định để tìm kiếm, vạch ra một cách chính xác những gì con người chưa biết
hoặc biết chưa đầy đủ nhằm tạo ra sản phẩm mới dước dạng tri thức mới.
Đề tài nghiên cứu khoa học là một hình thức nghiên cứu khoa học do một
người hoặc một nhóm người thực hiện. Đề tài nghiên cứu khoa học được thực hiện
để trả lời những câu hỏi mang tính học thuật, lý luận nền tảng, có thể chưa để ý đến
việc ứng dụng trong hoạt động thực tế. Như vậy, nghiên cứu khoa học là hoạt động
trí tuệ mang tính sáng tạo.
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là bản chất của sự vật hay hiện tượng cần xem xét và
làm rõ trong nhiệm vụ nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu được
khảo sát trong trong phạm vi nhất định về mặt thời gian, không gian và lãnh vực
nghiên cứu.
2.1.3 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu
Khi viết đề cương nghiên cứu, một điều rất quan trọng là làm sao thể hiện
được mục tiêu và mục đích nghiên cứu mà không có sự trùng lấp lẫn nhau. Vì vậy,
cần thiết để phân biệt sự khác nhau giữa mục đích và mục tiêu.
Mục đích: là hướng đến một điều gì hay một công việc nào đó trong nghiên
cứu mà người nghiên cứu mong muốn để hoàn thành, nhưng thường thì mục đích
khó có thể đo lường hay định lượng. Nói cách khác, mục đích là sự sắp đặt công
việc hay điều gì đó được đưa ra trong nghiên cứu. Mục đích trả lời câu hỏi “nhằm
Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD: PGS,TS. Đào Duy Huân
Nhóm Đồng Tháp thực hiện Trang 4
vào việc gì?”, hoặc “để phục vụ cho điều gì?” và mang ý nghĩa thực tiển của
nghiên cứu, nhắm đến đối tượng phục vụ sản xuất, nghiên cứu.
Mục tiêu: là thực hiện điều gì hoặc hoạt động nào đó cụ thể, rõ ràng mà
người nghiên cứu sẽ hoàn thành theo kế hoạch đã đặt ra trong nghiên cứu. Mục tiêu
có thể đo lường hay định lượng được. Nói cách khác, mục tiêu là nền tảng hoạt
động của đề tài và làm cơ sở cho việc đánh giá kế hoạch nghiên cứu đã đưa ra, và là
điều mà kết quả phải đạt được. Mục tiêu trả lời câu hỏi “làm cái gì?”.
2.1.4 Lựa chọn vấn đề nghiên cứu
Việc lựa chọn một vấn đề nghiên cứu là một việc làm hết sức công phu đòi
hỏi người nghiên cứu phải sử dụng tối đa sự hiểu biết và kinh nghiệm để tìm ra
được một lĩnh vực nghiên cứu trong đó tài năng và kiến thức của mình có thể được
đem ra đóng góp với hiệu quả nhiều nhất. Vấn đề quan trọng đối với người mới
bước chân vào lĩnh vực nghiên cứu là làm thế nào tìm ra được một vấn đề có ích lợi
then chốt mà khả năng của mình cho phép thực hiện cộng việc nghiên cứu, và sau
khi đã lựa chọn được vấn đề tổng quát hay lĩnh vực tổng quát để nghiên cứu, phải
phân tích thật kỹ vấn đề bằng cách tìm ra các biến số và các mối tương quan giữa
chúng với nhau.
Bước đầu tiên để tìm ra một vấn đề chuyên biệt trong quá trình nghiên cứu là
lựa chọn một lĩnh vực hay một vấn đề tổng quát mà người nghiên cứu đã được học
hỏi hoặc có kinh nghiệm nhiều nhất. Như vậy sẽ giúp cho người nghiên cứu biết
những vấn đề nào là quan trọng, vấn đề nào là then chốt trong một lĩnh vực, đồng
thời làm dễ dàng hơn công việc tham khảo các tài liệu liên hệ. Sau khi đã quyết
định về lĩnh vực nghiên cứu tổng quát, người nghiên cứu sẵn sàng vạch ra cho mình
một chương trình tham khảo tài liệu liên quan đến lĩnh vực ấy để có thể từ đó tìm ra
một vấn đề chuyên biệt làm căn bản cho việc nghiên cứu của mình.
Tham khảo tài liệu : Đây là bước đi quan trọng nhất của người nghiên cứu vì
nhờ có việc tham khảo tài liệu một cách có hệ thống người nghiên cứu mới có thể
nhận định được cơ sở lý luận cho công trình nghiên cứu của mình. Để thực hiện
Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD: PGS,TS. Đào Duy Huân
Nhóm Đồng Tháp thực hiện Trang 5
công việc này một cách có kết quả, người nghiên cứu phải vạch ra một chương trình
tham khảo tài liệu có hệ thống.
2.2 Thu thập tài liệu và giả thuyết nghiên cứu khoa học
2.2.1 Thu thập tài liệu
2.2.1.1 Mục đích thu thập tài liệu
Thu thập và nghiên cứu tài liệu là một công việc quan trọng cần thiết cho bất
kỳ hoạt động nghiên cứu khoa học nào. Các nhà nghiên cứu khoa học luôn đọc và
tra cứu tài liệu có trước để làm nền tảng cho nghiên cứu khoa học. Đây là nguồn
kiến thức quí giá được tích lũy qua quá trình nghiên cứu mang tính lịch sử lâu dài.
Giúp người nghiên cứu nắm được phương pháp của các nghiên cứu đã thực hiện
trước đây, đồng thời làm rõ hơn đề tài nghiên cứu của mình hàm lượng kiến thức
rộng, sâu về lĩnh vực đang nghiên cứu. Tránh trùng lập với các nghiên cứu trước
đây, vì vậy đỡ mất thời gian, công sức và tài chính. Giúp người nghiên cứu xây
dựng luận cứ để chứng minh giả thuyết nghiên cứu khoa học.
2.2.1.2 Phân loại tài liệu nghiên cứu
Phân loại tài liệu để giúp cho người nghiên cứu chọn lọc, đánh giá và sử
dụng tài liệu đúng với lãnh vực chuyên môn hay đối tượng muốn nghiên cứu. Có
thể chia ra loại tài liệu tài sơ cấp và tài liệu thứ cấp.
Tài liệu sơ cấp là tài liệu mà người nghiên cứu tự thu thập, phỏng vấn trực
tiếp, hoặc nguồn tài liệu cơ bản, còn ít hoặc chưa được chú giải. Một số vấn đề
nghiên cứu có rất ít tài liệu, vì vậy cần phải điều tra để tìm và khám phá ra các
nguồn tài liệu chưa được biết. Người nghiên cứu cần phải tổ chức, thiết lập phương
pháp để ghi chép, thu thập số liệu.
Tài liệu thứ cấp : Loại tài liệu nầy như : Luận cứ khoa học, định lý, qui luật,
định luật, khái niệm; Các số liệu, tài liệu đã công bố được tham khảo từ các bài báo
trong tạp chí khoa học, tập san, báo cáo chuyên đề khoa học; Số liệu niên giám
thống kê, tài liệu lưu trữ, văn kiện, hồ sơ, văn bản về luật, chính sách; thu thập
thông tin trên truyền hình, truyền thanh, báo chí, … mang tính đại chúng cũng được
thu thập, và được xử lý để làm luận cứ khoa học chứng minh cho vấn đề khoa học.
Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD: PGS,TS. Đào Duy Huân
Nhóm Đồng Tháp thực hiện Trang 6
2.2.2 Giả thuyết nghiên cứu khoa học
2.2.2.1 Định nghĩa
Giả thuyết là câu trả lời ướm thử hoặc là sự tiên đoán để trả lời cho câu hỏi
hay “vấn đề” nghiên cứu. Chú ý: giả thuyết không phải là sự quan sát, mô tả hiện
tượng sự vật, mà phải được kiểm chứng bằng các cơ sở lý luận hoặc thực nghiệm.
2.2.2.2 Các đặc tính
Giả thuyết có những đặc tính tuân theo nguyên lý chung và không đổi trong
suốt quá trình nghiên cứu, phù hợp với điều kiện thực tế và cơ sở lý thuyết, đồng
thời giả thuyết có thể được kiểm nghiệm và mang tính khả thi cao. Một giả thuyết
tốt phải thoả mãn các yêu cầu về tài liệu tham khảo, khả năng thu thập thông tin,
cũng như khả năng thực nghiệm để thu thập số liệu…
2.2.2.3 Mối quan hệ giữa giả thuyết và “vấn đề” khoa học :
Sau khi xác định câu hỏi hay “vấn đề” nghiên cứu khoa học, người nghiên
cứu hình thành ý tưởng khoa học, tìm ra câu trả lời hoặc sự giải thích tới vấn đề
chưa biết (đặt giả thuyết). Ý tưởng khoa học nầy còn gọi là sự tiên đoán khoa học
hay giả thuyết giúp cho người nghiên cứu có động cơ, hướng đi đúng hay tiếp cận
tới mục tiêu cần nghiên cứu. Trên cơ sở những quan sát bước đầu, những tình
huống đặt ra (câu hỏi hay vấn đề), những cơ sở lý thuyết (tham khảo tài liệu, kiến
thức đã có,…), sự tiên đoán và những dự kiến tiến hành thực nghiệm sẽ giúp cho
người nghiên cứu hình thành một cơ sở lý luận khoa học để xây dựng giả thuyết
khoa học.
2.3. Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh
2.3.1 Khái niệm
Phương pháp nghiên cứu khoa học chính là việc con người sử dụng một cách
có ý thức các quy luật vận động của đối tượng như một phương tiện để khám phá
chính đối tượng đó, đây là con đường dẫn nhà khoa học đạt tới mục đích sáng tạo.
Phương pháp nghiên cứu khoa học là các cách thức nhận thức các hoạt động
của thế giới tự nhiên, xã hội, kinh tế, … bao gồm những quan điểm tiếp cận, những
Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD: PGS,TS. Đào Duy Huân
Nhóm Đồng Tháp thực hiện Trang 7
quy trình, các thao tác cụ thể tác động vào đối tượng kinh doanh để làm bộc lộ bản
chất của đối tượng kinh doanh đó.
2.3.2 Một vài đặc điểm của phương pháp nghiên cứu khoa học
Phương pháp bao giờ cũng là cách làm việc của chủ thể nhằm vào các đối
tượng cụ thể, ở đây có hai chú ý là: chủ thể và đối tượng.
Phương pháp là cách làm việc của chủ thể, cho nên nó gắn chặt với chủ thể
và như vậy phương pháp có mặt chủ quan. Mặt chủ quan của phương pháp chính là
năng lực nhận thức, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo của chủ thể, thể hiện trong việc
ý thức được các quy luật vận động của đối tượng và sử dụng chúng để khám phá đối
tượng.
Phương pháp là cách làm việc của chủ thể và bao giờ cũng xuất phát từ đặc
điểm của đối tượng, phương pháp gắn chặt với đối tượng, và như vậy phương pháp
có mặt khách quan. Mặt khách quan quy định việc chọn cách này hay cách kia trong
hoạt động của chủ thể. Đặc điểm của đối tượng chỉ dẫn cách chọn phương pháp làm
việc, Trong nghiên cứu khoa học cái chủ quan phải tuân thủ cái khách quan. Các
quy luật khách quan tự chúng chưa phải là phương pháp, nhưng nhờ có chúng mà ta
phát hiện ra phương pháp. Ý thức về sự sáng tạo của con người phải tiếp cận được
các quy luật khách quan của thế giới.
Phương pháp có tính mục đích vì hoạt động của con người đều có mục đích,
mục đích nghiên cứu các đề tài nghiên cứu khoa học chỉ đạo việc tìm tòi và lựa
chọn phương pháp nghiên cứu và ngược lại nếu lựa chọn phương pháp chính xác,
phù hợp sẽ làm cho mục đích nghiên cứu đạt tới nhanh hơn, và đôi khi vượt qua cả
yêu cầu mà mục đích đã dự kiến ban đầu.
Phương pháp nghiên cứu gắn chặt với nội dung các vấn đề cần nghiên cứu.
Phương pháp là hình thức vận động của nội dung. Nội dung công việc quy định
phương pháp làm việc. Trong mỗi đề tài khoa học đều có phương pháp cụ thể, trong
mỗi ngành khoa học có một hệ thống phương pháp đặc trưng.
Phương pháp nghiên cứu khoa học có một cấu trúc đặc biệt đó là một hệ
thống các thao tác được sắp xếp theo một chương trình tối ưu. Sự thành công nhanh
Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD: PGS,TS. Đào Duy Huân
Nhóm Đồng Tháp thực hiện Trang 8
chóng hay không của một hoạt động nghiên cứu chính là phát hiện được hay không
lôgíc tối ưu của các thao tác hoạt động và sử dụng nó một cách có ý thức.
Phương pháp nghiên cứu khoa học luôn cần có các công cụ hỗ trợ, cần có
các phương tiện kỹ thuật hiện đại với độ chính xác cao. Phương tiện và phương
pháp là hai phạm trù khác nhau nhưng chúng lại gắn bó chặt chẽ với nhau căn cứ
vào đối tượng nghiên cứu mà ta chọn phương pháp nghiên cứu, theo yêu cầu của
phương pháp nghiên cứu mà chọn các phương tiện phù hợp, nhiều khi còn cần phải
tạo ra các công cụ đặc biệt để nghiên cứu một đối tượng nào đó. Chính các phương
tiện kỹ thuật hiện đại đảm bảo cho quá trình nghiên cứu đạt tới độ chính xác cao.
Tóm lại, nghiên cứu khoa học có những đặc điểm : Tính mới; Tính tin cậy;
Tính thông tin; Tính khách quan – trung thực; Tính kế thừa; Tính phi kinh tế; Tính
mạo hiểm trong nghiên cứu khoa học; Tính chuyên sâu của đội ngũ những người
nghiên cứu.
2.3.3 Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Trong nghiên cứu khoa học phương pháp và phương pháp luận là hai khái
niệm gần nhau nhưng không đồng nhất. Phương pháp luận là hệ thống các nguyên
lý, quan điểm (trước hết là những nguyên lý, quan điểm liên quan đến thế giới
quan) làm cơ sở, có tác dụng chỉ đạo, xây dựng các phương pháp, xác định phạm vi,
khả năng áp dụng các phương pháp và định hướng cho việc nghiên cứu tìm tòi cũng
như việc lựa chọn, vận dụng phương pháp. Nói cách khác thì phương pháp luận
chính là lý luận về phương pháp bao hàm hệ thống các phương pháp, thế giới quan
và nhân sinh quan của người sử dụng phương pháp và các nguyên tắc để giải quyết
các vấn đề đã đặt ra.
