Giáo trình Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu khoa học giáo dục: Phần 2 – NXB ĐH Huế.pdf (Phương pháp luận nghiên cứu khoa học giáo dục) | Tải miễn phí

Giáo trình Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu khoa học giáo dục: Phần 2 – NXB ĐH Huế

pdf

Số trang Giáo trình Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu khoa học giáo dục: Phần 2 - NXB ĐH Huế
146
Cỡ tệp Giáo trình Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu khoa học giáo dục: Phần 2 - NXB ĐH Huế
2 MB
Lượt tải Giáo trình Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu khoa học giáo dục: Phần 2 - NXB ĐH Huế
0
Lượt đọc Giáo trình Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu khoa học giáo dục: Phần 2 - NXB ĐH Huế
16
Đánh giá Giáo trình Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu khoa học giáo dục: Phần 2 - NXB ĐH Huế

4.1 (
14 lượt)

1462 MB

Nhấn vào bên dưới để tải tài liệu

Đang xem trước 10 trên tổng 146 trang, để tải xuống xem vừa đủ hãy nhấn vào bên trên

Chủ đề tương quan

Tài liệu tương tự

Nội dung

Chương V
VẤN ĐỀ KHOA HỌC

I. Khái niệm về vấn đề khoa học
Vấn đề khoa học (scientific problem) hay còn gọi là vấn đề nghiên cứu (research
problem), hoặc nói cách khác đó là những vấn đề nêu lên bằng cách trả lời cho “câu hỏi
nghiên cứu” (research question). Câu hỏi này có mục đích định hướng những vấn đề đặt ra
để cho người nghiên cứu giải quyết. Tìm hướng giải quyết vấn đề khoa học mà người nghiên
cứu quan tâm, đồng thời để phát triển tri thức khoa học ở trình độ cao hơn.
Bắt đầu cho việc nghiên cứu, các nhà khoa học phải cân nhắc xác định hướng thâm
nhập, nghĩa là phải đưa ra được “vấn đề nghiên cứu”. Chức năng của khoa học là biết
phát hiện ra các khách thể nghiên cứu. Từ nhu cầu bức thiết của sự nhận thức, người
quan sát nghiên cứu sẽ đặt vấn đề khoa học như là đối tượng quan tâm của mình – Đó
chính là vấn đề nghiên cứu, “vấn đề khoa học”.
Trong thực tiễn của việc nghiên cứu lãnh vực khoa học tự nhiên cũng như khoa học
về xã hội cho thấy để giải quyết vấn đề, không phải lúc nào cũng thuận lợi hay suông sẻ,
mà vấn đề nghiên cứu luôn luôn gặp phải những khó khăn khách quan cản trở.
Những trở lực đó có thể là những yếu tố, tình huống ngẫu nhiên xảy đến, đôi khi
cũng có thể là điều chủ quan của người nghiên cứu − Vì trong bản thân vấn đề đã chứa
đựng nhiều mâu thuẫn khoa học.
Tuy nhiên, đây không phải là vấn đề quá lo lắng, vì theo nhà Vật lý Werner
Heisenberg:
“… khi vấn đề được đặt ra một cách đúng đắn, thì có nghĩa là nó thực hiện
giải quyết được quá một nửa phần công việc đi rồi”.
Thực vậy, trong thực tiễn của việc nghiên cứu khoa học, khi có vấn đề là có sự trở ngại,
khó khăn trong quá trình nhận thức. Tư duy con người chỉ hoạt động sáng tạo khi gặp phải
khó khăn, khi đụng phải vấn đề cần giải quyết. Hoặc theo nhận xét của GS. Hoàng Ngọc Hiến
thì:
“Bất kỳ vấn đề nào thực tiễn và nhận thức của con người đặt ra cũng có thể trở
thành vấn đề nghiên cứu khoa học (xuất phát từ sự nhận thức)”.
Theo logic khoa học, để triển khai một đề tài nghiên cứu cần phải tiến hành các bước

