Phương pháp luận nghiên cứu khoa học – Tài liệu text

Phương pháp luận nghiên cứu khoa học

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (476.34 KB, 75 trang )

HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
BÀI GIẢNG MÔN HỌC
PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
PGS.TS. VŨ CAO ĐÀM
HÀ NỘI, 7/2012
LƯU HÀNH NỘI BỘ
www.ptit.edu.vn
CHƯƠNG I
ĐẠI CƯƠNG VỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
1.1. KHÁI NIỆM NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Nghiên cứu khoa học là sự phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa
học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để
làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người.
Về mặt thao tác, có thể định nghĩa, nghiên cứu khoa học là quá trình hình thành
và chứng minh luận điểm khoa học.
1.2. PHÂN LOẠI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Có nhiều cách phân loại nghiên cứu khoa học. Thông dụng, có thể xem xét 2
cách phân loại sau.
1. Phân loại theo chức năng nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả, là nghiên cứu nhằm đưa ra một hệ thống tri thức về nhận
dạng một sự vật, đánh giá một sự vật.
Nghiên cứu giải thích, là những nghiên cứu nhằm giải thích nguồn gốc; động
thái; cấu trúc; tương tác; hậu quả; quy luật chung chi phối quá trình vận động của sự
vật.
Nghiên cứu giải pháp, là loại nghiên cứu nhằm sáng tạo các giải pháp, có thể là
giải pháp công nghệ, giải pháp tổ chức và quản lý.
Nghiên cứu dự báo, là những nghiên cứu nhằm nhận dạng trạng thái của sự vật
trong tương lai.
2. Phân loại theo các giai đoạn của nghiên cứu
Theo các giai đoạn của nghiên cứu, người ta phân chia thành:

– Nghiên cứu cơ bản, là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc,
động thái các sự vật. Kết quả nghiên cứu cơ bản có thể là các khám phá, phát hiện,
phát minh, dẫn tới hình thành một hệ thống lý thuyết mới
1
.
– Nghiên cứu ứng dụng, là sự vận dụng quy luật được phát hiện từ nghiên cứu
cơ bản để giải thích một sự vật hoặc tạo ra những nguyên lý mới về các giải pháp.
1
Y. De Hemptinne: Questions-clé des politiques scientifiques et technologiques nationales, UNESCO, Paris,
1981.
– 2 –
– Triển khai, còn gọi là triển khai thực nghiệm, là sự vận dụng các lý thuyết để
đưa ra các hình mẫu (prototype) với những tham số khả thi về kỹ thuật
2
. Hoạt động
triển khai gồm 3 giai đoạn:
+ Tạo vật mẫu (prototype), là giai đoạn thực nghiệm nhằm tạo ra được sản
phẩm, chưa quan tâm đến quy trình sản xuất.
+ Tạo công nghệ còn gọi là giai đoạn “làm pilot”, là giai đoạn tìm kiếm và thử
nghiệm công nghệ để sản xuất ra sản phẩm theo mẫu vừa thành công trong giai đoạn
thứ nhất.
+ Sản xuất thử loạt nhỏ, còn gọi là sản xuất “Série 0” (Loạt 0). Đây là giai
đoạn kiểm chứng độ tin cậy của công nghệ trên quy mô nhỏ.
Trên thực tế, trong một đề tài có thể chỉ tồn tại một loại nghiên cứu, chẳng hạn,
nghiên cứu về một biến cố xã hội, một hiện trạng công nghệ; cũng có thể nghiên cứu
những lý do về một nguyên nhân của sự suy thoái kinh tế; cũng có thể là nghiên cứu
về một giải pháp kỹ thuật hoặc giải pháp xã hội, song cũng có thể tồn tại cả một số
loại nghiên cứu nào đó.
2
Xin lưu ý: “D” ở đây không dịch là “Phát triển”, bởi vì tuy viết là “D”, nhưng thực ra thuật ngữ này có tên

gọi đầy đủ là “Technical Experimental Development”, về sau cũng gọi là “Technological Experimental
Development”, gọi tắt là “Technological Development” hoặc “Development”. Năm 1959, Giáo sư Tạ Quang
Bừu đặt thuật ngữ tiếng Việt là “Triển khai kỹ thuật”, gọi tắt là “Triển khai”. Một số văn bản gọi “D” là “Phát
triển” là không đúng. Sự khác nhau là ở chỗ “Phát triển công nghệ” “Development of Technology” là sự “Mở
mang” công nghệ, có thể cả chiều rộng (Extensive Development) lẫn chiều sâu (Intensive Development). Còn
“Triển khai” là “Thực nghiệm một lý thuyết khoa học cho nó thành công nghệ”, mà sản phẩm rất đặc trưng của
nó gồm 3 loại: “Prototype”, “Quy trình công nghệ” và “Sản xuất Série 0”. Thuậ̣t ngữ này người Trung Quốc
goi là “Khai phát”, người Nga gọi là “Razrabotka”. Họ đều không dịch là “Phát triển”. Chính sách tài chính
cũng khác nhau cơ bản: “Triển khai” được cấp vốn theo nguồn “Nghiên cứu và Triển khai” (R&D), bán sản
phẩm “Triển khai” được miễn thuế. Còn “Phát triển” thì phải phải dùng vốn vay và phải chịu thuế.
– 3 –
CHƯƠNG II
TRÌNH TỰ LOGIC CỦA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Nghiên cứu khoa học, bất kể trong nghiên cứu khoa học tự nhiên, khoa học xã
hội hoặc khoa học công nghệ đều tuân theo một trật tự logic xác định, bao gồm các
bước sau đây:
1. Phát hiện vấn đề (Problem), để lựa chọn chủ đề (topic) nghiên cứu
2. Xác định mục tiêu (objective) nghiên cứu
3. Nhận dạng câu hỏi (question) nghiên cứu
4. Đưa luận điểm, tức giả thuyết (hypothesis) nghiên cứu
5. Lựa chọn các phương pháp (methods) chứng minh giả thuyết
6. Tìm kiếm các luận cứ (evidence) để chứng minh luận điểm
2.1. LỰA CHỌN CHỦ ĐỀ VÀ ĐẶT TÊN ĐỀ TÀI
Đề tài là một hình thức tổ chức nghiên cứu khoa học, trong đó có một nhóm
người cùng thực hiện một nhiệm vụ nghiên cứu. Đề tài được lựa chọn từ một sự kiện
khoa học.
1. Phát hiện vấn đề (Problem) nghiên cứu
Phát hiện vấn đề nghiên cứu (Research Problem) để xác định chủ đề nghiên cứu
(Research Topics). Trên cơ sở đó đặt tên đề tài.
Vấn đề nghiên cứu được phát hiện nhờ các sự kiện thông thường, trong đó chứa

đựng những mâu thuẫn giữa lý thuyết vốn tồn tại và thực tế. Loại sự kiện như thế
được gọi là sự kiện khoa học (Scienctific Fact). Một số thủ thuật để phát hiện vấn đề
nghiên cứu có thể là:
1) Tìm kiếm nguyên nhân của những bất đồng trong tranh luận khoa học
2) Nhận dạng những vướng mắc trong thực tế, mà các lý thuyết hiện hữu không
cắt nghĩa được.
3) Lắng nghe ý kiến của những người không biết gì về lĩnh vực mà mình quan tâm
4) Nghĩ ngược lại quan niệm thông thường
5) Những câu hỏi hoặc ý nghĩ bất chợt của người nghiên cứu.
– 4 –
2. Xác định nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu là một chủ đề mà người nghiên cứu (hoặc nhóm nghiên
cứu) thực hiện. Nhiệm vụ nghiên cứu có thể xuất hiện trước hoặc sau vấn đề nghiên
cứu.
Có nhiều nguồn nhiệm vụ:
Chủ trương phát triển kinh tế và xã hội của quốc gia được ghi trong các văn
kiện chính thức của các cơ quan có thẩm quyền. Từ chủ trương phát triển kinh tế – xã
hội, mà người nghiên cứu đi sâu phân tích để phát hiện “vấn đề nghiên cứu”
Nhiệm vụ được giao từ cơ quan cấp trên của cá nhân hoặc tổ chức nghiên cứu.
“Cấp trên giao” là xuất phát từ nhu cầu kinh tế – xã hội. Căn cứ nhiệm vụ cấp trên
giao, người nghiên cứu mới phân tích xem, “Vấn đề nghiên cứu” nằm ở đâu?
Nhiệm vụ được nhận từ hợp đồng với các đối tác. Đối tác có thể là các doanh
nghiệp hoặc tổ chức xã hội hoặc cơ quan chính phủ. Thông thường, các đối tác có thể
chủ động nêu ra các “vấn đề nghiên cứu” để ký hợp đồng, song cũng có thể họ chỉ
quan tâm đến nhu cầu nghiên cứu của họ, mà không hề quan tâm tới cái “vấn đề
nghiên cứu” theo nghĩa khoa học mà người nghiên cứu sẽ phải phân tích sau này.
Nhiệm vụ do người nghiên cứu tự đặt cho mình xuất phát từ ý tưởng khoa học
của bản thân người nghiên cứu.
Việc lựa chọn đề tài có thể dựa trên những căn cứ được xem xét theo các cấp độ
sau:

1) Đề tài có ý nghĩa khoa học hay không?
2) Đề tài có mang một ý nghĩa thực tiễn nào không?
3) Đề tài có cấp thiết phải nghiên cứu hay không?
4) Có đủ điều kiện đảm bảo cho việc hoàn thành đề tài không?
5) Và đề tài có phù hợp sở thích không?
3. Mục tiêu nghiên cứu.
Mục tiêu nghiên cứu là những nội dung cần được xem xét và làm rõ trong
nghiên cứu. Mục tiêu trả lời câu hỏi “Nghiên cứu cái gì?”
4. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu luôn được giới hạn trong một khuôn khổ nhất định:
1) Phạm vi về nội dung nghiên cứu.
2) Phạm vi về không gian của sự vật cần quan tâm trong nghiên cứu, cụ thể ở
đây là giới hạn phạm vi mẫu khảo sát
3) Phạm vi thời gian của tiến trình của sự vật, phạm vi nội dung nghiên cứu.
– 5 –
5. Mẫu khảo sát trong quá trình nghiên cứu.
Mẫu khảo sát có thể được chọn trong: một không gian, một khu vực hành
chính, một quá trình, một hoạt động, một cộng đồng.
6. Đặt tên đề tài
Tên đề tài phải phản ánh cô đọng nhất nội dung nghiên cứu của đề tài. Tên một
đề tài khoa học khác với tên của tác phẩm văn học hoặc những bài luận chiến. Tên
một tác phẩm văn học hoặc một bài luận chiến có thể mang những ý ẩn dụ sâu xa.
Còn tên của một đề tài khoa học thì chỉ được mang một nghĩa, không được phép hiểu
hai hoặc nhiều nghĩa. Để làm được điều này, người nghiên cứu cần lưu ý một vài
nhược điểm cần tránh khi đặt tên đề tài:
Thứ nhất, tên đề tài không nên đặt bằng những cụm từ có độ bất định cao về
thông tin. Ví dụ:
• Về ; Thử bàn về ; Góp bàn về
• Suy nghĩ về ; Vài suy nghĩ về ; Một số suy nghĩ về
• Một số biện pháp ; Một số biện pháp về

• Tìm hiểu về ; Bước đầu tìm hiểu về ; Thử tìm hiểu về
• Nghiên cứu về ; Bước đầu nghiên cứu về ; Một số nghiên cứu về
• Vấn đề ; Một số vấn đề ; Những vấn đề về
Thứ hai, cũng cần hạn chế lạm dụng dụng những cụm từ chỉ mục đích để đặt tên
đề tài. Cụm từ chỉ mục đích là những cụm từ mở đầu bởi những từ để, nhằm, góp
phần, v.v Nói lạm dụng, nghĩa là sử dụng một cách thiếu cân nhắc, sử dụng tuỳ tiện
trong những trường hợp không chỉ rõ được nội dung thực tế cần làm, mà chỉ đưa
những cụm từ chỉ mục đích để che lấp những nội dung mà bản thân tác giả cũng chưa
có được một sự hình dung rõ rệt. Ví dụ:
• ( ) nhằm nâng cao chất lượng ,
• ( ) để phát triển năng lực cạnh tranh.
• ( ) góp phần vào ,
Sẽ là không đạt yêu cầu khi đặt tên đề tài bao gồm hàng loạt loại cụm từ vừa
nêu trên đây, ví dụ: “Thử bàn về một số biện pháp bước đầu nhằm nâng cao chất
lượng sản phẩm góp phần tạo ra năng lực cạnh tranh trên thị trường”
Thứ ba, cũng sẽ là không đạt yêu cầu khi đặt những tên đề tài có dạng như:
“Lạm phát – Hiện trạng, Nguyên nhân, Giải pháp”. Đương nhiên, khi nghiên cứu đề
tài “Lạm phát”, tác giả nào chẳng phải tìm hiểu hiện trạng, phân tích nguyên nhân và
đề xuất giải pháp chống lạm phát. Tuy nhiên loại tên đề tài này còn có một lỗi hết
– 6 –
sức nghiêm trọng, nếu ta diễn giải tên đề tài này là đề tài nghiên cứu về 3 nội dung:
“Hiện trạng lạm phát”, “Nguyên nhân lạm phát” và “Giải pháp lạm phát”.
2.2. XÂY DỰNG LUẬN ĐIỂM KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Luận điểm khoa học là một phán đoán về bản chất sự vật.
Quá trình xây dựng luận điểm khoa học bao gồm các bước: Phát hiện câu hỏi
nghiên cứu; Đặt giả thuyết nghiên cứu.
1. Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu (Research Question)
3
là câu hỏi được đặt ra khi người

nghiên cứu đứng trước mâu thuẫn giữa tính hạn chế của tri thức khoa học hiện có với
yêu cầu phát triển tri thức đó ở trình độ cao hơn. Phát hiện được vấn đề nghiên cứu là
giai đoạn quan trọng trên bước đường phát triển nhận thức.
Tuy nhiên, nêu câu hỏi lại chính là công việc khó nhất đối với các bạn đồng
nghiệp trẻ tuổi: nhiều bạn sinh viên mới bắt tay làm nghiên cứu khoa học luôn phải
đặt những câu hỏi với thày cô đại loại như “nghiên cứu một đề tài khoa học nên bắt
đầu từ cái gì”. Câu trả lời trong trường hợp này luôn là: “Hãy bắt đầu từ đặt câu hỏi
nghiên cứu”.
Trong nghiên cứu khoa học luôn tồn tại hai lớp câu hỏi: Câu hỏi về bản chất sự
vật cần tìm kiếm, và câu hỏi về phương pháp nghiên cứu để làm sáng tỏ, về lý thuyết
và về thực tiễn những câu hỏi thuộc lớp thứ nhất.
Câu hỏi nghiên cứu đặt cho người nghiên cứu mối quan tâm: “Cần chứng minh
điều gì?”. Như vậy, thực chất việc đưa ra được những câu hỏi sẽ tạo cơ sở cho việc
tìm kiếm câu trả lời.
Tương tự như phát hiện vấn đề nghiên cứu, nhưng câu hỏi nghiên cứu nhằm chi
tiết hóa vấn đề nghiên cứu. Cũng có thể sử dụng những phương pháp tương tự để đặt
câu hỏi nghiên cứu. Có thể nêu cụ thể hơn như sau:
Nhận dạng những bất đồng trong tranh luận khoa học
Khi hai đồng nghiệp bất đồng ý kiến, có thể là họ đã nhận ra những mặt yếu của
nhau. Đây là cơ hội thuận lợi để người nghiên cứu nhận dạng những vấn đề mà các
đồng nghiệp đã phát hiện.
Nhận dạng những vướng mắc trong hoạt động thực tế
Nhiều khó khăn nảy sinh trong hoạt động sản xuất, hoạt động xã hội, không thể
sử dụng những lý thuyết hiện hữu để lý giải, hoặc những biện pháp thông thường để
xử lý. Thực tế này đặt trước người nghiên cứu những câu hỏi phải trả lời, tức xuất
hiện vấn đề, đòi hỏi người nghiên cứu phải đề xuất những giải pháp mới.
3
Robert K. Yin: Case study research, Design and Methods, Second Edition, Applied Social Research Methods
Series, Volume 5, SAGE Publications, London, 1994, pp. 5-8.
– 7 –