Các quan điểm phương pháp luận nghiên cứu khoa học có tính lý luận cho
nên thường mang màu sắc triết học, tuy nhiên nó không đồng nhất với triết học (như
thế giới quan) để tiếp cận và nhận thức thế giới.
Phương pháp luận được chia thành phương pháp bộ môn – lý luận về phương
pháp được sử dụng trong một bộ môn khoa học và phương pháp luận chung cho các
khoa học. Phương pháp luận chung nhất, phổ biến cho hoạt động nghiên cứu khoa
Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD: PGS,TS. Đào Duy Huân
Nhóm Đồng Tháp thực hiện Trang 9
học là triết học. Triết học Mác-Lênin là phương pháp luận đáp ứng những đòi hỏi
của nhận thức khoa học hiện đại cũng như hoạt động cải tạo và xây dựng thế giới
mới.
Những phương pháp nghiên cứu khoa học riêng gắn liền với từng bộ môn
khoa học (toán học, vật lý học, sinh vật học, kinh tế học…). Do vậy những phương
pháp riêng này sẽ được làm sáng tỏ khi nghiên cứu những môn học tương ứng.
2.4. Phân loại phương pháp nghiên cứu
Có nhiều quan điểm tiếp cận phân loại, tuy nhiên căn cứ vào cách tiếp cận
đối tượng nghiên cứu, sự khác nhau của những lao động cụ thể trong nghiên cứu
khoa học, người ta chia thành phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và phương
pháp nghiên cứu lý thuyết.
2.4.1. Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
Loại phương pháp này bao gồm các phương pháp quan sát, thí nghiệm, thực
nghiệm. Quan sát là phương pháp nghiên cứu để xác định các thuộc tính và quan hệ
của sự vật, hiện tượng riêng lẻ xét trong điều kiện tự nhiên vốn có của nó nhờ khả
năng thụ cảm của các giác quan, khả năng phân tích tổng hợp, khái quát hoá.
Thực nghiệm, thí nghiệm là việc người nghiên cứu khoa học sử dụng các
phương tiện vật chất tác động lên đối tượng nghiên cứu nhằm kiểm chứng các giả
thiết, lý thuyết khoa học, chính xác hoá, bổ sung chỉnh lý các phỏng đoán giả thiết
ban đầu tức là để xây dựng các giả thiết, lý thuyết khoa học mới.
Thí nghiệm, thực nghiệm bao giờ cũng được tiến hành theo sự chỉ đạo của
một ý tưởng khoa học nào đấy. Như vậy để tiến hành thí nghiệm, thực nghiệm phải
có tri thức khoa học và điều kiện vật chất.
Phương pháp thực nghiệm được áp dụng khá phổ biến trong các ngành khoa
học tự nhiên là những ngành khoa học có khả năng định lượng chính xác. Trong
những lĩnh vực này, còn cho phép tạo ra những môi trường nhân tạo, khác với môi
trường bình thường để nghiên cứu sự vận động biến đổi của đối tượng.
Các ngành khoa học xã hội là lĩnh vực khó có khả năng tiến hành các thí
nghiệm khoa học, áp dụng phương pháp thử nghiệm. Song thực tiễn là tiêu chuẩn
Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD: PGS,TS. Đào Duy Huân
Nhóm Đồng Tháp thực hiện Trang 10
của chân lý. Mọi khái quát, trìu tượng, mọi lý thuyết nếu không được thực tiễn chấp
nhận đều không có chỗ đứng trong khoa học. Ở đây quan sát, tổng kết thực tiễn
người nghiên cứu khoa học có khả năng nhận thức nhanh hơn con đường do lịch sử
vạch ra.
Trong phạm vi nhất định, người ta cũng có thể tiến hành các thí nghiệm xã
hội học. Ở đây cần lưu ý rằng tính toán xã hội của khoa học xã hội đòi hỏi những
phương tiện, điều kiện vật chất, môi trường thử nghiệm phải là những điều kiện phổ
biến.
Trong phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, nhiều trường hợp người ta còn
sử dung phương pháp mô hình hoá mà đối tượng nghiên cứu không cho phép quan
sát thực nghiệm trực tiếp. Cơ sở áp dụng phương pháp mô hình hoá là sự giống
nhau về các đặc điểm, chức năng, tính chất đã được xác lập vững chắc giữa các sự
vật hiện tượng, quá trình xảy ra trong tự nhiên xã hội, tư duy. Dựa trên cơ sở này, từ
những kết quả nghiên cứu đối với mô hình người ta rút ra những kết luận khoa học
về đối tượng cần nghiên cứu.
2.4.2. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết bao gồm các phương pháp khái quát, trừu
tượng hoá, diễn dịch, quy nạp, phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá,… được dùng cho
tất cả các ngành khoa học. Khác với nghiên cứu thực nghiệm phải sử dụng các yếu
tố, điều kiện vật chất tác động vào đối tượng nghiên cứu, trong nghiên cứu lý thuyết
quá trình tìm kiếm phát hiện diễn ra thông qua tư duy trừu tượng, sử dụng các
phương tiện ngôn ngữ, chữ viết,…
Điểm xuất phát của nghiên cứu thực nghiệm là quan sát thực tiễn, quan sát
sự vận động của đối tượng nghiên cứu. Trong nghiên cứu lý thuyết, nền tảng và
điểm xuất phát của quá trình nghiên cứu là tri thức lý luận (các quan điểm, các lý
thuyết). Do vậy việc nắm vững hệ thống lý luận nền tảng đóng vai trò quyết định
trong loại phương pháp này.
Tri thức khoa học là tri thức chung, tài sản chung của nhân loại. Bất cứ lý
thuyết nào nếu được thực tiễn chấp nhận, đều có hạt nhân khoa học, hợp lý của nó.
Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD: PGS,TS. Đào Duy Huân
Nhóm Đồng Tháp thực hiện Trang 11
Cần tiếp thu những khía cạnh hợp lý, khoa học, tức là những tinh hoa trong kho
tàng tri thức nhân loại, giúp cho mình tiếp tục phát triển lý luận, vừa để nhìn thấy
những khiếm khuyết của lý luận ấy. Nếu thiếu lý luận nền tảng, người nghiên cứu
khoa học rất khó khăn trong việc tìm ra cái đúng, cái sai của các chân lý.
Nếu như các quy luật tự nhiên tồn tại lâu dài, thì các quy luật xã hội tồn tại,
vận động trên những điều kiện xã hội nhất định. Thoát ly tính lịch sử, cụ thể, là
nguy cơ dẫn đến tình trạng xa rời thực tiễn, trở thành giáo điều, kinh viện, kìm hãm
khoa học. Phương pháp lý thuyết do đặc tính của quá trình sáng tạo khoa học diễn
ra thông qua tư duy trừu tượng, suy luận, khái quát hoá, lại chưa được thực tiễn
kiểm chứng, mà qua thời gian, đúng sai mới sáng tỏ. Điều đó dễ dẫn người làm
khoa học phạm vào sai lầm chủ quan duy ý chí, tự biện.
2.5 Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc (Macxít)
2.5.1 Phương pháp lịch sử
Các đối tượng nghiên cứu (sự vật, hiện tượng) đều luôn biến đổi, phát triển
theo những hoàn cảnh cụ thể của nó, tạo thành lịch sử liên tục được biểu hiện ra
trong sự đa dạng, phức tạp, có cả tính tất nhiên và ngẫu nhiên. Phương pháp lịch sử
là phương pháp thông qua miêu tả tái hiện hiện thực với sự hỗn độn, bề ngoài của
các sự kiện kế tiếp nhau, để nêu bật lên tính quy luật của sự phát triển, bằng cách đi
tìm nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển và biến hoá của đối tượng, để phát
hiện ra bản chất và quy luật của đối tượng. Quy trình phát triển lịch sử biểu hiện
toàn bộ tính cụ thể của nó, với mọi sự thay đổi, tất yếu trong điều kiện khác nhau và
theo thời gian nhất định.
2.5.2 Phương pháp lôgíc
Phương pháp lôgíc nghiên cứu quá trình phát triển lịch sử, nghiên cứu các
hiện tượng lịch sử trong hình thức tổng quát, nhằm mục đích vạch ra bản chất quy
luật, bản chất, cái phổ biến, khuynh hướng vận động của các hiện tượng. Anghen đã
nói: lôgíc không phải là sự phản ánh lịch sử một cách đơn thuần, mà là phản ánh đã
uốn nắn theo quy luật mà bản thân quá trình lịch sử đem lại.
Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD: PGS,TS. Đào Duy Huân
Nhóm Đồng Tháp thực hiện Trang 12
Phương pháp lôgíc giúp chúng ta nhìn nhận ra bản chất, cái phổ biến, cái mới
nảy sinh và phát triển như thế nào về chất so với cái cũ, mặc dù là hình thức thì
chưa thay đổi, nhưng chất mới đã nảy sinh. Giúp chúng ta tác động tích cực vào
hiện thực, nhằm tái sản sinh ra lịch sử ở một trình độ cao hơn, nghĩa là chủ động cải
tạo, cải biến lịch sử, nhờ đó nắm được những quy luật khách quan đó.
2.5.3 Tính thống nhất giữa phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc
Trên thực tế công tác nghiên cứu theo phương pháp biện chứng mácxít,
không bao giờ có phương pháp lịch sử hay phương pháp lôgíc thuần tuý tách rời
nhau, mà là trong cái này có cái kia, hai cái thâm nhập vào nhau, ảnh hưởng lẫn
nhau. Giới hạn giữa chúng chỉ là tương đối. Cụ thể, phương pháp lịch sử tuy phải
theo sát tiến trình phát triển của lịch sử của sự vật hiện tượng, diễn lại những bước
quanh co, ngẫu nhiên, thụt lùi tạm thời của quá trình phát triển hiện thực, nhưng
không phải là miêu tả lịch sử đó một cách kinh nghiệm chủ nghĩa, mà là miêu tả
theo một sợi dây lôgíc nhất định của sự phát triển lịch sử; không phải miêu tả lịch
sử một cách mù quáng, mà là phát triển một cách có quy luật.
Cũng vậy, phương pháp lôgíc tuy không nói đến những chi tiết lịch sử,
những bước đường quanh co, ngẫu nhiên của lịch sử đối tượng, nhưng không phải
vì thế mà nó bỏ qua việc nghiên cứu lịch sử cụ thể của đối tượng. Phương pháp
lôgíc là sự phản ánh cái chủ yếu được rút ra từ trong lịch sử sự vật, và làm cho cái
chủ yếu ấy thể hiện được bản chất của quá trình lịch sử.
Tóm lại, phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc có tính thống nhất và
cũng có mục đích thống nhất là cùng nhằm phơi bày rõ chân lý khách quan của sự
phát triển lịch sử, nên trong công tác nghiên cứu, tổng kết khoa học, chúng ta không
chỉ vận dụng một phương pháp riêng rẽ nào, vì thực ra chúng chỉ là hai mặt biểu
hiện khác nhau của phương pháp biện chứng mácxít mà thôi. Tuy vậy, trong công
tác nghiên cứu chúng ta vẫn cần chú ý đến tính độc lập tương đối của hai phương
pháp này như đã nói ở trên.
/\
Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD: PGS,TS. Đào Duy Huân
Nhóm Đồng Tháp thực hiện Trang 13
Chương 3 : Một số phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh
3.1. Phương pháp Quan sát
3.1.1 Phương pháp quan sát :
Quan sát/thăm hiện trường là một phương pháp định tính quan trọng trong
quá trình tự đánh giá trong nghiên cứu khoa học. Đó là qui trình tri giác (mắt thấy,
tai nghe) và ghi chép lại mọi yếu tố liên quan đến đối tượng nghiên cứu, phù hợp
với mục tiêu nghiên cứu…nhằm mô tả, phân tích, nhận định, đánh giá. Quan sát
cung cấp thông tin định tính để bổ sung cho các thông tin định lượng trong điều tra
thu thập minh chứng để đánh giá các tiêu chí.
Về phân loại quan sát, ta có hai loại quan sát trực tiếp và quan sát gián tiếp.
Quan sát trực tiếp là quan sát và ghi chép hành vi của con người ngay tại bối cảnh
và thời gian thực tế diễn ra. Quan sát gián tiếp là không quan sát trực tiếp hành vi
mà đi thu thập các dấu vết của hành vi còn sót lại.
3.1.2 Một vài giá trị thực tiễn của phương pháp quan sát :
Với phương pháp Quan sát : Nhờ có các giác quan như : thị giác, thính giác,
xúc giác, khướu giác và vị giác, mà chúng ta cảm nhận và phát hiện các vấn đề đang
nảy sinh khách quan trong kinh doanh cần nghiên cứu để giải quyết. Bản chất quan
sát là trực quan sinh động thế giới khách quan để nhận biết chính xác về chúng.
Chúng ta có thể sử dụng phương pháp quan sát như khảo sát (quan sát) sức
mua của người tiêu dùng trên thị trường hàng hóa tiêu dùng…qua đó, sẽ nhận xét
được sức mua tăng hay giảm, từ đó, gợi mở các chính sách có liên quan,… Qua
quan sát các biểu hiện của khách hàng khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ của một công
ty, chúng ta biết mức độ hài lòng của họ. Hay quan sát thái độ của khách hàng khi
đến giao dịch tại một chi nhánh ngân hàng biết mức độ hài lòng của họ về sản
phẩm, dịch vụ và kỹ năng giao tiếp của nhân viên.
Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD: PGS,TS. Đào Duy Huân
Nhóm Đồng Tháp thực hiện Trang 14
3.2. Phương pháp Phán đoán
3.2.1 Phương pháp Phán đoán :
Phán đoán là vận dụng các khái niệm để phân biệt, so sánh những đặc tính,
bản chất sự vật và tìm mối liên hệ giữa đặc tính chung và đặc tính riêng của các sự
vật đó. Phán đoán là một hình thức của tư duy, trong đó, các khái niệm được liên
kết để khẳng định hay phủ định về thuộc tính hoặc quan hệ nào đó của bản thân sự
vật, hiện tượng.
Phán đoán có thể là phán đoán khẳng định hay phán đoán phủ định một
mệnh đề, giả thuyết nào đó. Phán đoán có thể được hình thành từ những phán đoán
đơn lẻ và các liên từ logic để tạo thành phán đoán phức.
3.2.2 Một vài giá trị thực tiễn của phương pháp phán đoán
Trong nghiên cứu, người ta thường vận dụng các khái niệm để phán đoán
hay tiên đoán. Những tiên đoán, phán đoán làm nảy sinh những giả thuyết mới cho
nghiên cứu, tuy nhiên, quán trình phán đoán có thể đúng, có thể sai, vì nó lệ thuộc
nhiều yếu tố ảnh hưởng như môi trường bên ngoài, môi trường bên trong…
3.3. Phương pháp Khái niệm
3.3.1 Phương pháp khái niệm
Khái niệm “Khái niệm” là quá trình nhận thức hay tư duy của con người bắt
đầu từ những tri giác hay bằng những quan sát sự vật hiện thực tác động vào giác
quan. Như vậy, “khái niệm” có thể hiểu là hình thức tư duy của con người về những
thuộc tính, bản chất của sự vật và mối liên hệ của những đặc tính đó với nhau.
