đề cương ôn tập môn thị trường chứng khoán – Tài liệu text
đề cương ôn tập môn thị trường chứng khoán
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (148.1 KB, 8 trang )
Câu 1 : Thị trường chứng khoán là gì ?
Thị trường chứng khoán: là một thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán, chuyển nhượng, trao đổi
chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời. Tuy nhiên, đó có thể là TTCK tập trung hoặc phi tập trung.
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán. Việc
mua bán được tiến hành ở hai thị trường sơ cấp và thứ cấp. do vậy thị trường chứng khoán là nơi chứng
khoán được phát hành và trao đổi.
Vai trò của thị trường chứng khoán ?
+ Thị trường chứng khoán là công cụ khuyến khích dân chúng tiết kiệm và sử dụng nguồn vốn tiết kiệm
vào công cụ đầu tư.
+ Thị trường chứng khoán là phương tiện huy động vốn.
+ Thị trường chứng khoán là công cụ làm giảm áp lực lạm phát.
+ Thị trường chứng khoán có tổ chức sẽ là nơi cung cấp mọi thông tin cần thiết về các loại cổ phiếu,
chứng khoán và các công ty chứng khoán.
Chức năng của TTCK
1. Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế:
Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào
hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội. Thông qua TTCK, Chính
phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu
tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội.
2. Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng:
TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú.
Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà
đầu tư có thể lựa chọn loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình.
3. Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán:
Nhờ có TTCK các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại
chứng khoán khác khi họ muốn. Khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng
khoán đối với người đầu tư. Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư. TTCK hoạt
động càng năng động và có hiệu quả thì tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường
càng cao.
4. Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp:
Thông qua chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính
xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ
đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp
dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm.
5. Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô:
Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chính xác. Giá các
chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng; ngược lại giá chứng
khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế. Vì thế, TTCK được gọi là phong vũ biểu
của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô.
Thông qua TTCK, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm
hụt ngân sách và quản lý lạm phát. Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện
pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế.
Các thành phần tham gia trên TTCK ?
Nhà phát hành: là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua TTCK. Nhà phát hành là người cung
cấp chứng khoán – hàng hoá của TTCK.
+ Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu chính phủ và trái phiếu địa
phương
+ Các công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty.
+ Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái phiếu…phục vụ cho hoạt
động của họ.
Nhà đầu tư:Nhà đầu tư là những người thực sự mua, bán chứng khoán trên TTCK. Nhà đầu tư có thể
chia thành 2 loại: Nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức.
Nhà đầu tư cá nhân là những người có vốn tạm thời nhàn rỗi, tham gia mua bán trên TTCK với mục
đích là tìm kiếm lợi nhuận. Tuy nhiên, trong đầu tư thì lợi nhuận luôn gắn liền với rủi ro, lợi nhuận càng
lớn thì rủi ro càng cao.
Nhà đầu tư có tổ chức, hay còn gọi là các định chế đầu tư, thường xuyên mua bán chứng khoán với số
lượng lớn trên TTCK. Đầu tư thông qua các tổ chức có ưu điểm là có thể đa dạng hoá các danh mục đầu
tư.
+Các nhà môi giới – công ty chứng khoán:Công ty chứng khoán là những công ty hoạt động trong lĩnh
vực chứng khoán: môi giới, quản lý quỹ đầu tư và tư vấn đầu tư chứng khoán…
Các tổ chức quản lý điều hành TTCK:
+ Uỷ ban chứng khoán: Cơ quan này có thể có những tên gọi khác nhau, nó được thành lập để thực hiện
chức năng quản lý nhà nước đối với chứng khoán.
Tại Việt Nam, UBCKNN cũng đã được thành lập theo nghị định số 75/CP ngày 28/11/1996 của chính
phủ.
+:SGDCK thực hiện vận hành thị trường thông qua bộ máy tổ chức gồm nhiều bộ phận khác nhau.
Ngoài ra SGDCK cũng ban hành những quy định điều chỉnh các hoạt động giao dịch chứng khoán trên
sở phù hợp với các quy định của pháp luật và uỷ ban chứng khoán.
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán:
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán là tổ chức của các công ty chứng khoán và một số thành viên
khác hoạt động trong ngành chứng khoán, được thành lập với mục đích bảo vệ lợi ích cho các công ty
thành viên.
Nguyên tắc hoạt động của TTCK ?
Nguyên tắc cạnh tranh:Giá cả trên TTCK phản ảnh mối quan hệ cung cầu về chứng khoán và thể hiện
tương quan cạnh tranh giữa các công ty.
Nguyên tắc công bằng: Nguyên tắc này nhằm đảm bảo lợi ích cho tất cả những người tham gia trên
TTCK. Công bằng có nghĩa là mọi người tham gia TTCK đều phải tuân thủ những quy định chung,
được bình đẳng trong việc chia sẻ thông tin và trong việc gánh chịu các hình thức xử phạt nếu vi phạm
Nguyên tắc công khai:Người đầu tư không thể kiểm tra trực tiếp được các chứng khoán như các hàng
hoá thông thường mà phải dựa trên cơ sở các thông tin có liên quan. Vì vậy TTCK phải được xây dựng
trên cơ sở hệ thống công bố thông tin tốt.
Nguyên tắc trung gian:Theo nguyên tắc này, trên TTCK, các giao dịch thực hiện thông qua tổ chức
trung gian là các công ty chứng khoán.
Nguyên tắc tập trung:TTCK phải hoạt động trên nguyên tắc tập trung. Các giao dịch CK chỉ diễn ra trên
sở giao dịch chứng khoán và thị trường OTC, có sự kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý nhà nước và
các tổ chức tự quản.
Cấu trúc và phân loại cơ bản của TTCK ?
1. Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn gồm :
– Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các loại chứng khoán mới phát hành.Trên thị
trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu
tư mua các chứng khoán mới phát hành.
– Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ
cấp, đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành.
2. Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường
Thị trường chứng khoán được phân thành thị trường tập trung (Sở giao dịch chứng khoán)
và phi tập trung ( thị trường OTC).
3. Căn cứ vào hàng hoá trên thị trường ,phân thành các thị trường gồm :
– Thị trường cổ phiếu: thị trường cổ phiếu là thị trường giao dịch và mua bán các loại cổ
phiếu, bao gồm cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi.
– Thị trường trái phiếu: thị trường trái phiếu là thị trường giao dịch và mua bán các trái
phiếu đã được phát hành, các trái phiếu này bao gồm các trái phiếu công ty, trái phiếu đô
thị và trái phiếu chính phủ.
– Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh là thị trường phát hành và mua đi bán
lại các chứng từ tài chính khác như: quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền
chọn
Hình thức giao dịch của TTCK ?
1. Mua bán chứng khoán của tổ chức phát hành,có thể thực hiện theo hai hình thức:
– Mua trực tiếp tại tổ chức phát hành(công ty):nhà đầu tư phải đăng ký mua và nộp tiền
trực tiếp tại tổ chức phát hành CK.Hình thức này rất bất cập, nhất là về mặt địa lý.