Nghĩ ngược lại quan niệm thông thường
Xét ví dụ, chẳng hạn, trong khi nhiều người cho rằng trẻ em suy dinh dưỡng là
do các bà mẹ kém hiểu biết về dinh dưỡng trẻ em, thì có người đã nêu câu hỏi ngược
lại: “Các bà mẹ là trí thức chắc chắn phải hiểu biết về dinh dưỡng trẻ em hơn các bà
mẹ nông dân. Vậy tại sao tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng trong nhóm con cái các bà mẹ là trí
thức lại cao hơn trong nhóm các bà mẹ là nông dân?”
Lắng nghe lời phàn nàn của những người không am hiểu
Đôi khi nhiều câu hỏi nghiên cứu xuất hiện nhờ lời phàn nàn của người hoàn
toàn không am hiểu lĩnh vực mà người nghiên cứu quan tâm. Chẳng hạn, sáng chế xe
điện của Edison chính là kết quả bất ngờ sau khi nghe được lời phàn nàn của một bà
già trong đêm khánh thành mạng đèn điện chiếu sáng đầu tiên ở một thị trấn ngoại ô
của thành phố New York: “Cái ông Edison làm ra được đèn điện mà không làm được
cái xe điện cho người già đi đây đi đó”.
Phát hiện mặt mạnh, mặt yếu trong nghiên cứu của đồng nghiệp
Mặt mạnh trong luận điểm, luận cứ, phương pháp của đồng nghiệp sẽ được sử
dụng làm luận cứ hoặc phương pháp để chứng minh luận điểm của mình; còn mặt yếu
được sử dụng để phát hiện vấn đề (tức đặt câu hỏi nghiên cứu), từ đó xây dựng luận
điểm cho nghiên cứu của mình.
Những câu hỏi bất chợt xuất hiện không phụ thuộc lý do nào
Đây là những câu hỏi xuất hiện ở người nghiên cứu do bất chợt quan sát được
một sự kiện nào đó, cũng có thể xuất hiện rất ngẫu nhiên, không phụ thuộc bất cứ lý
do, thời gian hoặc không gian nào.
2. Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết nghiên cứu (tiếng Anh là Hypothesis), là một kết luận giả định về
bản chất sự vật, do người nghiên cứu đưa ra để chứng minh hoặc bác bỏ. Xét trong
quan hệ giữa giả thuyết với câu hỏi nghiên cứu, thì giả thuyết chính là “câu trả lời”
vào “câu hỏi” nghiên cứu đã nêu ra.
Người nghiên cứu cần căn cứ vào phân loại nghiên cứu để đưa ra những giả
thuyết phù hợp với bản chất của nghiên cứu khoa học.
Theo chức năng của nghiên cứu khoa học, giả thuyết được phân chia thành giả

thuyết mô tả, giả thuyết giải thích, giả thuyết dự báo, giả thuyết giải pháp.
Giả thuyết là một phán đoán, cho nên viết giả thuyết khoa học, xét về mặt logic
là viết một phán đoán.
Phán đoán là một thao tác logic luôn được thực hiện trong nghiên cứu khoa
học. Phán đoán có cấu trúc chung là “S là P”, trong đó, S được gọi là chủ từ của phán
đoán; còn P là vị từ (tức thuộc từ) của phán đoán.
– 8 –
Phán đoán được sử dụng trong trường hợp cần nhận định về bản chất một sự vật,
trình bày giả thuyết khoa học, trình bày luận cứ khoa học, v.v Một số loại phán
đoán thông dụng được liệt kê trong Bảng 1.
2.3. CHỨNG MINH LUẬN ĐIỂM KHOA HỌC
Muốn chứng minh một luận điểm khoa học, người nghiên cứu phải có đầy đủ
luận cứ khoa học,
Muốn tìm được các luận cứ và làm cho luận cứ có sức thuyết phục người nghiên
cứu phải sử dụng những phương pháp nhất định. Phương pháp ở đây bao gồm hai
loại: phương pháp tìm kiếm luận cứ và phương pháp sắp xếp các luận cứ để chứng
minh luận điểm khoa học.
Đó là những việc làm cần thiết của người nghiên cứu trong quá trình chứng
minh luận điểm khoa học của mình.
Bảng 1: Phân loại các phán đoán
Phán đoán khẳng định S là P
Phán đoán phủ định S không là P
Phán đoán xác suất S có lẽ là P
Phán đoán hiện thực S đang là P
Phán đoán tất nhiên S chắc chắn là P
Phán đoán chung Mọi S là P
Phán đoán riêng Một số S là P
Phán đoán đơn nhất Duy có S là P
Phán đoán liên kết (phép hội) S vừa là P
1

vừa là P
2
Phán đoán lựa chọn (phép tuyển) S hoặc là P
1
hoặc là P
2
Phán đoán có điều kiện Nếu S thì P
Phán đoán tương tương S khi và chỉ khi P
1. Cấu trúc logic của phép chứng minh
Cấu trúc logic của phép chứng minh được nghiên cứu trong logic học, gồm 3 bộ
phận hợp thành: Luận điểm, Luận cứ và Phương pháp.
Giả thuyết, là điều cần chứng minh trong một nghiên cứu khoa học. Giả thuyết
trả lời câu hỏi: “Cần chứng minh điều gì?” Về mặt logic học, giả thuyết là một phán
đoán mà tính chân xác
4
của nó cần được chứng minh.
4
Trong logic học hình thức có một cặp khái niệm được sử dụng bằng những thuật ngữ tiếng Việt khác nhau:
một số tác giả dùng “chân xác/phi chân xác”, một số tác giả khác dùng “chân thực/giả dối”. Trong sách này
dùng cặp thuật ngữ thứ nhất, vì nó mang ý nghĩa thuần tuý khoa học. Khi nói “chân thực/giả dối” thường mang
ý nghĩa đạo đức. Trong khoa học, thường khi nhà nghiên cứu rất chân thực, nhưng kết quả thu nhận được thì lại
– 9 –
Luận cứ là bằng chứng được đưa ra để chứng minh luận điểm. Luận cứ được
xây dựng từ những thông tin thu được nhờ đọc tài liệu, quan sát hoặc thực nghiệm.
Luận cứ trả lời câu hỏi: “Chứng minh bằng cái gì?”. Về mặt logic, luận cứ là phán
đoán mà tính chân xác đã được chứng minh và được sử dụng làm tiền đề để chứng
minh luận điểm.
Phương pháp, là các cách thức được sử dụng để tìm kiếm luận cứ và tổ chức
luận cứ để chứng minh luận điểm (luận đề). Trong logic học có một khái niệm tương
đương, là “Luận chứng”. Tuy nhiên, ban đầu khái niệm này trong logic học chỉ mang

nghĩa là “Lập luận”.
2. Luận cứ
Để chứng minh luận điểm khoa học, người nghiên cứu cần có hai loại luận cứ:
Luận cứ lý thuyết, là các luận điểm khoa học đã được chứng minh, bao gồm
các khái niệm, các tiên đề, định lý, định luật, quy luật, tức các mối liên hệ, đã được
khoa học chứng minh là đúng. Luận cứ lý thuyết được khai thác từ các tài liệu, công
trình khoa học của các đồng nghiệp đi trước. Việc sử dụng luận cứ lý thuyết sẽ giúp
người nghiên cứu tiết kiệm thời gian, không tốn kém thời gian để chứng minh lại
những gì mà đồng nghiệp đã chứng minh.
Luận cứ thực tế, được thu thập từ trong thực tế bằng cách quan sát, thực
nghiệm, phỏng vấn, điều tra hoặc khai thác từ các công trình nghiên cứu của các đồng
nghiệp. Về mặt logic, luận cứ thực tiễn là các sự kiện thu thập được từ quan sát hoặc
thực nghiệm khoa học. Toàn bộ quá trình nghiên cứu khoa học, sau khi hình thành
luận điểm, là quá trình tìm kiếm và chứng minh luận cứ.
Một giả thuyết được chứng minh hay bị bác bỏ đều có nghĩa là “một chân lý
được chứng minh”. Điều đó có nghĩa rằng, trong khoa học tồn tại hoặc không tồn tại
bản chất như đã nêu trong giả thuyết.
3. Phương pháp xây dựng và sử dụng luận cứ
Nhiệm vụ của người nghiên cứu phải làm 3 việc: tìm kiếm luận cứ, chứng minh
độ đúng đắn của bản thân luận cứ và sắp xếp luận cứ để chứng minh giả thuyết. Để
làm 3 việc đó phải có phương pháp. Phương pháp trả lời câu hỏi: “Chứng minh bằng
cách nào?”.
Người nghiên cứu cần những loại thông tin sau:
• Cơ sở lý thuyết liên quan đến nội dung nghiên cứu.
• Tài liệu thống kê và kết quả nghiên cứu của đồng nghiệp đi trước.
• Kết quả quan sát hoặc thực nghiệm của bản thân người nghiên cứu.
Muốn có luận cứ, người nghiên cứu phải biết lựa chọn các hướng tiếp cận để thu
thập thông tin. Những loại thông tin trên đây có thể được thu thập qua các tác phẩm
phi chân xác
– 10 –

khoa học, sách giáo khoa, tạp chí chuyên ngành, báo chí và các phương tiện truyền
thông, hiện vật, phỏng vấn chuyên gia trong và ngoài ngành.
Có các hướng tiếp cận cơ bản sau:
Thứ nhất, tiếp cận phương pháp chung.
Có hàng loạt cặp các hướng tiếp cận về phương pháp. Chẳng hạn:
− Tiếp cận Hệ thống/Cấu trúc
− Tiếp cận Lịch sử/Logic
− Tiếp cận Lý thuyết/Thực tiễn
− Tiếp cận Phân tích/Tổng hợp
− Tiếp cận Cá biệt/So sánh
Thứ hai, tiếp cận lý thuyết.
Trong tiếp cận lý thuyết, người nghiên cứu tìm kiếm các lý thuyết để hình thành
luận cứ. Chẳng hạn:
− Một nghiên cứu về nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam
trong kinh doanh, tác giả tìm kiếm luận cứ từ lĩnh vực điều khiển học kinh
tế (Economic Cybernetics), từ Lý thuyết trò chơi (Game Theory), v.v
− Một nghiên cứu về mạng điện, các tác giả tìm kiếm cơ sở lý thuyết từ lý
thuyết mạng (Graph Theory), từ lý thuyết hệ thống (Systems Theory), v.v
− Một nghiên cứu về cải cách quản lý giáo dục, các tác giả tìm kiếm cơ sở lý
thuyết từ giáo dục học, xã hội học, tâm lý học, v.v
Thứ ba, tiếp cận thực tiễn.
Có thể có 3 hướng tiếp cận thực tiễn:
Khảo sát trực tiếp bằng các hoạt động quan sát hiện trường, chẳng hạn: điều tra
địa chất, điều tra rừng, thâm nhập thị trường, v.v
Phương pháp chuyên gia thông qua các cuộc phỏng vấn, điều tra bằng bảng hỏi,
mở hội thảo để nghe ý kiến chuyên gia.
Phương pháp thực nghiệm bằng cách tiến hành các thí nghiệm trong labo hoặc
trong các xưởng thực nghiệm (công nghiệp), cánh đồng thực nghiệm (nông nghiệp),
các khu rừng thực nghiệm (lâm sinh) hoặc các cơ sở chỉ đạo thí điểm (thực nghiệm xã
hội), v.v

– 11 –
CHƯƠNG III
PHƯƠNG PHÁP THU THẬP THÔNG TIN
Nghiên cứu khoa học là quá trình thu thập thông tin và chế biến thông tin.
Không một nghiên cứu nào là không cần thông tin. Không một khâu nào trong toàn
bộ quá trình nghiên cứu là không cần thông tin. Thông tin cần thiết trong tất cả các
trường hợp sau:
• Tìm kiếm chủ đề nghiên cứu
• Xác nhận lý do nghiên cứu
• Tìm hiểu lịch sử nghiên cứu
• Xác định mục tiêu nghiên cứu
• Nhận dạng vấn đề nghiên cứu
• Đặt giả thuyết nghiên cứu
• Tìm kiếm luận cứ để chứng minh giả thuyết
3.1. ĐẠI CƯƠNG VỀ THU THẬP THÔNG TIN
Có nhiều phương pháp thu thập thông tin:
1) Nghiên cứu tài liệu hoặc phỏng vấn để kế thừa những thành tựu mà các đồng
nghiệp đã đạt được trong nghiên cứu.
2) Trực tiếp quan sát trên đối tượng khảo sát ngay tại nơi diễn ra những quá
trình mà người nghiên cứu có thể sử dụng làm luận cứ.
3) Tiến hành các hoạt động thực nghiệm trực tiếp trên đối tượng khảo sát hoặc
trên mô hình tương tự các quá trình diễn ra trên đối tượng nghiên cứu.
4) Thực hiện các trắc nghiệm trên đối tượng khảo sát để thu thập các thông tin
phản ứng từ phái đối tượng khảo sát.
Trong nhiều trường hợp người nghiên cứu không thể trực tiếp thu thập thông tin
trên đối tượng khảo sát, ví dụ, núi lửa đã tắt, trận động đất đã ngưng, một sự kiện lịch
sử đã lùi vào quá khứ, v.v…Khi đó, người nghiên cứu phải thu thập thông tin một
cách gián tiếp qua những người trung gian. Người ta gọi chung là phương pháp
chuyên gia.
Phương pháp chuyên gia bao gồm:

– 12 –
• Phỏng vấn những người có am hiểu hoặc có liên quan đến những thông tin
về sự kiện khoa học.
• Gửi phiếu điều tra (bảng hỏi) để thu thập thông tin liên quan tới sự kiện khoa
học.
• Thảo luận dưới các hình thức hội nghị khoa học.
1. Chọn mẫu khảo sát.
Mẫu, tức đối tượng khảo sát, được lựa chọn từ khách thể. Bất kể nghiên cứu
trong lĩnh vực nào, người nghiên cứu đều phải chọn mẫu:
• Chọn địa điểm khảo sát trong hành trình điều tra tài nguyên
• Chọn các nhóm xã hội để điều tra dư luận xã hội
• Chọn mẫu vật liệu để khảo nghiệm tính chất cơ, lý, hóa trong nghiên cứu vật
liệu
• Chọn một số mẫu bài toán để nghiên cứu phương pháp giải
• v.v…
Việc chọn mẫu có ảnh hưởng quyết định tới độ tin cậy của kết quả nghiên cứu
và chi phí các nguồn lực cho công cuộc khảo sát. Việc chọn mẫu phải đảm bảo tính
ngẫu nhiên, nhưng phải mang tính đại diện, tránh chọn mẫu theo định hướng chủ quan
của người nghiên cứu.
Có một số cách chọn mẫu thông dụng sau
5
:
Lấy mẫu ngẫu nhiên (Random sampling), là cách chọn mẫu sao cho mỗi đơn vị
lấy mẫu có một cơ hội hiện diện trong mẫu bằng nhau.
Lấy mẫu hệ thống (Systematic sampling). Một đối tượng gồm nhiều đơn vị được
đánh số thứ tự. Chọn một đơn vị ngẫu nhiên có số thứ tự bất kỳ. Lấy một số bất kỳ
làm khoảng cách mẫu, cộng vào số thứ tự của mẫu đầu tiên.
Lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng (Stratified random sampling). Trong trường hợp
này, đối tượng được chia thành nhiều lớp, mỗi lớp có những đặc trưng đồng nhất. Như
vậy, từ mỗi lớp, người nghiên cứu có thể thực hiện theo kỹ thuật lấy mẫu ngẫu nhiên.

