Đâu là nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát ở Việt Nam?

Vĩ mô( NDH ) Bình luận của ông Huỳnh Thế Du và ông Nguyễn Đình Cung về tình hình lạm phát ở Việt Nam .

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2011 của Việt Nam đã tăng tới 9,64% so với cuối năm 2010,  cao hơn mục tiêu kiềm chế ở 7% mà Quốc hội thông qua. Chủ đề lạm phát lúc này đang được đông đảo nhân dân quan tâm.

NDHMoney xin trích dẫn một số ý kiến của ông Huỳnh Thế Du, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright và ông Nguyễn Đình Cung, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế Trung ương về chủ đề “Đâu là nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát ở Việt Nam?”, trong buổi giao lưu trực tuyến trên VnEconomy chiều ngày 6/5/2011.

Theo ông thì đâu là nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát ở Việt Nam?

Ông Huỳnh Thế Du

Ông Huỳnh Thế Du: Nói một cách ngắn gọn, theo tôi, lạm phát ở Việt Nam là do yếu tố tiền tệ do chi tiêu công quá mức và phân bổ vốn thiên lệch ở khu vực thị trường (doanh nghiệp). Điều này có thể giải thích cụ thể như sau:

Chúng ta biết rằng lạm phát là mức tăng giá chung của cả nền kinh tế. Nguyên nhân gây ra lạm phát có thể là từ bên ngoài (khách quan) hay những vấn đề nội tại của nền kinh tế (nguyên nhân chủ quan), nhưng căn nguyên của lạm phát chính là yếu tố tiền tệ.

Điều này được hiểu một cách đơn giản qua ví dụ năm ngoái trong nền kinh tế có 100 đơn vị hàng hóa và 100 đồng tiền thì giá 1 hàng hóa là 1 tiền. Năm nay, do tăng trưởng kinh tế 10% nên nền kinh tế có 110 đơn vị hàng hóa. Do những yếu tố khác nhau (chủ yếu vẫn là việc gia tăng cung tiền của ngân hàng trung ương) mà nền kinh tế có đến 121 đơn vị tiền. Kết quả là giá 1 hàng hóa bằng 1,1 tiền hay lạm phát là 10%.

Ngoài yếu tố tiền tệ, trong ngắn hạn, lạm phát cũng có thể do cầu kéo hay chi phí đẩy. Một ví dụ đơn giản nhất của cầu kéo là những gói kích thích kinh tế của chính phủ. Với một kế hoạch chi tiêu lớn được đưa ra sẽ làm cho tổng cầu của nền kinh tế gia tăng dẫn đến mức giá gia tăng trong ngắn hạn.

Sự nóng lên bất thường của các thị trường tài sản (chứng khoán, bất động sản…) cũng có thể gây ra lạm phát cầu kéo do nhiều người trở nên giàu có bất thường sẽ gia tăng mức chi tiêu rất lớn của mình dẫn đến tăng tổng cầu của cả nền kinh tế tăng.

Đối với lạm phát chi phí đẩy, ví dụ dễ nhìn thấy nhất là do một cú sốc cung nào đó mà làm cho nguồn cung khan hiếm hay giá nguyên liệu đầu vào đột ngột tăng lên làm cho mức giá chung của cả nền kinh tế tăng lên tức thì. Ví dụ hay được nhắc tới trong tình huống này là cuộc khủng hoảng dầu mỏ trên thế giới ở thập niên 1970.

Tuy nhiên, nếu có chính sách tiền tệ hợp lý sao cho mức tăng cung tiền trong nền kinh tế phù hợp với mức tăng của hàng hóa thì tác động của lạm phát do cầu kéo hay chi phí đẩy sẽ không kéo dài.

Căn cứ vào những lập luận trên và số liệu thực tế sẽ thấy nguyên nhân chủ yếu gây ra lạm phát của Việt Nam không phải do các yếu tố bên ngoài. Trong thời gian qua, lạm phát của Việt Nam luôn cao hơn một cách bất thường so với các nước trong khu vực hay các đối thủ cạnh tranh cũng như các nước có điều kiện tương tự.

Ở các nước này, nhìn chung mức lạm phát luôn thấp hơn mức tăng trưởng GDP (cụ thể là hầu hết đều dưới 5%), trong khi từ năm 2004 đến nay, lạm phát ở Việt Nam luôn cao hơn tăng trưởng GDP. Cá biệt năm 2008 lên đến 23%, gấp khoảng 3 lần mức tăng GDP; năm 2010 ở mức 11,75%, gấp gần 2 lần mức tăng GDP; và chỉ mới 4 tháng đầu năm 2011 lạm phát đã gần 2 con số.