– Mua thông qua trung gian: tức mua thông qua các nhà đại lý hoặc bảo lãnh phát hành,
thông thường là các công ty chứng khoán và ngân hàng thương mại
2. Mua bán chứng khoán niêm yết tại các sở giao dịch chứng khoán:
Chứng khoán niêm yết là chứng khoán có đủ điều kiện và tiêu chuẩn được đăng ký để mua
bán tại các sở giao dịch chứng khoán. Khi mua bán chứng khoán niêm yết phải tuân thủ
theo một số nguyên tắc sau:
– Mọi giao dịch mua bán chứng khoán đều phải qua hệ thống tại sở giao dịch chứng khoán
theo phương thức khớp lệnh hoặc phương thức thỏa thuận.
– Giao dịch chứng khoán thực hiện theo phương thức khớp lệnh trên nguyên tắc ưu tiên về
giá và ưu tiên về thời gian.
– Giao dịch chứng khoán niêm yết lô lẻ được thực hiện trực tiếp giữa người đầu tư với
công ty chứng khoán thành viên là thành viên của trung tâm giao dịch chứng khoán trên
nguyên tắc thỏa thuận về giá.
Quy trình giao dịch chứng khoán niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán:
Toàn bộ quy trình này được tiến hành theo năm bước:
– Bước 1: Nhà đầu tư đến mở tài khoản và đặt lệnh mua hay bán chứng khoán tại một công
ty chứng khoán.
– Bước 2: Công ty chứng khoán chuyển lệnh đó cho đại diện của công ty tại sở giao dịch
chứng khoán để nhập vào hệ thống giao dịch của sở.
– Bước 3: Sở giao dịch chứng khoán thực hiện ghép lệnh và thông báo kết quả giao dịch
cho công ty chứng khoán.
– Bước 4: Công ty chứng khoán thông báo kết quả giao dịch cho nhà đầu tư.
– Bước 5: Nhà đầu tư nhận được chứng khoán (nếu là người mua) hoặc tiền (nếu là người
bán) trên tài khoản của mình tại công ty chứng khoán sau ba ngày làm việc kể từ ngày mua
bán nếu quy định về thời gian thực hiện thanh toán bù trừ chứng khoán là T+3.
Phân biệt cổ phiếu và trái phiếu ?
Giống nhau:
– Được phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ
– Đều có mệnh giá được ghi trên bề mặt cổ phiếu/trái phiếu
– Lợi tức được trả theo một mức cố định
Khác nhau:
1.Cổ phiếu:
– Là một chứng thư xác nhận quyền sở hữu trong công ty và cho phép người sở hữu nó
được hưởng các quyền lợi thông thường trong công ty cổ phần
Đặc điểm:
– là một loại chứng khoán vốn, việc phát hành cổ phiếu làm tăng vốn chủ sở hữu.
– Cổ phiếu là một loại chứng khoán không có kỳ hạn thanh toán.
– Cổ tức sẽ được trả vào cuối niên để quyết toán
– Quyền lợi và trách nhiệm của cổ đông:
+ Phần vốn góp là vĩnh viễn không được rút vốn lại nhưng có thể chuyển nhượng quyền sở
hữu bằng cách bán cổ phiếu. Trách nhiệm của cổ đông chỉ giới hạnh trong phần vốn góp.
+ Quyền được hưởng cổ tức: đươc chia lời khi công ty có lãi tuy nhiên cổ tức này không
cố định phụ thuộc vào lợi nhuận và chính sách chia lời hàng năm của công ty.
+ Quyền được tham gia quản lý công ty và phải gánh chịu những rủi ro của công ty
+ Quyền lợi đối với các đợt chứng khoán phát hành trong tương lai của công ty
+ Được hưởng phúc lợi dành cho cổ đông
2.Trái phiếu:
– Là một lọai chứng thư vay vốn do DN phát hành thể hiện nghĩa vụ và sự cam kết của DN
thanh toán số lợi tức và tiền vay vào những thời điểm nhất định cho người nắm giữ trái
phiếu
Đặc điểm:
– Là một lọai CK nợ,việc phát hành trái phiếu để huy động vốn vay trung và dài hạn.
– Trái phiếu có thời hạn: là thời hạn đi vay của tổ chức phát hành đối với trái chủ và được
ghi rõ trên bề mặt trái phiếu
– Trái phiếu có quy định lợi suất và thời hạn trả: Khác với cổ phiếu không quy định cụ thể
tỷ suất cổ tức và thời hạn trả lãi. Mỗi trái phiếu có ghi cam kết của tổ chức phát hành thanh
toán cho người sở hữu trái phiếu một số tiền lãi cố định vào một ngày xác định.
– Trái chủ là người cho vay tiền nên có quyền lợi và nghĩa vụ nhất định đối với khoản vay
này:
+ Lợi tức của trái phiếu không phụ thuộc vào kết quả hoạt động của công ty
+ Được hoàn vốn đúng hạn hoặc trước hạn tùy thỏa thuận 2 bên
+ Được quyền bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, cầm cố
+ Được thanh toán trước các cổ phiếu khi công ty thanh lý giải thể
Phân biệt cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi ?
CPPT :
-mang lại lợi ích từ cổ tức ( phần lợi nhuận sau thuế sau khi đã trích các quỹ “đầu tư và
phát triển ” chia cho chủ sở hữu và các chủ nhân của cổ phiếu ưu đãi) và giá trị chênh
lệch khi giá trị thị trường của công ty nâng cao(chênh lệch giá cổ phiếu)
– mang lại quyền bỏ phiếu bầu ban quản trị công ty( thường 1 cổ phiếu /1lá phiếu) và
quyền bỏ phiếu quyết định các vấn đề liên quan đến công ty.
– nếu công ty phá sản những người nắm dữ cố phiếu thường sẽ được giải quyết quyền lợi
sau khi đã giải quyết các khoản nợ và lợi ích cho người nắm giữ cổ phiếu ưu đãi
– những người nắm giữ cổ phiếu thường có quyền duy chì tỷ lệ cổ phần bằng việc được ưu
tiên mua trước khi công ty phát hành thêm cổ phiếu(o ép buộc)
CP U.đãi :
– cho phép chủ sử hữu nó được trả cổ tức trước cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường
– chủ sở hữu không có quyền biểu quyết như cổ phiếu thường
– được trả cổ tức một lượng nhất định ko thay đổi ngay cả khi làm ăn thua lỗ
-khi công ty phá sản được ưu tiên hoàn trả tài sản trước!
* nhìn trung cổ phiếu ưu đãi có ưu thế về mặt nhận được cổ tức ổn định chỉ có khuyết
điểm là công ty làm ăn tốt thì cổ tức vẫn ko thay đổi.
Câu 3 :Thị trường sơ cấp
Thị trường sơ cấp là nơi diễn ra quá trình mua bán lần đầu các chứng khoán mới phát hành.
Thị trường sơ cấp còn được gọi là thị trường cấp một hay thị trường phát hành.
2. Chức năng :Thị trường sơ cấp thực hiện chức năng quan trọng nhất của thị trường
chứng khoán, đó là huy động vốn cho đầu tư.