Cách lấy mẫu này cho phép phân tích số liệu khá toàn diện, nhưng có nhược
điểm là phải biết trước những thông tin để phân tầng, phải tổ chức cấu trúc riêng biệt
trong mỗi lớp.
Lấy mẫu hệ thống phân tầng (Stratified systematic sampling). Đối tượng điều tra
gồm nhiều tập hợp không đồng nhất liên quan đến những thuộc tính cần nghiên cứu.
Lấy mẫu được thực hiện trên cơ sở phân chia đối tượng thành nhiều lớp, mỗi lớp có
5
Cristina P. Parel et al.: Sampling Design and Procedures, IDRC, Bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Trí Hùng,
Nxb.Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh, 1991.
– 13 –
những đặc trưng đồng nhất. Đối với mỗi lớp, người nghiên cứu thực hiện theo kỹ
thuật lấy mẫu hệ thống.
Lấy mẫu từng cụm (Cluster sampling). Đối tượng điều tra được chia thành nhiều
cụm tương tự như chia lớp trong kỹ thuật lấy mẫu phân tầng, chỉ có điều khác là mỗi
cụm không chứa đựng những đơn vị đồng nhất, mà dị biệt.
2. Đặt “Giả thiết nghiên cứu”
Giả thiết (tiếng Anh là Assumption) là điều kiện giả định của nghiên cứu. Nói
điều kiện “giả định” là những điều kiện không có thực trong đối tượng khảo sát, mà
chỉ là những tình huống giả định do người nghiên cứu đặt ra để lý tưởng hóa điều kiện
thực nghiệm, với một giả thiết đặt ra, người nghiên cứu đã gạt bỏ bớt các yếu tố ảnh
hưởng tới những diễn biến và kết quả nghiên cứu. Giả thiết không phải chứng minh.
Ví dụ 1, trong một thí nghiệm tạo giống lúa mới, muốn chứng minh giả thuyết
“Giống lúa A tốt hơn giống lúa B” về một chỉ tiêu nào đó, người nghiên cứu làm trên
2 thửa ruộng, một thửa trồng lúa thực nghiệm; một thửa trồng loại lúa thông dụng để
so sánh, gọi đó là “đối chứng”. Để so sánh được, người nghiên cứu phải đặt giả thiết
rằng: 2 thửa ruộng có những đặc điểm giống hệt nhau về thổ nhưỡng; được chăm bón
theo cùng một điều kiện, v.v… Trên thực tế không bao giờ có được điều kiện đó.
Ví dụ 2, trong một thí nghiệm sinh học, người nghiên cứu làm thí nghiệm đồng
thời trên 2 con vật X và Y để chứng minh giả thuyết là “Chất P có tác dụng kích
thích sinh trưởng mạnh hơn chất Q”. Người nghiên cứu đặt giả thiết là, 2 con vật có

cùng thể trạng và cùng có những biến đổi các thông số về thể trạng như nhau.
Ví dụ 3, trong nghiên cứu mô hình tái sản xuất mở rộng, Marx xem xét một hệ
thống gồm hai khu vực, Khu vực I, sản xuất tư liệu sản xuất, và Khu vực II, sản xuất
tư liệu tiêu dùng. Marx đặt giả thuyết là Khu vực I có vai trò quyết định đối với Khu
vực II, với giả thiết là các hệ này cô lập với nhau, nghĩa là không có ngoại thương.
Quan hệ giữa giả thuyết và giả thiết trong nghiên cứu
Giả thuyết là nhận định sơ bộ, là kết luận giả định của nghiên cứu, là luận
điểm khoa học mà người nghiên cứu đặt ra. Giả thuyết cần được chứng minh hoặc bác
bỏ;
Còn giả thiết là điều kiện giả định của nghiên cứu. Giả thiết được đặt ra để lý
tưởng hóa điều kiện thực nghiệm. Giả thiết không cần phải chứng minh, nhưng có thể
bị bác bỏ, nếu điều kiện giả định này quá “lý tưởng”, đến mức làm cho kết quả nghiên
cứu trở nên không thể nghiệm đúng được.
Đặt giả thiết nghiên cứu
Giả thiết nghiên cứu là những điều kiện giả định nhằm lý tưởng hóa các điều
kiện để chứng minh giả thuyết.
– 14 –
Giả thiết, tức điều kiện giả định được hình thành bằng cách lược bỏ một số điều
kiện (tức một số biến) không có hoặc có ít mối liên hệ trực tiếp với những luận cứ để
chứng minh giả thuyết nghiên cứu.
3. Biện luận kết quả nghiên cứu
Biện luận kết quả là điều bắt buộc trong nghiên cứu, bởi vì, không bao giờ có
được điều kiện lý tưởng như đã giả định trong giả thiết nghiên cứu. Có hai hướng biện
luận: (1) Hoặc là kết quả thực nghiệm hoàn toàn lý tưởng như trong giả thiết; (2)
Hoặc là kết quả sẽ sai lệch nếu có sự tham gia của các biến đã giả định là không có
trong nghiên cứu.
3.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÀI LIỆU
1. Mục đích nghiên cứu tài liệu
Nghiên cứu tài liệu là để thu thập được những thông tin sau:
• Cơ sở lý thuyết liên quan đến chủ đề nghiên cứu.

• Thành tựu lý thuyết đã đạt được liên quan đến chủ đề nghiên cứu.
• Kết quả nghiên cứu của đồng nghiệp đã công bố trên các ấn phẩm.
• Chủ trương và chính sách liên quan nội dung nghiên cứu.
• Số liệu thống kê.
Trong công việc nghiên cứu tài liệu, người nghiên cứu thường phải làm một số
công việc về phân tích tài liệu và tổng hợp tài liệu.
Nguồn tài liệu cho nghiên cứu có thể rất đa dạng, có thể bao gồm một số thể
loại như tạp chí và báo cáo khoa học trong ngành; tác phẩm khoa học trong ngành,
sách giáo khoa; tạp chí và báo cáo khoa học ngoài ngành; tài liệu lưu trữ; số liệu
thống kê; thông tin đại chúng.
2. Phân tích các nguồn tài liệu
Nguồn tài liệu được phân tích từ nhiều giác độ: chủng loại, tác giả, logic, v.v…
1) Xét về chủng loại
Tạp chí và báo cáo khoa học trong ngành có vai trò quan trọng nhất trong quá
trình tìm kiếm luận cứ cho nghiên cứu, bởi vì nó thuộc chính lĩnh vực nghiên cứu
chuyên ngành và mang tính thời sự cao về chuyên môn.
Tác phẩm khoa học là loại công trình đủ hoàn thiện về lý thuyết, có giá trị cao
về các luận cứ lý thuyết, nhưng không mang tính thời sự.
– 15 –
Tạp chí và báo cáo khoa học ngoài ngành cung cấp thông tin nhiều mặt, có ích
cho việc phát triển chiều rộng của nghiên cứu có thể có những gợi ý độc đáo, thoát
khỏi đường mòn của những nghiên cứu trong ngành.
Tài liệu lưu trữ có thể bao gồm các văn kiện chính thức của các cơ quan nhà
nước, các tổ chức chính trị – xã hội, các hồ sơ thuộc loại thông tin không công bố trên
báo chí.
Thông tin đại chúng gồm các báo chí, bản tin của các cơ quan thông tấn,
chương trình phát thanh, truyền hình, v.v, là một nguồn tài liệu quý, vì nó phản ánh
nhu cầu bức xúc từ cuộc sống. Tuy nhiên, vì thông tin đại chúng thường không có đòi
hỏi chiều sâu nghiên cứu như chuyên khảo khoa học.
Các loại nguồn liệt kê trên đây luôn có thể tồn tại dưới 2 dạng:

Nguồn tài liệu cấp I, gồm những tài liệu nguyên gốc của chính tác giả hoặc
nhóm tác giả viết.
Nguồn tài liệu cấp II, gồm những tài liệu được tóm tắt, xử lý, biên soạn, biên
dịch, trích dẫn, tổng quan từ tài liệu cấp I.
Trong nghiên cứu khoa học, người ta ưu tiên sử dụng tài liệu cấp I. dẫn khoa học
trong các tài liệu phải được xem là tài liệu cấp Chỉ trong trường hợp không thể tìm
kiếm được tài liệu cấp I, người ta mới sử dụng tài liệu cấp II.
Tài liệu dịch, sách dịch, về nguyên tắc phải được xem là tài liệu cấp II. Khi sử
dụng tài liệu dịch phải tra cứu bản gốc.
Trích II, khi muốn trích dẫn phải tra cứu bản gốc. Trích dẫn lại mà không tra
cứu có thể dẫn đến những thông tin sai lệch vì nhiều lý do khác nhau, chẳng hạn,
người trích dẫn hiểu sai ý tác giả, người trích dẫn thêm, bớt, bỏ sót ý tưởng và lời văn
của tác giả, người trích dẫn cố ý trình bày sai ý tác giả, v.v…
2) Xét từ giác độ tác giả
Có thể phân tích các tác giả theo một số đặc điểm sau:
Tác giả trong ngành hay ngoài ngành. Tác giả trong ngành có am hiểu sâu sắc
lĩnh vực nghiên cứu. Tác giả ngoài ngành có thể có cái nhìn độc đáo, khách quan,
thậm chí có thể cung cấp những nội dung liên ngành, liên bộ môn.
Tác giả trong cuộc hay ngoài cuộc. Tác giả trong cuộc được trực tiếp sống
trong sự kiện. Tác giả ngoài cuộc và tác giả ngoài ngành, có thể có cái nhìn khách
quan, có thể cung cấp những gợi ý độc đáo.
Tác giả trong nước hay ngoài nước. Tương tự như trường hợp tác giả trong
cuộc và ngoài cuộc. Tác giả trong nước am hiểu thực tiễn trong đất nước mình, nhưng
không thể có những thông tin nhiều mặt trong bối cảnh quốc tế.
Tác giả đương thời hay hậu thế. Các tác giả sống cùng thời với sự kiện có thể
là những nhân chứng trực tiếp. Tuy nhiên, họ chưa kịp có thời gian để thu thập hết
các thông tin liên quan, hơn nữa, có thể bị những hạn chế lịch sử. Tác giả hậu thế
– 16 –
được kế thừa cả một bề dày tích luỹ kinh nghiệm và nghiên cứu của đồng nghiệp, do
vậy, có điều kiện phân tích sâu sắc hơn những sự kiện.

3. Tổng hợp tài liệu
Tổng hợp tài liệu bao gồm những nội dung sau:
• Bổ túc tài liệu, sau khi phân tích phát hiện thiếu, sai lệch.
• Lựa chọn tài liệu, chỉ chọn những thứ cần để đủ để xây dựng luận cứ.
• Sắp xếp tài liệu, theo lịch đại, tức theo tiến trình của các sự kiện để quan sát
động thái; sắp xếp theo đồng đại, tức lấy trong cùng thời điểm để quan sát
tương quan và sắp xếp theo quan hệ nhân – quả để quan sát tương tác
• Làm tái hiện quy luật. Đây là bước quan trọng nhất trong nghiên cứu tư liệu,
chính là mục đích của tiếp cận lịch sử.
• Giải thích quy luật. Công việc này đòi hỏi sử dụng các thao tác logic để đưa
ra những phán đoán về bản chất các quy luật của sự vật hoặc hiện tượng.
3.3. PHƯƠNG PHÁP PHI THỰC NGHIỆM
Phương pháp phi thực nghiệm (non-empirical method) là tên gọi chung cho một
nhóm phương pháp thu thập thông tin, trong đó người nghiên cứu không gây bất cứ
tác động nào làm biến đổi trạng thái của đối tượng khảo sát và môi trường bao quanh
đối tượng khảo sát. Nhóm phương pháp phi thực nghiệm rất phong phú: quan sát,
phỏng vấn, hội nghị, điều tra.
1. Quan sát
Quan sát là phương pháp được sử dụng cả trong nghiên cứu khoa học tự nhiên,
khoa học xã hội và các nghiên cứu công nghệ.
Trong phương pháp quan sát, người nghiên cứu chỉ quan sát những gì đã và
đang tồn tại, không có bất cứ sự can thiệp nào gây biến đổi trạng thái của đối tượng
nghiên cứu. Tuy nhiên, quan sát có nhược điểm cơ bản của quan sát khách quan là sự
chậm chạp và thụ động.
Các phương pháp quan sát thông dụng được áp dụng trong nhiều bộ môn khoa
học có thể hình dung theo phân loại như sau:
Theo mức độ chuẩn bị, quan sát được phân chia thành quan sát có chuẩn bị trước
và quan sát không chuẩn bị (bất chợt bắt gặp).
Theo quan hệ giữa người quan sát và người bị quan sát, quan sát được phân chia
thành quan sát không tham dự (chỉ đóng vai người ghi chép) và quan sát có tham dự

(khéo léo hoà nhập vào đối tượng khảo sát như một thành viên).
– 17 –
Theo mục đích nắm bắt bản chất đối tượng quan sát, quan sát được phân chia
thành quan sát hình thái, quan sát công năng, quan sát hình thái-công năng.
Theo mục đích xử lý thông tin, quan sát được phân chia thành quan sát mô tả,
quan sát phân tích.
Theo tính liên tục của quan sát, quan sát được phân chia thành quan sát liên tục,
quan sát định kỳ, quan sát chu kỳ, quan sát tự động theo chương trình.
Trong quan sát, người nghiên cứu có thể quan sát bằng nhiều cách trực tiếp xem,
nghe, nhìn; sử dụng các phương tiện ghi âm, ghi hình; sử dụng các phương tiện đo
lường.
2. Phỏng vấn
Phỏng vấn là đưa ra những câu hỏi với người đối thoại để thu thập thông tin.
Thực chất, phỏng vấn tựa như quan sát gián tiếp bằng cách “nhờ người khác quan sát
hộ”, sau đó hỏi lại kết quả quan sát.
Trong phỏng vấn, trước hết cần chọn người đối thoại. Người đối thoại có thể là
người rất am hiểu, ít am hiểu, hoặc hoàn toàn không am hiểu lĩnh vực nghiên cứu. Họ
có thể cho ý kiến về những khía cạnh rất khác nhau.
Sau khi đã lựa chọn được người đối thoại, cần phân tích tâm lý đối tác. Trước
mỗi đối tác, người nghiên cứu cần có những cách tiếp cận tâm lý khác nhau. Chẳng
hạn: người có nhiều hiểu biết về điều tra thường sẵn sàng cộng tác; người nhút nhát
thường không dám trả lời; người có quá khứ phức tạp thường dè dặt; người khôi hài
thường cho những câu trả lời có độ tin cậy thấp; người ba hoa thường hay đưa vấn đề
đi lung tung; người có bản lĩnh tự tin thái quá thường rất kín kẽ, biết dấu một cách
nhất quán mọi suy nghĩ.
Trong phỏng vấn người ta chia ra các loại, như phỏng vấn có chuẩn bi trước̣;
phỏng vấn không chuẩn bị trước; trao đổi trực tiếp; trao đổi qua điện thoại; có loại
phỏng vấn để biết;có loại phỏng vấn sâu để khai thác chi tiết hơn về một chủ đề.
Tuy nhiên, dù phỏng vấn thế nào, thì cách đặt câu hỏi cũng là điều cần đặc biệt
coi trọng, vì nó có ảnh hưởng quyết định tới kết quả phỏng vấn. Có mấy điểm lưu ý

trong cách đặt câu hỏi:
Nên hỏi vào việc người ta làm, tránh đòi hỏi người ta đánh giá hoặc hỏi vào
những vấn đề nhạy cảm.
3. Hội nghị
Nội dung phương pháp hội nghị là nêu câu hỏi trước một nhóm chuyên gia để
nghe họ tranh luận, phân tích. Đặc điểm chung của hội nghị khoa học là nêu vấn đề,
thảo luận, ghi nhận mà không kết luận dưới hình thức một nghị quyết. Ưu điểm của
phương pháp hội nghị là được nghe những ý kiến phản bác nhau. Song, nhược điểm
của phương pháp hội nghị là ý kiến hội nghị thường hay bị chi phối bởi những người
có tài hùng biện và những người có địa vị xã hội cao tương đối so với nhóm.
– 18 –
Để khắc phục mặt nhược điểm, người ta thường dùng phương pháp tấn công não
(brainstorming), là phương pháp do A. Osborn (Mỹ) khởi xướng. Người tổ chức tấn
công não cần tạo bầu không khí tự do tư tưởng, thoải mái tinh thần, không ai được thể
hiện khích lệ, tán thưởng hoặc châm biếm, chỉ trích.
Để nâng cao hiệu quả tấn công não, người ta tấn công não phân nhóm bằng cách
chia nhỏ nhóm để tấn công não, lấy kết quả tấn công não nhóm trước làm dữ liệu để
tấn công não cho nhóm sau. Gọi đó là phương pháp Delphi.
1) Các loại hội nghị
Tuỳ tính chất của việc đưa một nội dung được thảo luận mà có nhiều loại hội
nghị khoa học được tổ chức:
Bàn tròn (roundtable), là hình thức sinh hoạt khoa học thường xuyên và thẳng
thắn nhất của đề tài nhằm thảo luận và tranh luận những vấn đề khoa học.
Hội thảo khoa học, là cụm từ được sử dụng tương đương với seminar trong
tiếng Anh, là loại hội nghị khoa học không lớn với mục đích đưa ra một số vấn đề
khoa học nhất định để thảo luận, tranh luận.
Còn một loại hội thảo khác, tiếng Anh gọi là symposium. Đó là một loại
seminar, nhưng là loại hội thảo được tổ chức trong nhiều hội thảo kế tục nhau, không
định kỳ, để thảo luận những vấn đề gần nhau hoặc giống nhau, nhưng đang còn cần
tiếp tục thảo luận.

