Những vấn đề chung về nghiệp vụ thị trường mở của ngân hàng trung ương.doc – Tài liệu text

Những vấn đề chung về nghiệp vụ thị trường mở của ngân hàng trung ương.doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (228.84 KB, 26 trang )

Tiểu luận môn Thị trường tài chính GVHD: PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ
CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
I. NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
1. Khái niệm
Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ mua, bán giấy tờ có giá
(GTCG) giữa một bên là Ngân hàng Nhà nước với bên kia là các tổ chức tín
dụng (TCTD) trong đó NHNN đóng vai trò là người điều hành hoạt động thị
trường. Nghiệp vụ TTM là một trong các công cụ được NHNN sử dụng để
thực thi chính sách tiền tệ quốc gia.
2. Cơ chế tác động của nghiệp vụ thị trường mở
Thông qua hoạt động mua, bán các GTCG trên thị trường mở, NHTW đã
tác động trực tiếp đến dự trữ của các ngân hàng và ảnh hưởng gián tiếp đến
các mức lãi suất trên thị trường, từ đó tác động trực tiếp đến các mục tiêu của
chính sách tiền tệ cả về mặt giá và mặt lượng.
a. Về mặt lượng – Tác động vào dự trữ của hệ thống ngân hàng
Hành vi mua bán các GTCG trên thị trường mở của NHTW có khả năng
tác động ngay lập tức đến tình trạng dự trữ của các NHTM thông qua ảnh
hưởng đến tiền gửi của các ngân hàng tại NHTW (nếu các NHTM là đối tác
tham gia OMO) và tiền gửi của khách hàng tại hệ thống ngân hàng (nếu các
khách hàng là đối tác tham gia OMO).
Sơ đồ 1.1. Cơ chế tác động của OMO tới dự trữ ngân hàng
Khi NHTW thực hiện bán GTCG cho các ngân hàng thì tiền gửi của
ngân hàng tại NHTW sẽ giảm xuống tương ứng với khối lượng GTCG mà
NHTW bán ra. Trường hợp người mua là các khách hàng của ngân hàng thì
số tiền mua GTCG sẽ làm giảm số dư tiền gửi của họ tại hệ thống ngân hàng.
Kết quả là dự trữ của hệ thống ngân hàng giảm sút tương ứng với khối lượng
GTCG mà NHTW bán ra. Sự giảm sút dự trữ của hệ thống ngân hàng sẽ làm
1
NHTW

bán
GTCG
Dự trữ
NH
giảm
Dự trữ mở
rộng cho
vay giảm
Khối
lượng TD
giảm
MS
giảm
Tiểu luận môn Thị trường tài chính GVHD: PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn
giảm khả năng cho vay của ngân hàng và vì thế khối lượng tín dụng giảm dẫn
đến cung tiền sẽ giảm. Ngược lại, khi NHTW thực hiện mua GTCG trên thị
trường mở, kết quả làm dự trữ của các ngân hàng tăng lên. Như vậy, khi
NHTW thực hiện nghiệp vụ thị trường nó sẽ tác động đến dự trữ của các ngân
hàng, làm ảnh hưởng đến khối lượng tín dụng, từ đó ảnh hưởng đến lượng
tiền cung ứng.
b. Về mặt giá – Tác động qua lãi suất
Hành vi mua bán GTCG của NHTW trên thị trường mở có thể ảnh
hưởng gián tiếp đến mức lãi suất thị trường thông qua 2 con đường sau:
Thứ nhất, khi dự trữ của ngân hàng bị ảnh hưởng sẽ tác động đến cung
cầu vốn NHTW trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Đến lượt nó, cung cầu
tiền trung ương thay đổi sẽ dẫn đến lãi suất thị trường tiền NHTW thay đổi.
Mức lãi suất ngắn hạn này, thông qua dự đoán của thị trường và các hoạt
động arbitrage về lãi suất, sẽ truyền tác động tới các mức lãi suất trung và dài
hạn trên thị trường tài chính. Tại một mức lãi suất thị trường xác định, tổng
cầu AD của nền kinh tế, và do đó tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ được quyết