66

theo một trình tự xác định (như đã trình bày ở chương trước). Tuy nhiên, bước phát hiện
được vấn đề nghiên cứu là một khâu rất quan trọng trong quá trình phát triển nhận thức.
Để có thể phát hiện, nêu ra được một vấn đề nào đó cần nghiên cứu (phải có sự phát
triển hoặc phải có cái mới), thì đây cũng là việc làm không dễ dàng gì đối với nhiều người
chưa có kinh nghiệm. Chẳng hạn như đối với các bạn trẻ sinh viên, học viên cao học, thậm
chí ngay cả đối với những người đang là nghiên cứu sinh.
Nguyên nhân của những khó khăn, trở ngại như đã trình bày ở trên là:
– Vì mục đích là làm sao để phát hiện được vấn đề đặt ra cho việc nghiên cứu
trong một lĩnh vực khoa học (hay một khía cạnh của đối tượng trong một bộ môn khoa
học). Để đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi người nghiên cứu phải có nhận thức, tri thức
khoa học đầy đủ mang tính tổng quan về cùng lĩnh vực nghiên cứu của thế giới và ở
trong nước.
– Người nghiên cứu phải chọn lựa cho được vấn đề nghiên cứu có tính khả thi −
điều này không phải ai cũng dễ dàng làm được việc đó.
Do vậy, muốn vấn đề khoa học đạt được kết quả mong muốn, ta phải đặt cho vấn đề
cần quan tâm với hàng loại câu hỏi, nói cách khác nghĩa là vấn đề luôn luôn được trình bày
dưới dạng những “câu nghi vấn”. Và người nghiên cứu tìm cách trả lời hợp lý để giải quyết
vấn đề đặt ra.
Nếu một vấn đề khoa học nào đó có ý nghĩa thật sự quan trọng và bức thiết, thì người
nghiên cứu sẽ chấp nhận vấn đề nghiên cứu đó làm đối tượng nghiên cứu khoa học của
mình. Nhà nghiên cứu được xem là chủ thể, còn vấn đề khoa học được xem như là đối
tượng của nghiên cứu. Sự hoạt động khoa học hình thành do mối tương tác qua lại giữa chủ
thể và đối tượng được như mô tả theo mô hình dưới đây (hình 4).

Nhà nghiên cứu

Chủ thể nghiên cứu

Vấn đề khoa học

Đối tượng nghiên cứu

Hình 4: Mối tương tác giữa người NC và vấn đề KH.

67

Sự tác động của chủ thể vào vấn đề khoa học, có thể được giải quyết bằng nhiều
phương pháp, cũng như có nhiều cách lập luận khác nhau.
Tuy nhiên trong Vật lý học thì theo G.Lemeignan & Weil Barais (1993) đã đưa ra hai
cách thức lập luận thường gặp để giải quyết các vấn đề khoa học. Đó là nhận thức theo lối
lập luận “tự phát” và cách đặt vấn đề cũng như phương thức lập luận để giải quyết vấn đề
theo các khoa học tự nhiên nói chung hoặc các nhà Vật lý nói riêng được G.Lemeignan &
Weil Barais mô tả như sơ đồ dưới đây (hình 5)(∗).
LẬP LUẬN TỰ PHÁT

Đặc tính
chức năng

Hiệu quả

Quan hệ nhân quả

LẬP LUẬN CỦA NHÀ VẬT LÝ

Điều nghiệm
thấy

Phán đoán

Mô hình hoá

Tính toán

Biểu diễn

Hình 5: So sánh hai cách lập luận về vấn đề Vật lý
(Theo G.Lemeignan&Weil Barais – Paris, Hachette Education, 1993)
II. Phương pháp phát hiện vấn đề khoa học
Vấn đề khoa học (vấn đề nghiên cứu) là những điều chưa biết đến hoặc biết
một cách chưa chắc chắn lắm hoặc chưa đầy đủ về bản chất sự vật. Sự vật đó chính
là các hiện tượng cần được làm sáng tỏ trong quá trình tiến hành hoạt động nghiên
cứu.
Bởi vì nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi, khám phá quy luật bản chất sự vật, giải thích
(∗) G.Lemeignan & Weil Barais. – Paris: Hachette Education, 1993.