Lớp huấn luyện (tiếng Anh: workshop hoặc school workshop, cũng gọi là
school seminar, tiếng Nga: shkolư-seminar), là một sinh hoạt khoa học, trong đó,
những chuyên gia có uy tín được mời trình bày các chuyên đề. Người tham gia được
mời đến chủ yếu là để học tập, song cũng có thể được yêu cầu thực hiện một số sinh
hoạt khác, chẳng hạn, trình bày báo cáo kinh nghiệm để hiểu sâu sắc thêm vấn đề
được trình bày tại lớp huấn luyện; thảo luận để nắm vững và biết cách vận dụng
những chuyên đề đã được nghe.
Hội nghị khoa học, là cụm từ được sử dụng tương đương với conference trong
tiếng Anh, là loại seminar đa chủ đề, được tổ chức khoảng từ 3 đến 5 năm một lần,
với số lượng tới hang trăm người, gồm các nhà nghiên cứu, các nhà công nghệ và các
nhà quản lý. Ngoài ra cũng có thể có các nhà hoạt động xã hội, các tổ chức xã hội,
các nhà lãnh đạo hoặc các chính khách lớn. Tại hội nghị có một số báo cáo được chỉ
định. Có thể có những phiên họp toàn thể, cũng có thể chia thành các phân ban
(session) để thảo luận sâu một số chuyên đề.
Hội nghị khoa học thường có nhiều mục tiêu, như tổng kết một giai đoạn nghiên
cứu; ra tuyên bố về một hướng nghiên cứu; tập hợp lực lượng cho những nghiên cứu
mới và quan trọng.
Tại hội nghị khoa học có một số báo cáo được chỉ định trước. Có thể có những
phiên họp toàn thể, cũng có thể chia thành các phân ban (session) để thảo luận một số
– 19 –
chuyên đề. Phân ban cũng có thể được tổ chức dưới dạng các seminar, workshop,
dialogue, symposium, v.v…
Tiến trình hội nghị. Thông thường hội nghị khoa học thường đơn giản, ít hoặc
không có các nghi lễ ngoại giao. Sau phần các thủ tục khai mạc là đến các báo cáo.
Công việc liên quan báo cáo thường bao gồm:
• Thuyết trình của báo cáo viên
• Câu hỏi của hội nghị và trả lời của tác giả.
• Bình luận của các thành viên hội nghị và của chủ toạ.
• Bổ sung của các thành viên.
• Khuyến nghị của các thành viên đối với báo cáo.

• Ghi nhận của chủ toạ về những ý kiến đã và chưa nhất trí.
3) Kỷ yếu khoa học
Kỷ yếu khoa học là ấn phẩm công bố các công trình, các bài thảo luận trong
khuôn khổ các hội nghị khoa học hoặc trong một giai đoạn hoạt động của một tổ chức
khoa học. Kỷ yếu được công bố nhằm mục đích ghi nhận hoạt động của một hội nghị
hoặc một tổ chức, tạo cơ hội để người nghiên cứu công bố kết quả nghiên cứu và thiết
lập quan hệ với đồng nghiệp.
Cơ cấu chung của kỷ yếu có thể bao gồm:
Phần I. PHẦN BÌA
Bìa chính
• Tên hội nghị (Kỷ yếu hội nghị)
• Địa danh, ngày, tháng, năm tổ chức hội nghị.
Bìa lót
• Bìa lót là một trang trắng, chỉ ghi một-hai dòng chữ tên của kỷ yếu.
Bìa phụ
• Tên hội nghị (Kỷ yếu hội nghị)
• Địa danh, ngày, tháng, năm tổ chức hội nghị.
• Cơ quan chủ trì/Cơ quan đăng cai/Cơ quan tài trợ/Cơ quan đỡ đầu.
• Ban tổ chức/Ban điều hành
Phần II. PHẦN HỒ SƠ TỔ CHỨC HỘI NGHỊ
Hồ sơ tổ chức hội nghị
– 20 –
• Giấy triệu tập lần I, lần II
• Thư từ của các cơ quan hữu quan: Cơ quan đỡ đầu, cơ quan tài trợ, cơ quan
cam kết tham gia
Chương trình hội nghị
• Chương trình chính thức
• Chương trình các chuyên đề hoặc các phân ban
• Các chương trình tự chọn
Danh sách thành viên:

• Thành viên chính thức
• Thành viên dự thính
• Khách mời
Phần nghi thức:
• Lời khai mạc
• Phát biểu ý kiến của các nhân vật quan trọng
• Phát biểu ý kiến của các khách mời
Phần III. PHẦN CÁC BÁO CÁO VÀ THÔNG BÁO KHOA HỌC
Báo cáo khoa học:
• Báo cáochính và các báo cáo chuyên đề/báo cáo phân ban
• Tóm tắt các báo cáo không kịp gửi trước hoặc không có điều kiện in toàn văn
Thông báo khoa học
• Các thông báo có ý nghĩa chung
• Các thông báo theo chuyên đề/thông báo phân ban
Phần IV. PHẦN PHỤ ĐÍNH
• Biên bản hội nghị
• Thư ghi nhớ sau hội nghị
• Các văn kiện chuyên khảo sau hội nghị
• Thoả thuận chung về hợp tác sau hội nghị (nếu có)
• Địa chỉ các thành viên tham gia hội nghị
– 21 –
4). Điều tra bằng bảng hỏi
Điều tra bằng bảng hỏi vốn là phương pháp của xã hội học, nhưng đã được áp
dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực. Về mặt kỹ thuật của phương pháp điều tra bằng
bảng hỏi có ba loại công việc phải quan tâm: chọn mẫu, thiết kế bảng câu hỏi và xử lý
kết quả.
Thứ nhất: Chọn mẫu
Việc chọn mẫu phải đảm bảo vừa mang tính ngẫu nhiên, vừa mang tính đại diện,
tránh chọn mẫu theo định hướng chủ quan của người nghiên cứu.
Thứ hai: Thiết kế bảng câu hỏi

Có hai nội dung được quan tâm trong khi thiết kế bảng câu hỏi: (1) Các loại câu
hỏi; và (2) Trật tự logic của các câu hỏi. Một số loại câu hỏi thông dụng trong các
cuộc điều tra được trình bày trong Bảng 2:
Bảng 2(a) Câu hỏi kèm phương án trả lời “có” và “không”.
1. Anh/Chị đã từng tham gia nghiên cứu khoa học
• Nếu câu trả lời là không, xin trả lời câu 2
• Nếu câu trả lời là có, xin trả lời từ câu 3
 Có  Không
Bảng 2(b) Câu hỏi kèm nhiều phương án trả lời
2.
Nếu câu trả lời là không, xin
cho biết lý do
 Không thuộc cơ quan khoa học
 Cơ quan không có đề tài
 Không có cơ hội nghiên cứu
 Không quan tâm
3.
Nếu câu trả lời là có, xin cho
biết Anh/Chị nghiên cứu khoa
học trong trường hợp nào?
 Làm theo đề tài của cơ quan
 Ký hợp đồng với một đối tác
 Theo đề tài của thày/cô giáo
 Tự làm theo sở thích
Bảng 2(c) Câu hỏi kèm phương án trả lời có trọng số
4. Anh/Chị có đồng tình với ý kiến cho rằng
việc cấp phát tài chính cho khoa học còn
nhiều bất hợp lý hay không?
 Có  Không
5. Nếu có, thì khó khăn đó là gì. Xin cho biết mức độ bằng việc cho điểm

vào các phương án trả lời, trong đó điểm cao nhất thể hiện mức độ khó
khăn nhất:
5.1. Kinh phí không đủ 1 2 3 4 5
5.2. Cấp phát không kịp thời 1 2 3 4 5
5.3. Chế độ quyết toán không phù hợp
đặc điểm của nghiên cứu khoa học
1 2 3 4 5
Bảng 2(d) Những câu hỏi mở, để người điền phiếu trả lời tùy ý
6. Nếu có thể, xin Anh/Chị đề xuất một số ý kiến về các biện pháp chính sách
mà Anh/Chị cho là cần thiết nhất cho nghiên cứu khoa học:
– 22 –

Các loại câu hỏi phải đảm bảo khai thác cao nhất ý kiến của cá nhân từng người
được hỏi.
Tốt nhất, phải đặt câu hỏi vào những công việc cụ thể liên quan đến cá nhân mỗi
người, chẳng hạn: “Thu nhập của bạn” hoặc “Tỉ lệ phần trăm thu nhập dành cho bữa
ăn trong gia đình?” Tránh đặt những câu hỏi yêu cầu người ta đánh giá về người
khác, chẳng hạn, “Nhân viên ở đây có yên tâm công tác không?”, hoặc những câu hỏi
ở tầm quá khái quát, chẳng hạn: “Chính sách đối với giáo viên hiện nay có hợp lý
không?”.
Ngoài ra, một bộ phận nhất thiết không thể thiếu, đó là phần phân tích cơ cấu xã
hội. Phần này giúp người nghiên cứu phân tích ý kiến của các tầng lớp xã hội khác
nhau. Bảng 13 là ví dụ về một mẫu để phát hiện cơ cấu xã hội.
Cách tổ chức câu hỏi vừa mang tính kĩ thuật, vừa mang tính nghệ thuật vận
dụng các phép suy luận logic trong các cuộc điều tra.
Thứ ba: Xử lý kết quả điều tra
Kết quả điều tra được xử lí dựa trên cơ sở thống kê toán. Có nhiều cách tiếp
cận. Hoặc là mỗi người nghiên cứu tự học cách xử lí toán học, nếu cảm thấy tự mình
hứng thú. Song cũng có thể tìm kiếm sự cộng tác của các đồng nghiệp về thống kê
toán, hoặc những chuyên gia chuyên về các phương pháp xã hội học.

Hiện nay chương trình xử lí thống kê trên máy đã được sử dụng một cách phổ
biến. Đó là chương trình SPSS (Statistic Package for Social Studies). Chương trình
này sẽ giúp giảm nhẹ rất nhiều công việc xử lí các kết quả điều tra.
3.4. PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM
1. Khái niệm chung
Thực nghiệm là một phương pháp thu thập thông tin được thực hiện bởi những
quan sát trong điều kiện gây biến đổi đối tượng khảo sát và môi trường xung quanh
đối tượng khảo sát một cách có chủ định. Phương pháp thực nghiệm được áp dụng
phổ biến không chỉ trong nghiên cứu tự nhiên, kỹ thuật, y học, mà cả trong xã hội và
các lĩnh vực nghiên cứu khác.
Bằng việc thay đổi các tham số, người nghiên cứu có thể tạo ra nhiều cơ hội thu
được những kết quả mong muốn, như:
• Tách riêng từng phần thuần nhất của đối tượng nghiên cứu để quan sát.
• Biến đổi môi trường của đối tượng nghiên cứu.
• Rút ngắn được thời gian tiếp cận trong quan sát.
– 23 –
• Tiến hành những thực nghiệm lặp lại nhiều lần để kiểm tra lẫn nhau.
• Không bị hạn chế về không gian và thời gian.
Dù phương pháp thực nghiệm có những ưu điểm như vậy, nhưng nó không thể
áp dụng trong hàng loạt trường hợp, chẳng hạn, nghiên cứu lịch sử, địa lý, địa chất,
khí tượng, thiên văn. Những lĩnh vực nghiên cứu này chỉ có thể thực hiện bằng quan
sát; còn nghiên cứu lịch sử, văn học, v.v lại chỉ có thể thực hiện bằng phương pháp
nghiên cứu tài liệu.
2. Phân loại thực nghiệm
Quá trình thực nghiệm có thể được tiến hành ở nhiều môi trường khác nhau tuỳ
theo yêu cầu của nghiên cứu:
Tùy nơi thực nghiệm, thực nghiệm được chia thành:
1) Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm
2) Thực nghiệm tại hiện trường
3) Thực nghiệm trong quần thể xã hội

Tùy mục đích quan sát thực nghiệm được phân loại thành:
• Thực nghiệm thăm dò được tiến hành để phát hiện bản chất của sự vật hoặc
hiện tượng. Loại thực nghiệm này được sử dụng để nhận dạng vấn đề và xây
dựng giả thuyết.
• Thực nghiệm kiểm tra được tiến hành để kiểm chứng các giả thuyết.
• Thực nghiệm song hành là những thực nghiệm trên các đối tượng khác nhau
trong những điều kiện được khống chế giống nhau.
• Thực nghiệm đối nghịch được tiến hành trên hai đối tượng giống nhau với
các điều kiện ngược nhau, nhằm quan sát kết quả của các phương thức tác
động của các điều kiện thí nghiệm trên các thông số của đối tượng nghiên
cứu.
• Thực nghiệm so sánh là thực nghiệm được tiến hành trên hai đối tượng khác
nhau, trong đó có một trong hai được chọn làm đối chứng nhằm tìm chỗ khác
biệt giữa các phương pháp, giữa các hậu quả so với đối chứng.
Tùy diễn trình thực nghiệm được phân loại thành:
• Thực nghiệm cấp diễn, để xác định tác động hoặc ảnh hưởng của các tác
nhân lên đối tượng nghiên cứu trong một thời gian ngắn.
• Thực nghiệm trường diễn, để xác định sự tác dụng của các giải pháp lên đối
tượng nghiên cứu lâu dài, liên tục.
– 24 –
• Ngoài ra còn thực nghiệm bán cấp diễn như một mức độ trung gian giữa hai
phương pháp thực nghiệm nói trên.
Trong thực nghiệm, người nghiên cứu phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
• Đề ra những chuẩn đánh giá và phương thức đánh giá.
• Giữ ổn định các yếu tố không bị người nghiên cứu khống chế.
• Mẫu được lựa chọn trong thực nghiệm phải mang tính phổ biến để cho kết
quả thực nghiệm được khách quan.
• Đưa ra một số giả thiết thực nghiệm để loại bớt những yếu tố tác động phức tạp.
3. Các loại thực nghiệm
Xét trên quan điểm truyền thống của phương pháp thực nghiệm trong nghiên