Người nghiên cứu khoa học hình thành các “khái niệm” để tìm hiểu mối quan hệ
giữa các khái niệm với nhau, để phân biệt sự vật này với sự vật khác và để đo lường
thuộc tính bản chất của sự vật hay hình thành khái niệm nhằm mục đích xây dựng
cơ sở lý luận.
Khái niệm là thao tác logic dùng để tách một khái niệm cần định nghĩa ra
khỏi những khái niệm tiếp cận với nó và chỉ rõ những thuộc tính bản chất tực nội
hàm của nó. Khái niệm là một hình thức cơ bản của tư duy phản ảnh những thuộc
tính bản chất của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan.
Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD: PGS,TS. Đào Duy Huân
Nhóm Đồng Tháp thực hiện Trang 15
Đặc điểm cơ bản của khái niệm :
* Khái niệm là sự phản ánh tương đối toàn diện về đối tượng
* Khái niệm là sự phản ánh tương đối chính xác về đối tượng
* Khái niệm là sự phản ánh tương đối có hệ thống về đối tượng
* Khái niệm là sự phản ánh đối tượng trong hiện thực nhưng nó góp phần chỉ
đạo hoạt động thực tiễn của con người trong quan hệ đối tượng.
Hình thức ngôn ngữ biểu thị khái niệm
Là một bộ phận cấu thành của tư duy, khái niệm không thể định hình, tồn tại
và thể hiện nếu thiếu các phương tiện ngôn ngữ. Từ, cụm từ là những phương tiện
ngôn ngữ được con người sử dụng để định hình và thể hiện khái niệm. Khái niệm và
từ ngữ có liên hệ mật thiết với nhau. Từ và khái niệm là thống nhất nhưng không
đồng nhất. Từ là đơn vị cấu thành ngôn ngữ, là phạm trù ngôn ngữ học, là sự thống
nhất hữu cơ giữa âm và nghĩa. Khái niệm là hình thức của tư duy trừu tượng được
xây dựng trên cơ sở thống nhất giữa yếu tố cấu thành là nội hàm và ngoại diên.
Kết cấu logic của khái niệm. Về mặt cấu tạo, mỗi khái niệm đều do hai bộ
phận cấu thành là nội hàm và ngoại diên.
Nội hàm của khái niệm là toàn bộ những thuộc tính bản chất của sự vật, hiện
tượng được phản ảnh trong khái niệm. Ngoại diên của khái niệm là tập hợp những
sự vật hiện tượng có chứa những thuộc tính bản chất được phản ảnh trong
khái niệm.
Thu hẹp và mở rộng khái niệm :
Thu hẹp khái niệm là một thao tác chuyển từ khái niệm có ngoại diên rộng
sang khái niệm có ngoại diên hẹp. Việc chuyển này được thực hiện bằng cách thêm
vào những dấu hiệu của khái niệm ban đầu những dấu hiệu mới và những dấu hiệu
này chỉ thuộc về một bộ phận các sự vật nằm trong ngoại diên của khái niệm
ban đầu.
Mở rộng khái niệm là một thao tác logic giúp ta chuyển từ những khái niệm
có ngoại diên hẹp sang những khái niệm có ngoại diên rộng. Để mở rộng khái niệm
Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD: PGS,TS. Đào Duy Huân
Nhóm Đồng Tháp thực hiện Trang 16
ta tiến hành bằng cách tước bỏ đi những dấu hiệu chỉ thuộc về những sự vật nằm
trong ngoại diên của khái niệm được mở rộng.
3.3.2 Một vài giá trị thực tiễn của phương pháp khái niệm
Người nghiên cứu khoa học cần thiết phải hình thành các “khái niệm” để tìm
hiểu mối quan hệ giữa các khái niệm cụ thể với nhau, để phân biệt sự vật này với sự
vật khác và để đo lường thuộc tính bản chất của sự vật hay hình thành khái niệm
nhằm mục đích xây dựng cơ sở lý luận.
Một khái niệm cụ thể do người nghiên cứu khoa học đưa ra, có thể với nội
hàm sâu (ngoại diên hẹp) hay nội hàm cạn (ngoại diên rộng) như : Khái niệm “nhà
quản trị” thì rộng hơn khái niệm “nhà quản trị Việt Nam”,…và từ những khái niệm
cụ thể này có thể đưa đến những khái niệm chung, là khái niệm mà ngoại diên chứa
từ hai đối tượng trở lên, như : “Công ty Tư nhân”, “Công ty nhà nước”,…
3.4. Phương pháp Suy luận (Diễn dịch, quy nạp)
3.4.1 Phương pháp quy nạp :
Phương pháp quy nạp là phương pháp đi từ những hiện tượng riêng lẻ, rời
rạc, độc lập ngẫu nhiên rồi liên kết các hiện tượng ấy với nhau để tìm ra bản chất
của một đối tượng nào đó.
Từ những kinh nghiệm, hiểu biết các sự vật riêng lẻ người ta tổng kết quy
nạp thành những nguyên lý chung. Cơ sở khách quan của phương pháp quy nạp là
sự lặp lại của một số hiện tượng này hay hiện tượng khác do chỗ cái chung tồn tại,
biểu hiện thông qua cái riêng. Nếu như phương pháp phân tích-tổng hợp đi tìm mối
quan hệ giữa hình thức và nội dung thì phương pháp quy nạp đi sâu vào mối quan
hệ giữa bản chất và hiện tượng.
3.4.2 Phương pháp diễn dịch (Suy diễn – Deductive)
Phương pháp diễn dịch ngược lại với phương pháp quy nạp. Suy luận diễn
dịch là lối suy luận đi từ nguyên lý chung, phổ biến đến từng trường hợp riêng lẻ cá
biệt (lối tư duy đi từ nguyên lý). Hay nói cách khác, là phương pháp đi từ cái bản
chất, nguyên tắc, nguyên lý đã được thừa nhận để tìm ra các hiện tượng, các biểu
hiện, cái trùng hợp cụ thể trong sự vận động của đối tượng.
Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD: PGS,TS. Đào Duy Huân
Nhóm Đồng Tháp thực hiện Trang 17
Suy luận diễn dịch trực tiếp : Suy luận diễn dịch trực tiếp là kiểu suy luận
trong đó kết luận được rút ra trực tiếp từ một tiền đề.
Suy luận diễn dịch gián tiếp : Suy luận diễn dịch gián tiếp là suy luận diễn
dịch trong đó kết luận là phán đoán mới được rút ra trên cơ sở mối liên hệ logic
giữa hai hay nhiều phán đoán tiền đề.
Trên cơ sở các tài liệu được tích lũy, người ta đưa ra một giải thuyết biểu thị
với tư cách là tiền đề của lý thuyết mới, sau đó từ tiền đề rút ra tất cả các khẳng
định còn lại của lý thuyết nhờ diễn dịch logic. Tính chân lý của lý thuyết mới cần
được kiểm tra, trước hết là kiểm tra những chân lý của giải thuyết được chọn làm
tiền đề của lý thuyết.
3.4.3 Quan hệ giữa phương pháp diễn dịch và phương pháp quy nạp
3.4.4 Một vài giá trị thực tiễn phương pháp suy luận
Phương pháp diễn dịch :
Phương pháp diễn dịch có ý nghĩa rất quan trọng trong những bộ môn khoa
học thiên về nghiên cứu lý thuyết, ở đây người ta đưa ra những tiền đề, giả thuyết,
và bằng những suy diễn lôgic để rút ra những kết luận, định lý, công thức.
Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD: PGS,TS. Đào Duy Huân
Nhóm Đồng Tháp thực hiện Trang 18
Có thể áp dụng phương pháp Diễn dịch vào nghiên cứu khoa học theo trình
tự qua 4 bước như sau :
1. Phát triển lý thuyết
2. Đưa ra giả thuyết
3. Thu thập và phân tích dữ liệu
4. Xác nhận/Bác bỏ giải thuyết.
Trên cơ sở các sự kiện mới được tích lũy, người ta đưa ra những giả thuyết để
giải thích, sau đó nhờ phương pháp diễn dịch rút ra giải thuyết các hệ quả và so
sánh các hệ quả này với nhau, với thực tiễn để kiểm tra tính chân lý của giải thuyết.
Phương pháp quy nạp có thể được thực hiện thông qua 3 bước ;
1. Quan sát thế giới thực.
2. Tìm kiếm một mẫu hình để quan sát
3. Tổng quát hóa về những vấn đề đang xảy ra
Để tìm hiểu, nhận định, đánh giá tổng quát đối tượng hoạt động kinh tế chẳng
hạn (quan sát thế giới thực), người nghiên cứu đi tìm hiểu nhiều yếu tố kinh tế riêng
lẻ, từng thành phần cụ thể mang những thuộc tính nào đó mà người nghiên cứu có
thể tìm hiểu, đánh giá, nhận định được (tìm kiếm một mẫu hình quan sát), sau đó
tìm thấy mối liên hệ chung của chúng, một kết luận chung có thể thâu tóm được
những cái riêng lẻ sẽ được đề xuất bởi người nghiên cứu.
Với Phương pháp Quy nạp và Diễn dịch là hai phương pháp nghiên cứu theo
chiều ngược nhau song liên hệ chặt chẽ và bổ sung cho nhau trong mối quan hệ
giữa cái chung và cái riêng. Nhờ có những kết quả nghiên cứu theo phương pháp
quy nạp trước đó mà việc nghiên cứu có thể tiếp tục, phát triển theo phương pháp
diễn giải. Phương pháp diễn giải, do vậy mở rộng giá trị của những kết luận quy nạp
vào việc nghiên cứu đối tượng.
3.5. Phương pháp hệ thống
3.5.1 Phương pháp Hệ thống
Hệ thống là tập hợp tất cả các bộ phận có quan hệ với nhau tạo ra cái mới.
Hệ thống có chiều : chiều cơ cấu, chiều cội nguồn và chiều khu vực.
Chiều cơ cấu là một sự cấu thành nào đó của đối tượng đang phát triển, là
phương thức nhất định về cách sắp xếp và tác động qua lại của các thành phần của
Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD: PGS,TS. Đào Duy Huân
Nhóm Đồng Tháp thực hiện Trang 19
đối tượng đó. Bản thân các thành phần cũng là một cơ cấu pháp tạp, trong đó, có
một phân hệ là cơ bản, quyết định.
Chiều cội nguồn : là thể hiện những biến đổi về lượng và chất của hệ thống
trong thời gian. Những biến đổi liên tục về chất tạo thành khái niệm giai đoạn, tức
tạo ra phân hệ cội nguồn. Mỗi giai đoạn phân hệ của hệ thống về thực chất là một
hệ thống tương đối độc lập.
Chiều khu vực : chỉ sự sắp xếp trong không gian của hệ thống và sự khác
nhau giữa các khu vực riêng biệt của hệ thống. Nó tạo ra phân hệ về mặt
không gian.
Ba chiều trên của hệ thống vừa có sự thống nhất, vừa có sự khác biệt, chúng
phải dựa vào nhau để tồn tại, đồng thời mỗi chiều lại có tính độc lập tương đối. Cấu
trúc là cách sắp xếp theo một trật tự nhất định của các bộ phận trong một hệ thống,
quyết định sự ra đời của hệ thống và tạo cho hệ thống một ý nghĩa mới nào đó.
Cấu trúc là mặt tương đối ổn định của hệ thống, là linh hồn của hệ thống.
Không thể nói đến hệ thống mà không có cấu trúc và ngược lại, cấu trúc bao giờ
cũng là cấu trúc của một hệ thống.
3.5.2 Một vài giá trị thực tiễn của phương pháp hệ thống
Người nghiên cứu khoa học khi tiến hành nghiên cứu một vấn đề cụ thể nào
đó cần am hiểm rỏ phương pháp hệ thống. Qua đó, đưa vấn đề nghiên cứu đi từ
tổng quát đến vấn đề cụ thể nào đó và luôn đặt nó trong bối cảnh không gian cụ thể
(chiều khu vực), cần phân tích, đánh giá một cách chính xác khoa học các yếu tố
thành phần của vấn đề nghiên cứu (chiều hệ thống), ứng với mỗi giai đoạn định rõ
bởi cơ cấu riêng và bởi giai đoạn chất lượng (chiều cội nguồn), và có thể phân chia
sự phát triển của một sự vật thành từng gia đoạn, thời kỳ hay thời đại cụ thể nào đó
chẳng hạn.
3.6. Phương pháp nghiên cứu Định tính và nghiên cứu Định lượng
3.6.1 Phương pháp nghiên cứu định tính
Thu thập và phân tích thông tin định tính bằng các phương pháp chuyên gia,
tham vấn quan điểm của nhà nghiên cứu/chuyên gia liên quan đến lĩnh vực nghiên
Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD: PGS,TS. Đào Duy Huân
Nhóm Đồng Tháp thực hiện Trang 20
cứu. Nhận dạng việc thể hiện các mối quan hệ lý thuyết rõ hơn trong thực tế thông
qua các biến đại diện.
3.6.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng
Lượng hóa các mối quan hệ/sự thay đổi trong hiện tượng, tình huống, vấn
đề,… các biến số sử dụng là biến số định lượng.
3.6.3 So sánh giữa phương pháp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu
định tính
3.6.3.1 Định nghĩa:
Phương pháp Nghiên cứu định tính
Phương pháp Nghiên cứu định lượng
– Giải thích, mô tả
– Xây dựng lý thuyết
– Biến số không xác định
– Kích thước mẫu nhỏ
– Công cụ phân tích : quan sát,
phỏng vấn,…
– Quy nạp.
– Giải thích, dự báo
– Kiểm chứng lý thuyết
– Đã xác định biến số
– Kích thước mẫu lớn
– Công cụ phân tích: đã được chuẩn
hóa
– Diễn dịch
3.6.3.2 Lý thuyết
Phương pháp Nghiên cứu định
tính
Phương pháp Nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu định tính theo hình thức quy
nạp, tạo ra lý thuyết, phương pháp
nghiên cứu định tính còn sử dụng quan
điểm diễn giải, không chứng minh chỉ có
giải thích và dùng thuyết kiến tạo trong
nghiên cứu
Nghiên cứu định lượng chủ yếu là kiểm
định lý thuyết, sử dụng mô hình khoa
học tự nhiên thực chứng luận, có thể
chứng minh được trong thực tế và theo
chủ nghĩa khách quan
3.6.3.3 Phương hướng thực hiện
Phương pháp Nghiên cứu định tính
Phương pháp Nghiên cứu định lượng
– Dữ liệu ở dưới dạng từ ngữ, các
văn bản
– Không có đối tượng nghiên cứu
– Dữ liệu ở dạng các số được đo
chính xác.