Rất khó thuyết phục để có thể nói rằng lạm phát ở Việt Nam là do các yếu tố khách quan vì nếu là bên ngoài thì hầu hết các nước cũng phải chịu tác động như nhau chứ tại sao chỉ có mình Việt Nam là cao bất thường.

Tóm lại, nguyên nhân cơ bản của lạm phát ở Việt Nam, theo tôi, chính là yếu tố tiền tệ. Mức tăng tiền quá cao so với mức tăng hàng hóa đã dẫn đến lạm phát. Nói một cách khác nguồn vốn đã không được sử dụng hiệu quả do ba nguyên nhân cơ bản sau:

Thứ nhất, do đầu tư công quá mức. Không thể phủ nhận sự cần thiết của đầu tư công. Nhưng nhà nước chỉ nên tham gia vào những lĩnh vực đem lại lợi ích lớn cho cả nền kinh tế nhưng tư nhân không có động cơ để làm hoặc làm không có hiệu quả. Trên thực tế nhà nước đã tham gia quá nhiều vào các hoạt động kinh tế và nhiều khi còn cạnh tranh và chèn lấn khu vực tư nhân. Với mức chi tiêu của khu vực công (bao gồm chi tiêu thường xuyên và chi đầu tư) trong những năm vừa qua luôn ở mức 35-40% GDP và đầu tư của nhà nước bằng khoảng 20% GDP (một nửa tổng đầu tư toàn xã hội) là một mức quá cao. Mức chi tiêu này ắt hẳn là một mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng và những hợp đồng có nhiều ưu ái cho một số đối tượng như phân tích dưới đây.

Thứ hai, sự thiên lệch trong việc phân bổ vốn ở khu vực doanh nghiệp (khu vực thị trường). Nhìn vào nền kinh tế sẽ thấy rằng các doanh nghiệp nhà nước và một số doanh nghiệp tư nhân lớn có nhiều quan hệ đang là đối tượng dành được sự ưu ái trong việc phân bổ vốn. Câu chuyện của Vinashin đã chi tiêu hoang phí trong thời gian qua và hiện vẫn được khoanh nợ và tiếp tục vay vốn là một ví dụ rất điển hình của sự ưu ái dành cho các doanh nghiệp nhà nước.

Đối với một số doanh nghiệp tư nhân lớn, chúng ta thấy rằng, không ít trong số họ chủ yếu tập trung vào các hoạt động kinh doanh (nói đúng hơn là đầu cơ) các loại tài sản (bất động sản, chứng khoán …) hay tìm kiếm tài nguyên quốc gia chứ không phải tập trung vào các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra nhiều giá trị gia tăng cho nền kinh tế. Điều đáng quan tâm là hầu hết các doanh nghiệp này không chỉ có các ngân hàng hay tổ chức tài chính riêng của mình mà còn có quan hệ chặt chẽ với không ít các tổ chức tài chính ngân hàng lớn hay những mối quan hệ khác.

Điều này làm cho các khoản cho vay theo quan hệ trở nên phổ biến hơn và một phần không nhỏ nguồn vốn được đưa vào các hoạt động kinh doanh có tính đầu cơ gây rủi ro hơn là tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế. Dĩ nhiên, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đối tượng chính giải quyết việc làm và là động lực tăng trưởng của Việt Nam trong thời gian qua đã, đang và sẽ bị chèn lấn và khó tiếp cận vốn hơn nên có thể phải thu hẹp sản xuất hay chỉ cầm cự cho qua ngày.

Thứ ba, việc theo đuổi chính sách ổn định tỷ giá đồng tiền trong bối cảnh lạm phát luôn cao làm giảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam. Như nhiều lần tôi đã phân tích, khi lạm phát cao mà tỷ giá cứng nhắc sẽ làm cho hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam (kể cả tiêu thụ trong nước và xuất khẩu) trở nên đắt đỏ hơn so với hàng nhập khẩu. Điều này làm cho một lượng hàng hóa ít hơn sẽ được sản xuất ra trong nền kinh tế Việt Nam và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam bị giảm sút.

Sự lãng phí tham nhũng trong đầu tư công cũng như sự phân bổ vốn thiên lệch như trên còn dẫn đến một hệ lụy khác là nhiều người giàu lên bất thường có nhu cầu chi tiêu các hàng hóa xa xỉ nhập ngoại cộng với việc định giá cao đồng tiền làm cho tình trạng nhập siêu ngày một căng thẳng hơn.