68

hiện tượng hoặc sáng tạo ra những giải pháp mới nhằm mục đích cải tạo thế giới.
Do đó, trong mọi trường hợp nghiên cứu khoa học đều nhằm vào những điều chưa
biết (một quy luật chưa được khám phá, một giải pháp chưa được sáng tạo, một hình mẫu
chưa được kiểm chứng.v.v…).
Sự phát triển khoa học đòi hỏi không những phải đưa ra được phương pháp mới, mà
còn phải có tổ chức mới nữa. Những hoạt động khoa học đơn lẻ không còn đủ sức giải quyết
những vấn đề phức tạp của khoa học trong bước phát triển mới.
Do đó, để phát hiện và giải quyết các vấn đề khoa học đặt ra thì cần phải tổ chức
nghiên cứu như một hoạt động tập thể và phải được nhà nước tài trợ về các phương diện.
Phát hiện vấn đề khoa học là việc đặt câu hỏi cho vấn đề mình đang quan tâm, nghĩa là
tìm lời giải đáp việc:
“Cần nghiên cứu gì?”
Nói tóm lại, thực chất của việc phát hiện vấn đề khoa học đưa ra là ta đã nêu lên hàng
loạt câu hỏi để làm cơ sở cho việc tìm kiếm những câu trả lời thỏa đáng để giải quyết vấn đề.
Lời giải đáp cho tri thức mới phải hoàn toàn nhờ vào hoạt động nghiên cứu khoa học.
Thông thường, có thể sử dụng các phương pháp sau đây để phát hiện vấn đề khoa học:
1. Phát hiện mặt mạnh, mặt yếu trong nghiên cứu của đồng nghiệp.
Để có thể thực hiện được phương pháp này, trước hết bản thân người nghiên cứu phải
có nhận thức đầy đủ, có tri thức khoa học qua việc tổng quan được từ các công trình nghiên
cứu của đồng nghiệp.
Tiếp theo, người nghiên cứu cần phải biết cách đánh giá, phân tích từng cấu trúc một
công trình khoa học, phải phân tích nội dung, bản chất từ luận đề, luận cứ, luận chứng.
Người nghiên cứu phải tìm ra được mặt mạnh, mặt yếu từng phần của cấu trúc đó,
đồng thời phân tích các ưu nhược điểm của vấn đề mà người nghiên cứu trước đã thực
hiện được. Ngoài ra người nghiên cứu phải có hiểu biết kỹ càng về các phương pháp
nghiên cứu khác mà đồng nghiệp hoặc các tác giả khác đã sử dụng trong các công trình mà
mình quan tâm.
Trên cơ sở đó người nghiên cứu phân tích các mặt yếu trên các công trình của đồng
nghiệp, từ đây ta mới phát hiện ra được những vấn đề khoa học cần nghiên cứu. Nói cách
khác, nghĩa là ta đã đưa ra được câu hỏi nghiên cứu và xây dựng nên các luận đề cho hướng
nghiên cứu mới của mình.
Thí dụ:
Newton (1642-1727) là nhà khoa học nổi tiếng, người đã xây nền tảng cho ngành

69

“Cơ học cổ điển”. Trong suy nghĩ của mình từ việc rút ra những mặt mạnh mặt yếu của
các nhà khoa học trước, Newton luôn luôn cố gắng tìm ra những phương pháp riêng
biệt để áp dụng cho từng vấn đề cụ thể.
Với mục đích làm cho độc giả cũng như những học viên dễ dàng đọc và hiểu một
cách tường tận các vấn đề khoa học hiện đại lúc bấy giờ (khám phá mới của mình).
Newton đã quyết định chọn phép chứng minh bằng phương pháp hình học để trình
bày các luận điểm mới về công trình nghiên cứu của ông trong tài liệu chuyên môn có
tiêu đề là “Các nguyên lý toán học của triết học tự nhiên” của mình.
Euler và Lagrange là các nhà toán học nổi tiếng của thế kỷ XVIII đã phát hiện ra
được các mặt yếu của phương pháp “hình học”, đồng thời cũng tìm thấy được những
mặt mạnh trong phép tính “giải tích” khi dùng cho việc chứng minh và giải thích rõ
ràng đầy đủ về các hiện tượng cơ học.
Nên Euler đã đề xuất chọn cách giải quyết vấn đề bằng phương pháp giải tích để
chứng minh những nguyên lý, luận điểm cơ bản của Newton.
Leonhard Euler đã hệ thống hóa vấn đề nghiên cứu “Cơ học” bằng phương pháp
giải tích, năm 1736 ông cho xuất bản cuốn “Cơ học”.
Phân tích trên các mặt mạnh, mặt yếu của các công trình trước, dựa trên phép
toán giải tích để nghiên cứu về chuyển động – ông đã cho xuất bản cuốn sách khác với
tên gọi là:
“Cơ học giải tích”.
2. Phát hiện vấn đề từ thông tin khoa học
Việc phát hiện vấn đề nghiên cứu theo hướng này có thể lấy được lượng thông tin từ
những cuộc tranh luận khoa học.
Khoa học phát triển đòi hỏi phải có nhiều nguồn thông tin hiện đại, cập nhật và thời sự
qua nhiều hình thức truyền bá thông tin khoa học khác nhau. Hình thức thông tin khoa học
lúc đầu là do được truyền đạt trực tiếp, trao đổi qua các cuộc Hội nghị, Hội thảo, Seminar
khoa học, hoặc trao đổi thư từ giữa các nhà khoa học với nhau.
Ngày nay để có được những thông tin cập nhật và nhanh chóng, ngoài các hình thức
trao đổi thông tin ở trên ta còn có thể trao đổi qua mạng (truy cập mạng qua Internet), hay
trao đổi bằng thư điện tử (Email).
Ngoài ra, ngày nay ta còn thấy nhiều trung tâm nghiên cứu, Trường, Viện Đại học có
những tạp chí khoa học chuyên ngành, các cổng thông tin điện tử. Đây cũng là một trong
những địa chỉ trao đổi thông tin khoa học tin cậy.