– Có nhiều đối tượng nghiên cứu
Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD: PGS,TS. Đào Duy Huân
Nhóm Đồng Tháp thực hiện Trang 21
– Quy trình nghiên cứu theo đổi
theo tình hình cụ thể và khả năng
tái lặp rất hiếm
– Lọc các chủ đề hay sự khái quát
hóa từ chứng cứ và tổ chức dữ
liệu để đưa ra một bức tranh
thống nhất, gắn kết
– Lý thuyết có thể mang tính nhân
quả hoặc không và mang tính quy
nạp
– Ý nghĩa được nắm bắt khi nhà
nghiên cứu bắt đầu khảo sát dữ
liệu
– Khái niệm ở dưới dạng chủ đề,
khái quát hóa
– Các đo lường tính toán được tạo
ra theo một ngữ cảnh cụ thể
– Chủ quan, do nhìn nhận của nhà
nghiên cứu
– Nhà nghiên cứu tương tác với đối
tượng nghiên cứu
– Bị ảnh hưởng bởi các giá trị
– Quy trình nghiên cứu chuẩn và có
khả năng tái tạo được
– Sử dụng số liệu thống kê, bảng
biểu hay biểu đồ và xem xét mối
quan hệ của chúng với các giả
thuyết.
– Lý thuyết chủ yếu mang tính
nhân quả và diễn dịch
– Các giả thuyết nhà nghiên cứu
đưa ra ban đầu được kiểm chứng.
– Khái niệm ở dưới dạng biến riêng
biệt.
– Các đo lường tính toán một cách
hệ thống
– Khách quan, độc lập với nhà
nghiên cứu
– Nhà nghiên cứu độc lập với đối
tượng nghiên cứu
– Không có thiên kiến và không bị
ảnh hưởng bởi giá trị
3.6.4 Một vài giá trị thực tiễn của phương pháp định tính và định lượng
Phương pháp định tính : Phương pháp này thường sử dụng trong các nghiên
cứu liên quan đến xã hội.
Phương pháp định lượng : Thường sử dụng trong các khoa học về kinh tế,
giáo dục, vật lý, dịch tễ học…
Và, một nghiên cứu cụ thể có thể kết hợp cả phương pháp định tính và định
lượng nhằm bổ sung và khắp phục những hạn chế của nhau.
3.7. Phương pháp đối chiếu
3.7.1 Phương pháp đối chiếu
Mục tiêu là để so sánh sự vật này với sự vật khác, hiện tượng này với hiện
tượng khác để tìm ra sự giống và khác nhau, tìm nguyên nhân và đề xuất giải pháp.
Trên đại thể, ta có thể thấy 3 xu hướng đối chiếu :
– Chủ trương tìm những nét khác biệt do vậy chúng cần phải được so
sánh đối chiếu.
Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD: PGS,TS. Đào Duy Huân
Nhóm Đồng Tháp thực hiện Trang 22
– Xu hướng thứ hai cho rằng cần phải tìm hiểu các nét khác biệt quan
trọng nhất.
– Xu hướng thứ ba chủ trương nghiên cứu tất cả những cái giống nhau.
Ngoài ra, còn có thể kể đến một loại ý kiến nữa là cần phải quan tâm cả
những sự tương ứng và không tương ứng.
3.7.2 Một vài giá trị thực tiễn của phương pháp đối chiếu
Trong kinh doanh, phương pháp này được sử dụng nhiều nhằm giúp tìm
kiếm các giải pháp tối ưu. Các bước thực hiện phương pháp này hiệu quả
– Thiếp lập tiêu chí về một vấn đề nghiên cứu
– Định lượng
– Lấy kết quả so sánh, đối chiếu
– Phát hiện vấn đề
Ta có thể tiến nghiên cứu vài chỉ tiêu kinh tế cụ thể như GDP của quốc gia,
Thu nhập của người dân chẳng hạn nhằm để tìm mức độ tăng trưởng, cũng như giá
trị tăng trưởng của các chỉ số này trong những năm qua, để đưa ra nhận định
chẳng hạn.
3.8 Phương pháp thống kê – Mô tả
3.8.1 Phương pháp Thống kê – Mô tả
Phương pháp Thống kê – Mô tả được sử dụng để mô tả những đặc tính cơ
bản của dữ liệu thu thập được từ nghiên cứu thực nghiệm qua các cách thức khác
nhau. Phương pháp này cung cấp những tóm tắt đơn giản về mẫu thu được với các
thước đo, cùng với phân tích, chúng tạo ra nền tảng của mọi phân tích định lượng
về số liệu. Giúp người nghiên cứu khoa học hiểu được các hiện tượng và ra quyết
định đúng đắn.
3.8.2 Một vài giá trị thực tiễn của Phương pháp Thống kê – Mô tả
Phương pháp thống kê – mô tả có giá trị thực tiễn rất lớn, khi thực hiện các
nghiên cứu khoa học đặc biệt trong nghiên cứu bằng phương pháp định lượng. Với
phương pháp này, quá trình thu thập và xử lý mẫu thu được có thể thực hiện bằng
kỹ thuật mô tả dữ liệu như sau:
– Biểu diễn dữ liệu bằng đồ họa trong đó các đồ thị mô tả dữ liệu hoặc
giúp so sánh dữ liệu;
– Biểu diễn dữ liệu thành các bảng số liệu tóm tắt về dữ liệu;
– Thống kê tóm tắt (dưới dạng các giá trị thống kê) mô tả dữ liệu.
Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD: PGS,TS. Đào Duy Huân
Nhóm Đồng Tháp thực hiện Trang 23
3.9 Phương pháp Kế thừa – Phê phán
3.9.1 Phương pháp Kế thừa – Phê phán
Phương pháp này cho phép người nghiên cứu khoa học có thể đề xuất giải
pháp trên cơ sở kế thừa những giá trị đã có, hiện có bởi những nhà nghiên cứu
trước, đánh giá, nhận định, phân tích sâu hơn các vấn đề nảy sinh trong thực tại.
Đồng thời phê phán những giá trị lạc hậu lỗi thời, có thể khắc phục nhanh những
hạn chế đã nhận thấy trước.
3.9.2 Một vài giá trị thực tiễn của Phương pháp Kế thừa – phê phán
Phương pháp Kế thừa – Phê phán được ứng dụng nhiều trong các lĩnh vực
nghiên cứu khoa học của con người. Phê phán chính là chỉ ra những yếu tố, thành
phần mang tính cũ, lạc hậu, tiêu cực hay tính “ì” trong hệ thống. Như vậy, nó là một
bước trong giai đoạn nhận thức vấn đề khi ta muốn giải quyết một vấn đề nào đó.
Thật vậy, khi gặp một vấn đề nảy sinh, việc đầu tiên chúng ta nên làm là phải hiểu
bản chất của vấn đề. Nếu ta coi vấn đề như một hệ thống thì, phê phán chính là cái
nhìn giúp chỉ ra đâu là thành phần gây bất ổn, đâu là cái làm cho chúng ta không đạt
được mục đích đề ra. Khi đã phân biệt được từng yếu tố, đâu là giả thiết, đâu là kết
luận, chúng ta sẽ nhìn thấy ngay đâu là yếu tố gây mất ổn định của hệ thống, để từ
đó tìm cách giải quyết vấn đề. Chúng ta cũng nên nhớ rằng, bên cạnh cái không tốt,
cái tiêu cực của nó, ta cũng có thể tìm ra những yếu tố có thể giúp ích cho chúng ta.
Nghĩa là, sự phê phán phải mang tính kế thừa. Chúng ta không đơn thuần loại bỏ cái
cũ mà còn học tập, phát huy những gì hay, tiến bộ trong hệ thống, thậm chí trong
chính yếu tố gây cản trở hệ thống mà ta đang xem xét.
/\
Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD: PGS,TS. Đào Duy Huân
Nhóm Đồng Tháp thực hiện Trang 24
Chương 4 : Kết luận
Sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học-công nghệ đã góp
phần thúc đẩy công tác nghiên cứu khoa học ngày càng trở nên sôi nổi hơn và cấp
thiết hơn trên phạm vi toàn cầu. Việc càng ngày càng xuất hiện thêm nhiều phương
pháp mới trong nghiên cứu khoa học đã chứng tỏ con người ngày càng có nhiều khả
năng hơn để nhận thức thế giới khách quan. Khoa học và công nghệ đã trở thành
động lực thúc đẩy sự tiến bộ nhân loại. Cùng với nghiên cứu khoa học hiện đại, càng
ngày phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu khoa học càng được chú ý đến
và nó còn được coi là một trong những nhân tố quan trọng để phát triển khoa học.
Chúng ta đã biết khoa học càng phát triển bao nhiêu thì phương pháp, cách
thức nghiên cứu càng đa dạng phong phú bấy nhiêu. Càng có nhiều phương pháp
càng tăng khả năng lựa chọn phương pháp của người nghiên cứu, càng làm cho việc
lựa chọn phương pháp có ý nghĩa quan trọng hơn cả về mặt nhận thức khoa học lẫn
hiệu quả kinh tế.
Phương pháp nói chung đóng vai trò chủ đạo trong nghiên cứu khoa học
công nghệ. Phương pháp cụ thể gắn với các môn, lĩnh vực nghiên cứu cụ thể. Chính
sự phát triển của khoa học, kỹ thuật ngày càng nảy sinh nhiều phương pháp cụ thể
khác nhau để nghiên cứu cùng một đối tượng. Do vậy sẽ là sai lầm nếu quá nhấn
mạnh một phương pháp đặc thù, cụ thể nào đó trong nghiên cứu.Vì vậy chúng ta
phải có một cái nhìn khách quan về các phương pháp nghiên cứu khoa học cũng
như phải có một phương pháp luận đúng đắn, để từ đó biết áp dụng một cách khoa
học và chính xác các phương pháp nghiên cứu khoa học vào mỗi đối tượng khác
nhau và để phục vụ cho các mục tiêu nghiên cứu khác nhau.
Tóm lại, có nhiều phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu khoa học,
trong đó, có các phương pháp cơ bản để nghiên cứu về kinh tế, quản trị kinh doanh.
Việc sử dụng phương pháp nào là do cụ thể của từng đề tài khoa học đòi hỏi. Người
nghiên cứu cần linh hoạt khi sử dụng các phương pháp, có thể kết hợp nhiều
phương pháp nghiên cứu khác nhau trong đề tài nghiên cứu khoa học cụ thể.
/\
Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD: PGS,TS. Đào Duy Huân
Nhóm Đồng Tháp thực hiện Trang 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. PGS,TS Đào Duy Huân (năm 2013), Các Phương pháp khoa học sử dụng
trong nghiên cứu kinh doanh.
2. PGS,TS Đào Duy Huân (năm 2013), Slide bài giảng môn Phương pháp
nghiên cứu khoa học trong kinh doanh.
3. Triết học Mác – LêNin.
4. Ts. Trần Tiến Khai, ThS Trương Đăng Thụy, (năm 2009), Tài liệu giảng dạy
Phương pháp nghiên cứu kinh tế.