cứu khoa học, chúng tôi tạm phân chia 3 nhóm phương pháp thực nghiệm: Thực
nghiệm “Thử và Sai”; Thực nghiệm Heuristic và Thực nghiệm trên mô hình.
1) Thực nghiệm thử và sai
Nội dung phương pháp thử và sai (trial-and-error method) đúng như tên gọi: đó
là “thử”; thử xong thấy “sai”; tiếp đó “thử lại”; lại “sai”; lại “thử”, cho đến khi đạt
được kết quả cuối cùng, là hoàn toàn đúng, hoặc hoàn toàn sai so với giả thuyết thực
nghiệm.
2) Thực nghiệm Heuristic
Phương pháp “thử và sai” thường tốn kém nhiều thời gian và hiệu quả thấp. Vì
vậy, người ta tìm kiếm những phương pháp có hiệu quả hơn. Một trong số đó là
phương pháp Heuristic. Bản chất Heuristic là một phương pháp thử và sai theo nhiều
bước, mỗi bước chỉ thực nghiệm trên một mục tiêu. Nội dung có thể tóm tắt như sau:
• Chia thực nghiệm thành nhiều bước, mỗi bước chỉ đưa ra một mục tiêu thực
nghiệm.
• Phát hiện thêm các điều kiện phụ cho mỗi bước thực nghiệm. Như vậy, công
việc thực nghiệm trở nên sáng tỏ hơn, giảm bớt mò mẫm.
3.5. PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM
Trắc nghiệm là một phương pháp bán thực nghiệm.
Nói trắc nghiệm là một phương pháp bán thực nghiệm là vì, sự vật không bị bất
cứ tác động nào làm biến đổi trạng thái, mà chỉ có các tình huống của môi trường hoạt
động của sự vật bị thay đổi. Qua trắc nghiệm, người nghiên cứu nhận biết được chất
lượng của đối tượng khảo sát. Trắc nghiệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực nghiên
cứu. Chẳng hạn:
– 25 –
– Nghiên cứu cơ bản, là những nghiên cứu nhằm mục đích phát hiện thuộc tính, cấu trúc, hành động những sự vật. Kết quả nghiên cứu cơ bản hoàn toàn có thể là những tò mò, phát hiện, ý tưởng, dẫn tới hình thành một hệ thống lý thuyết mới – Nghiên cứu ứng dụng, là sự vận dụng quy luật được phát hiện từ nghiên cứucơ bản để lý giải một sự vật hoặc tạo ra những nguyên tắc mới về những giải pháp. Y. De Hemptinne : Questions-clé des politiques scientifiques et technologiques nationales, UNESCO, Paris, 1981. – 2 — Triển khai, còn gọi là tiến hành thực nghiệm, là sự vận dụng những triết lý đểđưa ra những hình mẫu ( prototype ) với những tham số khả thi về kỹ thuật. Hoạt độngtriển khai gồm 3 quá trình : + Tạo vật mẫu ( prototype ), là quy trình tiến độ thực nghiệm nhằm mục đích tạo ra được sảnphẩm, chưa chăm sóc đến tiến trình sản xuất. + Tạo công nghệ tiên tiến còn gọi là quy trình tiến độ “ làm pilot ”, là quá trình tìm kiếm và thửnghiệm công nghệ tiên tiến để sản xuất ra loại sản phẩm theo mẫu vừa thành công xuất sắc trong giai đoạnthứ nhất. + Sản xuất thử loạt nhỏ, còn gọi là sản xuất “ Série 0 ” ( Loạt 0 ). Đây là giaiđoạn kiểm chứng độ đáng tin cậy của công nghệ tiên tiến trên quy mô nhỏ. Trên thực tiễn, trong một đề tài hoàn toàn có thể chỉ sống sót một loại nghiên cứu, ví dụ điển hình, nghiên cứu về một biến cố xã hội, một thực trạng công nghệ tiên tiến ; cũng hoàn toàn có thể nghiên cứunhững nguyên do về một nguyên do của sự suy thoái và khủng hoảng kinh tế tài chính ; cũng hoàn toàn có thể là nghiên cứuvề một giải pháp kỹ thuật hoặc giải pháp xã hội, tuy nhiên cũng hoàn toàn có thể sống sót cả một sốloại nghiên cứu nào đó. Xin quan tâm : “ D ” ở đây không dịch là “ Phát triển ”, do tại tuy viết là “ D ”, nhưng thực ra thuật ngữ này có têngọi không thiếu là “ Technical Experimental Development ”, về sau cũng gọi là “ Technological ExperimentalDevelopment ”, gọi tắt là “ Technological Development ” hoặc “ Development ”. Năm 1959, Giáo sư Tạ QuangBừu đặt thuật ngữ tiếng Việt là “ Triển khai kỹ thuật ”, gọi tắt là “ Triển khai ”. Một số văn bản gọi “ D ” là “ Pháttriển ” là không đúng. Sự khác nhau là ở chỗ “ Phát triển công nghệ tiên tiến ” “ Development of Technology ” là sự “ Mởmang ” công nghệ tiên tiến, hoàn toàn có thể cả chiều rộng ( Extensive Development ) lẫn chiều sâu ( Intensive Development ). Còn “ Triển khai ” là “ Thực nghiệm một triết lý khoa học cho nó thành công nghệ ”, mà mẫu sản phẩm rất đặc trưng củanó gồm 3 loại : “ Prototype ”, “ Quy trình công nghệ tiên tiến ” và “ Sản xuất Série 0 ”. Thuậ ̣ t ngữ này người Trung Quốcgoi là “ Khai phát ”, người Nga gọi là “ Razrabotka ”. Họ đều không dịch là “ Phát triển ”. Chính sách tài chínhcũng khác nhau cơ bản : “ Triển khai ” được cấp vốn theo nguồn “ Nghiên cứu và Triển khai ” ( R&D ), bán sảnphẩm “ Triển khai ” được miễn thuế. Còn “ Phát triển ” thì phải phải dùng vốn vay và phải chịu thuế. – 3 – CHƯƠNG IITRÌNH TỰ LOGIC CỦA NGHIÊN CỨU KHOA HỌCNghiên cứu khoa học, bất kể trong nghiên cứu khoa học tự nhiên, khoa học xãhội hoặc khoa học công nghệ tiên tiến đều tuân theo một trật tự logic xác lập, gồm có cácbước sau đây : 1. Phát hiện yếu tố ( Problem ), để lựa chọn chủ đề ( topic ) nghiên cứu2. Xác định tiềm năng ( objective ) nghiên cứu3. Nhận dạng câu hỏi ( question ) nghiên cứu4. Đưa vấn đề, tức giả thuyết ( hypothesis ) nghiên cứu5. Lựa chọn những phương pháp ( methods ) chứng tỏ giả thuyết6. Tìm kiếm những luận cứ ( evidence ) để chứng tỏ luận điểm2. 1. LỰA CHỌN CHỦ ĐỀ VÀ ĐẶT TÊN ĐỀ TÀIĐề tài là một hình thức tổ chức triển khai nghiên cứu khoa học, trong đó có một nhómngười cùng triển khai một trách nhiệm nghiên cứu. Đề tài được lựa chọn từ một sự kiệnkhoa học. 1. Phát hiện yếu tố ( Problem ) nghiên cứuPhát hiện yếu tố nghiên cứu ( Research Problem ) để xác lập chủ đề nghiên cứu ( Research Topics ). Trên cơ sở đó đặt tên đề tài. Vấn đề nghiên cứu được phát hiện nhờ những sự kiện thường thì, trong đó chứađựng những xích míc giữa triết lý vốn sống sót và trong thực tiễn. Loại sự kiện như thếđược gọi là sự kiện khoa học ( Scienctific Fact ). Một số thủ pháp để phát hiện vấn đềnghiên cứu hoàn toàn có thể là : 1 ) Tìm kiếm nguyên do của những sự không tương đồng trong tranh luận khoa học2 ) Nhận dạng những vướng mắc trong thực tiễn, mà những triết lý hiện hữu khôngcắt nghĩa được. 3 ) Lắng nghe quan điểm của những người không biết gì về nghành nghề dịch vụ mà mình quan tâm4 ) Nghĩ ngược lại ý niệm thông thường5 ) Những câu hỏi hoặc ý nghĩ bất chợt của người nghiên cứu. – 4 – 2. Xác định trách nhiệm nghiên cứuNhiệm vụ nghiên cứu là một chủ đề mà người nghiên cứu ( hoặc nhóm nghiêncứu ) thực thi. Nhiệm vụ nghiên cứu hoàn toàn có thể Open trước hoặc sau yếu tố nghiêncứu. Có nhiều nguồn trách nhiệm : Chủ trương tăng trưởng kinh tế tài chính và xã hội của vương quốc được ghi trong những vănkiện chính thức của những cơ quan có thẩm quyền. Từ chủ trương tăng trưởng kinh tế tài chính – xãhội, mà người nghiên cứu đi sâu nghiên cứu và phân tích để phát hiện “ yếu tố nghiên cứu ” Nhiệm vụ được giao từ cơ quan cấp trên của cá thể hoặc tổ chức triển khai nghiên cứu. “ Cấp trên giao ” là xuất phát từ nhu yếu kinh tế tài chính – xã hội. Căn cứ trách nhiệm cấp trêngiao, người nghiên cứu mới nghiên cứu và phân tích xem, “ Vấn đề nghiên cứu ” nằm ở đâu ? Nhiệm vụ được nhận từ hợp đồng với những đối tác chiến lược. Đối tác hoàn toàn có thể là những doanhnghiệp hoặc tổ chức triển khai xã hội hoặc cơ quan chính phủ nước nhà. Thông thường, những đối tác chiến lược có thểchủ động nêu ra những “ yếu tố nghiên cứu ” để ký hợp đồng, tuy nhiên cũng hoàn toàn có thể họ chỉquan tâm đến nhu yếu nghiên cứu của họ, mà không hề chăm sóc tới cái “ vấn đềnghiên cứu ” theo nghĩa khoa học mà người nghiên cứu sẽ phải nghiên cứu và phân tích sau này. Nhiệm vụ do người nghiên cứu tự đặt cho mình xuất phát từ sáng tạo độc đáo khoa họccủa bản thân người nghiên cứu. Việc lựa chọn đề tài hoàn toàn có thể dựa trên những địa thế căn cứ được xem xét theo những cấp độsau : 1 ) Đề tài có ý nghĩa khoa học hay không ? 2 ) Đề tài có mang một ý nghĩa thực tiễn nào không ? 3 ) Đề tài có cấp thiết phải nghiên cứu hay không ? 4 ) Có đủ điều kiện kèm theo bảo vệ cho việc triển khai xong đề tài không ? 5 ) Và đề tài có tương thích sở trường thích nghi không ? 3. Mục tiêu nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu là những nội dung cần được xem xét và làm rõ trongnghiên cứu. Mục tiêu vấn đáp thắc mắc “ Nghiên cứu cái gì ? ” 4. Phạm vi nghiên cứuPhạm vi nghiên cứu luôn được số lượng giới hạn trong một khuôn khổ nhất định : 1 ) Phạm vi về nội dung nghiên cứu. 2 ) Phạm vi về khoảng trống của sự vật cần chăm sóc trong nghiên cứu, đơn cử ởđây là số lượng giới hạn khoanh vùng phạm vi mẫu khảo sát3 ) Phạm vi thời hạn của tiến trình của sự vật, khoanh vùng phạm vi nội dung nghiên cứu. – 5 – 5. Mẫu khảo sát trong quy trình nghiên cứu. Mẫu khảo sát hoàn toàn có thể được chọn trong : một khoảng trống, một khu vực hànhchính, một quy trình, một hoạt động giải trí, một hội đồng. 6. Đặt tên đề tàiTên đề tài phải phản ánh cô đọng nhất nội dung nghiên cứu của đề tài. Tên mộtđề tài khoa học khác với tên của tác phẩm văn học hoặc những bài luận chiến. Tênmột tác phẩm văn học hoặc một bài luận chiến hoàn toàn có thể mang những ý ẩn dụ sâu xa. Còn tên của một đề tài khoa học thì chỉ được mang một nghĩa, không được phép hiểuhai hoặc nhiều nghĩa. Để làm được điều này, người nghiên cứu cần quan tâm một vàinhược điểm cần tránh khi đặt tên đề tài : Thứ nhất, tên đề tài không nên đặt bằng những cụm từ có độ bất định cao vềthông tin. Ví dụ : • Về ; Thử bàn về ; Góp bàn về • Suy nghĩ về ; Vài tâm lý về ; Một số tâm lý về • Một số giải pháp ; Một số giải pháp về • Tìm hiểu về ; Bước đầu tìm hiểu và khám phá về ; Thử tìm hiểu và khám phá về • Nghiên cứu về ; Bước đầu nghiên cứu về ; Một số nghiên cứu về • Vấn đề ; Một số yếu tố ; Những yếu tố vềThứ hai, cũng cần hạn chế lạm dụng dụng những cụm từ chỉ mục tiêu để đặt tênđề tài. Cụm từ chỉ mục tiêu là những cụm từ mở màn bởi những từ để, nhằm mục đích, gópphần, v.v Nói lạm dụng, nghĩa là sử dụng một cách thiếu xem xét, sử dụng tuỳ tiệntrong những trường hợp không chỉ rõ được nội dung trong thực tiễn cần làm, mà chỉ đưanhững cụm từ chỉ mục tiêu để che lấp những nội dung mà bản thân tác giả cũng chưacó được một sự tưởng tượng rõ ràng. Ví dụ : • ( ) nhằm mục đích nâng cao chất lượng, • ( ) để tăng trưởng năng lượng cạnh tranh đối đầu. • ( ) góp thêm phần vào, Sẽ là không đạt nhu yếu khi đặt tên đề tài gồm có hàng loạt loại cụm từ vừanêu trên đây, ví dụ : ” Thử bàn về một số ít giải pháp trong bước đầu nhằm mục đích nâng cao chấtlượng loại sản phẩm góp thêm phần tạo ra năng lượng cạnh tranh đối đầu trên thị trường ” Thứ ba, cũng sẽ là không đạt nhu yếu khi đặt những tên đề tài có dạng như : “ Lạm phát – Hiện trạng, Nguyên nhân, Giải pháp ”. Đương nhiên, khi nghiên cứu đềtài “ Lạm phát ”, tác giả nào chẳng phải tìm hiểu và khám phá thực trạng, nghiên cứu và phân tích nguyên do vàđề xuất giải pháp chống lạm phát kinh tế. Tuy nhiên loại tên đề tài này còn có một lỗi hết – 6 – sức nghiêm trọng, nếu ta diễn giải tên đề tài này là đề tài nghiên cứu về 3 nội dung : “ Hiện trạng lạm phát kinh tế ”, “ Nguyên nhân lạm phát kinh tế ” và “ Giải pháp lạm phát kinh tế ”. 2.2. XÂY DỰNG LUẬN ĐIỂM KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀILuận điểm khoa học là một phán đoán về thực chất sự vật. Quá trình thiết kế xây dựng vấn đề khoa học gồm có những bước : Phát hiện câu hỏinghiên cứu ; Đặt giả thuyết nghiên cứu. 1. Câu hỏi nghiên cứuCâu hỏi nghiên cứu ( Research Question ) là câu hỏi được đặt ra khi ngườinghiên cứu đứng trước xích míc giữa tính hạn chế của tri thức khoa học hiện có vớiyêu cầu tăng trưởng tri thức đó ở trình độ cao hơn. Phát hiện được yếu tố nghiên cứu làgiai đoạn quan trọng trên bước đường tăng trưởng nhận thức. Tuy nhiên, nêu câu hỏi lại chính là việc làm khó nhất so với những bạn đồngnghiệp trẻ tuổi : nhiều bạn sinh viên mới bắt tay làm nghiên cứu khoa học luôn phảiđặt những câu hỏi với thày cô đại loại như “ nghiên cứu một đề tài khoa học nên bắtđầu từ cái gì ”. Câu vấn đáp trong trường hợp này luôn là : “ Hãy mở màn từ đặt câu hỏinghiên cứu ”. Trong nghiên cứu khoa học luôn sống sót hai lớp câu hỏi : Câu hỏi về thực chất sựvật cần tìm kiếm, và câu hỏi về phương pháp nghiên cứu để làm sáng tỏ, về lý thuyếtvà về thực tiễn những câu hỏi thuộc lớp thứ nhất. Câu hỏi nghiên cứu đặt cho người nghiên cứu mối chăm sóc : ” Cần chứng minhđiều gì ? “. Như vậy, thực ra việc đưa ra được những câu hỏi sẽ tạo cơ sở cho việctìm kiếm câu vấn đáp. Tương tự như phát hiện yếu tố nghiên cứu, nhưng câu hỏi nghiên cứu nhằm mục đích chitiết hóa yếu tố nghiên cứu. Cũng hoàn toàn có thể sử dụng những phương pháp tựa như để đặtcâu hỏi nghiên cứu. Có thể nêu đơn cử hơn như sau : Nhận dạng những sự không tương đồng trong tranh luận khoa họcKhi hai đồng nghiệp bất đồng ý kiến, hoàn toàn có thể là họ đã nhận ra những mặt yếu củanhau. Đây là thời cơ thuận tiện để người nghiên cứu nhận dạng những yếu tố mà cácđồng nghiệp đã phát hiện. Nhận dạng những vướng mắc trong hoạt động giải trí thực tếNhiều khó khăn vất vả phát sinh trong hoạt động giải trí sản xuất, hoạt động giải trí xã hội, không thểsử dụng những triết lý hiện hữu để lý giải, hoặc những giải pháp thường thì đểxử lý. Thực tế này đặt trước người nghiên cứu những câu hỏi phải vấn đáp, tức xuấthiện yếu tố, yên cầu người nghiên cứu phải yêu cầu những giải pháp mới. Robert K. Yin : Case study research, Design and Methods, Second Edition, Applied Social Research MethodsSeries, Volume 5, SAGE Publications, London, 1994, pp. 5-8. – 7 – Nghĩ ngược lại ý niệm thông