Thị trường sơ cấp vừa có khả năng thu gom mọi nguồn vốn tiết kiệm lớn nhỏ của từng hộ
dân cư, vừa có khả năng thu hút nguồn vốn to lớn từ nước ngoài; các nguồn vốn tạm thời
nhàn rỗi từ các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, chính phủ tạo thành một nguồn vốn
khổng lồ tài trợ cho nền kinh tế, mà các phương thức khác không thể làm được.
Như vậy, thị trường sơ cấp tạo ra môi trường cho các doanh nghiệp gọi vốn để mở rộng
sản xuất kinh doanh, giúp Nhà nước giải quyết vấn đề thiếu hụt ngân sách thông qua việc
phát hành trái phiếu, có thêm vốn để xây dung cơ sở hạ tầng. Nó cũng trực tiếp cải thiện
mức sống của người tiêu ding bằng cách giúp họ chọn thời điểm cho việc mua sắm của
mình tốt hơn.
Các phương pháp phát hành chứng khoán
Có 2 phương pháp phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp. Đó là phát hành riêng lẻ
và phát hành ra công chúng.
1. Phát hành riêng lẻ
Phát hành riêng lẻ là quá trình trong đó chứng khoán được bán trong phạm vi một số người
nhất định (thông thường là cho các nhà đầu tư có tổ chức), với những điều kiện (khối
lượng phát hành) hạn chế.
Việc phát hành chứng khoán riêng lẻ thông thường chịu sự điều chỉnh của Luật công ty.
Chứng khoán phát hành theo phương thức này không phảI là đối tượng giao dịch tại Sở
giao dịch chứng khoán.
2. Phát hành ra công chúng
Phát hành ra công chúng là quá trình trong đó chứng khoán được bán rộng rãi ra công
chúng, cho một số lượng lớn người đầu tư, trong tổng lượng phát hành phải giành một tỷ lệ
nhất định cho các nhà đầu tư nhỏ và khối lượng phát hành phải đạt được một mức nhất
định.
Những công ty phát hành chứng khoán ra công chúng được gọi là các công ty đại chúng.
Có sự khác nhau giữa phát hành cổ phiếu và phát hành trái phiếu ra công chúng?
* Phát hành cổ phiếu ra công chúng được thực hiện theo một trong hai hình thức sau:
– Phát hành lần đầu ra công chúng (IPO): là việc phát hành trong đó cổ phiếu của công ty
lần đầu tiên được bán rộng rãi cho công chúng đầu tư.
– Chào bán sơ cấp (phân phối sơ cấp): là đợt phát hành cổ phiếu bổ sung của công ty đại
chúng cho rộng rãi công chúng đầu tư.
* Phát hành trái phiếu ra công chúng được thực hiện bằng một hình thức duy nhất, đó là
chào bán sơ cấp (phân phối sơ cấp).
Việc phát hành chứng khoán ra công chúng phải chịu sự chi phối của pháp luật về chứng
khoán và phải được cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán cấp phép. Những công ty
phát hành chứng khoán ra công chúng phải thực hiện một chế độ báo cáo, công bố thông
tin công khai và chịu sự giám sát riêng theo qui định của pháp luật chứng khoán.
ở Việt Nam, việc phát hành chứng khoán ra công chúng để niêm yết tại Trung tâm giao
dịch chứng khoán phải tuân theo các qui định tại Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày
11/7/1998 của Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Nghị định này qui
định việc phát hành chứng khoán ra công chúng để niêm yết tại thị trường giao dịch tập
trung phải được Uỷ ban chứng khoán cấp phép trừ việc phát hành trái phiếu Chính phủ.
Các chứng khoán này sau khi được phát hành ra công chúng sẽ được niêm yết tại Trung
tâm giao dịch chứng khoán.
Mục đích của việc phân biệt hai hình thức phát hành (phát hành riêng lẻ và phát hành ra
công chúng như trên là nhằm có các biện pháp bảo vệ cho công chúng đầu tư, nhất là
những nhà đầu tư nhỏ không hiểu biết nhiều về lĩnh vực chứng khoán. Nhằm mục đích
này, để được phép phát hành ra công chúng, tổ chức phát hành phải là những công ty làm
ăn có chất lượng cao, hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, đáp ứng được các điều
kiện do cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán (Uỷ ban chứng khoán nhà nước) qui
định.
Câu 4 : Thị trường chứng khoán thứ cấp là thị trường giao dịch các chứng khoán đã
được phát hành trên thị trường sơ cấp.
Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường
thị sơ cấp. Thị trường đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành. Đây là
nơi trao đổi, mua bán các chứng khoán đã được phát hành. Nhà đầu tư mua đi bán lại
chứng khoán nhằm vào một trong các mục đích: cất giữ tài sản tài chính, nhận một khoản
thu nhập cố định hàng năm, hưởng chênh lệch giá.
Thị trường thứ cấp: tạo ra khả năng chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt dễ dàng,
thuận tiện; Tiền thu được ở đây không thuộc về nhà phát hành mà thuộc về nhà đầu tư bán
chứng khoán, nhượng lại quyền sở hữu chứng khoán cho nhà đầu tư khác.
Đặc điểm
+ Thị trường có tính chất cạnh tranh hoàn hảo.
+ Thị trường có tính liên tục.
+ Khối lượng và nhịp độ giao dịch lớn gấp nhiều lần so với thị trường chứng khoán sơ cấp.
+ Hoạt động chủ yếu của thị trường chứng khoán thứ cấp là các nhà đầu tư thực hiện
chuyển giao quyền sở hữu chứng khoán và tiền cho nhau.
Xét về phương thức tổ chức và giao dịch, thị trường chứng khoán bao gồm 3 loại: Sở giao
dịch chứng khoán, Thị trường phi tập trung (OTC), và thị trường thứ 3.
– Thị trường tập trung (Sở giao dịch chứng khoán): là thị trường trong đó việc giao dịch
mua bán chứng khoán được thực hiện tại một địa điểm tập trung gọi là sàn giao dịch
(trading floor). Các chứng khoán được niêm yết tại Sở giao dịch thông thường là chứng
khoán của những công ty lớn, có danh tiếng, đã qua thử thách của thị trường. Phương thức
giao dịch tại Sở giao dịch là phương thức đấu giá, trong đó các lệnh mua, bán được ghép
với nhau để hình thành giá cả cạnh tranh tốt nhất.
– Thị trường phi tập trung (OTC): là thị trường trong đó việc giao dịch mua bán chứng
khoán không diễn ra tại một địa điểm tập trung mà thông qua hệ thống computer nối mạng
giữa các thành viên của thị trường. Các chứng khoán được giao dịch trên thị trường phi tập
trung là chứng khoán của các công ty vừa và nhỏ. Phương thức giao dịch tại thị trường
OTC là phương thức thoả thuận, giá cả chứng khoán được xác định trên cơ sở thoả thuận
giữa các thành viên của thị trường.
– Thị trường thứ 3: là thị trường, trong đó hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán không
được thực hiện thông qua hệ thống đấu giá của các Sở giao dịch và hệ thống computer của
thị trường OTC.