5. Vũ Cao Đàm (2008), Tạp chí hoạt động khoa học.
/\
người đọc hiểu được những nội dung cơ bản của từng phương pháp. Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD : PGS, TS. Đào Duy HuânNhóm Đồng Tháp thực thi Trang 21.3 Phạm vi nghiên cứu của tiểu luậnPhạm vi nghiên cứu chính của tiểu luận : trình diễn những phương pháp nghiêncứu khoa học trong kinh doanh. 1.4 Những góp phần của tiểu luậnTừ cơ sở triết lý về những phương pháp nghiên cứu khoa học, tiểu luận trìnhbày khái quát về nghiên cứu khoa học và mạng lưới hệ thống về nội dung những phương phápnghiên cứu khoa học trong kinh doanh. Qua đó, đưa ra hạn chế và ưu điểm của từngphương pháp và rút ra giá trị bài học kinh nghiệm thực tiễn. 1.4 Kết cấu của tiểu luậnKết cấu của tiểu luận gồm có 4 chương : Chương 1 Mở đầu : nêu nguyên do, mục tiêu, những góp phần của tiểu luận ; Chương 2 : Khái luận về nghiên cứu và Phương pháp nghiên cứu khoa học ; Chương 3 : Trình bày phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh ; Chương 4 : Kết luận. / \ Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD : PGS, TS. Đào Duy HuânNhóm Đồng Tháp triển khai Trang 3C hương 2 : Khái luận về nghiên cứu khoa học2. 1 Đề tài nghiên cứu khoa học2. 1.1 Khái niệm đề tài nghiên cứu khoa họcNghiên cứu khoa học là một hoạt động giải trí tìm kiếm, xem xét, tìm hiểu hoặc thửnghiệm. Dựa trên những số liệu, tài liệu, kỹ năng và kiến thức đạt được từ những thí nghiệmnghiên cứu khoa học để phát hiện ra những cái mới về thực chất sự vật, về thế giớitự nhiên và xã hội và để phát minh sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới caohơn, giá trị hơn. Nghiên cứu khoa học là hoạt động giải trí trí tuệ bằng những phương phápnhất định để tìm kiếm, vạch ra một cách đúng mực những gì con người chưa biếthoặc biết chưa không thiếu nhằm mục đích tạo ra loại sản phẩm mới dước dạng tri thức mới. Đề tài nghiên cứu khoa học là một hình thức nghiên cứu khoa học do mộtngười hoặc một nhóm người thực thi. Đề tài nghiên cứu khoa học được thực hiệnđể vấn đáp những câu hỏi mang tính học thuật, lý luận nền tảng, hoàn toàn có thể chưa chú ý đếnviệc ứng dụng trong hoạt động giải trí thực tiễn. Như vậy, nghiên cứu khoa học là hoạt độngtrí tuệ mang tính phát minh sáng tạo. 2.1.2 Đối tượng nghiên cứu và khoanh vùng phạm vi nghiên cứuĐối tượng nghiên cứu : là thực chất của sự vật hay hiện tượng kỳ lạ cần xem xét vàlàm rõ trong trách nhiệm nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu : đối tượng người dùng nghiên cứu đượckhảo sát trong trong khoanh vùng phạm vi nhất định về mặt thời hạn, khoảng trống và lãnh vựcnghiên cứu. 2.1.3 Mục đích và tiềm năng nghiên cứuKhi viết đề cương nghiên cứu, một điều rất quan trọng là làm thế nào thể hiệnđược tiềm năng và mục tiêu nghiên cứu mà không có sự trùng lấp lẫn nhau. Vì vậy, thiết yếu để phân biệt sự khác nhau giữa mục tiêu và tiềm năng. Mục đích : là hướng đến một điều gì hay một việc làm nào đó trong nghiêncứu mà người nghiên cứu mong ước để triển khai xong, nhưng thường thì mục đíchkhó hoàn toàn có thể giám sát hay định lượng. Nói cách khác, mục tiêu là sự sắp xếp côngviệc hay điều gì đó được đưa ra trong nghiên cứu. Mục đích vấn đáp thắc mắc “ nhằmTiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD : PGS, TS. Đào Duy HuânNhóm Đồng Tháp thực thi Trang 4 vào việc gì ? ”, hoặc “ để Giao hàng cho điều gì ? ” và mang ý nghĩa thực tiển củanghiên cứu, nhắm đến đối tượng người dùng Giao hàng sản xuất, nghiên cứu. Mục tiêu : là thực thi điều gì hoặc hoạt động giải trí nào đó đơn cử, rõ ràng màngười nghiên cứu sẽ triển khai xong theo kế hoạch đã đặt ra trong nghiên cứu. Mục tiêucó thể thống kê giám sát hay định lượng được. Nói cách khác, tiềm năng là nền tảng hoạtđộng của đề tài và làm cơ sở cho việc nhìn nhận kế hoạch nghiên cứu đã đưa ra, và làđiều mà hiệu quả phải đạt được. Mục tiêu vấn đáp câu hỏi “ làm cái gì ? ”. 2.1.4 Lựa chọn yếu tố nghiên cứuViệc lựa chọn một yếu tố nghiên cứu là một việc làm rất là công phu đòihỏi người nghiên cứu phải sử dụng tối đa sự hiểu biết và kinh nghiệm tay nghề để tìm rađược một nghành nghề dịch vụ nghiên cứu trong đó năng lực và kiến thức và kỹ năng của mình hoàn toàn có thể đượcđem ra góp phần với hiệu suất cao nhiều nhất. Vấn đề quan trọng so với người mớibước chân vào nghành nghề dịch vụ nghiên cứu là làm thế nào tìm ra được một yếu tố có ích lợithen chốt mà năng lực của mình được cho phép thực thi cộng việc nghiên cứu, và saukhi đã lựa chọn được yếu tố tổng quát hay nghành tổng quát để nghiên cứu, phảiphân tích thật kỹ yếu tố bằng cách tìm ra những biến số và những mối đối sánh tương quan giữachúng với nhau. Bước tiên phong để tìm ra một yếu tố chuyên biệt trong quy trình nghiên cứu làlựa chọn một nghành hay một yếu tố tổng quát mà người nghiên cứu đã được họchỏi hoặc có kinh nghiệm tay nghề nhiều nhất. Như vậy sẽ giúp cho người nghiên cứu biếtnhững yếu tố nào là quan trọng, yếu tố nào là then chốt trong một nghành nghề dịch vụ, đồngthời làm thuận tiện hơn việc làm tìm hiểu thêm những tài liệu liên hệ. Sau khi đã quyếtđịnh về nghành nghiên cứu tổng quát, người nghiên cứu chuẩn bị sẵn sàng vạch ra cho mìnhmột chương trình tìm hiểu thêm tài liệu tương quan đến nghành ấy để hoàn toàn có thể từ đó tìm ramột yếu tố chuyên biệt làm cơ bản cho việc nghiên cứu của mình. Tham khảo tài liệu : Đây là bước tiến quan trọng nhất của người nghiên cứu vìnhờ có việc tìm hiểu thêm tài liệu một cách có mạng lưới hệ thống người nghiên cứu mới có thểnhận định được cơ sở lý luận cho khu công trình nghiên cứu của mình. Để thực hiệnTiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD : PGS, TS. Đào Duy HuânNhóm Đồng Tháp thực thi Trang 5 việc làm này một cách có tác dụng, người nghiên cứu phải vạch ra một chương trìnhtham khảo tài liệu có mạng lưới hệ thống. 2.2 Thu thập tài liệu và giả thuyết nghiên cứu khoa học2. 2.1 Thu thập tài liệu2. 2.1.1 Mục đích tích lũy tài liệuThu thập và nghiên cứu tài liệu là một việc làm quan trọng thiết yếu cho bấtkỳ hoạt động giải trí nghiên cứu khoa học nào. Các nhà nghiên cứu khoa học luôn đọc vàtra cứu tài liệu có trước để làm nền tảng cho nghiên cứu khoa học. Đây là nguồnkiến thức quí giá được tích góp qua quy trình nghiên cứu mang tính lịch sử vẻ vang lâu dài hơn. Giúp người nghiên cứu nắm được phương pháp của những nghiên cứu đã thực hiệntrước đây, đồng thời làm rõ hơn đề tài nghiên cứu của mình hàm lượng kiến thứcrộng, sâu về nghành đang nghiên cứu. Tránh trùng lập với những nghiên cứu trướcđây, vì thế đỡ mất thời hạn, sức lực lao động và kinh tế tài chính. Giúp người nghiên cứu xâydựng luận cứ để chứng tỏ giả thuyết nghiên cứu khoa học. 2.2.1. 2 Phân loại tài liệu nghiên cứuPhân loại tài liệu để giúp cho người nghiên cứu tinh lọc, nhìn nhận và sửdụng tài liệu đúng với lãnh vực trình độ hay đối tượng người dùng muốn nghiên cứu. Cóthể chia ra loại tài liệu tài sơ cấp và tài liệu thứ cấp. Tài liệu sơ cấp là tài liệu mà người nghiên cứu tự tích lũy, phỏng vấn trựctiếp, hoặc nguồn tài liệu cơ bản, còn ít hoặc chưa được chú giải. Một số vấn đềnghiên cứu có rất ít tài liệu, thế cho nên cần phải tìm hiểu để tìm và mày mò ra cácnguồn tài liệu chưa được biết. Người nghiên cứu cần phải tổ chức triển khai, thiết lập phươngpháp để ghi chép, tích lũy số liệu. Tài liệu thứ cấp : Loại tài liệu nầy như : Luận cứ khoa học, định lý, qui luật, định luật, khái niệm ; Các số liệu, tài liệu đã công bố được tìm hiểu thêm từ những bài báotrong tạp chí khoa học, tập san, báo cáo giải trình chuyên đề khoa học ; Số liệu niên giámthống kê, tài liệu tàng trữ, văn kiện, hồ sơ, văn bản về luật, chủ trương ; thu thậpthông tin trên truyền hình, truyền thanh, báo chí truyền thông, … mang tính đại chúng cũng đượcthu thập, và được giải quyết và xử lý để làm luận cứ khoa học chứng tỏ cho yếu tố khoa học. Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD : PGS, TS. Đào Duy HuânNhóm Đồng Tháp thực thi Trang 62.2.2 Giả thuyết nghiên cứu khoa học2. 2.2.1 Định nghĩaGiả thuyết là câu vấn đáp ướm thử hoặc là sự tiên đoán để vấn đáp cho câu hỏihay “ yếu tố ” nghiên cứu. Chú ý : giả thuyết không phải là sự quan sát, miêu tả hiệntượng sự vật, mà phải được kiểm chứng bằng những cơ sở lý luận hoặc thực nghiệm. 2.2.2. 2 Các đặc tínhGiả thuyết có những đặc tính tuân theo nguyên tắc chung và không đổi trongsuốt quy trình nghiên cứu, tương thích với điều kiện kèm theo trong thực tiễn và cơ sở triết lý, đồngthời giả thuyết hoàn toàn có thể được kiểm nghiệm và mang tính khả thi cao. Một giả thuyếttốt phải thoả mãn những nhu yếu về tài liệu tìm hiểu thêm, năng lực tích lũy thông tin, cũng như năng lực thực nghiệm để tích lũy số liệu … 2.2.2. 3 Mối quan hệ giữa giả thuyết và “ yếu tố ” khoa học : Sau khi xác lập câu hỏi hay “ yếu tố ” nghiên cứu khoa học, người nghiêncứu hình thành ý tưởng sáng tạo khoa học, tìm ra câu vấn đáp hoặc sự lý giải tới vấn đềchưa biết ( đặt giả thuyết ). Ý tưởng khoa học nầy còn gọi là sự tiên đoán khoa họchay giả thuyết giúp cho người nghiên cứu có động cơ, hướng đi đúng hay tiếp cậntới tiềm năng cần nghiên cứu. Trên cơ sở những quan sát trong bước đầu, những tìnhhuống đặt ra ( câu hỏi hay yếu tố ), những cơ sở triết lý ( tìm hiểu thêm tài liệu, kiếnthức đã có, … ), sự tiên đoán và những dự kiến thực thi thực nghiệm sẽ giúp chongười nghiên cứu hình thành một cơ sở lý luận khoa học để thiết kế xây dựng giả thuyếtkhoa học. 2.3. Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh2. 3.1 Khái niệmPhương pháp nghiên cứu khoa học chính là việc con người sử dụng một cáchcó ý thức những quy luật hoạt động của đối tượng người tiêu dùng như một phương tiện đi lại để khám pháchính đối tượng người tiêu dùng đó, đây là con đường dẫn nhà khoa học đạt tới mục tiêu phát minh sáng tạo. Phương pháp nghiên cứu khoa học là những phương pháp nhận thức những hoạt độngcủa quốc tế tự nhiên, xã hội, kinh tế tài chính, … gồm có những quan điểm tiếp cận, nhữngTiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD : PGS, TS. Đào Duy HuânNhóm Đồng Tháp thực thi Trang 7 quá trình, những thao tác đơn cử ảnh hưởng tác động vào đối tượng người dùng kinh doanh để làm thể hiện bảnchất của đối tượng người tiêu dùng kinh doanh đó. 2.3.2 Một vài đặc thù của phương pháp nghiên cứu khoa họcPhương pháp khi nào cũng là cách thao tác của chủ thể nhằm mục đích vào những đốitượng đơn cử, ở đây có hai quan tâm là : chủ thể và đối tượng người tiêu dùng. Phương pháp là cách thao tác của chủ thể, vì vậy nó gắn chặt với chủ thểvà như vậy phương pháp xuất hiện chủ quan. Mặt chủ quan của phương pháp chính lànăng lực nhận thức, kinh nghiệm tay nghề hoạt động giải trí phát minh sáng tạo của chủ thể, bộc lộ trong việcý thức được những quy luật hoạt động của đối tượng người dùng và sử dụng chúng để tò mò đốitượng. Phương pháp là cách thao tác của chủ thể và khi nào cũng xuất phát từ đặcđiểm của đối tượng người dùng, phương pháp gắn chặt với đối tượng người dùng, và như vậy phương phápcó mặt khách quan. Mặt khách quan lao lý việc chọn cách này hay cách kia tronghoạt động của chủ thể. Đặc điểm của đối tượng người tiêu dùng hướng dẫn cách chọn phương pháp làmviệc, Trong nghiên cứu khoa học cái chủ quan phải tuân thủ cái khách quan. Cácquy luật khách quan tự chúng chưa phải là phương pháp, nhưng nhờ có chúng mà taphát hiện ra phương pháp. Ý thức về sự phát minh sáng tạo của con người phải tiếp cận đượccác quy luật khách quan của quốc tế. Phương pháp có tính mục tiêu vì hoạt động giải trí của con người đều có mục tiêu, mục tiêu nghiên cứu những đề tài nghiên cứu khoa học chỉ huy việc tìm tòi và lựachọn phương pháp nghiên cứu và ngược lại nếu lựa chọn phương pháp đúng mực, tương thích sẽ làm cho mục tiêu nghiên cứu đạt tới nhanh hơn, và đôi lúc vượt qua cảyêu cầu mà mục tiêu đã dự kiến khởi đầu. Phương pháp nghiên cứu gắn chặt với nội dung những yếu tố cần nghiên cứu. Phương pháp là hình thức hoạt động của nội dung. Nội dung việc làm quy địnhphương pháp thao tác. Trong mỗi đề tài khoa học đều có phương pháp đơn cử, trongmỗi ngành khoa học có một mạng lưới hệ thống phương pháp đặc trưng. Phương pháp nghiên cứu khoa học có một cấu trúc đặc biệt quan trọng đó là một hệthống những thao tác được sắp xếp theo một chương trình tối ưu. Sự thành công xuất sắc nhanhTiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD : PGS, TS. Đào Duy HuânNhóm Đồng Tháp thực thi Trang 8 chóng hay không của một hoạt động giải trí nghiên cứu chính là phát hiện được hay khônglôgíc tối ưu của những thao tác hoạt động giải trí và sử dụng nó một cách có ý thức. Phương pháp nghiên cứu khoa học luôn cần có những công cụ tương hỗ, cần cócác phương tiện kỹ thuật tân tiến với độ đúng mực cao. Phương tiện và phươngpháp là hai phạm trù khác nhau nhưng chúng lại gắn bó ngặt nghèo với nhau căn cứvào đối tượng người dùng nghiên cứu mà ta chọn phương pháp nghiên cứu, theo nhu yếu củaphương pháp nghiên cứu mà chọn những phương tiện đi lại tương thích, nhiều khi còn cần phảitạo ra những công cụ đặc biệt quan trọng để nghiên cứu một đối tượng người dùng nào đó. Chính những phươngtiện kỹ thuật hiện đại đảm bảo cho quy trình nghiên cứu đạt tới độ đúng chuẩn cao. Tóm lại, nghiên cứu khoa học có những đặc thù : Tính mới ; Tính đáng tin cậy ; Tính thông tin ; Tính khách quan – trung thực ; Tính thừa kế ; Tính phi kinh tế ; Tínhmạo hiểm trong nghiên cứu khoa học ; Tính sâu xa của đội ngũ những ngườinghiên cứu. 2.3.3 Phương pháp luận nghiên cứu khoa họcTrong nghiên cứu khoa học phương pháp và phương pháp luận là hai kháiniệm gần nhau nhưng không giống hệt. Phương pháp luận là mạng lưới hệ thống những nguyênlý, quan điểm ( trước hết là những nguyên tắc, quan điểm tương quan đến thế giớiquan ) làm cơ sở, có tính năng chỉ huy, kiến thiết xây dựng những phương pháp, xác lập khoanh vùng phạm vi, năng lực vận dụng những phương pháp và xu thế cho việc nghiên cứu tìm tòi cũngnhư việc lựa chọn, vận dụng phương pháp. Nói cách khác thì phương pháp luậnchính là lý luận về phương pháp bao hàm mạng lưới hệ thống những phương pháp, quốc tế quanvà nhân sinh quan của người sử dụng phương pháp và những nguyên tắc để giải quyếtcác yếu tố đã đặt ra. Các quan điểm phương pháp luận nghiên cứu khoa học có tính lý luận chonên thường mang sắc tố triết học, tuy nhiên nó không như nhau với triết học ( nhưthế giới quan ) để tiếp cận và nhận thức quốc tế. Phương pháp luận được chia thành phương pháp bộ môn – lý luận về phươngpháp được sử dụng trong một bộ môn khoa học và phương pháp luận chung cho cáckhoa học. Phương pháp luận chung nhất, thông dụng cho hoạt động giải trí nghiên cứu khoaTiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD : PGS, TS. Đào Duy HuânNhóm Đồng Tháp thực thi Trang 9 học là triết học. Triết học Mác-Lênin là phương pháp luận phân phối những đòi hỏicủa nhận thức khoa học văn minh cũng như hoạt động giải trí tái tạo và kiến thiết xây dựng thế giớimới. Những phương pháp nghiên cứu khoa học riêng gắn liền với từng bộ mônkhoa học ( toán học, vật lý học, sinh vật học, kinh tế tài chính học … ). Do vậy những phươngpháp riêng này sẽ được làm sáng tỏ khi nghiên cứu những môn học tương ứng. 2.4. Phân loại phương pháp nghiên cứuCó nhiều quan điểm tiếp cận phân loại, tuy nhiên địa thế căn cứ vào cách tiếp cậnđối tượng nghiên cứu, sự khác nhau của những lao động đơn cử trong nghiên cứukhoa học, người ta chia thành phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và phươngpháp nghiên cứu kim chỉ nan. 2.4.1. Phương pháp nghiên cứu thực nghiệmLoại phương pháp này gồm có những phương pháp quan sát, thí nghiệm, thựcnghiệm. Quan sát là phương pháp nghiên cứu để xác lập những thuộc tính và quan hệcủa sự vật, hiện tượng kỳ lạ riêng không liên quan gì đến nhau xét trong điều kiện kèm theo tự nhiên vốn có của nó nhờ khảnăng thụ cảm của những giác quan, năng lực nghiên cứu và phân tích tổng hợp, khái quát hoá. Thực nghiệm, thí nghiệm là việc người nghiên cứu khoa học sử dụng cácphương tiện vật chất tác động ảnh hưởng lên đối tượng người tiêu dùng nghiên cứu nhằm mục đích kiểm chứng những giảthiết, kim chỉ nan khoa học, chính xác hoá, bổ trợ chỉnh lý những phỏng đoán giả thiếtban đầu tức là để thiết kế xây dựng những giả thiết, triết lý khoa học mới. Thí nghiệm, thực nghiệm khi nào cũng được thực thi theo sự chỉ huy củamột ý tưởng sáng tạo khoa học nào đấy. Như vậy để thực thi thí nghiệm, thực nghiệm phảicó tri thức khoa học và điều kiện kèm theo vật chất. Phương pháp thực nghiệm được vận dụng khá thông dụng trong những ngành khoahọc tự nhiên là những ngành khoa học có năng lực định lượng đúng mực. Trongnhững nghành nghề dịch vụ này, còn được cho phép tạo ra những thiên nhiên và môi trường tự tạo, khác với môitrường thông thường để nghiên cứu sự hoạt động biến hóa của đối tượng người tiêu dùng. Các ngành khoa học xã hội là nghành nghề dịch vụ khó có năng lực triển khai những thínghiệm khoa học, vận dụng phương pháp thử nghiệm. Song thực tiễn là tiêu chuẩnTiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD : PGS, TS. Đào Duy HuânNhóm Đồng Tháp triển khai Trang 10 của chân lý. Mọi khái quát, trìu tượng, mọi kim chỉ nan nếu không được thực tiễn chấpnhận đều không có chỗ đứng trong khoa học. Ở đây quan sát, tổng kết thực tiễnngười nghiên cứu khoa học có năng lực nhận thức nhanh hơn con đường do lịch sửvạch ra. Trong khoanh vùng phạm vi nhất định, người ta cũng hoàn toàn có thể triển khai những thí nghiệm xãhội học. Ở đây cần quan tâm rằng giám sát xã hội của khoa học xã hội yên cầu nhữngphương tiện, điều kiện kèm theo vật chất, thiên nhiên và môi trường thử nghiệm phải là những điều kiện kèm theo phổbiến. Trong phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, nhiều trường hợp người ta cònsử dung phương pháp mô hình hoá mà đối tượng người dùng nghiên cứu không được cho phép quansát thực nghiệm trực tiếp. Cơ sở vận dụng phương pháp mô hình hoá là sự giốngnhau về những đặc thù, tính năng, đặc thù đã được xác lập vững chãi giữa những sựvật hiện tượng kỳ lạ, quy trình xảy ra trong tự nhiên xã hội, tư duy. Dựa trên cơ sở này, từnhững tác dụng nghiên cứu so với quy mô người ta rút ra những Kết luận khoa họcvề đối tượng người dùng cần nghiên cứu. 2.4.2. Phương pháp nghiên cứu lý thuyếtPhương pháp nghiên cứu triết lý gồm có những phương pháp khái quát, trừutượng hoá, diễn dịch, quy nạp, nghiên cứu và phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, … được dùng chotất cả những ngành khoa học. Khác với nghiên cứu thực nghiệm phải sử dụng những yếutố, điều kiện kèm theo vật chất ảnh hưởng tác động vào đối tượng người dùng nghiên cứu, trong nghiên cứu lý thuyếtquá trình tìm kiếm phát hiện diễn ra trải qua tư duy trừu tượng, sử dụng cácphương tiện ngôn từ, chữ viết, … Điểm xuất phát của nghiên cứu thực nghiệm là quan sát thực tiễn, quan sátsự hoạt động của đối tượng người dùng nghiên cứu. Trong nghiên cứu triết lý, nền tảng vàđiểm xuất phát của quy trình nghiên cứu là tri thức lý luận ( những quan điểm, những lýthuyết ). Do vậy việc nắm vững mạng lưới hệ thống lý luận nền tảng đóng vai trò quyết địnhtrong loại phương pháp này. Tri thức khoa học là tri thức chung, gia tài chung của quả đât. Bất cứ lýthuyết nào nếu được thực tiễn gật đầu, đều có hạt nhân khoa học, hài hòa và hợp lý của nó. Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD : PGS, TS. Đào Duy HuânNhóm Đồng Tháp triển khai Trang 11C ần tiếp thu những góc nhìn hài hòa và hợp lý, khoa học, tức là những tinh hoa trong khotàng tri thức trái đất, giúp cho mình liên tục tăng trưởng lý luận, vừa để nhìn thấynhững khiếm khuyết của lý luận ấy. Nếu thiếu lý luận nền tảng, người nghiên cứukhoa học rất khó khăn vất vả trong việc tìm ra cái đúng, cái sai của những chân lý. Nếu như những quy luật tự nhiên sống sót lâu dài hơn, thì những quy luật xã hội sống sót, hoạt động trên những điều kiện kèm theo xã hội nhất định. Thoát ly tính lịch sử vẻ vang, đơn cử, lànguy cơ dẫn đến thực trạng xa rời thực tiễn, trở thành giáo điều, kinh viện, kìm hãmkhoa học. Phương pháp lý thuyết do đặc tính của quy trình phát minh sáng tạo khoa học diễnra trải qua tư duy trừu tượng, suy luận, khái quát hoá, lại chưa được thực tiễnkiểm chứng, mà qua thời hạn, đúng sai mới sáng tỏ. Điều đó dễ dẫn người làmkhoa học phạm vào sai lầm đáng tiếc chủ quan duy ý chí, tự biện. 2.5 Phương pháp lịch sử dân tộc và phương pháp lôgíc ( Macxít ) 2.5.1 Phương pháp lịch sửCác đối tượng người dùng nghiên cứu ( sự vật, hiện tượng kỳ lạ ) đều luôn đổi khác, phát triểntheo những thực trạng đơn cử của nó, tạo thành lịch sử dân tộc liên tục được biểu lộ ratrong sự phong phú, phức tạp, có cả tính tất yếu và ngẫu nhiên. Phương pháp lịch sửlà phương pháp trải qua miêu tả tái hiện hiện thực với sự hỗn độn, hình thức bề ngoài củacác sự kiện sau đó nhau, để nêu bật lên tính quy luật của sự tăng trưởng, bằng cách đitìm nguồn gốc phát sinh, quy trình tăng trưởng và biến hoá của đối tượng người dùng, để pháthiện ra thực chất và quy luật của đối tượng người tiêu dùng. Quy trình tăng trưởng lịch sử vẻ vang biểu hiệntoàn bộ tính đơn cử của nó, với mọi sự biến hóa, tất yếu trong điều kiện kèm theo khác nhau vàtheo thời hạn nhất định. 2.5.2 Phương pháp lôgícPhương pháp lôgíc nghiên cứu quy trình tăng trưởng lịch sử dân tộc, nghiên cứu cáchiện tượng lịch sử vẻ vang trong hình thức tổng quát, nhằm mục đích mục tiêu vạch ra thực chất quyluật, thực chất, cái thông dụng, khuynh hướng hoạt động của những hiện tượng kỳ lạ. Anghen đãnói : lôgíc không phải là sự phản ánh lịch sử vẻ vang một cách đơn thuần, mà là phản ánh đãuốn nắn theo quy luật mà bản thân quy trình lịch sử vẻ vang đem lại. Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD : PGS, TS. Đào Duy HuânNhóm Đồng Tháp thực thi Trang 12P hương pháp lôgíc giúp tất cả chúng ta nhìn nhận ra thực chất, cái thông dụng, cái mớinảy sinh và tăng trưởng như thế nào về chất so với cái cũ, mặc dầu là hình thức thìchưa biến hóa, nhưng chất mới đã phát sinh. Giúp tất cả chúng ta tác động ảnh hưởng tích cực vàohiện thực, nhằm mục đích tái sản sinh ra lịch sử vẻ vang ở một trình độ cao hơn, nghĩa là dữ thế chủ động cảitạo, cải biến lịch sử dân tộc, nhờ đó nắm được những quy luật khách quan đó. 2.5.3 Tính thống nhất giữa phương pháp lịch sử vẻ vang và phương pháp lôgícTrên trong thực tiễn công tác làm việc nghiên cứu theo phương pháp biện chứng mácxít, không khi nào có phương pháp lịch sử dân tộc hay phương pháp lôgíc thuần tuý tách rờinhau, mà là trong cái này có cái kia, hai cái xâm nhập vào nhau, ảnh hưởng tác động lẫnnhau. Giới hạn giữa chúng chỉ là tương đối. Cụ thể, phương pháp lịch sử dân tộc tuy phảitheo sát tiến trình tăng trưởng của lịch sử dân tộc của sự vật hiện tượng kỳ lạ, diễn lại những bướcquanh co, ngẫu nhiên, thụt lùi trong thời điểm tạm thời của quy trình tăng trưởng hiện thực, nhưngkhông phải là miêu tả lịch sử dân tộc đó một cách kinh nghiệm tay nghề chủ nghĩa, mà là miêu tảtheo một sợi dây lôgíc nhất định của sự tăng trưởng lịch sử dân tộc ; không phải miêu tả lịchsử một cách mù quáng, mà là tăng trưởng một cách có quy luật. Cũng vậy, phương pháp lôgíc tuy không nói đến những chi tiết cụ thể lịch sử vẻ vang, những bước đường quanh co, ngẫu nhiên của lịch sử vẻ vang đối tượng người tiêu dùng, nhưng không phảivì thế mà nó bỏ lỡ việc nghiên cứu lịch sử vẻ vang đơn cử của đối tượng người tiêu dùng. Phương pháplôgíc là sự phản ánh cái đa phần được rút ra từ trong lịch sử dân tộc sự vật, và làm cho cáichủ yếu ấy biểu lộ được thực chất của quy trình lịch sử vẻ vang. Tóm lại, phương pháp lịch sử dân tộc và phương pháp lôgíc có tính thống nhất vàcũng có mục tiêu thống nhất là cùng nhằm mục đích trình diện rõ chân lý khách quan của sựphát triển lịch sử vẻ vang, nên trong công tác làm việc nghiên cứu, tổng kết khoa học, tất cả chúng ta khôngchỉ vận dụng một phương pháp riêng rẽ nào, vì thực ra chúng chỉ là hai mặt biểuhiện khác nhau của phương pháp biện chứng mácxít mà thôi. Tuy vậy, trong côngtác nghiên cứu tất cả chúng ta vẫn cần chú ý quan tâm đến tính độc lập tương đối của hai phươngpháp này như đã nói ở trên. / \ Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD : PGS, TS. Đào Duy HuânNhóm Đồng Tháp thực thi Trang 13C hương 3 : Một số phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh3. 1. Phương pháp Quan sát3. 