định.
Sơ đồ 1.2. Cơ chế tác động của OMO qua lãi suất
Thứ hai, việc mua bán GTCG sẽ làm ảnh hưởng ngay đến quan hệ cung
cầu về loại GTCG đó trên thị trường và giá cả của nó. Khi giá chứng khoán
thay đổi, tỷ lệ sinh lời của chúng cũng thay đổi. Nếu khối lượng chứng khoán
này chiếm tỷ trọng lớn trong các giao dịch trên thị trường tài chính thì sự thay
đổi tỷ lệ sinh lời của nó sẽ tác động trở lại lãi suất thị trường, và vì thế mà tác
động đến tổng cầu AD và sản lượng.
Khi NHTW bán tín phiếu kho bạc sẽ làm giảm dự trữ của hệ thống ngân
2
Cung TPKB
tăng
NHTW bán
TPKB
Dự trữ NH
giảm
Đầu tư
giảm
Cung của quỹ
cho vay giảm
Lãi suất ngắn
hạn tăng
Lãi suất thị
trường tăng
Giá TPKB
giảm
LS thị trường
tăng
tăng
Tiểu luận môn Thị trường tài chính GVHD: PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn

hàng. Điều này làm giảm cung quỹ cho vay và sẽ ảnh hưởng đến lãi suất ngắn
hạn, làm lãi suất ngắn hạn có xu hướng tăng lên và tác động vào làm tăng các
lãi suất thị trường. Bên cạnh đó khi NHTW thực hiện bán tín phiếu kho bạc
trên thị trường mở sẽ làm tăng cung tín phiếu kho bạc trên thị trường, từ đó
làm giảm giá của tín phiếu kho bạc. Điều này làm ảnh hưởng đến tỷ suất sinh
lời của tín phiếu kho bạc theo hướng tăng lên, dẫn đến sự chuyển dịch vốn
đầu tư sang tín phiếu kho bạc. Để cân bằng lãi suất và hạn chế sự dịch chuyển
vốn đầu tư, lãi suất thị trường sẽ tăng lên. Khi lãi suất thị trường tăng lên thì
hoạt động đầu tư của các chủ thể đối với nền kinh tế sẽ giảm xuống do tỷ suất
sinh lời giảm. Từ đó tổng cầu trên thị trường giảm xuống và góp phần làm
giảm sản lượng, ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng.
3. Vai trò của nghiệp vụ thị trường mở
a. Đối với ngân hàng trung ương
Để thực hiện nhiệm vụ ổn định giá trị đồng tiền, NHTW đã xây dựng và
thực thi các công cụ CSTT nhằm đưa tiền ra và rút tiền về từ lưu thông theo
tín hiệu thị trường. Trong đó, OMO là công cụ CSTT gián tiếp quan trọng
nhất tại nhiều quốc gia làm thay đổi cung – cầu tiền tệ dẫn đến thay đổi lãi
suất trên thị trường tiền tệ. Thông qua việc mua bán GTCG tại thị trường mở,
NHTW có thể mở rộng hoặc thu hẹp khối lượng tiền dự trữ trong hệ thống
ngân hàng và tác động một cách tốt nhất đến cơ số tiền tệ, lượng tiền cung
ứng. Như vậy, OMO đã tạo điều kiện cho NHTW hạn chế sử dụng các công
cụ mang tính trực tiếp trong điều hành CSTT.
Bên cạnh mục đích điều tiết vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng,
thông qua mua bán GTCG trên thị trường mở, NHTW còn cấp tín hiệu cho thị
trường về định hướng điều hành CSTT trong tương lai là nới lỏng hay thắt
chặt. Đặc biệt khi thực hiện OMO thường xuyên và hiệu quả, lãi suất thị
trường mở có ý nghĩa rất quan trọng trong việc định hướng, chỉ đạo lãi suất
thị trường và qua đó NHTW có thể hạn chế những biến động của lãi suất thị
trường.
OMO là một công cụ CSTT có tính chủ động cao. OMO do NHTW chủ