Hình thức sở hữu của Sở giao dịch
Sở giao dịch chứng khoán là một tổ chức có tư cách pháp nhân được thành lập theo quy
định của pháp luật. Lịch sử phát triển Sở giao dịch chứng khoán các nước đã và đang trải
qua các hình thức sở hữu sau đây:
– Hình thức sở hữu thành viên: Sở giao dịch chứng khoán do các thành viên là công ty
chứng khoán sở hữu, được tổ chức như một công ty trách nhiệm hữu hạn, có Hội đồng
quản trị mà thành phần đa số do các công ty chứng khoán thành viên cử ra. VD: Sở giao
dịch chứng khoán Hàn Quốc, Newyork, Tokyo, TháiLan.
– Hình thức công ty cổ phần: Sở giao dịch chứng khoán được tổ chức dưới hình thức công
ty cổ phần đặc biệt do các công ty chứng khoán thành viên, ngân hàng, công ty tài chính,
bảo hiểm sở hữu với mục tiêu là lợi nhuận theo qui định của Luật công ty. VD: Đức,
Malaysia, London, Hongkong…
– Hình thức sở hữu nhà nước: Sở giao dịch chứng khoán do Nhà nước sở hữu (phần lớn
hoặc toàn bộ) như trường hợp Sở giao dịch chứng khoán Warsawar, Istabul, Việt Nam…
Trong các hình thức trên, hình thức sở hữu thành viên là phổ biến nhất. Hình thức này cho
phép Sở giao dịch chứng khoán có quyền tự quản ở mức độ nhất định, nâng cao được tính
hiệu quả và sự nhanh nhạy trong vấn đề quản lý hơn là hình thức sở hữu nhà nước. Tuy
nhiên, trong những hoàn cảnh lịch sử nhất định, việc Chính phủ nắm quyền sở hữu và quản
lý Sở giao dịch sẽ cho phép ngăn ngừa sự lộn xộn, không công bằng khi hình thức sở hữu
thành viên chưa được bảo vệ bằng hệ thống pháp lý đầy đủ và rõ ràng. Ví dụ như trường
hợp của Hàn Quốc, Sở giao dịch chứng khoán được thành lập từ năm 1956 nhưng đến năm
1963 bị đổ vỡ phải đóng cửa 57 ngày do các thành viên sở hữu Sở giao dịch chứng khoán
gây lộn xộn trong thị trường; sau đó Nhà nước đã phải đứng ra nắm quyền sở hữu Sở giao
dịch chứng khoán trong thời gian khá dài từ năm 1963 đến 1988.
Câu 9 : Phân biệt thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
Căn cứ vào thời hạn luân chuyển của vốn người ta đã chia TTCK ra làm 2 loại :
A, Thị trường sơ cấp:
– Là thị trường mua bán các CK lần đầu được phát hành qua đó huy động vốn để đưa và
đầu tư
– Thị trường này cung cấp hàng hóa cho TTCK, có khả năng thu gom mọi nguồn vốn tiết
kiệm lớn nhỏ của từng hộ dân cư vừa có khả năng thu hút nguồn vốn to lớn từ nước ngoài,
các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ các dn, các tổ chức tài chính, chính phủ tạo thành một
nguồn vốn khổng lồ tài trợ cho nền kinh tế một cách có hiệu quả, hđ of TTCK cũng làm
tăng vốn cho nhà phát hành thông qua việc bán CK cho nhà đầu tư
– Nó cũng trực tiếp cải thiện mức sống của người tiêu dung bằng cách giúp họ chọn thời
điểm cho việc mua sắm của mình tốt hơn
– Việc mua bán CK trên TT sơ cấp thường được tiến hành thông qua trung gian đó là NH
– Phương thức phát hành chứng khoán : phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng
– Thị trường này hđ không liên tục
B, Thị trường thứ cấp:
– Là thị trường mua đi bán lại các loại CK đã được phát hành lần đầu ở thị trường sơ cấp
– Thị trường thứ cấp tạo đk dễ dàng để bán những CK đã phát hành ở thị trường sơ cấp TT
thứ cấp này làm cho các CK có tính lỏng hơn, tính lỏng này làm cho CK được ưa chuộng
và sẽ làm cho các tổ chức dễ dàng hơn cho các tổ chức phát hành bán chúng ở thị trường
sơ cấp
– TT thứ cấp xđ giá bán of mỗi loại CK mà tổ chức phát hành bán ở thị trường sơ cấp
→ Mặc dù TT thứ cấp không làm tăng them vốn đầu tư cho nền kt nhưng chính nhờ 2
chức năng này mà thị trường thứ cấp có vị trí quan trọng trong tổng thể thị trường tài chính
– Việc mua bán trên TT thứ cấp được tiến hành thông qua các công ty môi giới
– Thị trường thứ cấp được tổ chức theo 2 cách: Thị trường tập trung, TT phi tập trung, TT
thứ 3 là thị trường trong đó hđ giao dịch mua bán được thực hiện thông qua hệ thống đấu
giá của Sở giao dịch và hệ thống máy tính của thị trường OTC
– Thị trường này hđ liên tục,các CK được mua đi bán lại làm tăng khả năng thanh khoản
cho CK .
¬ 2 thị trường này có mối quan hệ mật thiết với nhau, thị trường sơ cấp tạo cơ sở hàng hóa
cho TT thứ cấp ,2 thị trường này bổ sung cho nhau thúc đẩy nhau cùng phát triển.