1.1 Phương pháp quan sát : Quan sát / thăm hiện trường là một phương pháp định tính quan trọng trongquá trình tự nhìn nhận trong nghiên cứu khoa học. Đó là qui trình tri giác ( mắt thấy, tai nghe ) và ghi chép lại mọi yếu tố tương quan đến đối tượng người tiêu dùng nghiên cứu, phù hợpvới tiềm năng nghiên cứu … nhằm mục đích miêu tả, nghiên cứu và phân tích, đánh giá và nhận định, nhìn nhận. Quan sátcung cấp thông tin định tính để bổ trợ cho những thông tin định lượng trong điều trathu thập dẫn chứng để nhìn nhận những tiêu chuẩn. Về phân loại quan sát, ta có hai loại quan sát trực tiếp và quan sát gián tiếp. Quan sát trực tiếp là quan sát và ghi chép hành vi của con người ngay tại bối cảnhvà thời hạn trong thực tiễn diễn ra. Quan sát gián tiếp là không quan sát trực tiếp hành vimà đi tích lũy những dấu vết của hành vi còn sót lại. 3.1.2 Một vài giá trị thực tiễn của phương pháp quan sát : Với phương pháp Quan sát : Nhờ có những giác quan như : thị giác, thính giác, xúc giác, khướu giác và vị giác, mà tất cả chúng ta cảm nhận và phát hiện những yếu tố đangnảy sinh khách quan trong kinh doanh cần nghiên cứu để xử lý. Bản chất quansát là trực quan sinh động quốc tế khách quan để nhận ra đúng chuẩn về chúng. Chúng ta hoàn toàn có thể sử dụng phương pháp quan sát như khảo sát ( quan sát ) sứcmua của người tiêu dùng trên thị trường sản phẩm & hàng hóa tiêu dùng … qua đó, sẽ nhận xétđược nhu cầu mua sắm tăng hay giảm, từ đó, gợi mở những chủ trương có tương quan, … Quaquan sát những biểu lộ của người mua khi sử dụng loại sản phẩm, dịch vụ của một côngty, tất cả chúng ta biết mức độ hài lòng của họ. Hay quan sát thái độ của người mua khiđến thanh toán giao dịch tại một Trụ sở ngân hàng nhà nước biết mức độ hài lòng của họ về sảnphẩm, dịch vụ và kỹ năng và kiến thức tiếp xúc của nhân viên cấp dưới. Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD : PGS, TS. Đào Duy HuânNhóm Đồng Tháp thực thi Trang 143.2. Phương pháp Phán đoán3. 2.1 Phương pháp Phán đoán : Phán đoán là vận dụng những khái niệm để phân biệt, so sánh những đặc tính, thực chất sự vật và tìm mối liên hệ giữa đặc tính chung và đặc tính riêng của những sựvật đó. Phán đoán là một hình thức của tư duy, trong đó, những khái niệm được liênkết để chứng minh và khẳng định hay phủ định về thuộc tính hoặc quan hệ nào đó của bản thân sựvật, hiện tượng kỳ lạ. Phán đoán hoàn toàn có thể là phán đoán chứng minh và khẳng định hay phán đoán phủ định mộtmệnh đề, giả thuyết nào đó. Phán đoán hoàn toàn có thể được hình thành từ những phán đoánđơn lẻ và những liên từ logic để tạo thành phán đoán phức. 3.2.2 Một vài giá trị thực tiễn của phương pháp phán đoánTrong nghiên cứu, người ta thường vận dụng những khái niệm để phán đoánhay tiên đoán. Những tiên đoán, phán đoán làm phát sinh những giả thuyết mới chonghiên cứu, tuy nhiên, quán trình phán đoán hoàn toàn có thể đúng, hoàn toàn có thể sai, vì nó lệ thuộcnhiều yếu tố ảnh hưởng tác động như môi trường tự nhiên bên ngoài, môi trường tự nhiên bên trong … 3.3. Phương pháp Khái niệm3. 3.1 Phương pháp khái niệmKhái niệm “ Khái niệm ” là quy trình nhận thức hay tư duy của con người bắtđầu từ những tri giác hay bằng những quan sát sự vật hiện thực ảnh hưởng tác động vào giácquan. Như vậy, “ khái niệm ” hoàn toàn có thể hiểu là hình thức tư duy của con người về nhữngthuộc tính, thực chất của sự vật và mối liên hệ của những đặc tính đó với nhau. Người nghiên cứu khoa học hình thành những “ khái niệm ” để khám phá mối quan hệgiữa những khái niệm với nhau, để phân biệt sự vật này với sự vật khác và để đo lườngthuộc tính thực chất của sự vật hay hình thành khái niệm nhằm mục đích mục tiêu xây dựngcơ sở lý luận. Khái niệm là thao tác logic dùng để tách một khái niệm cần định nghĩa rakhỏi những khái niệm tiếp cận với nó và chỉ rõ những thuộc tính thực chất tực nộihàm của nó. Khái niệm là một hình thức cơ bản của tư duy phản ảnh những thuộctính thực chất của những sự vật, hiện tượng kỳ lạ trong quốc tế khách quan. Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD : PGS, TS. Đào Duy HuânNhóm Đồng Tháp thực thi Trang 15 Đặc điểm cơ bản của khái niệm : * Khái niệm là sự phản ánh tương đối tổng lực về đối tượng người tiêu dùng * Khái niệm là sự phản ánh tương đối đúng chuẩn về đối tượng người dùng * Khái niệm là sự phản ánh tương đối có mạng lưới hệ thống về đối tượng người tiêu dùng * Khái niệm là sự phản ánh đối tượng người dùng trong hiện thực nhưng nó góp thêm phần chỉđạo hoạt động giải trí thực tiễn của con người trong quan hệ đối tượng người dùng. Hình thức ngôn từ biểu lộ khái niệmLà một bộ phận cấu thành của tư duy, khái niệm không hề định hình, tồn tạivà biểu lộ nếu thiếu những phương tiện đi lại ngôn từ. Từ, cụm từ là những phương tiệnngôn ngữ được con người sử dụng để định hình và biểu lộ khái niệm. Khái niệm vàtừ ngữ có liên hệ mật thiết với nhau. Từ và khái niệm là thống nhất nhưng khôngđồng nhất. Từ là đơn vị chức năng cấu thành ngôn từ, là phạm trù ngôn ngữ học, là sự thốngnhất hữu cơ giữa âm và nghĩa. Khái niệm là hình thức của tư duy trừu tượng đượcxây dựng trên cơ sở thống nhất giữa yếu tố cấu thành là nội hàm và ngoại diên. Kết cấu logic của khái niệm. Về mặt cấu trúc, mỗi khái niệm đều do hai bộphận cấu thành là nội hàm và ngoại diên. Nội hàm của khái niệm là hàng loạt những thuộc tính thực chất của sự vật, hiệntượng được phản ảnh trong khái niệm. Ngoại diên của khái niệm là tập hợp nhữngsự vật hiện tượng kỳ lạ có chứa những thuộc tính thực chất được phản ảnh trongkhái niệm. Thu hẹp và lan rộng ra khái niệm : Thu hẹp khái niệm là một thao tác chuyển từ khái niệm có ngoại diên rộngsang khái niệm có ngoại diên hẹp. Việc chuyển này được thực thi bằng cách thêmvào những tín hiệu của khái niệm khởi đầu những tín hiệu mới và những dấu hiệunày chỉ thuộc về một bộ phận những sự vật nằm trong ngoại diên của khái niệmban đầu. Mở rộng khái niệm là một thao tác logic giúp ta chuyển từ những khái niệmcó ngoại diên hẹp sang những khái niệm có ngoại diên rộng. Để lan rộng ra khái niệmTiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD : PGS, TS. Đào Duy HuânNhóm Đồng Tháp triển khai Trang 16 ta thực thi bằng cách tước bỏ đi những tín hiệu chỉ thuộc về những sự vật nằmtrong ngoại diên của khái niệm được lan rộng ra. 3.3.2 Một vài giá trị thực tiễn của phương pháp khái niệmNgười nghiên cứu khoa học thiết yếu phải hình thành những “ khái niệm ” để tìmhiểu mối quan hệ giữa những khái niệm đơn cử với nhau, để phân biệt sự vật này với sựvật khác và để giám sát thuộc tính thực chất của sự vật hay hình thành khái niệmnhằm mục tiêu thiết kế xây dựng cơ sở lý luận. Một khái niệm đơn cử do người nghiên cứu khoa học đưa ra, hoàn toàn có thể với nộihàm sâu ( ngoại diên hẹp ) hay nội hàm cạn ( ngoại diên rộng ) như : Khái niệm “ nhàquản trị ” thì rộng hơn khái niệm “ nhà quản trị Nước Ta ”, … và từ những khái niệmcụ thể này hoàn toàn có thể đưa đến những khái niệm chung, là khái niệm mà ngoại diên chứatừ hai đối tượng người dùng trở lên, như : “ Công ty Tư nhân ”, “ Công ty nhà nước ”, … 3.4. Phương pháp Suy luận ( Diễn dịch, quy nạp ) 3.4.1 Phương pháp quy nạp : Phương pháp quy nạp là phương pháp đi từ những hiện tượng kỳ lạ riêng không liên quan gì đến nhau, rờirạc, độc lập ngẫu nhiên rồi link những hiện tượng kỳ lạ ấy với nhau để tìm ra bản chấtcủa một đối tượng người dùng nào đó. Từ những kinh nghiệm tay nghề, hiểu biết những sự vật riêng không liên quan gì đến nhau người ta tổng kết quynạp thành những nguyên tắc chung. Cơ sở khách quan của phương pháp quy nạp làsự lặp lại của 1 số ít hiện tượng kỳ lạ này hay hiện tượng kỳ lạ khác do chỗ cái chung sống sót, bộc lộ trải qua cái riêng. Nếu như phương pháp phân tích-tổng hợp đi tìm mốiquan hệ giữa hình thức và nội dung thì phương pháp quy nạp đi sâu vào mối quanhệ giữa thực chất và hiện tượng kỳ lạ. 3.4.2 Phương pháp diễn dịch ( Suy diễn – Deductive ) Phương pháp diễn dịch ngược lại với phương pháp quy nạp. Suy luận diễndịch là lối suy luận đi từ nguyên tắc chung, thông dụng đến từng trường hợp riêng không liên quan gì đến nhau cábiệt ( lối tư duy đi từ nguyên tắc ). Hay nói cách khác, là phương pháp đi từ cái bảnchất, nguyên tắc, nguyên tắc đã được thừa nhận để tìm ra những hiện tượng kỳ lạ, những biểuhiện, cái trùng hợp đơn cử trong sự hoạt động của đối tượng người dùng. Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD : PGS, TS. Đào Duy HuânNhóm Đồng Tháp thực thi Trang 17S uy luận diễn dịch trực tiếp : Suy luận diễn dịch trực tiếp là kiểu suy luậntrong đó Kết luận được rút ra trực tiếp từ một tiền đề. Suy luận diễn dịch gián tiếp : Suy luận diễn dịch gián tiếp là suy luận diễndịch trong đó Tóm lại là phán đoán mới được rút ra trên cơ sở mối liên hệ logicgiữa hai hay nhiều phán đoán tiền đề. Trên cơ sở những tài liệu được tích góp, người ta đưa ra một giải thuyết biểu thịvới tư cách là tiền đề của triết lý mới, sau đó từ tiền đề rút ra tổng thể những khẳngđịnh còn lại của kim chỉ nan nhờ diễn dịch logic. Tính chân lý của triết lý mới cầnđược kiểm tra, trước hết là kiểm tra những chân lý của giải thuyết được chọn làmtiền đề của kim chỉ nan. 3.4.3 Quan hệ giữa phương pháp diễn dịch và phương pháp quy nạp3. 4.4 Một vài giá trị thực tiễn phương pháp suy luậnPhương pháp diễn dịch : Phương pháp diễn dịch có ý nghĩa rất quan trọng trong những bộ môn khoahọc thiên về nghiên cứu kim chỉ nan, ở đây người ta đưa ra những tiền đề, giả thuyết, và bằng những suy diễn lôgic để rút ra những Tóm lại, định lý, công thức. Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD : PGS, TS. Đào Duy HuânNhóm Đồng Tháp thực thi Trang 18C ó thể vận dụng phương pháp Diễn dịch vào nghiên cứu khoa học theo trìnhtự qua 4 bước như sau : 1. Phát triển lý thuyết2. Đưa ra giả thuyết3. Thu thập và nghiên cứu và phân tích dữ liệu4. Xác nhận / Bác bỏ giải thuyết. Trên cơ sở những sự kiện mới được tích góp, người ta đưa ra những giả thuyết đểgiải thích, sau đó nhờ phương pháp diễn dịch rút ra giải thuyết những hệ quả và sosánh những hệ quả này với nhau, với thực tiễn để kiểm tra tính chân lý của giải thuyết. Phương pháp quy nạp hoàn toàn có thể được thực thi trải qua 3 bước ; 1. Quan sát quốc tế thực. 2. Tìm kiếm một mẫu hình để quan sát3. Tổng quát hóa về những yếu tố đang xảy raĐể khám phá, đánh giá và nhận định, nhìn nhận tổng quát đối tượng người dùng hoạt động giải trí kinh tế tài chính chẳnghạn ( quan sát quốc tế thực ), người nghiên cứu đi khám phá nhiều yếu tố kinh tế tài chính riênglẻ, từng thành phần đơn cử mang những thuộc tính nào đó mà người nghiên cứu cóthể khám phá, nhìn nhận, đánh giá và nhận định được ( tìm kiếm một mẫu hình quan sát ), sau đótìm thấy mối liên hệ chung của chúng, một Kết luận chung hoàn toàn có thể tóm gọn đượcnhững cái riêng không liên quan gì đến nhau sẽ được đề xuất kiến nghị bởi người nghiên cứu. Với Phương pháp Quy nạp và Diễn dịch là hai phương pháp nghiên cứu theochiều ngược nhau tuy nhiên liên hệ ngặt nghèo và bổ trợ cho nhau trong mối quan hệgiữa cái chung và cái riêng. Nhờ có những hiệu quả nghiên cứu theo phương phápquy nạp trước đó mà việc nghiên cứu hoàn toàn có thể liên tục, tăng trưởng theo phương phápdiễn giải. Phương pháp diễn giải, do vậy lan rộng ra giá trị của những Kết luận quy nạpvào việc nghiên cứu đối tượng người tiêu dùng. 3.5. Phương pháp hệ thống3. 5.1 Phương pháp Hệ thốngHệ thống là tập hợp toàn bộ những bộ phận có quan hệ với nhau tạo ra cái mới. Hệ thống có chiều : chiều cơ cấu tổ chức, chiều cội nguồn và chiều khu vực. Chiều cơ cấu tổ chức là một sự cấu thành nào đó của đối tượng người dùng đang tăng trưởng, làphương thức nhất định về cách sắp xếp và ảnh hưởng tác động qua lại của những thành phần củaTiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD : PGS, TS. Đào Duy HuânNhóm Đồng Tháp thực thi Trang 19 đối tượng người dùng đó. Bản thân những thành phần cũng là một cơ cấu tổ chức pháp tạp, trong đó, cómột phân hệ là cơ bản, quyết định hành động. Chiều cội nguồn : là bộc lộ những đổi khác về lượng và chất của hệ thốngtrong thời hạn. Những biến hóa liên tục về chất tạo thành khái niệm quy trình tiến độ, tứctạo ra phân hệ cội nguồn. Mỗi tiến trình phân hệ của mạng lưới hệ thống về thực ra là mộthệ thống tương đối độc lập. Chiều khu vực : chỉ sự sắp xếp trong khoảng trống của mạng lưới hệ thống và sự khácnhau giữa những khu vực riêng không liên quan gì đến nhau của mạng lưới hệ thống. Nó tạo ra phân hệ về mặtkhông gian. Ba chiều trên của mạng lưới hệ thống vừa có sự thống nhất, vừa có sự độc lạ, chúngphải dựa vào nhau để sống sót, đồng thời mỗi chiều lại có tính độc lập tương đối. Cấutrúc là cách sắp xếp theo một trật tự nhất định của những bộ phận trong một mạng lưới hệ thống, quyết định hành động sự sinh ra của mạng lưới hệ thống và tạo cho mạng lưới hệ thống một ý nghĩa mới nào đó. Cấu trúc là mặt tương đối không thay đổi của mạng lưới hệ thống, là linh hồn của mạng lưới hệ thống. Không thể nói đến mạng lưới hệ thống mà không có cấu trúc và ngược lại, cấu trúc bao giờcũng là cấu trúc của một mạng lưới hệ thống. 