động khởi xướng, khác với các nghiệp vụ cho vay hỗ trợ vốn khác của
NHTW thường do các ngân hàng có nhu cầu vay vốn chủ động khởi xướng.
Như vậy, NHTW có thể chủ động thực hiện OMO theo định kỳ hoặc vào các
thời điểm cần thiết. OMO có thể được thực hiện linh hoạt xét trên góc độ về
khối lượng cũng như thời gian giao dịch. NHTW có thể thực hiện OMO ở quy
3
Tiểu luận môn Thị trường tài chính GVHD: PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn
mô lớn/nhỏ (khối lượng mua bán GTCG lớn/nhỏ) với thời hạn dài/ngắn tuỳ
theo quyết định mua/bán GTCG.
OMO có thể khắc phục được những hạn chế của các công cụ kiểm soát
tiền tệ trực tiếp và các công cụ gián tiếp khác. Các giao dịch OMO có tính hai
chiều, qua đó NHTW có thể bơm thêm tiền vào lưu thông hoặc rút tiền từ lưu
thông, trong khi công cụ TCV chỉ có thể bơm thêm tiền vào lưu thông. Mặt
khác, với công cụ OMO, NHTW có thể chủ động hơn trong việc điều tiết lưu
thông, không phụ thuộc nhiều vào ý muốn chủ quan của NHTM như trong
công cụ TCV. Qua việc tính toán và dự báo vốn khả dụng cũng như lượng
tiền cung ứng, NHTW có thể biết chính xác được khối lượng tiền cần bơm
thêm hoặc rút về từ lưu thông.
b. Đối với các đối tác của ngân hàng trung ương
Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng trong cơ chế thị trường ngày
càng đa dạng dẫn đến hoạt động quản lý và sử dụng vốn khả dụng cần phải
chủ động và linh hoạt hơn. Hiện nay trong cơ cấu nguồn vốn của các ngân
hàng, tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn với thời gian dưới 12 tháng thường
chiếm tỷ trọng từ 60-70%. Vì vậy, vấn đề cấp bách hiện nay đối với các ngân
hàng là làm thế nào để sử dụng vốn linh hoạt hiệu quả và giải quyết được khó
khăn tạm thời về vốn khả dụng trong thời gian ngắn, không gây ách tắc trong
thanh toán cũng như đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng.
Thị trường mở là nơi các đối tác của NHTW được chủ động tham gia
mua bán GTCG với NHTW và lãi suất thực sự là mang tính thị trường..
Các thành viên tham gia thị trường mở thường là các đối tác có độ tin cậy

cao, nên việc mua bán GTCG trên thị trường mở có độ an toàn rất cao. Bên
cạnh đó, những điều kiện về chủng loại và chất lượng các GTCG được giao
dịch trong OMO sẽ gián tiếp làm thay đổi danh mục đầu tư GTCG của các
ngân hàng, từ đó cải thiện theo hướng tích cực cơ cấu sử dụng vốn của ngân
hàng, làm giảm dự trữ không sinh lợi và cải thiện bảng tổng kết tài sản của
ngân hàng.
Ngoài ra, OMO góp phần đa dạng hoá các nghiệp vụ kinh doanh của các
TCTD. Các TCTD không chỉ đơn thuần thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh
truyền thống như cho vay, bảo lãnh, dịch vụ … mà còn sử dụng một nguồn
vốn nhất định để thực hiện nghiệp vụ kinh doanh mới là mua bán các GTCG.
OMO cũng thúc đẩy các mối quan hệ mang tính kinh doanh giữa các thành
viên tham gia thị trường.
4
Tiểu luận môn Thị trường tài chính GVHD: PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn
OMO do các ngân hàng tự nguyện tham gia thực hiện theo các nguyên
tắc thị trường, không mang tính chất bắt buộc như DTBB và cũng không có
tác động như một hình thức “đánh thuế” đối với hoạt động của các ngân hàng
như DTBB. Lãi suất trên thị trường mở cũng mang tính chất thị trường chứ
không bị áp đặt như trong công cụ chiết khấu GTCG của NHTW.
Như vậy, thị trường mở tạo điều kiện cho các ngân hàng sử dụng nguồn
vốn tạm thời nhàn rỗi hiệu quả hơn và đa dạng hoá thêm các nghiệp vụ kinh
doanh của các ngân hàng.
c. Đối với nền kinh tế
Mặc dù thành viên của OMO chủ yếu là các tổ chức tín dụng, tài chính
và NHTW nhưng OMO cũng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế.
Thông qua việc phát hành, mua bán GTCG trên thị trường mở, các chủ
thể của thị trường mở đã làm tăng thêm tính thanh khoản cho các GTCG này.
Điều này góp phần thúc đẩy các thị trường tài chính phát triển. Từ đó, tạo
điều kiện cho các trung gian tài chính thu hút vốn trong nền kinh tế và thay
đổi thói quen tiết kiệm, tiêu dùng của các hộ gia đình trong nền kinh tế.