thườngXét ví dụ, ví dụ điển hình, trong khi nhiều người cho rằng trẻ nhỏ suy dinh dưỡng làdo những bà mẹ kém hiểu biết về dinh dưỡng trẻ nhỏ, thì có người đã nêu câu hỏi ngượclại : ” Các bà mẹ là tri thức chắc như đinh phải hiểu biết về dinh dưỡng trẻ nhỏ hơn những bàmẹ nông dân. Vậy tại sao tỷ suất trẻ suy dinh dưỡng trong nhóm con cháu những bà mẹ là tríthức lại cao hơn trong nhóm những bà mẹ là nông dân ? ” Lắng nghe lời phàn nàn của những người không am hiểuĐôi khi nhiều câu hỏi nghiên cứu Open nhờ lời phàn nàn của người hoàntoàn không am hiểu nghành mà người nghiên cứu chăm sóc. Chẳng hạn, sáng tạo xeđiện của Edison chính là tác dụng giật mình sau khi nghe được lời phàn nàn của một bàgià trong đêm khánh thành mạng đèn điện chiếu sáng tiên phong ở một thị xã ngoại ôcủa thành phố Thành Phố New York : ” Cái ông Edison làm ra được đèn điện mà không làm đượccái xe điện cho người già đi đây đi đó “. Phát hiện mặt mạnh, mặt yếu trong nghiên cứu của đồng nghiệpMặt mạnh trong vấn đề, luận cứ, phương pháp của đồng nghiệp sẽ được sửdụng làm luận cứ hoặc phương pháp để chứng tỏ vấn đề của mình ; còn mặt yếuđược sử dụng để phát hiện yếu tố ( tức đặt câu hỏi nghiên cứu ), từ đó kiến thiết xây dựng luậnđiểm cho nghiên cứu của mình. Những câu hỏi bất chợt Open không phụ thuộc vào nguyên do nàoĐây là những câu hỏi Open ở người nghiên cứu do bất chợt quan sát đượcmột sự kiện nào đó, cũng hoàn toàn có thể Open rất ngẫu nhiên, không nhờ vào bất kỳ lýdo, thời hạn hoặc khoảng trống nào. 2. Giả thuyết nghiên cứuGiả thuyết nghiên cứu ( tiếng Anh là Hypothesis ), là một Tóm lại giả định vềbản chất sự vật, do người nghiên cứu đưa ra để chứng tỏ hoặc bác bỏ. Xét trongquan hệ giữa giả thuyết với câu hỏi nghiên cứu, thì giả thuyết chính là “ câu vấn đáp ” vào “ câu hỏi ” nghiên cứu đã nêu ra. Người nghiên cứu cần địa thế căn cứ vào phân loại nghiên cứu để đưa ra những giảthuyết tương thích với thực chất của nghiên cứu khoa học. Theo tính năng của nghiên cứu khoa học, giả thuyết được phân loại thành giảthuyết miêu tả, giả thuyết lý giải, giả thuyết dự báo, giả thuyết giải pháp. Giả thuyết là một phán đoán, vì vậy viết giả thuyết khoa học, xét về mặt logiclà viết một phán đoán. Phán đoán là một thao tác logic luôn được triển khai trong nghiên cứu khoahọc. Phán đoán có cấu trúc chung là ” S là P “, trong đó, S được gọi là chủ từ của phánđoán ; còn P là vị từ ( tức thuộc từ ) của phán đoán. – 8 – Phán đoán được sử dụng trong trường hợp cần đánh giá và nhận định về thực chất một sự vật, trình diễn giả thuyết khoa học, trình diễn luận cứ khoa học, v.v Một số loại phánđoán thông dụng được liệt kê trong Bảng 1.2.3. CHỨNG MINH LUẬN ĐIỂM KHOA HỌCMuốn chứng tỏ một vấn đề khoa học, người nghiên cứu phải có đầy đủluận cứ khoa học, Muốn tìm được những luận cứ và làm cho luận cứ có sức thuyết phục người nghiêncứu phải sử dụng những phương pháp nhất định. Phương pháp ở đây gồm có hailoại : phương pháp tìm kiếm luận cứ và phương pháp sắp xếp những luận cứ để chứngminh vấn đề khoa học. Đó là những việc làm thiết yếu của người nghiên cứu trong quy trình chứngminh vấn đề khoa học của mình. Bảng 1 : Phân loại những phán đoánPhán đoán khẳng định chắc chắn S là PPhán đoán phủ định S không là PPhán đoán Tỷ Lệ S có lẽ rằng là PPhán đoán hiện thực S đang là PPhán đoán tất yếu S chắc như đinh là PPhán đoán chung Mọi S là PPhán đoán riêng Một số S là PPhán đoán đơn nhất Duy có S là PPhán đoán link ( phép hội ) S vừa là Pvừa là PPhán đoán lựa chọn ( phép tuyển ) S hoặc là Phoặc là PPhán đoán có điều kiện kèm theo Nếu S thì PPhán đoán tương tương S khi và chỉ khi P1. Cấu trúc logic của phép chứng minhCấu trúc logic của phép chứng tỏ được nghiên cứu trong logic học, gồm 3 bộphận hợp thành : Luận điểm, Luận cứ và Phương pháp. Giả thuyết, là điều cần chứng tỏ trong một nghiên cứu khoa học. Giả thuyếttrả lời thắc mắc : “ Cần chứng minh điều gì ? ” Về mặt logic học, giả thuyết là một phánđoán mà tính chân xáccủa nó cần được chứng tỏ. Trong logic học hình thức có một cặp khái niệm được sử dụng bằng những thuật ngữ tiếng Việt khác nhau : một số ít tác giả dùng ” chân xác / phi chân xác “, 1 số ít tác giả khác dùng ” chân thực / giả dối “. Trong sách nàydùng cặp thuật ngữ thứ nhất, vì nó mang ý nghĩa thuần tuý khoa học. Khi nói ” chân thực / giả dối ” thường mangý nghĩa đạo đức. Trong khoa học, thường khi nhà nghiên cứu rất chân thực, nhưng tác dụng thu nhận được thì lại – 9 – Luận cứ là dẫn chứng được đưa ra để chứng tỏ vấn đề. Luận cứ đượcxây dựng từ những thông tin thu được nhờ đọc tài liệu, quan sát hoặc thực nghiệm. Luận cứ vấn đáp thắc mắc : “ Chứng minh bằng cái gì ? ”. Về mặt logic, luận cứ là phánđoán mà tính chân xác đã được chứng tỏ và được sử dụng làm tiền đề để chứngminh vấn đề. Phương pháp, là những phương pháp được sử dụng để tìm kiếm luận cứ và tổ chứcluận cứ để chứng tỏ vấn đề ( luận đề ). Trong logic học có một khái niệm tươngđương, là “ Luận chứng ”. Tuy nhiên, khởi đầu khái niệm này trong logic học chỉ mangnghĩa là “ Lập luận ”. 2. Luận cứĐể chứng tỏ vấn đề khoa học, người nghiên cứu cần có hai loại luận cứ : Luận cứ triết lý, là những vấn đề khoa học đã được chứng tỏ, bao gồmcác khái niệm, những tiên đề, định lý, định luật, quy luật, tức những mối liên hệ, đã đượckhoa học chứng tỏ là đúng. Luận cứ triết lý được khai thác từ những tài liệu, côngtrình khoa học của những đồng nghiệp đi trước. Việc sử dụng luận cứ triết lý sẽ giúpngười nghiên cứu tiết kiệm chi phí thời hạn, không tốn kém thời hạn để chứng tỏ lạinhững gì mà đồng nghiệp đã chứng tỏ. Luận cứ trong thực tiễn, được tích lũy từ trong thực tiễn bằng cách quan sát, thựcnghiệm, phỏng vấn, tìm hiểu hoặc khai thác từ những khu công trình nghiên cứu của những đồngnghiệp. Về mặt logic, luận cứ thực tiễn là những sự kiện tích lũy được từ quan sát hoặcthực nghiệm khoa học. Toàn bộ quy trình nghiên cứu khoa học, sau khi hình thànhluận điểm, là quy trình tìm kiếm và chứng tỏ luận cứ. Một giả thuyết được chứng tỏ hay bị bác bỏ đều có nghĩa là “ một chân lýđược chứng tỏ ”. Điều đó có nghĩa rằng, trong khoa học sống sót hoặc không tồn tạibản chất như đã nêu trong giả thuyết. 3. Phương pháp thiết kế xây dựng và sử dụng luận cứNhiệm vụ của người nghiên cứu phải làm 3 việc : tìm kiếm luận cứ, chứng minhđộ đúng đắn của bản thân luận cứ và sắp xếp luận cứ để chứng tỏ giả thuyết. Đểlàm 3 việc đó phải có phương pháp. Phương pháp vấn đáp thắc mắc : “ Chứng minh bằngcách nào ? ”. Người nghiên cứu cần những loại thông tin sau : • Cơ sở kim chỉ nan tương quan đến nội dung nghiên cứu. • Tài liệu thống kê và hiệu quả nghiên cứu của đồng nghiệp đi trước. • Kết quả quan sát hoặc thực nghiệm của bản thân người nghiên cứu. Muốn có luận cứ, người nghiên cứu phải biết lựa chọn những hướng tiếp cận để thuthập thông tin. Những loại thông tin trên đây hoàn toàn có thể được tích lũy qua những tác phẩmphi chân xác – 10 – khoa học, sách giáo khoa, tạp chí chuyên ngành, báo chí truyền thông và những phương tiện đi lại truyềnthông, hiện vật, phỏng vấn chuyên viên trong và ngoài ngành. Có những hướng tiếp cận cơ bản sau : Thứ nhất, tiếp cận phương pháp chung. Có hàng loạt cặp những hướng tiếp cận về phương pháp. Chẳng hạn : − Tiếp cận Hệ thống / Cấu trúc − Tiếp cận Lịch sử / Logic − Tiếp cận Lý thuyết / Thực tiễn − Tiếp cận Phân tích / Tổng hợp − Tiếp cận Cá biệt / So sánhThứ hai, tiếp cận kim chỉ nan. Trong tiếp cận triết lý, người nghiên cứu tìm kiếm những kim chỉ nan để hình thànhluận cứ. Chẳng hạn : − Một nghiên cứu về nâng cao năng lượng cạnh tranh đối đầu của loại sản phẩm Việt Namtrong kinh doanh thương mại, tác giả tìm kiếm luận cứ từ nghành nghề dịch vụ điều khiển và tinh chỉnh học kinhtế ( Economic Cybernetics ), từ Lý thuyết game show ( Game Theory ), v.v − Một nghiên cứu về mạng điện, những tác giả tìm kiếm cơ sở triết lý từ lýthuyết mạng ( Graph Theory ), từ kim chỉ nan mạng lưới hệ thống ( Systems Theory ), v.v − Một nghiên cứu về cải cách quản trị giáo dục, những tác giả tìm kiếm cơ sở lýthuyết từ giáo dục học, xã hội học, tâm lý học, v.v Thứ ba, tiếp cận thực tiễn. Có thể có 3 hướng tiếp cận thực tiễn : Khảo sát trực tiếp bằng những hoạt động giải trí quan sát hiện trường, ví dụ điển hình : điều trađịa chất, tìm hiểu rừng, xâm nhập thị trường, v.v Phương pháp chuyên viên trải qua những cuộc phỏng vấn, tìm hiểu bằng bảng hỏi, mở hội thảo chiến lược để nghe quan điểm chuyên viên. Phương pháp thực nghiệm bằng cách triển khai những thí nghiệm trong labo hoặctrong những xưởng thực nghiệm ( công nghiệp ), cánh đồng thực nghiệm ( nông nghiệp ), những khu rừng thực nghiệm ( lâm sinh ) hoặc những cơ sở chỉ huy thử nghiệm ( thực nghiệm xãhội ), v.v – 11 – CHƯƠNG IIIPHƯƠNG PHÁP THU THẬP THÔNG TINNghiên cứu khoa học là quy trình tích lũy thông tin và chế biến thông tin. Không một nghiên cứu nào là không cần thông tin. Không một khâu nào trong toànbộ quy trình nghiên cứu là không cần thông tin. Thông tin thiết yếu trong toàn bộ cáctrường hợp sau : • Tìm kiếm chủ đề nghiên cứu • Xác nhận nguyên do nghiên cứu • Tìm hiểu lịch sử dân tộc nghiên cứu • Xác định tiềm năng nghiên cứu • Nhận dạng yếu tố nghiên cứu • Đặt giả thuyết nghiên cứu • Tìm kiếm luận cứ để chứng tỏ giả thuyết3. 1. ĐẠI CƯƠNG VỀ THU THẬP THÔNG TINCó nhiều phương pháp tích lũy thông tin : 1 ) Nghiên cứu tài liệu hoặc phỏng vấn để thừa kế những thành tựu mà những đồngnghiệp đã đạt được trong nghiên cứu. 2 ) Trực tiếp quan sát trên đối tượng người tiêu dùng khảo sát ngay tại nơi diễn ra những quátrình mà người nghiên cứu hoàn toàn có thể sử dụng làm luận cứ. 3 ) Tiến hành những hoạt động giải trí thực nghiệm trực tiếp trên đối tượng người tiêu dùng khảo sát hoặctrên quy mô tựa như những quy trình diễn ra trên đối tượng người tiêu dùng nghiên cứu. 4 ) Thực hiện những trắc nghiệm trên đối tượng người tiêu dùng khảo sát để tích lũy những thông tinphản ứng từ phái đối tượng người tiêu dùng khảo sát. Trong nhiều trường hợp người nghiên cứu không hề trực tiếp tích lũy thông tintrên đối tượng người tiêu dùng khảo sát, ví dụ, núi lửa đã tắt, trận động đất đã ngưng, một sự kiện lịchsử đã lùi vào quá khứ, v.v … Khi đó, người nghiên cứu phải tích lũy thông tin mộtcách gián tiếp qua những người trung gian. Người ta gọi chung là phương phápchuyên gia. Phương pháp chuyên viên gồm có : – 12 – • Phỏng vấn những người có am hiểu hoặc có tương quan đến những thông tinvề sự kiện khoa học. • Gửi phiếu tìm hiểu ( bảng hỏi ) để tích lũy thông tin tương quan tới sự kiện khoahọc. • Thảo luận dưới những hình thức hội nghị khoa học. 1. Chọn mẫu khảo sát. Mẫu, tức đối tượng người dùng khảo sát, được lựa chọn từ khách thể. Bất kể nghiên cứutrong nghành nào, người nghiên cứu đều phải chọn mẫu : • Chọn khu vực khảo sát trong hành trình dài tìm hiểu tài nguyên • Chọn những nhóm xã hội để tìm hiểu dư luận xã hội • Chọn mẫu vật liệu để khảo nghiệm đặc thù cơ, lý, hóa trong nghiên cứu vậtliệu • Chọn một số ít mẫu bài toán để nghiên cứu phương pháp giải • v.v … Việc chọn mẫu có ảnh hưởng tác động quyết định hành động tới độ an toàn và đáng tin cậy của hiệu quả nghiên cứuvà ngân sách những nguồn lực cho công cuộc khảo sát. Việc chọn mẫu phải bảo vệ tínhngẫu nhiên, nhưng phải mang tính đại diện thay mặt, tránh chọn mẫu theo xu thế chủ quancủa người nghiên cứu. Có một số ít cách chọn mẫu thông dụng sauLấy mẫu ngẫu nhiên ( Random sampling ), là cách chọn mẫu sao cho mỗi đơn vịlấy mẫu có một thời cơ hiện hữu trong mẫu bằng nhau. Lấy mẫu hệ thống ( Systematic sampling ). Một đối tượng người dùng gồm nhiều đơn vị chức năng đượcđánh số thứ tự. Chọn một đơn vị chức năng ngẫu nhiên có số thứ tự bất kể. Lấy một số ít bất kỳlàm khoảng cách mẫu, cộng vào số thứ tự của mẫu tiên phong. Lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng ( Stratified random sampling ). Trong trường hợpnày, đối tượng người dùng được chia thành nhiều lớp, mỗi lớp có những đặc trưng như nhau. Nhưvậy, từ mỗi lớp, người nghiên cứu hoàn toàn có thể triển khai theo kỹ thuật lấy mẫu ngẫu nhiên. Cách lấy mẫu này được cho phép phân tích số liệu khá tổng lực, nhưng có nhượcđiểm là phải biết trước những thông tin để phân tầng, phải tổ chức triển khai cấu trúc riêng biệttrong mỗi lớp. Lấy mẫu mạng lưới hệ thống phân tầng ( Stratified systematic sampling ). Đối tượng điều tragồm nhiều tập hợp không như nhau tương quan đến những thuộc tính cần nghiên cứu. Lấy mẫu được triển khai trên cơ sở phân loại đối tượng người tiêu dùng thành nhiều lớp, mỗi lớp cóCristina P. Parel et al. : Sampling Design and Procedures, IDRC, Bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Trí Hùng, Nxb. Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh, 1991. – 13 – những đặc trưng giống hệt. Đối với mỗi lớp, người nghiên cứu thực thi theo kỹthuật lấy mẫu mạng lưới hệ thống. Lấy mẫu từng cụm ( Cluster sampling ). Đối tượng tìm hiểu được chia thành nhiềucụm tương tự như như chia lớp trong kỹ thuật lấy mẫu phân tầng, chỉ có điều khác là mỗicụm không tiềm ẩn những đơn vị chức năng như nhau, mà dị biệt. 2. Đặt “ Giả thiết nghiên cứu ” Giả thiết ( tiếng Anh là Assumption ) là điều kiện kèm theo giả định của nghiên cứu. Nóiđiều kiện “ giả định ” là những điều kiện kèm theo không có thực trong đối tượng người tiêu dùng khảo sát, màchỉ là những trường hợp giả định do người nghiên cứu đặt ra để lý tưởng hóa điều kiệnthực nghiệm, với một giả thiết đặt ra, người nghiên cứu đã gạt bỏ bớt những yếu tố ảnhhưởng tới những diễn biến và tác dụng nghiên cứu. Giả thiết không phải chứng tỏ. Ví dụ 1, trong một thí nghiệm tạo giống lúa mới, muốn chứng tỏ giả thuyết “ Giống lúa A tốt hơn giống lúa B ” về một chỉ tiêu nào đó, người nghiên cứu làm trên2 thửa ruộng, một thửa trồng lúa thực nghiệm ; một thửa trồng loại lúa thông dụng đểso sánh, gọi đó là “ đối chứng ”. Để so sánh được, người nghiên cứu phải đặt giả thiếtrằng : 2 thửa ruộng có những đặc thù giống hệt nhau về thổ nhưỡng ; được chăm bóntheo cùng một điều kiện kèm theo, v.v … Trên thực tiễn không khi nào có được điều kiện kèm theo đó. Ví dụ 2, trong một thí nghiệm sinh học, người nghiên cứu làm thí nghiệm đồngthời trên 2 con vật X và Y để chứng tỏ giả thuyết là “ Chất P có tính năng kíchthích sinh trưởng mạnh hơn chất Q. ”. Người nghiên cứu đặt giả thiết là, 2 con vật cócùng thể trạng và cùng có những đổi khác những thông số kỹ thuật về thể trạng như nhau. Ví dụ 3, trong nghiên cứu quy mô tái sản xuất lan rộng ra, Marx xem xét một hệthống gồm hai khu vực, Khu vực I, sản xuất tư liệu sản xuất, và Khu vực II, sản xuấttư liệu tiêu dùng. Marx đặt giả thuyết là Khu vực I có vai trò quyết định hành động so với Khuvực II, với giả thiết là những hệ này cô lập với nhau, nghĩa là không có ngoại thương. Quan hệ giữa giả thuyết và giả thiết trong nghiên cứuGiả thuyết là nhận định và đánh giá sơ bộ, là Tóm lại giả định của nghiên cứu, là luậnđiểm khoa học mà người nghiên cứu đặt ra. Giả thuyết cần được chứng tỏ hoặc bácbỏ ; Còn giả thiết là điều kiện kèm theo giả định của nghiên cứu. Giả thiết được đặt ra để lýtưởng hóa điều kiện kèm theo thực nghiệm. Giả thiết không cần phải chứng tỏ, nhưng có thểbị bác bỏ, nếu điều kiện kèm theo giả định này quá “ lý tưởng ”, đến mức làm cho tác dụng nghiêncứu trở nên không hề nghiệm đúng được. Đặt giả thiết nghiên cứuGiả thiết nghiên cứu là những điều kiện kèm theo giả định nhằm mục đích lý tưởng hóa những điềukiện để chứng tỏ giả thuyết. – 14 – Giả thiết, tức điều kiện kèm theo giả định được hình thành bằng cách lược bỏ 1 số ít điềukiện ( tức 1 số ít biến ) không có hoặc có ít mối liên hệ trực tiếp với những luận cứ đểchứng minh giả thuyết nghiên cứu. 3. Biện luận tác dụng nghiên cứuBiện luận tác dụng là điều bắt buộc trong nghiên cứu, chính do, không khi nào cóđược điều kiện kèm theo lý tưởng như đã giả định trong giả thiết nghiên cứu. Có hai hướng biệnluận : ( 1 ) Hoặc là tác dụng thực nghiệm trọn vẹn lý tưởng như trong giả thiết ; ( 2 ) Hoặc là tác dụng sẽ xô lệch nếu có sự tham gia của những biến đã giả định là không cótrong nghiên cứu. 3.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÀI LIỆU1. Mục đích nghiên cứu tài liệuNghiên cứu tài liệu là để tích lũy được những thông tin sau : • Cơ sở triết lý tương quan đến chủ đề nghiên cứu. • Thành tựu triết lý đã đạt được tương quan đến chủ đề nghiên cứu. • Kết quả nghiên cứu của đồng nghiệp đã công bố trên những ấn phẩm. • Chủ trương và chủ trương tương quan nội dung nghiên cứu. • Số liệu thống kê. Trong việc làm nghiên cứu tài liệu, người nghiên cứu thường phải làm một sốcông việc về nghiên cứu và phân tích tài liệu và tổng hợp tài liệu. Nguồn tài liệu cho nghiên cứu hoàn toàn có thể rất phong phú, hoàn toàn có thể gồm có một số ít thểloại như tạp chí và báo cáo giải trình khoa học trong ngành ; tác phẩm khoa học trong ngành, sách giáo khoa ; tạp chí và báo cáo giải trình khoa học ngoài ngành ; tài liệu tàng trữ ; số liệuthống kê ; thông tin đại chúng. 2. Phân tích những nguồn tài liệuNguồn tài liệu được nghiên cứu và phân tích từ nhiều giác độ : chủng loại, tác giả, logic, v.v … 1 ) Xét về chủng loạiTạp chí và báo cáo giải trình khoa học trong ngành có vai trò quan trọng nhất trong quátrình tìm kiếm luận cứ cho nghiên cứu, do tại nó thuộc chính nghành nghề dịch vụ nghiên cứuchuyên ngành và mang tính thời sự cao về trình độ. Tác phẩm khoa học là loại khu công trình đủ triển khai xong về triết lý, có giá trị caovề những luận cứ kim chỉ nan, nhưng không mang tính thời sự. – 15 – Tạp chí và báo cáo giải trình khoa học ngoài ngành phân phối thông tin nhiều mặt, có íchcho việc tăng trưởng chiều rộng của nghiên cứu hoàn toàn có thể có những gợi ý độc lạ, thoátkhỏi đường mòn của những nghiên cứu trong ngành. Tài liệu tàng trữ hoàn toàn có thể gồm có những văn kiện chính thức của những cơ quan nhànước, những tổ chức triển khai chính trị – xã hội, những hồ sơ thuộc loại thông tin không công bố trênbáo chí. Thông tin đại chúng gồm những báo chí truyền thông, bản tin của những cơ quan thông tấn, chương trình phát thanh, truyền hình, v.v, là một nguồn tài liệu quý, vì nó phản ánhnhu cầu bức xúc từ đời sống. Tuy nhiên, vì thông tin đại chúng thường không có đòihỏi chiều sâu nghiên cứu như chuyên khảo khoa học. Các loại nguồn liệt kê trên đây luôn hoàn toàn có thể sống sót dưới 2 dạng : Nguồn tài liệu cấp I, gồm những tài liệu nguyên gốc của chính tác giả hoặcnhóm tác giả viết. Nguồn tài liệu cấp II, gồm những tài liệu được tóm tắt, giải quyết và xử lý, biên soạn, biêndịch, trích dẫn, tổng quan từ tài liệu cấp I.Trong nghiên cứu khoa học, người ta ưu tiên sử dụng tài liệu cấp I. dẫn khoa họctrong những tài liệu phải được xem là tài liệu cấp Chỉ trong trường hợp không hề tìmkiếm được tài liệu cấp I, người ta mới sử dụng tài liệu cấp II.Tài liệu dịch, sách dịch, về nguyên tắc phải được xem là tài liệu cấp II. Khi sửdụng tài liệu dịch phải tra cứu bản gốc. Trích II, khi muốn trích dẫn phải tra cứu bản gốc. Trích dẫn lại mà không tracứu hoàn toàn có thể dẫn đến những thông tin xô lệch vì nhiều nguyên do khác nhau, ví dụ điển hình, người trích dẫn hiểu sai ý tác giả, người trích dẫn thêm, bớt, bỏ sót ý tưởng sáng tạo và lời văncủa tác giả, người trích dẫn cố ý trình diễn sai ý tác giả, v.v … 2 ) Xét từ giác độ tác giảCó thể nghiên cứu và phân tích những tác giả theo 1 số ít đặc thù sau : Tác giả trong ngành hay ngoài ngành. Tác giả trong ngành có am hiểu sâu sắclĩnh vực nghiên cứu. Tác giả ngoài ngành hoàn toàn có thể có cái nhìn độc lạ, khách quan, thậm chí còn hoàn toàn có thể cung ứng những nội dung liên ngành, liên bộ môn. Tác giả trong cuộc hay ngoài cuộc. Tác giả trong cuộc được trực tiếp sốngtrong sự kiện. Tác giả ngoài cuộc và tác giả ngoài ngành, hoàn toàn có thể có cái nhìn kháchquan, hoàn toàn có thể cung ứng những gợi ý độc lạ. Tác giả trong nước hay ngoài nước. Tương tự như trường hợp tác giả trongcuộc và ngoài cuộc. Tác giả trong nước am hiểu thực tiễn trong quốc gia mình, nhưngkhông thể có những thông tin nhiều mặt trong toàn cảnh quốc tế. Tác giả đương thời hay hậu thế. Các tác giả sống cùng thời với sự kiện có thểlà những nhân chứng trực tiếp. Tuy nhiên, họ chưa kịp có thời hạn để tích lũy hếtcác thông tin tương quan, không chỉ có vậy, hoàn toàn có thể bị những hạn chế lịch sử dân tộc. Tác giả hậu thế – 16 – được thừa kế cả một bề dày tích luỹ kinh nghiệm tay nghề và nghiên cứu của đồng nghiệp, dovậy, có điều kiện kèm theo nghiên cứu và phân tích thâm thúy hơn những sự kiện. 3. Tổng hợp tài liệuTổng hợp tài liệu gồm có những nội dung sau : • Bổ túc tài liệu, sau khi nghiên cứu và phân tích phát hiện thiếu, xô lệch. • Lựa chọn tài liệu, chỉ chọn những thứ cần để đủ để thiết kế xây dựng luận cứ. • Sắp xếp tài liệu, theo lịch đại, tức theo tiến trình của những sự kiện để quan sátđộng thái ; sắp xếp theo đồng đại, tức lấy trong cùng thời gian để quan sáttương quan và sắp xếp theo quan hệ nhân – quả để quan sát tương tác • Làm tái hiện quy luật. Đây là bước quan trọng nhất trong nghiên cứu tư liệu, chính là mục tiêu của tiếp cận lịch sử vẻ vang. • Giải thích quy luật. Công việc này yên cầu sử dụng những thao tác logic để đưara những phán đoán về thực chất những quy luật của sự vật hoặc hiện tượng kỳ lạ. 3.3. PHƯƠNG PHÁP PHI THỰC NGHIỆMPhương pháp phi thực nghiệm ( non-empirical method ) là tên gọi chung cho mộtnhóm phương pháp tích lũy thông tin, trong đó người nghiên cứu không gây bất cứtác động nào làm biến hóa trạng thái của đối tượng người dùng khảo sát và môi trường tự nhiên bao quanhđối tượng khảo sát. Nhóm phương pháp phi thực nghiệm rất phong phú và đa dạng : quan sát, phỏng vấn, hội nghị, tìm hiểu. 1. Quan sátQuan sát là phương pháp được sử dụng cả trong nghiên cứu khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và những nghiên cứu công nghệ tiên tiến. Trong phương pháp quan sát, người nghiên cứu chỉ quan sát những gì đã vàđang sống sót, không có bất kể sự can thiệp nào gây biến hóa trạng thái của đối tượngnghiên cứu. Tuy nhiên, quan sát có điểm yếu kém cơ bản của quan sát khách quan là sựchậm chạp và thụ động. Các phương pháp quan sát thông dụng được vận dụng trong nhiều bộ môn khoahọc hoàn toàn có thể tưởng tượng theo phân loại như sau : Theo mức độ chuẩn bị sẵn sàng, quan sát được phân loại thành quan sát có sẵn sàng chuẩn bị trướcvà quan sát không sẵn sàng chuẩn bị ( bất chợt phát hiện ). Theo quan hệ giữa người quan sát và người bị quan sát, quan sát được phân chiathành quan sát không tham gia ( chỉ đóng vai người ghi chép ) và quan sát có tham gia ( khôn khéo hoà nhập vào đối tượng người dùng khảo sát như một thành viên ). – 17 – Theo mục tiêu chớp lấy thực chất đối tượng người tiêu dùng quan sát, quan sát được phân chiathành quan sát hình thái, quan sát công suất, quan sát hình thái-công năng. Theo mục tiêu giải quyết và xử lý thông tin, quan sát được phân loại thành quan sát miêu tả, quan sát nghiên cứu và phân tích. Theo tính liên tục của quan sát, quan sát được phân loại thành quan sát liên tục, quan sát định kỳ, quan sát chu kỳ luân hồi, quan sát tự động hóa theo chương trình. Trong quan sát, người nghiên cứu hoàn toàn có thể quan sát bằng nhiều cách trực tiếp xem, nghe, nhìn ; sử dụng những phương tiện đi lại ghi âm, ghi hình ; sử dụng những phương tiện đi lại đolường. 2. Phỏng vấnPhỏng vấn là đưa ra những câu hỏi với người đối thoại để tích lũy thông tin. Thực chất, phỏng vấn tựa như quan sát gián tiếp bằng cách ” nhờ người khác quan sáthộ “, sau đó hỏi lại hiệu quả quan sát. Trong phỏng vấn, trước hết cần chọn người đối thoại. Người đối thoại hoàn toàn có thể làngười rất am hiểu, ít am hiểu, hoặc trọn vẹn không am hiểu nghành nghề dịch vụ nghiên cứu. Họcó thể cho quan điểm về những góc nhìn rất khác nhau. Sau khi đã lựa chọn được người đối thoại, cần nghiên cứu và phân tích tâm ý đối tác chiến lược. Trướcmỗi đối tác chiến lược, người nghiên cứu cần có những cách tiếp cận tâm ý khác nhau. Chẳnghạn : người có nhiều hiểu biết về tìm hiểu thường chuẩn bị sẵn sàng cộng tác ; người nhút nhátthường không dám vấn đáp ; người có quá khứ phức tạp thường dè dặt ; người khôi hàithường cho những câu vấn đáp có độ an toàn và đáng tin cậy thấp ; người ba hoa thường hay đưa vấn đềđi lung tung ; người có bản lĩnh tự tin thái quá thường rất kín kẽ, biết dấu một cáchnhất quán mọi tâm lý. Trong phỏng vấn người ta chia ra những loại, như phỏng vấn có chuẩn bi trước ̣ ; phỏng vấn không sẵn sàng chuẩn bị trước ; trao đổi trực tiếp ; trao đổi qua điện thoại cảm ứng ; có loạiphỏng vấn để biết ; có loại phỏng vấn sâu để khai thác cụ thể hơn về một chủ đề. Tuy nhiên, dù phỏng vấn thế nào, thì cách đặt câu hỏi cũng là điều cần đặc biệtcoi trọng, vì nó có tác động ảnh hưởng quyết định hành động tới hiệu quả phỏng vấn. Có mấy điểm lưu ýtrong cách đặt câu hỏi : Nên hỏi vào việc người ta làm, tránh yên cầu người ta nhìn nhận hoặc hỏi vàonhững yếu tố nhạy cảm. 3. Hội nghịNội dung phương pháp hội nghị là nêu câu hỏi trước một nhóm chuyên viên đểnghe họ tranh luận, nghiên cứu và phân tích. Đặc điểm chung của hội nghị khoa học là nêu yếu tố, luận bàn, ghi nhận mà không Tóm lại dưới hình thức một nghị quyết. Ưu điểm củaphương pháp hội nghị là được nghe những quan điểm phản bác nhau. Song, nhược điểmcủa phương pháp hội nghị là quan điểm hội nghị thường hay bị chi phối bởi những ngườicó tài hùng biện và những người có vị thế xã hội cao tương đối so với nhóm. – 18 – Để khắc phục mặt điểm yếu kém, người ta thường dùng phương pháp tiến công não ( brainstorming ), là phương pháp do A. Osborn ( Mỹ ) khởi xướng. Người tổ chức triển khai tấncông não cần tạo bầu không khí tự do tư tưởng, tự do niềm tin, không ai được thểhiện khuyến khích, tán thưởng hoặc châm biếm, chỉ trích. Để nâng cao hiệu suất cao tiến công não, người ta tiến công não phân nhóm bằng cáchchia nhỏ nhóm để tiến công não, lấy hiệu quả tiến công não nhóm trước làm dữ liệu đểtấn công não cho nhóm sau. Gọi đó là phương pháp Delphi. 