3.5.2 Một vài giá trị thực tiễn của phương pháp hệ thốngNgười nghiên cứu khoa học khi thực thi nghiên cứu một yếu tố đơn cử nàođó cần am hiểm rỏ phương pháp mạng lưới hệ thống. Qua đó, đưa yếu tố nghiên cứu đi từtổng quát đến yếu tố đơn cử nào đó và luôn đặt nó trong toàn cảnh khoảng trống đơn cử ( chiều khu vực ), cần nghiên cứu và phân tích, nhìn nhận một cách đúng chuẩn khoa học những yếu tốthành phần của yếu tố nghiên cứu ( chiều mạng lưới hệ thống ), ứng với mỗi quy trình tiến độ định rõbởi cơ cấu tổ chức riêng và bởi tiến trình chất lượng ( chiều cội nguồn ), và hoàn toàn có thể phân chiasự tăng trưởng của một sự vật thành từng gia đoạn, thời kỳ hay thời đại đơn cử nào đóchẳng hạn. 3.6. Phương pháp nghiên cứu Định tính và nghiên cứu Định lượng3. 6.1 Phương pháp nghiên cứu định tínhThu thập và nghiên cứu và phân tích thông tin định tính bằng những phương pháp chuyên viên, tham vấn quan điểm của nhà nghiên cứu / chuyên viên tương quan đến nghành nghề dịch vụ nghiênTiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD : PGS, TS. Đào Duy HuânNhóm Đồng Tháp triển khai Trang 20 cứu. Nhận dạng việc biểu lộ những mối quan hệ kim chỉ nan rõ hơn trong thực tiễn thôngqua những biến đại diện thay mặt. 3.6.2 Phương pháp nghiên cứu định lượngLượng hóa những mối quan hệ / sự đổi khác trong hiện tượng kỳ lạ, trường hợp, vấnđề, … những biến số sử dụng là biến số định lượng. 3.6.3 So sánh giữa phương pháp nghiên cứu định lượng và nghiên cứuđịnh tính3. 6.3.1 Định nghĩa : Phương pháp Nghiên cứu định tínhPhương pháp Nghiên cứu định lượng – Giải thích, miêu tả – Xây dựng triết lý – Biến số không xác lập – Kích thước mẫu nhỏ – Công cụ nghiên cứu và phân tích : quan sát, phỏng vấn, … – Quy nạp. – Giải thích, dự báo – Kiểm chứng triết lý – Đã xác lập biến số – Kích thước mẫu lớn – Công cụ nghiên cứu và phân tích : đã được chuẩnhóa – Diễn dịch3. 6.3.2 Lý thuyếtPhương pháp Nghiên cứu địnhtínhPhương pháp Nghiên cứu định lượngNghiên cứu định tính theo hình thức quynạp, tạo ra triết lý, phương phápnghiên cứu định tính còn sử dụng quanđiểm diễn giải, không chứng tỏ chỉ cógiải thích và dùng thuyết thiết kế trongnghiên cứuNghiên cứu định lượng hầu hết là kiểmđịnh triết lý, sử dụng quy mô khoahọc tự nhiên thực chứng luận, có thểchứng minh được trong thực tiễn và theochủ nghĩa khách quan3. 6.3.3 Phương hướng thực hiệnPhương pháp Nghiên cứu định tínhPhương pháp Nghiên cứu định lượng – Dữ liệu ở dưới dạng từ ngữ, cácvăn bản – Không có đối tượng người tiêu dùng nghiên cứu – Dữ liệu ở dạng những số được đochính xác. – Có nhiều đối tượng người dùng nghiên cứuTiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD : PGS, TS. Đào Duy HuânNhóm Đồng Tháp thực thi Trang 21 – Quy trình nghiên cứu theo đổitheo tình hình đơn cử và khả năngtái lặp rất hiếm – Lọc những chủ đề hay sự khái quáthóa từ chứng cứ và tổ chức triển khai dữliệu để đưa ra một bức tranhthống nhất, kết nối – Lý thuyết hoàn toàn có thể mang tính nhânquả hoặc không và mang tính quynạp – Ý nghĩa được chớp lấy khi nhànghiên cứu khởi đầu khảo sát dữliệu – Khái niệm ở dưới dạng chủ đề, khái quát hóa – Các đo lường và thống kê đo lường và thống kê được tạora theo một ngữ cảnh đơn cử – Chủ quan, do nhìn nhận của nhànghiên cứu – Nhà nghiên cứu tương tác với đốitượng nghiên cứu – Bị ảnh hưởng tác động bởi những giá trị – Quy trình nghiên cứu chuẩn và cókhả năng tái tạo được – Sử dụng số liệu thống kê, bảngbiểu hay biểu đồ và xem xét mốiquan hệ của chúng với những giảthuyết. – Lý thuyết hầu hết mang tínhnhân quả và diễn dịch – Các giả thuyết nhà nghiên cứuđưa ra bắt đầu được kiểm chứng. – Khái niệm ở dưới dạng biến riêngbiệt. – Các giám sát đo lường và thống kê một cáchhệ thống – Khách quan, độc lập với nhànghiên cứu – Nhà nghiên cứu độc lập với đốitượng nghiên cứu – Không có thiên kiến và không bịảnh hưởng bởi giá trị3. 6.4 Một vài giá trị thực tiễn của phương pháp định tính và định lượngPhương pháp định tính : Phương pháp này thường sử dụng trong những nghiêncứu tương quan đến xã hội. Phương pháp định lượng : Thường sử dụng trong những khoa học về kinh tế tài chính, giáo dục, vật lý, dịch tễ học … Và, một nghiên cứu đơn cử hoàn toàn có thể tích hợp cả phương pháp định tính và địnhlượng nhằm mục đích bổ trợ và khắp phục những hạn chế của nhau. 3.7. Phương pháp đối chiếu3. 7.1 Phương pháp đối chiếuMục tiêu là để so sánh sự vật này với sự vật khác, hiện tượng kỳ lạ này với hiệntượng khác để tìm ra sự giống và khác nhau, tìm nguyên do và đề xuất kiến nghị giải pháp. Trên đại thể, ta hoàn toàn có thể thấy 3 khuynh hướng so sánh : – Chủ trương tìm những nét độc lạ do vậy chúng cần phải được sosánh so sánh. Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD : PGS, TS. Đào Duy HuânNhóm Đồng Tháp triển khai Trang 22 – Xu hướng thứ hai cho rằng cần phải tìm hiểu và khám phá những nét độc lạ quantrọng nhất. – Xu hướng thứ ba chủ trương nghiên cứu toàn bộ những cái giống nhau. Ngoài ra, còn hoàn toàn có thể kể đến một loại quan điểm nữa là cần phải chăm sóc cảnhững sự tương ứng và không tương ứng. 3.7.2 Một vài giá trị thực tiễn của phương pháp đối chiếuTrong kinh doanh, phương pháp này được sử dụng nhiều nhằm mục đích giúp tìmkiếm những giải pháp tối ưu. Các bước triển khai phương pháp này hiệu suất cao – Thiếp lập tiêu chuẩn về một yếu tố nghiên cứu – Định lượng – Lấy hiệu quả so sánh, so sánh – Phát hiện vấn đềTa hoàn toàn có thể tiến nghiên cứu vài chỉ tiêu kinh tế tài chính đơn cử như GDP của vương quốc, Thu nhập của người dân ví dụ điển hình nhằm mục đích để tìm mức độ tăng trưởng, cũng như giátrị tăng trưởng của những chỉ số này trong những năm qua, để đưa ra nhận địnhchẳng hạn. 3.8 Phương pháp thống kê – Mô tả3. 8.1 Phương pháp Thống kê – Mô tảPhương pháp Thống kê – Mô tả được sử dụng để diễn đạt những đặc tính cơbản của tài liệu tích lũy được từ nghiên cứu thực nghiệm qua những phương pháp khácnhau. Phương pháp này cung ứng những tóm tắt đơn thuần về mẫu thu được với cácthước đo, cùng với nghiên cứu và phân tích, chúng tạo ra nền tảng của mọi nghiên cứu và phân tích định lượngvề số liệu. Giúp người nghiên cứu khoa học hiểu được những hiện tượng kỳ lạ và ra quyếtđịnh đúng đắn. 3.8.2 Một vài giá trị thực tiễn của Phương pháp Thống kê – Mô tảPhương pháp thống kê – miêu tả có giá trị thực tiễn rất lớn, khi thực thi cácnghiên cứu khoa học đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu bằng phương pháp định lượng. Vớiphương pháp này, quy trình tích lũy và giải quyết và xử lý mẫu thu được hoàn toàn có thể triển khai bằngkỹ thuật diễn đạt tài liệu như sau : – Biểu diễn tài liệu bằng đồ họa trong đó những đồ thị diễn đạt tài liệu hoặcgiúp so sánh tài liệu ; – Biểu diễn tài liệu thành những bảng số liệu tóm tắt về tài liệu ; – Thống kê tóm tắt ( dưới dạng những giá trị thống kê ) diễn đạt tài liệu. Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD : PGS, TS. Đào Duy HuânNhóm Đồng Tháp triển khai Trang 233.9 Phương pháp Kế thừa – Phê phán3. 9.1 Phương pháp Kế thừa – Phê phánPhương pháp này được cho phép người nghiên cứu khoa học hoàn toàn có thể yêu cầu giảipháp trên cơ sở thừa kế những giá trị đã có, hiện có bởi những nhà nghiên cứutrước, nhìn nhận, đánh giá và nhận định, nghiên cứu và phân tích sâu hơn những yếu tố phát sinh trong thực tại. Đồng thời phê phán những giá trị lỗi thời lỗi thời, hoàn toàn có thể khắc phục nhanh nhữnghạn chế đã nhận thấy trước. 3.9.2 Một vài giá trị thực tiễn của Phương pháp Kế thừa – phê phánPhương pháp Kế thừa – Phê phán được ứng dụng nhiều trong những lĩnh vựcnghiên cứu khoa học của con người. Phê phán chính là chỉ ra những yếu tố, thànhphần mang tính cũ, lỗi thời, xấu đi hay tính “ ì ” trong mạng lưới hệ thống. Như vậy, nó là mộtbước trong quy trình tiến độ nhận thức yếu tố khi ta muốn xử lý một yếu tố nào đó. Thật vậy, khi gặp một yếu tố phát sinh, việc tiên phong tất cả chúng ta nên làm là phải hiểubản chất của yếu tố. Nếu ta coi yếu tố như một mạng lưới hệ thống thì, phê phán chính là cáinhìn giúp chỉ ra đâu là thành phần gây không ổn định, đâu là cái làm cho tất cả chúng ta không đạtđược mục tiêu đề ra. Khi đã phân biệt được từng yếu tố, đâu là giả thiết, đâu là kếtluận, tất cả chúng ta sẽ nhìn thấy ngay đâu là yếu tố gây mất không thay đổi của mạng lưới hệ thống, để từđó tìm cách xử lý yếu tố. Chúng ta cũng nên nhớ rằng, bên cạnh cái không tốt, cái xấu đi của nó, ta cũng hoàn toàn có thể tìm ra những yếu tố hoàn toàn có thể giúp ích cho tất cả chúng ta. Nghĩa là, sự phê phán phải mang tính thừa kế. Chúng ta không đơn thuần vô hiệu cáicũ mà còn học tập, phát huy những gì hay, tân tiến trong mạng lưới hệ thống, thậm chí còn trongchính yếu tố gây cản trở mạng lưới hệ thống mà ta đang xem xét. / \ Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD : PGS, TS. Đào Duy HuânNhóm Đồng Tháp triển khai Trang 24C hương 4 : Kết luậnSự tăng trưởng như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học-công nghệ đã gópphần thôi thúc công tác làm việc nghiên cứu khoa học ngày càng trở nên sôi sục hơn và cấpthiết hơn trên khoanh vùng phạm vi toàn thế giới. Việc ngày càng Open thêm nhiều phươngpháp mới trong nghiên cứu khoa học đã chứng tỏ con người ngày càng có nhiều khảnăng hơn để nhận thức quốc tế khách quan. Khoa học và công nghệ tiên tiến đã trở thànhđộng lực thôi thúc sự tân tiến trái đất. Cùng với nghiên cứu khoa học văn minh, càngngày phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu khoa học càng được quan tâm đếnvà nó còn được coi là một trong những tác nhân quan trọng để tăng trưởng khoa học. Chúng ta đã biết khoa học càng tăng trưởng bao nhiêu thì phương pháp, cáchthức nghiên cứu càng phong phú đa dạng chủng loại bấy nhiêu. Càng có nhiều phương phápcàng tăng năng lực lựa chọn phương pháp của người nghiên cứu, càng làm cho việclựa chọn phương pháp có ý nghĩa quan trọng hơn cả về mặt nhận thức khoa học lẫnhiệu quả kinh tế tài chính. Phương pháp nói chung đóng vai trò chủ yếu trong nghiên cứu khoa họccông nghệ. Phương pháp đơn cử gắn với những môn, nghành nghề dịch vụ nghiên cứu đơn cử. Chínhsự tăng trưởng của khoa học, kỹ thuật ngày càng phát sinh nhiều phương pháp cụ thểkhác nhau để nghiên cứu cùng một đối tượng người tiêu dùng. Do vậy sẽ là sai lầm đáng tiếc nếu quá nhấnmạnh một phương pháp đặc trưng, đơn cử nào đó trong nghiên cứu. Vì vậy chúng taphải có một cái nhìn khách quan về những phương pháp nghiên cứu khoa học cũngnhư phải có một phương pháp luận đúng đắn, để từ đó biết vận dụng một cách khoahọc và đúng chuẩn những phương pháp nghiên cứu khoa học vào mỗi đối tượng người dùng khácnhau và để ship hàng cho những tiềm năng nghiên cứu khác nhau. Tóm lại, có nhiều phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu khoa học, trong đó, có những phương pháp cơ bản để nghiên cứu về kinh tế tài chính, quản trị kinh doanh. Việc sử dụng phương pháp nào là do đơn cử của từng đề tài khoa học đòi hỏi. Ngườinghiên cứu cần linh động khi sử dụng những phương pháp, hoàn toàn có thể tích hợp nhiềuphương pháp nghiên cứu khác nhau trong đề tài nghiên cứu khoa học cụ thể. / \ Tiểu luận : Phương pháp NCKH trong kinh doanh GVHD : PGS, TS. Đào Duy HuânNhóm Đồng Tháp triển khai Trang 25T ÀI LIỆU THAM KHẢO1. PGS, tiến sỹ Đào Duy Huân ( năm 2013 ), Các Phương pháp khoa học sử dụngtrong nghiên cứu kinh doanh. 2. PGS, tiến sỹ Đào Duy Huân ( năm 2013 ), Slide bài giảng môn Phương phápnghiên cứu khoa học trong kinh doanh. 3. Triết học Mác – LêNin. 4. Ts. Trần Tiến Khai, ThS Trương Đăng Thụy, ( năm 2009 ), Tài liệu giảng dạyPhương pháp nghiên cứu kinh tế tài chính. 5. Vũ Cao Đàm ( 2008 ), Tạp chí hoạt động giải trí khoa học. / \
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Nghiên Cứu