Nói chung tình trạng phân bổ nguồn lực cộng với chính sách điều hành tỷ giá như trên đã dẫn đến sự mất cân bằng kép trong nền kinh tế mà nó thể hiện bởi thâm hụt thương mại, thâm hụt ngân sách luôn dai dẳng và trầm trọng hơn cùng với lạm phát luôn ở mức rất cao.

Ông đánh giá thế nào về việc thắt chặt tiền tệ như hiện nay, kết quả và hệ lụy của nó?

Ông Huỳnh Thế Du: Về nguyên tắc, khi tiền tăng nhiều hơn mức tăng của hàng hóa dẫn đến lạm phát thì cần phải thắt chặt tiền tệ để giảm lượng tiền trong nền kinh tế là hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, điều cần lưu ý là việc thắt chặt tiền tệ cần phải đảm bảo rằng những đối tượng tạo ra nhiều giá trị gia tăng cho nền kinh tế phải bị ít ảnh hưởng nhất để đảm bảo mức gia tăng cân đối giữa tiền và hàng. Nhìn dưới khía cạnh này và dựa vào phân tích trên sẽ thấy việc thắt chặt tiền tệ có thể làm cho tình trạng trở nên trầm trọng hơn vì:

Thứ nhất, ở khu vực thị trường hay khu vực kinh doanh các doanh nghiệp vừa và nhỏ – cỗ máy tăng trưởng của Việt Nam – có thể là đối tượng chịu tác động trước tiên vì khi nguồn vốn bị giới hạn thì người bên ngoài (các doanh nghiệp vừa và nhỏ) sẽ là đối tượng bị cắt nguồn vốn trước tiên. Như vậy, ngay ở khu vực thị trường, mất cân đối tiền – hàng có thể trở nên trầm trọng hơn.

Thứ hai, thắt chặt tiền tệ chưa hẳn sẽ giảm được lượng tiền trong nền kinh tế. Nói chung thắt chặt tiền tệ là giảm lượng cung tiền ở khu vực thị trường với giả định là việc chi tiêu công phải tuân thủ theo những kỷ luật nghiêm ngặt nên lượng tiền trong nền kinh tế sẽ giảm.

Tuy nhiên, nếu mục tiêu đầu tư vẫn chiếm khoảng 40% GDP hay mức chi tiêu của toàn xã hội không thay đổi thì việc thắt chặt tiền tệ ở khu vực thị trường có thể sẽ đẩy tiền sang khu vực chi tiêu ngân sách vì trên thực tế NHNN không thể nói không với yêu cầu từ phía Chính phủ. Lúc này, một lần nữa, mất cân đối tiền – hàng lại trở nên nghiêm trọng hơn.

Gần đây có một số ý kiến của chuyên gia cho rằng thắt chặt tiền tệ đã quá đủ và không cần thắt thêm nữa. Xin hỏi chúng ta đã thực sự thắt chặt tiền tệ hay chưa khi tỷ lệ dự trữ bắt buộc còn ở mức 3% trong khi Trung Quốc tăng tới 20,5%? Và chúng ta có thật sự thiếu tiền trong khi quả bóng tín dụng của ta bằng 1,2 GDP? Liệu nới lỏng tiền tệ để hạ lãi suất có phải là biện pháp để giảm lạm phát hay không như một số ý kiến chuyên gia?

Ông Huỳnh Thế Du: Như tôi đã phân tích, nếu chỉ tập trung vào thắt chặt tiền tệ có thể làm cho tình hình nghiêm trọng hơn. Thực ra quả bóng lúc này đang ở phía chi tiêu ngân sách nhiều hơn.

Ý kiến nới lỏng tiền tệ để hạ lãi suất, giảm lạm phát là một lập luận hoàn toàn sai lầm. Nếu giải pháp này được thực hiện chẳng khác nào đổ dầu vào lửa.

Con số tín dụng bằng 1,2 lần GDP mà bạn đưa ra (theo số liệu mà tôi có được có thể là cao hơn một chút) là điều cần đặc biệt quan tâm. Những nước có mức độ phát triển như Việt Nam thì tín dụng so với GDP của họ chỉ bằng khoảng 50-80% GDP và giá trị thị trường của các doanh nghiệp niêm yết so với GDP cũng chỉ tương đương mức độ hiện tại của Việt Nam.

Tại sao tín dụng cho doanh nghiệp nhiều mà GDP lại tăng không cao? Phải chăng nợ xấu là một vấn đề có thể rất nghiêm trọng và cần được quan tâm của nền kinh tế Việt Nam?