xác, giúp cho việc nhìn nhận và so sánh hoạt động giải trí của doanh nghiệp được nhanh gọn và thuận tiện, từđó cũng tạo ra một môi trường tự nhiên cạnh tranh đối đầu lành mạnh nhằm mục đích nâng cao hiệu suất cao sử dụng vốn, kích thích ápdụng công nghệ tiên tiến mới, nâng cấp cải tiến loại sản phẩm. 5. Tạo thiên nhiên và môi trường giúp nhà nước triển khai những chủ trương kinh tế tài chính vĩ mô : Các chỉ báo của TTCK phản ánh hành động của nền kinh tế tài chính một cách nhạy bén và đúng chuẩn. Giá cácchứng khoán tăng lên cho thấy góp vốn đầu tư đang lan rộng ra, nền kinh tế tài chính tăng trưởng ; ngược lại giá chứngkhoán giảm sẽ cho thấy những tín hiệu xấu đi của nền kinh tế tài chính. Vì thế, TTCK được gọi là phong vũ biểucủa nền kinh tế tài chính và là một công cụ quan trọng giúp nhà nước thực thi những chủ trương kinh tế tài chính vĩ mô. Thông qua TTCK, nhà nước hoàn toàn có thể mua và bán trái phiếu nhà nước để tạo ra nguồn thu bù đắp thâmhụt ngân sách và quản trị lạm phát kinh tế. Ngoài ra, nhà nước cũng hoàn toàn có thể sử dụng một số ít chủ trương, biệnpháp tác động ảnh hưởng vào TTCK nhằm mục đích khuynh hướng góp vốn đầu tư bảo vệ cho sự tăng trưởng cân đối của nền kinh tế tài chính. Các thành phần tham gia trên TTCK ? Nhà phát hành : là những tổ chức triển khai triển khai kêu gọi vốn trải qua TTCK. Nhà phát hành là người cungcấp chứng khoán – hàng hoá của TTCK. + nhà nước và chính quyền sở tại địa phương là nhà phát hành những trái phiếu cơ quan chính phủ và trái phiếu địaphương + Các công ty là nhà phát hành những CP và trái phiếu công ty. + Các tổ chức triển khai kinh tế tài chính là nhà phát hành những công cụ kinh tế tài chính như những trái phiếu … Giao hàng cho hoạtđộng của họ. Nhà góp vốn đầu tư : Nhà góp vốn đầu tư là những người thực sự mua, bán chứng khoán trên TTCK. Nhà góp vốn đầu tư có thểchia thành 2 loại : Nhà góp vốn đầu tư cá thể và nhà đầu tư có tổ chức triển khai. Nhà góp vốn đầu tư cá thể là những người có vốn trong thời điểm tạm thời nhàn nhã, tham gia mua và bán trên TTCK với mụcđích là tìm kiếm doanh thu. Tuy nhiên, trong góp vốn đầu tư thì doanh thu luôn gắn liền với rủi ro đáng tiếc, doanh thu cànglớn thì rủi ro đáng tiếc càng cao. Nhà góp vốn đầu tư có tổ chức triển khai, hay còn gọi là những định chế góp vốn đầu tư, tiếp tục mua và bán chứng khoán với sốlượng lớn trên TTCK. Đầu tư thông qua những tổ chức triển khai có ưu điểm là hoàn toàn có thể đa dạng hoá những hạng mục đầutư. + Các nhà môi giới – công ty chứng khoán : Công ty chứng khoán là những công ty hoạt động giải trí trong lĩnhvực chứng khoán : môi giới, quản trị quỹ góp vốn đầu tư và tư vấn góp vốn đầu tư chứng khoán … Các tổ chức triển khai quản trị quản lý và điều hành TTCK : + Uỷ ban chứng khoán : Cơ quan này hoàn toàn có thể có những tên gọi khác nhau, nó được xây dựng để thực hiệnchức năng quản trị nhà nước so với chứng khoán. Tại Nước Ta, UBCKNN cũng đã được xây dựng theo nghị định số 75 / CP ngày 28/11/1996 của chínhphủ. + : SGDCK triển khai quản lý và vận hành thị trường trải qua cỗ máy tổ chức triển khai gồm nhiều bộ phận khác nhau. Ngoài ra SGDCK cũng phát hành những pháp luật kiểm soát và điều chỉnh những hoạt động giải trí thanh toán giao dịch chứng khoán trênsở tương thích với những pháp luật của pháp lý và uỷ ban chứng khoán. Hiệp hội những nhà kinh doanh chứng khoán : Thương Hội những nhà kinh doanh chứng khoán là tổ chức triển khai của những công ty chứng khoán và một số ít thành viênkhác hoạt động giải trí trong ngành chứng khoán, được xây dựng với mục tiêu bảo vệ quyền lợi cho những công tythành viên. Nguyên tắc hoạt động giải trí của TTCK ? Nguyên tắc cạnh tranh đối đầu : Giá cả trên TTCK phản ảnh mối quan hệ cung và cầu về chứng khoán và thể hiệntương quan cạnh tranh đối đầu giữa những công ty. Nguyên tắc công minh : Nguyên tắc này nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi cho tổng thể những người tham gia trênTTCK. Công bằng có nghĩa là mọi người tham gia TTCK đều phải tuân thủ những pháp luật chung, được bình đẳng trong việc san sẻ thông tin và trong việc gánh chịu những hình thức xử phạt nếu vi phạmNguyên tắc công khai minh bạch : Người góp vốn đầu tư không hề kiểm tra trực tiếp được những chứng khoán như những hànghoá thường thì mà phải dựa trên cơ sở những thông tin có tương quan. Vì vậy TTCK phải được xây dựngtrên cơ sở mạng lưới hệ thống công bố thông tin tốt. Nguyên tắc trung gian : Theo nguyên tắc này, trên TTCK, những thanh toán giao dịch triển khai trải qua tổ chứctrung gian là những công ty chứng khoán. Nguyên tắc tập trung chuyên sâu : TTCK phải hoạt động giải trí trên nguyên tắc tập trung chuyên sâu. Các thanh toán giao dịch CK chỉ diễn ra trênsở thanh toán giao dịch chứng khoán và thị trường OTC, có sự kiểm tra giám sát của cơ quan quản trị nhà nước vàcác tổ chức triển khai tự quản. Cấu trúc và phân loại cơ bản của TTCK ? 1. Căn cứ vào sự luân chuyển những nguồn vốn gồm : – Thị trường sơ cấp là thị trường mua và bán những loại chứng khoán mới phát hành. Trên thịtrường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành trải qua việc nhà đầutư mua những chứng khoán mới phát hành. – Thị trường thứ cấp là nơi thanh toán giao dịch những chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơcấp, bảo vệ tính thanh toán cho những chứng khoán đã phát hành. 2. Căn cứ vào phương pháp hoạt động giải trí của thị trườngThị trường chứng khoán được phân thành thị trường tập trung chuyên sâu ( Sở thanh toán giao dịch chứng khoán ) và phi tập trung chuyên sâu ( thị trường OTC ). 3. Căn cứ vào hàng hoá trên thị trường, phân thành những thị trường gồm : – Thị trường CP : thị trường CP là thị trường thanh toán giao dịch và mua và bán những loại cổphiếu, gồm có CP thường, CP khuyễn mãi thêm. – Thị trường trái phiếu : thị trường trái phiếu là thị trường thanh toán giao dịch và mua và bán những tráiphiếu đã được phát hành, những trái phiếu này gồm có những trái phiếu công ty, trái phiếu đôthị và trái phiếu chính phủ nước nhà. – Thị trường những công cụ chứng khoán phái sinh là thị trường phát hành và mua đi bánlại những chứng từ kinh tế tài chính khác như : quyền mua CP, chứng quyền, hợp đồng quyềnchọnHình thức thanh toán giao dịch của TTCK ? 