70

Việc tổ chức các buổi sinh hoạt học thuật (Seminar), “Hội nghị”, “Hội thảo khoa học” là
một trong những cơ hội tốt cho người nghiên cứu phân tích và phát hiện vấn đề khoa học
cần đặt ra cho sự nghiên cứu.
Việc tranh luận khoa học của các đồng nghiệp về các công trình khoa học sẽ đề cập đến
mặt mạnh, mặt yếu, ưu nhược điểm trong mỗi công trình, tính đúng tính sai của phương
pháp nghiên cứu.
Khi thảo luận phải biết phân tích, xem xét kỹ lưỡng trên mọi phương diện, khía cạnh,
cấu trúc của vấn đề như: “luận đề”, “luận cứ”, “luận chứng” (của các công trình khoa học)
đồng thời cũng không thể bỏ qua những ý kiến bất đồng của các đồng nghiệp.
Sự tham gia tranh luận để làm sáng tỏ về một “vấn đề khoa học” hoặc tiếp thu các ý
kiến từ việc tranh luận khoa học sẽ có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Đó chính là sự định hướng giúp cho người nghiên cứu phát hiện ra vấn đề cần nghiên
cứu của mình.
Trong các tranh luận khoa học, điều cần lưu ý đó là người nghiên cứu không được xem
thường, mà phải cần chú ý đến tất cả những ý kiến của những nhà chuyên môn cũng như
của những người không phải trong chuyên ngành hẹp của mình. Những lời góp ý, phàn nàn
của họ đôi khi cũng có thể giúp cho ta phát hiện ra những vấn đề khoa học hết sức thiết
thực.
Thí dụ:
Việc sáng chế xe điện đầu tiên của Edison chính là kết quả bất ngờ, hoàn toàn ngẫu
nhiên. Sau khi nghe lời phàn nàn trong đêm khánh thành mạng lưới đèn điện chiếu sáng đầu
tiên ở một thị trấn ngoại ô của thành phố New York. Một số người lớn tuổi ở nông thôn phát
biểu sau buổi triển lãm rằng:
“…Cái ông Edison làm ra được đèn điện mà không làm ra được cái xe điện cho
người già, người ở nông thôn dễ dàng đi đây, đi đó…”.
Từ lời phàn nàn như vậy buộc các nhà nghiên cứu phải có suy nghĩ định hướng về
những vấn đề bức thiết cũng như đáp ứng được các nhu cầu của xã hội đặt ra.
Hoặc: Để bác bỏ “Hệ Địa tâm” của Ptolemée và xây dựng về “Hệ Nhật tâm” của
Copernic (Nicolaus Copernicus); Galileo Galilei đã làm rất nhiều thí nghiệm nhằm mục đích
bảo vệ thành công cho được học thuyết “Nhật tâm” của Copernic.
Sau nhiều năm nghiên cứu, ông đã cho công bố tài liệu với nhan đề là:
“Đối thoại về hai hệ thống thế giới: hệ qui chiếu Ptolémé và hệ qui chiếu
Copernic”.