Ông Nguyễn Đình Cung
 

Ông Nguyễn Đình Cung: Có thể nói, nguyên nhân của lạm phát thì có nhiều. Có thể phân thành hai loại, một là do nội tại của nền kinh tế và loại do bên ngoài. Đối với nền kinh tế nước ta trong mấy năm gần đây, bất ổn kinh tế vĩ mô trở thành vấn đề thường xuyên, trong đó lạm phát cao là vấn đề nổi cộm.

Theo tôi, điều đó bắt nguồn từ mô hình tăng trưởng và cách thức mà chúng ta sử dụng để đạt được mục đích tăng trưởng. Tăng trưởng của chúng ta cho đến nay chủ yếu vẫn dựa vào mở rộng đầu tư, nhưng đầu tư nhìn chung lại kém hiệu quả, nhất là đầu tư nhà nước.

Mô hình và cách thức tăng trưởng như thế hiện đã tới hạn của nó. Tuy mô hình và cách thức tăng trưởng đã tới hạn nhưng chúng ta vẫn dựa vào đó để đạt được mục tiêu tăng trưởng, do đó về ngắn hạn thì cách chủ yếu để đạt tăng trưởng đó là mở rộng đầu tư.

Để mở rộng đầu tư thì chúng ta buộc phải mở rộng chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ để có đầu tư. Do đó, tốc độ tăng trưởng tín dụng, M2, thâm hụt tài khóa gia tăng, thâm hụt cán cân thanh toán gia tăng… tất cả những điều đó là nguyên nhân mang tính nội tại làm cho lạm phát của chúng ta trong mấy năm qua luôn ở mức cao và cao hơn nhiều so với các nước.

Còn đối với lạm phát hiện nay, nhất là trong tháng 3,4 và có thể các tháng tới đây, ngoài những nguyên nhân nói trên thì điều chỉnh tăng giá xăng dầu, điện, tỷ giá, các mặt hàng khác kết hợp với giá cả trên thị trường thế giới cũng tăng cao trong 2 tháng vừa qua đã tác động trực tiếp làm tăng chi phí sản xuất, cho nên tỷ lệ lạm phát trong hai tháng qua cao hơn nhiều so với cùng kỳ năm trước.

Lạm phát cao và bất ổn kinh tế vĩ mô đã làm giảm lòng tin của người dân vào đồng nội tệ, người dân kỳ vọng lạm phát sẽ còn tiếp tục tăng. Điều đó cũng là một trong những yếu tố tạo áp lực lên lạm phát, song đó không phải là nguyên nhân cơ bản gây ra lạm phát.

Xin các chuyên gia đánh giá về các yếu tố có thể ảnh hưởng đến lạm phát năm 2011? Dường như chính sách tài khóa vẫn chưa có động thái gì, điều này ảnh hưởng thế nào đến khả năng kiềm chế lạm phát năm 2011?

Ông Nguyễn Đình Cung: Như trên tôi đã trình bày về nguyên nhân của lạm phát. Trong năm nay, nếu Chính phủ kiên trì thắt chặt tài khóa và tiền tệ thì nguyên nhân cầu kéo lạm phát sẽ dần được loại trừ. Vì vậy, có thể nguyên nhân chủ yếu của lạm phát năm nay là do chi phí đẩy.

Tuy vậy, nếu không khởi động trên thực tế quá trình tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào nâng cao năng suất, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế thì nguyên nhân sâu xa của lạm phát vẫn còn nguyên, và nguy cơ lạm phát do cầu kéo (do mở rộng chính sách tài khóa và tiền tệ) sẽ quay trở lại.

Tôi cũng cho rằng, thực hiện Nghị quyết 11 của Chính phủ, chính sách tiền tệ năm nay đã có một mục tiêu khá rõ ràng, đo lường và giám sát được. Trên thực tế, các giải pháp về tiền tệ đang được thực hiện khá quyết liệt và có những kết quả bước đầu trong kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.

Còn về tài khóa thì kết quả chưa thật rõ ràng, các khoản cắt giảm đầu tư, cắt giảm chi tiêu, theo tôi vẫn mới chỉ dừng ở những con số báo cáo, có lẽ chưa cắt giảm một cách thực sự, qua đó góp phần giảm tổng cầu của nền kinh tế và giảm áp lực đối với lạm phát.

Hy vọng rằng, trong những tháng tới đây các giải pháp về tài khóa sẽ được thực hiện tốt hơn, phối hợp, bổ sung và giảm bớt gánh nặng cho chính sách tiền tệ trong việc kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Có như vậy, kết quả kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô sẽ bền vững hơn.

Nhật Bình – NDH