1. Mua bán chứng khoán của tổ chức triển khai phát hành, hoàn toàn có thể thực thi theo hai hình thức : – Mua trực tiếp tại tổ chức triển khai phát hành ( công ty ) : nhà đầu tư phải ĐK mua và nộp tiềntrực tiếp tại tổ chức triển khai phát hành CK.Hình thức này rất chưa ổn, nhất là về mặt địa lý. – Mua trải qua trung gian : tức mua trải qua những nhà đại lý hoặc bảo lãnh phát hành, thường thì là những công ty chứng khoán và ngân hàng nhà nước thương mại2. Mua bán chứng khoán niêm yết tại những sở giao dịch chứng khoán : Chứng khoán niêm yết là chứng khoán có đủ điều kiện kèm theo và tiêu chuẩn được ĐK để muabán tại những sở giao dịch chứng khoán. Khi mua và bán chứng khoán niêm yết phải tuân thủtheo một số ít nguyên tắc sau : – Mọi thanh toán giao dịch mua và bán chứng khoán đều phải qua mạng lưới hệ thống tại sở giao dịch chứng khoántheo phương pháp khớp lệnh hoặc phương pháp thỏa thuận hợp tác. – Giao dịch chứng khoán triển khai theo phương pháp khớp lệnh trên nguyên tắc ưu tiên vềgiá và ưu tiên về thời hạn. – Giao dịch chứng khoán niêm yết lô lẻ được triển khai trực tiếp giữa người góp vốn đầu tư vớicông ty chứng khoán thành viên là thành viên của TT thanh toán giao dịch chứng khoán trênnguyên tắc thỏa thuận hợp tác về giá. Quy trình thanh toán giao dịch chứng khoán niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán : Toàn bộ tiến trình này được triển khai theo năm bước : – Bước 1 : Nhà góp vốn đầu tư đến mở thông tin tài khoản và đặt lệnh mua hay bán chứng khoán tại một côngty chứng khoán. – Bước 2 : Công ty chứng khoán chuyển lệnh đó cho đại diện thay mặt của công ty tại sở giao dịchchứng khoán để nhập vào mạng lưới hệ thống thanh toán giao dịch của sở. – Bước 3 : Sở thanh toán giao dịch chứng khoán thực thi ghép lệnh và thông tin hiệu quả giao dịchcho công ty chứng khoán. – Bước 4 : Công ty chứng khoán thông tin tác dụng thanh toán giao dịch cho nhà đầu tư. – Bước 5 : Nhà góp vốn đầu tư nhận được chứng khoán ( nếu là người mua ) hoặc tiền ( nếu là ngườibán ) trên thông tin tài khoản của mình tại công ty chứng khoán sau ba ngày thao tác kể từ ngày muabán nếu lao lý về thời hạn triển khai thanh toán giao dịch bù trừ chứng khoán là T + 3. Phân biệt CP và trái phiếu ? Giống nhau : – Được phát hành dưới dạng chứng từ hoặc bút toán ghi sổ – Đều có mệnh giá được ghi trên mặt phẳng CP / trái phiếu – Lợi tức được trả theo một mức cố địnhKhác nhau : 1. Cổ phiếu : – Là một chứng từ xác nhận quyền sở hữu trong công ty và được cho phép người sở hữu nóđược hưởng những quyền lợi và nghĩa vụ thường thì trong công ty cổ phầnĐặc điểm : – là một loại chứng khoán vốn, việc phát hành CP làm tăng vốn chủ chiếm hữu. – Cổ phiếu là một loại chứng khoán không có kỳ hạn thanh toán giao dịch. – Cổ tức sẽ được trả vào cuối niên để quyết toán – Quyền lợi và nghĩa vụ và trách nhiệm của cổ đông : + Phần vốn góp là vĩnh viễn không được rút vốn lại nhưng hoàn toàn có thể chuyển nhượng ủy quyền quyền sởhữu bằng cách bán CP. Trách nhiệm của cổ đông chỉ giới hạnh trong phần vốn góp. + Quyền được hưởng cổ tức : đươc chia lời khi công ty có lãi tuy nhiên cổ tức này khôngcố định nhờ vào vào doanh thu và chủ trương chia lời hàng năm của công ty. + Quyền được tham gia quản trị công ty và phải gánh chịu những rủi ro đáng tiếc của công ty + Quyền lợi so với những đợt chứng khoán phát hành trong tương lai của công ty + Được hưởng phúc lợi dành cho cổ đông2. Trái phiếu : – Là một lọai chứng từ vay vốn do Doanh Nghiệp phát hành bộc lộ nghĩa vụ và trách nhiệm và sự cam kết của DNthanh toán số cống phẩm và tiền vay vào những thời gian nhất định cho người nắm giữ tráiphiếuĐặc điểm : – Là một lọai CK nợ, việc phát hành trái phiếu để kêu gọi vốn vay trung và dài hạn. – Trái phiếu có thời hạn : là thời hạn đi vay của tổ chức triển khai phát hành so với trái chủ và đượcghi rõ trên mặt phẳng trái phiếu – Trái phiếu có pháp luật lợi suất và thời hạn trả : Khác với CP không lao lý cụ thểtỷ suất cổ tức và thời hạn trả lãi. Mỗi trái phiếu có ghi cam kết của tổ chức triển khai phát hành thanhtoán cho người chiếm hữu trái phiếu một số tiền lãi cố định và thắt chặt vào một ngày xác lập. – Trái chủ là người cho vay tiền nên có quyền lợi và nghĩa vụ và nghĩa vụ và trách nhiệm nhất định so với khoản vaynày : + Lợi tức của trái phiếu không nhờ vào vào hiệu quả hoạt động giải trí của công ty + Được hoàn vốn đúng hạn hoặc trước hạn tùy thỏa thuận hợp tác 2 bên + Được quyền bán, quy đổi, chuyển nhượng ủy quyền, cầm đồ + Được giao dịch thanh toán trước những CP khi công ty thanh lý giải thểPhân biệt CP đại trà phổ thông và CP khuyến mại ? CPPT : – mang lại quyền lợi từ cổ tức ( phần doanh thu sau thuế sau khi đã trích những quỹ ” góp vốn đầu tư vàphát triển ” chia cho chủ sở hữu và những gia chủ của CP khuyến mại ) và giá trị chênhlệch khi giá trị thị trường của công ty nâng cao ( chênh lệch giá CP ) – mang lại quyền bỏ phiếu bầu ban quản trị công ty ( thường 1 CP / 1 lá phiếu ) vàquyền bỏ phiếu quyết định hành động những yếu tố tương quan đến công ty. – nếu công ty phá sản những người nắm dữ cố phiếu thường sẽ được xử lý quyền lợisau khi đã xử lý những khoản nợ và quyền lợi cho người nắm giữ CP khuyến mại – những người nắm giữ CP thường có quyền duy chì tỷ suất CP bằng việc được ưutiên mua trước khi công ty phát hành thêm CP ( o ép buộc ) CP U.