71

Dưới hình thức đối thoại để xây dựng cơ sở khoa học cho Vật lý học, Thiên văn học
và Triết học theo học thuyết Copernic. Nội dung vấn đề khoa học được đưa ra mổ xẻ
theo chương trình làm việc như sau:
– Cuộc tranh luận ngày thứ nhất:
Thảo luận về những vấn đề mang tính Triết học chung, mục đích để đi tìm chân
lý khoa học.
– Cuộc tranh luận ngày thứ hai:
Đã phá lập luận của các tư tưởng theo quan điểm phái “Kinh viện”. Mục đích của
cuộc tranh luận này nhằm mục đích xây dựng những quan niệm mới của “Cơ học”.
– Cuộc tranh luận ngày thứ ba:
Phân tích những phát minh mới nhằm mục đích để bác bỏ cho được luận điểm
cổ hủ lạc hậu dẫn đến sai lầm của Aristote và chứng minh cho sự đúng đắn của học
thuyết Copernic.
3. Phương pháp tự rèn luyện. Khi gặp khó khăn trở ngại trong quá trình nhận thức,
người nghiên cứu luôn luôn tư duy để hình thành ý tưởng nghiên cứu nhằm phát hiện cho ra
được những vấn đề khoa học.
Các nhà nghiên cứu luôn tạo cho mình biết cách suy nghĩ, tư duy về lĩnh vực mà mình
nghiên cứu, trì chí rèn luyện bản thân để tìm ra các ý tưởng khoa học. Thậm chí có lúc cần
thiết phải nghĩ theo hướng ngược lại (opposite) với quan niệm suy luận thông thường mới
có thể phát hiện được vấn đề khoa học.
Đối với những nhà nghiên cứu từng trải đã có một bề dày kinh nghiệm, thì luôn luôn dễ
dàng có những ý tưởng nghiên cứu xuất hiện thường trực trong đầu. Song đối với những
người nghiên cứu trẻ, mới bắt đầu công việc nghiên cứu khoa học thì phát hiện ra các ý
tưởng nghiên cứu không dễ dàng gì! Họ cần phải tự rèn luyện hình thức tư duy của mình
một cách khoa học cũng như biết cách rút ra những kinh nghiệm từ thực tiễn ở một số công
trình nghiên cứu khoa học đã làm trước đó.
Chẳng hạn như:
Haley sau nhiều năm tìm hiểu về sao chổi, ông đã vận dụng ba định luật Kepler
để quan sát và xác định quỹ đạo của hai sao chổi phát hiện được vào năm 1680 và
1682.
Tuy nhiên, với những tri thức vốn có kết hợp với nỗ lực của bản thân, nhưng vẫn
chưa đạt được kết quả như mong muốn. Nhiều năm sau đó, ông đã chịu khó tự mình
đi tìm hiểu trực tiếp hoặc sưu tầm qua các tài liệu trên nhiều nước về vấn đề này. Vất

72

vả trong nhiều năm để xác định quỹ đạo chuyển động của 24 sao chổi xuất hiện tại các
thời điểm và vị trí khác nhau trên nhiều quốc gia. Đến năm 1705 ông đã cho công bố
kết quả nghiên cứu của mình về quy luật chuyển động sao chổi.
Haley tính được chu kỳ sao chổi là khoảng 76 năm. Vào năm 1682 ông dự báo
sao chổi này sẽ xuất hiện trở lại vào năm 1759. Thật vậy, điều đáng ngạc nhiên và tạo
sự khâm phục đối với mọi người là vào ngày 13 tháng 3 năm 1759 sao chổi mà Haley
dự đoán từ lâu đã xuất hiện. Các nhà khoa học đương thời hết sức thán phục và đã đặt
tên cho sao chổi mỗi lần thấy nó xuất hiện với tên gọi rất trân trọng là “Ông Haley” hay
“Sao chổi Haley”.
– Cũng tương tự như vậy, bằng phương pháp tự rèn luyện Johann Kepler đã xác
định chính xác về quỹ đạo chuyển động của Sao Hỏa.
Tikho Brahé là nhà Thiên văn đại tài, ông đã làm việc ròng rã suốt 30 năm liền tại
Đài quan sát Thiên văn của mình. Kepler là người kế nhiệm Brahé đã hiệu chỉnh lại kết
quả quan sát về quỹ đạo sao Hoả, ông thực hiện nhiều phép tính bằng cách làm đi làm
lại nhiều lần để giải bài toán trên (đến 70 lần) chỉ vì để xác định một sai số nhỏ cỡ 8
phút góc trên một vòng tròn quỹ đạo của sao Hoả.
Sau khi tính toán cẩn thận, ông đưa ra công bố kết quả mghiên cứu của mình là:
“…Nguyên nhân sai lệch này chính là do sự khúc xạ của ánh sáng trong khí
quyển truyền từ Thiên thể đến mắt người quan sát” (*).