Thị trường mở có sự gắn kết chặt chẽ với các thị trường tiền tệ, đặc biệt
là thị trường nội tệ liên ngân hàng. Sự phát triển của thị trường mở tác động
mạnh đến sự hoàn thiện và phát triển của thị trường liên ngân hàng.
Mặt khác, hiện nay Việt Nam đang trong quá trình mở cửa và hội nhập
vào nền kinh tế thế giới. Việt Nam phải thực hiện các cam kết yêu cầu của các
tổ chức tài chính, tiền tệ, thương mại quốc tế hay các quốc gia phát triển,
trong đó có yêu cầu về cải cách hệ thống ngân hàng và nâng cao tính minh
bạch trong các hoạt động của NHTW. Tại các quốc gia phát triển hay các
quốc gia trong khu vực Đông Nam á đều sử dụng OMO trong điều hành
CSTT để đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Chính vì vậy, việc sử dụng
OMO là một điều kiện cần thiết để hội nhập nền kinh tế vào khu vực và thế
giới.
4. Thành viên nghiệp vụ thị trường mở
4.1. Ngân hàng trung ương
NHTW là người tổ chức, xây dựng và vận hành hoạt động của thị trường
mở theo các mục tiêu CSTT. NHTW là người quyết định lựa chọn sử dụng
các loại OMO và tần suất sử dụng OMO. NHTW tham gia thị trường thông
qua việc mua bán các GTCG nhằm tác động đến dự trữ của hệ thống ngân
hàng để đảm bảo khả năng thanh toán và gián tiếp tác động đến các lãi suất
5
Tiểu luận môn Thị trường tài chính GVHD: PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn
thị trường theo mục tiêu CSTT. NHTW cũng là người can thiệp thị trường khi
cần thiết thông qua thực hiện chức năng người cho vay cuối cùng nhằm kiểm
soát tiền tệ, đảm bảo đủ phương tiện thanh toán cho các TCTD cũng như nhu
cầu tín dụng của nền kinh tế.
Như vậy, NHTW tham gia thị trường mở không phải vì mục tiêu kinh
doanh mà để quản lý, chi phối, điều tiết thị trường làm cho CSTT được thực
hiện theo các mục tiêu xác định của nó.
4.2. Các đối tác của ngân hàng trung ương
a. Các ngân hàng thương mại

Các NHTM là thành viên chủ yếu tham gia OMO của NHTW và là đối
tác quan trọng của NHTW xét trên 2 phương diện độ tin cậy và tính hiệu quả.
Các NHTM tham gia thị trường nhằm điều hoà vốn khả dụng để đảm bảo khả
năng thanh toán và đầu tư các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để hưởng lãi.
Sự tham gia của các NHTM trong các giao dịch OMO có ý nghĩa quan
trọng xét trên góc độ hiệu quả CSTT do: (i) NHTM là trung gian tài chính lớn
nhất, có mạng lưới hoạt động rộng. NHTM đóng vai trò quan trọng trong việc
cung ứng vốn cho nền kinh tế, nhất là ở các nước đang phát triển; (ii) Hơn
nữa NHTM vừa là người đi vay, vừa là người cho vay trên thị trường tiền tệ.
b. Các tổ chức tài chính phi ngân hàng
Tại một số quốc gia, các tổ chức tài chính phi ngân hàng cũng được tham
gia OMO. Các công ty bảo hiểm, công ty tài chính, quỹ đầu tư, hội tiết kiệm
… coi thị trường mở như là nơi kiếm thu nhập thông qua việc sử dụng vốn
nhàn rỗi để mua bán các GTCG.
c. Các nhà giao dịch sơ cấp
Các nhà giao dịch sơ cấp tham gia vào OMO với tư cách là người trung
gian trong việc mua bán các GTCG giữa NHTW và các đối tác khác. Các nhà
giao dịch sơ cấp có thể là các NHTM, công ty chứng khoán, công ty tài chính.
Thực tế ở nhiều nước, 70% giao dịch can thiệp của NHTW trên thị trường mở
được thực hiện thông qua các nhà giao dịch sơ cấp. Khi đó, NHTW chỉ thực
hiện mua bán GTCG với các nhà giao dịch sơ cấp. Và để thực hiện được vai
trò này, các nhà giao dịch sơ cấp phải có nguồn vốn đủ mạnh đáp ứng yêu cầu
quy định của NHTW và phải sẵn sàng thực hiện vai trò người tạo lập thị
trường trong tất cả các phiên đấu thầu tín phiếu kho bạc.
6
Tiểu luận môn Thị trường tài chính GVHD: PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn
5. Hàng hoá của nghiệp vụ thị trường mở
5.1. Tín phiếu kho bạc
Tín phiếu kho bạc là loại chứng khoán Chính phủ được phát hành nhằm
mục đích bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách trong năm tài chính. Thời