đãi : – được cho phép chủ sử hữu nó được trả cổ tức trước cổ đông nắm giữ CP thường – chủ sở hữu không có quyền biểu quyết như CP thường – được trả cổ tức một lượng nhất định ko biến hóa ngay cả khi làm ăn thua lỗ-khi công ty phá sản được ưu tiên hoàn trả gia tài trước ! * nhìn trung cổ phiếu khuyễn mãi thêm có lợi thế về mặt nhận được cổ tức không thay đổi chỉ có khuyếtđiểm là công ty làm ăn tốt thì cổ tức vẫn ko biến hóa. Câu 3 : Thị trường sơ cấpThị trường sơ cấp là nơi diễn ra quy trình mua và bán lần đầu những chứng khoán mới phát hành. Thị trường sơ cấp còn được gọi là thị trường cấp một hay thị trường phát hành. 2. Chức năng : Thị trường sơ cấp thực thi công dụng quan trọng nhất của thị trườngchứng khoán, đó là kêu gọi vốn cho góp vốn đầu tư. Thị trường sơ cấp vừa có năng lực thu gom mọi nguồn vốn tiết kiệm ngân sách và chi phí lớn nhỏ của từng hộdân cư, vừa có năng lực lôi cuốn nguồn vốn to lớn từ quốc tế ; những nguồn vốn tạm thờinhàn rỗi từ những doanh nghiệp, những tổ chức triển khai kinh tế tài chính, cơ quan chính phủ tạo thành một nguồn vốnkhổng lồ hỗ trợ vốn cho nền kinh tế tài chính, mà những phương pháp khác không hề làm được. Như vậy, thị trường sơ cấp tạo ra thiên nhiên và môi trường cho những doanh nghiệp gọi vốn để mở rộngsản xuất kinh doanh thương mại, giúp Nhà nước xử lý yếu tố thiếu vắng ngân sách trải qua việcphát hành trái phiếu, có thêm vốn để xây dung hạ tầng. Nó cũng trực tiếp cải thiệnmức sống của người tiêu ding bằng cách giúp họ chọn thời gian cho việc shopping củamình tốt hơn. Các chiêu thức phát hành chứng khoánCó 2 giải pháp phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp. Đó là phát hành riêng lẻvà phát hành ra công chúng. 1. Phát hành riêng lẻPhát hành riêng không liên quan gì đến nhau là quy trình trong đó chứng khoán được bán trong khoanh vùng phạm vi 1 số ít ngườinhất định ( thường thì là cho những nhà đầu tư có tổ chức triển khai ), với những điều kiện kèm theo ( khốilượng phát hành ) hạn chế. Việc phát hành chứng khoán riêng không liên quan gì đến nhau thường thì chịu sự kiểm soát và điều chỉnh của Luật công ty. Chứng khoán phát hành theo phương pháp này không phảI là đối tượng người dùng thanh toán giao dịch tại Sởgiao dịch chứng khoán. 2. Phát hành ra công chúngPhát hành ra công chúng là quy trình trong đó chứng khoán được bán thoáng rộng ra côngchúng, cho một số lượng lớn người góp vốn đầu tư, trong tổng lượng phát hành phải giành một tỷ lệnhất định cho những nhà đầu tư nhỏ và khối lượng phát hành phải đạt được một mức nhấtđịnh. Những công ty phát hành chứng khoán ra công chúng được gọi là những công ty đại chúng. Có sự khác nhau giữa phát hành CP và phát hành trái phiếu ra công chúng ? * Phát hành CP ra công chúng được thực thi theo một trong hai hình thức sau : – Phát hành lần đầu ra công chúng ( IPO ) : là việc phát hành trong đó CP của công tylần tiên phong được bán thoáng rộng cho công chúng góp vốn đầu tư. – Chào bán sơ cấp ( phân phối sơ cấp ) : là đợt phát hành CP bổ trợ của công ty đạichúng cho thoáng rộng công chúng góp vốn đầu tư. * Phát hành trái phiếu ra công chúng được thực thi bằng một hình thức duy nhất, đó làchào bán sơ cấp ( phân phối sơ cấp ). Việc phát hành chứng khoán ra công chúng phải chịu sự chi phối của pháp lý về chứngkhoán và phải được cơ quan quản trị nhà nước về chứng khoán cấp phép. Những công typhát hành chứng khoán ra công chúng phải thực thi một chính sách báo cáo giải trình, công bố thôngtin công khai minh bạch và chịu sự giám sát riêng theo qui định của pháp lý chứng khoán. ở Nước Ta, việc phát hành chứng khoán ra công chúng để niêm yết tại Trung tâm giaodịch chứng khoán phải tuân theo những qui định tại Nghị định 48/1998 / NĐ-CP ngày11 / 7/1998 của nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Nghị định này quiđịnh việc phát hành chứng khoán ra công chúng để niêm yết tại thị trường thanh toán giao dịch tậptrung phải được Uỷ ban chứng khoán cấp phép trừ việc phát hành trái phiếu nhà nước. Các chứng khoán này sau khi được phát hành ra công chúng sẽ được niêm yết tại Trungtâm thanh toán giao dịch chứng khoán. Mục đích của việc phân biệt hai hình thức phát hành ( phát hành riêng không liên quan gì đến nhau và phát hành racông chúng như trên là nhằm mục đích có những giải pháp bảo vệ cho công chúng góp vốn đầu tư, nhất lànhững nhà góp vốn đầu tư nhỏ không hiểu biết nhiều về nghành nghề dịch vụ chứng khoán. Nhằm mục đíchnày, để được phép phát hành ra công chúng, tổ chức triển khai phát hành phải là những công ty làmăn có chất lượng cao, hoạt động giải trí sản xuất kinh doanh thương mại có hiệu suất cao, cung ứng được những điềukiện do cơ quan quản trị nhà nước về chứng khoán ( Uỷ ban chứng khoán nhà nước ) quiđịnh. Câu 4 : Thị trường chứng khoán thứ cấp là thị trường thanh toán giao dịch những chứng khoán đãđược phát hành trên thị trường sơ cấp. Thị trường thứ cấp là nơi thanh toán giao dịch những chứng khoán đã được phát hành trên thị trườngthị sơ cấp. Thị trường bảo vệ tính thanh toán cho những chứng khoán đã phát hành. Đây lànơi trao đổi, mua và bán những chứng khoán đã được phát hành. Nhà góp vốn đầu tư mua đi bán lạichứng khoán nhằm mục đích vào một trong những mục tiêu : cất giữ gia tài kinh tế tài chính, nhận một khoảnthu nhập cố định và thắt chặt hàng năm, hưởng chênh lệch giá. Thị trường thứ cấp : tạo ra năng lực quy đổi chứng khoán thành tiền mặt thuận tiện, thuận tiện ; Tiền thu được ở đây không thuộc về nhà phát hành mà thuộc về nhà đầu tư bánchứng khoán, nhượng lại quyền sở hữu chứng khoán cho nhà góp vốn đầu tư khác. Đặc điểm + Thị trường có đặc thù cạnh tranh đối đầu hoàn hảo nhất. + Thị trường có tính liên tục. + Khối lượng và nhịp độ thanh toán giao dịch lớn gấp nhiều lần so với thị trường chứng khoán sơ cấp. + Hoạt động hầu hết của thị trường chứng khoán thứ cấp là những nhà đầu tư thực hiệnchuyển giao quyền sở hữu chứng khoán và tiền cho nhau. Xét về phương pháp tổ chức triển khai và thanh toán giao dịch, thị trường chứng khoán gồm có 3 loại : Sở giaodịch chứng khoán, Thị trường phi tập trung chuyên sâu ( OTC ), và thị trường thứ 3. – Thị trường tập trung chuyên sâu ( Sở thanh toán giao dịch chứng khoán ) : là thị trường trong đó việc