Câu hỏi ôn tập Chương 5
1. Vấn đề khoa học là gì?
Hãy trình bày về bản chất của vấn đề Khoa học là gì?
2. Trình bày và giải thích mối tương tác giữa người nghiên cứu và vấn đề khoa học.
3. Định hướng một vấn đề Khoa học mà bản thân anh (chị) đã quan tâm nghiên cứu.
Thử nêu lên luận đề, luận cứ để chứng minh cho hướng nghiên cứu của mình.
4. Cho biết mục đích và ý nghĩa của sự phát triển vấn đề khoa học. Trình bày một số
phương pháp phát hiện vấn đề khoa học.
5. Xuất phát từ những cơ sở nào mà anh (chị) phát hiện ra vấn đề khoa học. Hãy nêu ví
dụ từ bản thân và đề xuất hướng nghiên cứu.
(*)

Đào Văn Phúc – Lịch sử Vật lý học – Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1999.

73

6. Trình bày khái niệm và phương pháp phát hiện vấn đề khoa học.
Cho một số thí dụ minh họa.
7. Tại sao trong phương pháp tự rèn luyện, người nghiên cứu tư duy để hình thành các
ý tưởng khoa học.
Cho thí dụ minh hoạ và phân tích theo: Luận đề, luận cứ và luận chứng.
8. Vận dụng vào vấn đề nghiên cứu của mình, nêu lý do mà bạn chọn đề tài từ những
phát hiện vấn đề như thế nào trong thực tế. Đề xuất hướng nghiên cứu và đưa ra cách giải
quyết vấn đề đó?

74

Chương VI
VAI TRÒ CỦA GIẢ THUYẾT
TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

1. Vai trò và vị trí của giả thuyết
Nhiều thành tựu vĩ đại của khoa học xuất phát từ các ý tưởng, giả thuyết định hướng
trước cho việc nghiên cứu. Thật vậy, sự phát triển khoa học trong vật lý, hóa học, sinh học …
và nhiều ngành khoa học khác đã xuất phát từ giả thuyết thiên tài của Faraday, Mendeleev,
Darwin v.v…
Khái niệm giả thuyết nghiên cứu (research hypothesis) là một ý tưởng có sự định
hướng, một kết luận mang tính giả định về bản chất công việc do người nghiên cứu đề xuất
trong việc nghiên cứu khoa học của mình. Với ý nghĩa như vậy, nên khái niệm này còn được
gọi là giả thuyết khoa học (Scientific hypothesis).
Trước đây giả thuyết chỉ được đặt ra cho các ngành khoa học thực nghiệm hoặc tự
nhiên. Việc đặt một giả thuyết khoa học đã thực sự trở thành một yêu cầu của phương pháp
nghiên cứu khoa học bắt đầu từ thế kỷ thứ 18.
Ngày nay, ý tưởng nghiên cứu phải được xây dựng sao cho phù hợp với quy luật, có
phương pháp; nên nó là công cụ của một phương pháp luận không chỉ cho khoa học tự
nhiên, xã hội mà còn cho cả trong nghiên cứu khoa học về xã hội và nhân văn.
Phương pháp luận nghiên cứu là cơ sở khoa học khởi đầu cho công việc nghiên cứu,
bởi lẽ trước đây người ta thường tư duy theo kiểu giáo điều hoặc làm công tác nghiên cứu
một cách mò mẫm – thực hiện theo chức năng của các nhà giả kim thuật, duy tâm – nên
Claude Bernard đã phải nhấn mạnh rằng:
“Giả thuyết là khởi điểm của mọi nghiên cứu khoa học, không có khoa học nào
mà lại không có giả thuyết”(*)
Phương pháp giả thuyết là phương pháp nhận thức khoa học. Thông thường người ta
dự đoán trước vấn đề khoa học, mục đích của việc nghiên cứu; đồng thời tìm cách giải thích
các hiện tượng dựa trên những điều đã dự đoán – do đó hình thành nên giả thuyết khoa
học.

(*)

Lê Tử Thành: Tìm hiểu Logic học – NXB Trẻ, TP/HCM, 1993, tr 147.

75