hạn của tín phiếu kho bạc thường dưới 12 tháng.
Việc sử dụng tín phiếu kho bạc trong OMO có một số ưu điểm nhất
định. Khi NHTW bán tín phiếu kho bạc thay cho việc phát hành tín phiếu
NHTW để thực hiện CSTT thắt chặt thì gánh nặng về thực hiện CSTT sẽ
chuyển sang ngân sách và được thể hiện rõ ràng trên số liệu ngân sách. Mặt
khác khi thị trường tiền tệ chưa phát triển, số dư tín phiếu kho bạc lại khá lớn
thì việc sử dụng tín phiếu kho bạc để thực hiện CSTT sẽ giảm rủi ro của việc
phân tách thị trường.
5.2. Tín phiếu ngân hàng trung ương
Tín phiếu NHTW là loại GTCG ngắn hạn do NHTW phát hành để làm
công cụ cho OMO. Việc sử dụng tín phiếu NHTW làm hàng hoá trên thị
trường mở có một số ưu điểm như tăng cường tính độc lập của NHTW trong
việc thực thi CSTT và là công cụ linh hoạt cho việc quản lý vốn khả dụng
Tuy nhiên, việc phát hành tín phiếu NHTW để thực thi CSTT sẽ làm cho
chi phí hoạt động của NHTW tăng lên, mặc dù NHTW hoạt động không vì
mục tiêu lợi nhuận. Việc sử dụng tín phiếu NHTW đòi hỏi phải có sự phối
hợp nhất định với Bộ Tài chính. Khi NHTW và Bộ Tài chính đồng thời phát
hành tín phiếu NHTW và tín phiếu kho bạc, nếu lãi suất chênh lệch thì các đối
tác trên thị trường mở sẽ tập trung mua loại tín phiếu có lãi suất cao hơn. Khi
đó sẽ có sự phân khúc giữa thị trường tín phiếu kho bạc và thị trường tín
phiếu NHTW, làm cho mục đích phát hành các GTCG này không đạt được và
có thể làm giảm hiệu quả tác động của 2 loại hàng hoá này.
5.3. Trái phiếu Chính phủ
Trái phiếu chính phủ là giấy nhận nợ dài hạn do Chính phủ phát hành
nhằm mục đích huy động vốn cho ngân sách. Mặc dù là GTCG dài hạn có
thời hạn lên đến 10-30 năm nhưng trái phiếu Chính phủ được sử dụng khá
rộng rãi trong các giao dịch OMO ở một số nước bởi tính an toàn, ổn định
trong phát hành và khối lượng phát hành thường lớn, có khả năng tác động
trực tiếp giá cả trên thị trường tài chính.
7