1 ) Các loại hội nghịTuỳ đặc thù của việc đưa một nội dung được tranh luận mà có nhiều loại hộinghị khoa học được tổ chức triển khai : Bàn tròn ( roundtable ), là hình thức hoạt động và sinh hoạt khoa học tiếp tục và thẳngthắn nhất của đề tài nhằm mục đích bàn luận và tranh luận những yếu tố khoa học. Hội thảo khoa học, là cụm từ được sử dụng tương tự với seminar trongtiếng Anh, là loại hội nghị khoa học không lớn với mục tiêu đưa ra một số ít vấn đềkhoa học nhất định để tranh luận, tranh luận. Còn một loại hội thảo chiến lược khác, tiếng Anh gọi là symposium. Đó là một loạiseminar, nhưng là loại hội thảo chiến lược được tổ chức triển khai trong nhiều hội thảo chiến lược kế tục nhau, khôngđịnh kỳ, để tranh luận những yếu tố gần nhau hoặc giống nhau, nhưng đang còn cầntiếp tục bàn luận. Lớp giảng dạy ( tiếng Anh : workshop hoặc school workshop, cũng gọi làschool seminar, tiếng Nga : shkolư-seminar ), là một hoạt động và sinh hoạt khoa học, trong đó, những chuyên viên có uy tín được mời trình diễn những chuyên đề. Người tham gia đượcmời đến đa phần là để học tập, tuy nhiên cũng hoàn toàn có thể được nhu yếu triển khai 1 số ít sinhhoạt khác, ví dụ điển hình, trình diễn báo cáo giải trình kinh nghiệm tay nghề để hiểu thâm thúy thêm vấn đềđược trình diễn tại lớp huấn luyện và đào tạo ; luận bàn để nắm vững và biết cách vận dụngnhững chuyên đề đã được nghe. Hội nghị khoa học, là cụm từ được sử dụng tương tự với conference trongtiếng Anh, là loại seminar đa chủ đề, được tổ chức triển khai khoảng chừng từ 3 đến 5 năm một lần, với số lượng tới hang trăm người, gồm những nhà nghiên cứu, những nhà công nghệ tiên tiến và cácnhà quản trị. Ngoài ra cũng hoàn toàn có thể có những nhà hoạt động giải trí xã hội, những tổ chức triển khai xã hội, những nhà chỉ huy hoặc những chính khách lớn. Tại hội nghị có một số ít báo cáo giải trình được chỉđịnh. Có thể có những phiên họp toàn thể, cũng hoàn toàn có thể chia thành những phân ban ( session ) để đàm đạo sâu 1 số ít chuyên đề. Hội nghị khoa học thường có nhiều tiềm năng, như tổng kết một quy trình tiến độ nghiêncứu ; ra công bố về một hướng nghiên cứu ; tập hợp lực lượng cho những nghiên cứumới và quan trọng. Tại hội nghị khoa học có một số ít báo cáo giải trình được chỉ định trước. Có thể có nhữngphiên họp toàn thể, cũng hoàn toàn có thể chia thành những phân ban ( session ) để luận bàn 1 số ít – 19 – chuyên đề. Phân ban cũng hoàn toàn có thể được tổ chức triển khai dưới dạng những seminar, workshop, dialogue, symposium, v.v … Tiến trình hội nghị. Thông thường hội nghị khoa học thường đơn thuần, ít hoặckhông có những nghi lễ ngoại giao. Sau phần những thủ tục khai mạc là đến những báo cáo giải trình. Công việc tương quan báo cáo giải trình thường gồm có : • Thuyết trình của báo cáo viên • Câu hỏi của hội nghị và vấn đáp của tác giả. • Bình luận của những thành viên hội nghị và của chủ toạ. • Bổ sung của những thành viên. • Khuyến nghị của những thành viên so với báo cáo giải trình. • Ghi nhận của chủ toạ về những quan điểm đã và chưa nhất trí. 3 ) Kỷ yếu khoa họcKỷ yếu khoa học là ấn phẩm công bố những khu công trình, những bài bàn luận trongkhuôn khổ những hội nghị khoa học hoặc trong một quá trình hoạt động giải trí của một tổ chứckhoa học. Kỷ yếu được công bố nhằm mục đích mục tiêu ghi nhận hoạt động giải trí của một hội nghịhoặc một tổ chức triển khai, tạo thời cơ để người nghiên cứu công bố tác dụng nghiên cứu và thiếtlập quan hệ với đồng nghiệp. Cơ cấu chung của kỷ yếu hoàn toàn có thể gồm có : Phần I. PHẦN BÌABìa chính • Tên hội nghị ( Kỷ yếu hội nghị ) • Địa danh, ngày, tháng, năm tổ chức triển khai hội nghị. Bìa lót • Bìa lót là một trang trắng, chỉ ghi một-hai dòng chữ tên của kỷ yếu. Bìa phụ • Tên hội nghị ( Kỷ yếu hội nghị ) • Địa danh, ngày, tháng, năm tổ chức triển khai hội nghị. • Cơ quan chủ trì / Cơ quan đăng cai / Cơ quan tài trợ / Cơ quan đỡ đầu. • Ban tổ chức triển khai / Ban điều hànhPhần II. PHẦN HỒ SƠ TỔ CHỨC HỘI NGHỊHồ sơ tổ chức triển khai hội nghị – 20 – • Giấy triệu tập lần I, lần II • Thư từ của những cơ quan hữu quan : Cơ quan đỡ đầu, cơ quan tài trợ, cơ quancam kết tham giaChương trình hội nghị • Chương trình chính thức • Chương trình những chuyên đề hoặc những phân ban • Các chương trình tự chọnDanh sách thành viên : • Thành viên chính thức • Thành viên dự thính • Khách mờiPhần nghi thức : • Lời khai mạc • Phát biểu quan điểm của những nhân vật quan trọng • Phát biểu quan điểm của những khách mờiPhần III. PHẦN CÁC BÁO CÁO VÀ THÔNG BÁO KHOA HỌCBáo cáo khoa học : • Báo cáochính và những báo cáo giải trình chuyên đề / báo cáo giải trình phân ban • Tóm tắt những báo cáo giải trình không kịp gửi trước hoặc không có điều kiện kèm theo in toàn vănThông báo khoa học • Các thông tin có ý nghĩa chung • Các thông tin theo chuyên đề / thông tin phân banPhần IV. PHẦN PHỤ ĐÍNH • Biên bản hội nghị • Thư ghi nhớ sau hội nghị • Các văn kiện chuyên khảo sau hội nghị • Thoả thuận chung về hợp tác sau hội nghị ( nếu có ) • Địa chỉ những thành viên tham gia hội nghị – 21 – 4 ). Điều tra bằng bảng hỏiĐiều tra bằng bảng hỏi vốn là phương pháp của xã hội học, nhưng đã được ápdụng thông dụng trong nhiều nghành nghề dịch vụ. Về mặt kỹ thuật của phương pháp tìm hiểu bằngbảng hỏi có ba loại việc làm phải chăm sóc : chọn mẫu, phong cách thiết kế bảng câu hỏi và xử lýkết quả. Thứ nhất : Chọn mẫuViệc chọn mẫu phải bảo vệ vừa mang tính ngẫu nhiên, vừa mang tính đại diện thay mặt, tránh chọn mẫu theo xu thế chủ quan của người nghiên cứu. Thứ hai : Thiết kế bảng câu hỏiCó hai nội dung được chăm sóc trong khi phong cách thiết kế bảng câu hỏi : ( 1 ) Các loại câuhỏi ; và ( 2 ) Trật tự logic của những câu hỏi. Một số loại câu hỏi thông dụng trong cáccuộc tìm hiểu được trình diễn trong Bảng 2 : Bảng 2 ( a ) Câu hỏi kèm giải pháp vấn đáp ” có ” và ” không “. 1. Anh / Chị đã từng tham gia nghiên cứu khoa học • Nếu câu vấn đáp là không, xin vấn đáp câu 2 • Nếu câu vấn đáp là có, xin vấn đáp từ câu 3  Có  KhôngBảng 2 ( b ) Câu hỏi kèm nhiều giải pháp trả lời2. Nếu câu vấn đáp là không, xincho biết nguyên do  Không thuộc cơ quan khoa học  Cơ quan không có đề tài  Không có thời cơ nghiên cứu  Không quan tâm3. Nếu câu vấn đáp là có, xin chobiết Anh / Chị nghiên cứu khoahọc trong trường hợp nào ?  Làm theo đề tài của cơ quan  Ký hợp đồng với một đối tác chiến lược  Theo đề tài của thày / cô giáo  Tự làm theo sở thíchBảng 2 ( c ) Câu hỏi kèm giải pháp vấn đáp có trọng số4. Anh / Chị có đống ý với quan điểm cho rằngviệc cấp phép kinh tế tài chính cho khoa học cònnhiều bất hài hòa và hợp lý hay không ?  Có  Không5. Nếu có, thì khó khăn vất vả đó là gì. Xin cho biết mức độ bằng việc cho điểmvào những giải pháp vấn đáp, trong đó điểm trên cao nhất biểu lộ mức độ khókhăn nhất : 5.1. Kinh phí không đủ 1 2 3 4 55.2. Cấp phát không kịp thời 1 2 3 4 55.3. Chế độ quyết toán không phù hợpđặc điểm của nghiên cứu khoa học1 2 3 4 5B ảng 2 ( d ) Những câu hỏi mở, để người điền phiếu vấn đáp tùy ý6. Nếu hoàn toàn có thể, xin Anh / Chị yêu cầu 1 số ít quan điểm về những giải pháp chính sáchmà Anh / Chị cho là thiết yếu nhất cho nghiên cứu khoa học : – 22 – Các loại câu hỏi phải bảo vệ khai thác cao nhất quan điểm của cá thể từng ngườiđược hỏi. Tốt nhất, phải đặt câu hỏi vào những việc làm đơn cử tương quan đến cá thể mỗingười, ví dụ điển hình : ” Thu nhập của bạn ” hoặc ” Tỉ lệ Tỷ Lệ thu nhập dành cho bữaăn trong mái ấm gia đình ? ” Tránh đặt những câu hỏi nhu yếu người ta nhìn nhận về ngườikhác, ví dụ điển hình, “ Nhân viên ở đây có yên tâm công tác làm việc không ? ”, hoặc những câu hỏiở tầm quá khái quát, ví dụ điển hình : ” Chính sách so với giáo viên lúc bấy giờ có hợp lýkhông ? “. Ngoài ra, một bộ phận nhất thiết không hề thiếu, đó là phần nghiên cứu và phân tích cơ cấu tổ chức xãhội. Phần này giúp người nghiên cứu nghiên cứu và phân tích quan điểm của những những tầng lớp xã hội khácnhau. Bảng 13 là ví dụ về một mẫu để phát hiện cơ cấu tổ chức xã hội. Cách tổ chức triển khai câu hỏi vừa mang tính kĩ thuật, vừa mang tính thẩm mỹ và nghệ thuật vậndụng những phép suy luận logic trong những cuộc tìm hiểu. Thứ ba : Xử lý hiệu quả điều traKết quả tìm hiểu được xử lí dựa trên cơ sở thống kê toán. Có nhiều cách tiếpcận. Hoặc là mỗi người nghiên cứu tự học cách xử lí toán học, nếu cảm thấy tự mìnhhứng thú. Song cũng hoàn toàn có thể tìm kiếm sự cộng tác của những đồng nghiệp về thống kêtoán, hoặc những chuyên viên chuyên về những phương pháp xã hội học. Hiện nay chương trình xử lí thống kê trên máy đã được sử dụng một cách phổbiến. Đó là chương trình SPSS ( Statistic Package for Social Studies ). Chương trìnhnày sẽ giúp giảm nhẹ rất nhiều việc làm xử lí những hiệu quả tìm hiểu. 3.4. PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM1. Khái niệm chungThực nghiệm là một phương pháp tích lũy thông tin được thực thi bởi nhữngquan sát trong điều kiện kèm theo gây biến hóa đối tượng người tiêu dùng khảo sát và thiên nhiên và môi trường xung quanhđối tượng khảo sát một cách có chủ định. Phương pháp thực nghiệm được áp dụngphổ biến không riêng gì trong nghiên cứu tự nhiên, kỹ thuật, y học, mà cả trong xã hội vàcác nghành nghề dịch vụ nghiên cứu khác. Bằng việc biến hóa những tham số, người nghiên cứu hoàn toàn có thể tạo ra nhiều thời cơ thuđược những tác dụng mong ước, như : • Tách riêng từng phần thuần nhất của đối tượng người tiêu dùng nghiên cứu để quan sát. • Biến đổi môi trường tự nhiên của đối tượng người tiêu dùng nghiên cứu. • Rút ngắn được thời hạn tiếp cận trong quan sát. – 23 – • Tiến hành những thực nghiệm lặp lại nhiều lần để kiểm tra lẫn nhau. • Không bị hạn chế về khoảng trống và thời hạn. Dù phương pháp thực nghiệm có những ưu điểm như vậy, nhưng nó không thểáp dụng trong hàng loạt trường hợp, ví dụ điển hình, nghiên cứu lịch sử vẻ vang, địa lý, địa chất, khí tượng, thiên văn. Những nghành nghiên cứu này chỉ hoàn toàn có thể triển khai bằng quansát ; còn nghiên cứu lịch sử dân tộc, văn học, v.v lại chỉ hoàn toàn có thể thực thi bằng phương phápnghiên cứu tài liệu. 2. Phân loại thực nghiệmQuá trình thực nghiệm hoàn toàn có thể được triển khai ở nhiều môi trường tự nhiên khác nhau tuỳtheo nhu yếu của nghiên cứu : Tùy nơi thực nghiệm, thực nghiệm được chia thành : 1 ) Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm2 ) Thực nghiệm tại hiện trường3 ) Thực nghiệm trong quần thể xã hộiTùy mục tiêu quan sát thực nghiệm được phân loại thành : • Thực nghiệm thăm dò được thực thi để phát hiện thực chất của sự vật hoặchiện tượng. Loại thực nghiệm này được sử dụng để nhận dạng yếu tố và xâydựng giả thuyết. • Thực nghiệm kiểm tra được triển khai để kiểm chứng những giả thuyết. • Thực nghiệm song hành là những thực nghiệm trên những đối tượng người dùng khác nhautrong những điều kiện kèm theo được khống chế giống nhau. • Thực nghiệm đối nghịch được thực thi trên hai đối tượng người dùng giống nhau vớicác điều kiện kèm theo ngược nhau, nhằm mục đích quan sát tác dụng của những phương pháp tácđộng của những điều kiện kèm theo thí nghiệm trên những thông số kỹ thuật của đối tượng người tiêu dùng nghiêncứu. • Thực nghiệm so sánh là thực nghiệm được thực thi trên hai đối tượng người dùng khácnhau, trong đó có một trong hai được chọn làm đối chứng nhằm mục đích tìm chỗ khácbiệt giữa những phương pháp, giữa những hậu quả so với đối chứng. Tùy diễn trình thực nghiệm được phân loại thành : • Thực nghiệm cấp diễn, để xác lập tác động ảnh hưởng hoặc tác động ảnh hưởng của những tácnhân lên đối tượng người dùng nghiên cứu trong một thời hạn ngắn. • Thực nghiệm trường diễn, để xác lập sự công dụng của những giải pháp lên đốitượng nghiên cứu lâu bền hơn, liên tục. – 24 – • Ngoài ra còn thực nghiệm bán cấp diễn như một mức độ trung gian giữa haiphương pháp thực nghiệm nói trên. Trong thực nghiệm, người nghiên cứu phải tuân thủ những nguyên tắc sau : • Đề ra những chuẩn nhìn nhận và phương pháp nhìn nhận. • Giữ không thay đổi những yếu tố không bị người nghiên cứu khống chế. • Mẫu được lựa chọn trong thực nghiệm phải mang tính thông dụng để cho kếtquả thực nghiệm được khách quan. • Đưa ra 1 số ít giả thiết thực nghiệm để loại bớt những yếu tố tác động ảnh hưởng phức tạp. 3. Các loại thực nghiệmXét trên quan điểm truyền thống cuội nguồn của phương pháp thực nghiệm trong nghiêncứu khoa học, chúng tôi tạm phân loại 3 nhóm phương pháp thực nghiệm : Thựcnghiệm “ Thử và Sai ” ; Thực nghiệm Heuristic và Thực nghiệm trên quy mô. 1 ) Thực nghiệm thử và saiNội dung phương pháp thử và sai ( trial-and-error method ) đúng như tên gọi : đólà ” thử ” ; thử xong thấy ” sai ” ; tiếp đó ” thử lại ” ; lại ” sai ” ; lại ” thử “, cho đến khi đạtđược tác dụng sau cuối, là trọn vẹn đúng, hoặc trọn vẹn sai so với giả thuyết thựcnghiệm. 2 ) Thực nghiệm HeuristicPhương pháp ” thử và sai ” thường tốn kém nhiều thời hạn và hiệu suất cao thấp. Vìvậy, người ta tìm kiếm những phương pháp có hiệu suất cao hơn. Một trong số đó làphương pháp Heuristic. Bản chất Heuristic là một phương pháp thử và sai theo nhiềubước, mỗi bước chỉ thực nghiệm trên một tiềm năng. Nội dung hoàn toàn có thể tóm tắt như sau : • Chia thực nghiệm thành nhiều bước, mỗi bước chỉ đưa ra một tiềm năng thựcnghiệm. • Phát hiện thêm những điều kiện kèm theo phụ cho mỗi bước thực nghiệm. Như vậy, côngviệc thực nghiệm trở nên sáng tỏ hơn, giảm bớt mò mẫm. 3.5. PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆMTrắc nghiệm là một phương pháp bán thực nghiệm. Nói trắc nghiệm là một phương pháp bán thực nghiệm là vì, sự vật không bị bấtcứ tác động ảnh hưởng nào làm đổi khác trạng thái, mà chỉ có những trường hợp của môi trường tự nhiên hoạtđộng của sự vật bị đổi khác. Qua trắc nghiệm, người nghiên cứu nhận ra được chấtlượng của đối tượng người dùng khảo sát. Trắc nghiệm được sử dụng trong nhiều nghành nghề dịch vụ nghiêncứu. Chẳng hạn : – 25 –