giao dịchmua bán chứng khoán được triển khai tại một khu vực tập trung chuyên sâu gọi là sàn thanh toán giao dịch ( trading floor ). Các chứng khoán được niêm yết tại Sở thanh toán giao dịch thường thì là chứngkhoán của những công ty lớn, có khét tiếng, đã qua thử thách của thị trường. Phương thứcgiao dịch tại Sở thanh toán giao dịch là phương pháp đấu giá, trong đó những lệnh mua, bán được ghépvới nhau để hình thành Chi tiêu cạnh tranh đối đầu tốt nhất. – Thị trường phi tập trung chuyên sâu ( OTC ) : là thị trường trong đó việc thanh toán giao dịch mua và bán chứngkhoán không diễn ra tại một khu vực tập trung chuyên sâu mà trải qua mạng lưới hệ thống computer nối mạnggiữa những thành viên của thị trường. Các chứng khoán được thanh toán giao dịch trên thị trường phi tậptrung là chứng khoán của những công ty vừa và nhỏ. Phương thức thanh toán giao dịch tại thị trườngOTC là phương pháp thoả thuận, giá thành chứng khoán được xác lập trên cơ sở thoả thuậngiữa những thành viên của thị trường. – Thị trường thứ 3 : là thị trường, trong đó hoạt động giải trí thanh toán giao dịch mua và bán chứng khoán khôngđược thực thi trải qua mạng lưới hệ thống đấu giá của những Sở thanh toán giao dịch và mạng lưới hệ thống computer củathị trường OTC.Hình thức chiếm hữu của Sở giao dịchSở thanh toán giao dịch chứng khoán là một tổ chức triển khai có tư cách pháp nhân được xây dựng theo quyđịnh của pháp lý. Lịch sử tăng trưởng Sở thanh toán giao dịch chứng khoán những nước đã và đang trảiqua những hình thức chiếm hữu sau đây : – Hình thức chiếm hữu thành viên : Sở thanh toán giao dịch chứng khoán do những thành viên là công tychứng khoán chiếm hữu, được tổ chức triển khai như một công ty nghĩa vụ và trách nhiệm hữu hạn, có Hội đồngquản trị mà thành phần hầu hết do những công ty chứng khoán thành viên cử ra. VD : Sở giaodịch chứng khoán Nước Hàn, Newyork, Tokyo, TháiLan. – Hình thức công ty CP : Sở thanh toán giao dịch chứng khoán được tổ chức triển khai dưới hình thức côngty CP đặc biệt quan trọng do những công ty chứng khoán thành viên, ngân hàng nhà nước, công ty kinh tế tài chính, bảo hiểm chiếm hữu với tiềm năng là doanh thu theo qui định của Luật công ty. VD : Đức, Malaysia, London, Hongkong … – Hình thức chiếm hữu nhà nước : Sở thanh toán giao dịch chứng khoán do Nhà nước chiếm hữu ( phần lớnhoặc hàng loạt ) như trường hợp Sở thanh toán giao dịch chứng khoán Warsawar, Istabul, Nước Ta … Trong những hình thức trên, hình thức chiếm hữu thành viên là phổ cập nhất. Hình thức này chophép Sở thanh toán giao dịch chứng khoán có quyền tự quản ở mức độ nhất định, nâng cao được tínhhiệu quả và sự nhạy bén trong yếu tố quản trị hơn là hình thức chiếm hữu nhà nước. Tuynhiên, trong những thực trạng lịch sử dân tộc nhất định, việc nhà nước nắm quyền sở hữu và quảnlý Sở thanh toán giao dịch sẽ được cho phép ngăn ngừa sự lộn xộn, không công minh khi hình thức sở hữuthành viên chưa được bảo vệ bằng mạng lưới hệ thống pháp lý vừa đủ và rõ ràng. Ví dụ như trườnghợp của Nước Hàn, Sở thanh toán giao dịch chứng khoán được xây dựng từ năm 1956 nhưng đến năm1963 bị đổ vỡ phải ngừng hoạt động 57 ngày do những thành viên sở hữu Sở thanh toán giao dịch chứng khoángây lộn xộn trong thị trường ; sau đó Nhà nước đã phải đứng ra nắm quyền sở hữu Sở giaodịch chứng khoán trong thời hạn khá dài từ năm 1963 đến 1988. Câu 9 : Phân biệt thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấpCăn cứ vào thời hạn luân chuyển của vốn người ta đã chia TTCK ra làm 2 loại : A, Thị trường sơ cấp : – Là thị trường mua và bán những CK lần đầu được phát hành qua đó kêu gọi vốn để đưa vàđầu tư – Thị trường này cung ứng sản phẩm & hàng hóa cho TTCK, có năng lực thu gom mọi nguồn vốn tiếtkiệm lớn nhỏ của từng hộ dân cư vừa có năng lực lôi cuốn nguồn vốn to lớn từ quốc tế, những nguồn vốn trong thời điểm tạm thời rảnh rỗi từ những dn, những tổ chức triển khai kinh tế tài chính, chính phủ nước nhà tạo thành mộtnguồn vốn khổng lồ hỗ trợ vốn cho nền kinh tế tài chính một cách có hiệu suất cao, hđ of TTCK cũng làmtăng vốn cho nhà phát hành trải qua việc bán CK cho nhà đầu tư – Nó cũng trực tiếp cải tổ mức sống của người tiêu dung bằng cách giúp họ chọn thờiđiểm cho việc shopping của mình tốt hơn – Việc mua và bán CK trên TT sơ cấp thường được triển khai trải qua trung gian đó là NH – Phương thức phát hành chứng khoán : phát hành riêng không liên quan gì đến nhau và phát hành ra công chúng – Thị trường này hđ không liên tụcB, Thị trường thứ cấp : – Là thị trường mua đi bán lại những loại CK đã được phát hành lần đầu ở thị trường sơ cấp – Thị trường thứ cấp tạo đk thuận tiện để bán những CK đã phát hành ở thị trường sơ cấp TTthứ cấp này làm cho những CK có tính lỏng hơn, tính lỏng này làm cho CK được ưa chuộngvà sẽ làm cho những tổ chức triển khai thuận tiện hơn cho những tổ chức triển khai phát hành bán chúng ở thị trườngsơ cấp – TT thứ cấp xđ giá bán of mỗi loại CK mà tổ chức triển khai phát hành bán ở thị trường sơ cấp → Mặc dù TT thứ cấp không làm tăng them vốn góp vốn đầu tư cho nền kt nhưng chính nhờ 2 tính năng này mà thị trường thứ cấp có vị trí quan trọng trong toàn diện và tổng thể thị trường kinh tế tài chính – Việc mua và bán trên TT thứ cấp được triển khai trải qua những công ty môi giới – Thị trường thứ cấp được tổ chức triển khai theo 2 cách : Thị trường tập trung chuyên sâu, TT phi tập trung chuyên sâu, TTthứ 3 là thị trường trong đó hđ thanh toán giao dịch mua và bán được thực thi trải qua mạng lưới hệ thống đấugiá của Sở thanh toán giao dịch và mạng lưới hệ thống máy tính của thị trường OTC – Thị trường này hđ liên tục, những CK được mua đi bán lại làm tăng năng lực thanh khoảncho CK. ¬ 2 thị trường này có mối quan hệ mật thiết với nhau, thị trường sơ cấp tạo cơ sở hàng hóacho TT thứ cấp, 2 thị trường này bổ trợ cho nhau thôi thúc nhau cùng tăng trưởng .
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Thị Trường