Tiểu luận môn Thị trường tài chính GVHD: PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn
5.4. Trái phiếu Chính quyền địa phương
Tương tự như trái phiếu Chính phủ, nhưng trái phiếu chính quyền địa
phương khác về thời hạn và các điều kiện ưu đãi về thuế thu nhập từ trái
phiếu và thường do các chính quyền địa phương lớn phát hành. Sự can thiệp
của NHTW thông qua việc mua bán loại trái phiếu này cũng tương tự như trái
phiếu Chính phủ.
5.5. Chứng chỉ tiền gửi
Chứng chỉ tiền gửi (CD) là giấy nhận nợ của ngân hàng hay tổ chức tài
chính phi ngân hàng phát hành, xác nhận một món tiền đã được gửi vào ngân
hàng với một kỳ hạn và lãi suất nhất định. Thời hạn của CD có thể từ 7 ngày
đến 7 năm nhưng thường là ngắn hạn. CD được sử dụng khá phổ biến trên thị
trường tiền tệ do các nhà đầu tư có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền khi cần
thiết mà không phải rút tiền gửi trước hạn.
8
Tiểu luận môn Thị trường tài chính GVHD: PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn
CHƯƠNG II.
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
I. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ
CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
Bắt đầu từ ngày 12/7/2000, NHNN tiến hành đưa công cụ OMO vào
hoạt động. Đây là một bước tiến mới trong điều hành CSTT của NHNN theo
hướng từ sử dụng các công cụ trực tiếp sang các công cụ gián tiếp, để phù
hợp với thông lệ quốc tế và sự phát triển của đất nước. Nó đã mở ra một kênh
cung ứng và điều tiết vốn khả dụng của các TCTD cho NHNN và tạo điều
kiện cho các TCTD sử dụng linh hoạt các loại GTCG của mình. Công cụ
OMO liên tục được NHNN cải tiến trong những năm qua và dần trở thành
một công cụ CSTT chủ yếu của NHNN.
1. Doanh số trúng thầu nghiệp vụ thị trường mở

Ngay từ khi triển khai, NHNN đã xác định OMO sẽ là một công cụ chủ
yếu trong điều hành CSTT của NHNN. Để đạt được mục đích đó, NHNN đã
tập trung thực hiện việc điều hoà lưu thông tiền tệ thông qua công cụ này.
Điều này thể hiện ở doanh số mua bán GTCG trên thị trường mở tăng nhanh
qua các năm. Những năm gần đây, tốc độ này đạt trên 200%.
Bảng 1. Tổng doanh số trúng thầu OMO qua các năm
Đơn vị: tỷ đồng
Năm thực
hiện
Số
phiên
thực
hiện
Khối lượng trúng thầu theo các
phương thức giao dịch
Mua kỳ
hạn
Mua
hẳn
Bán
kỳ hạn
Bán hẳn Tổng cộng
2000 17 873,50 480,00 550,00 1.903,50
2001 48 3.253,81 60,00 50,00 570,00 3.933,81
2002 85 7.245,53 1.900,00 9.145,53
2003 107 9.844,15 11.340,00 21.184,15
2004 123 60.985,91 950,00 61.935,91
2005 159 100.679,15 700,00 1.100,00 102.479,15
10t/2006 133 26.332,77 200,00 77.102,00 103.634,77
Tổng

cộng
672
209.214,8
2
540,0
0
950,00
93.512,0
0
304.216,82
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
9
Tiu lun mụn Th trng ti chớnh GVHD: PGS.TS. Nguyn ng Dn
Thụng qua hot ng OMO, NHNN khụng ch mua GTCG bm thờm
vn kh dng khi th trng thiu ht vn kh dng v m cũn bỏn GTCG
hỳt tin nhn ri khi th trng d tha vn nhm thc hin mc tiờu CSTT.
Doanh s trỳng thu OMO tng mnh qua cỏc nm, trung bỡnh tng 1,9573
ln/nm, qua ú tng kh nng iu tit ca cụng c ny n vn kh dng
ca TCTD cng nh cỏc iu kin tin t.
Biểu đồ 2.1. Tổng doanh số trúng thầu OMO qua các năm
0
20.000
40.000
60.000
80.000
100.000
120.000
2000 2001 2002 2003 2004 2005
Tỷ đồng
Doanh số mua vào Doanh số bán ra Tổng doanh số trúng thầu

T nm 2002-2004, doanh s trỳng thu tng trng hng nm trờn
100% v nm 2004 bng 2,924 ln nm 2003 v 15,74 ln nm 2001. Doanh
s trỳng thu tng nhanh bi cỏc phiờn OMO ó c t chc thng xuyờn
hn, v doanh s giao dch tng phiờn tng lờn. Nm 2005, doanh s trỳng
thu bng 165,5% so vi nm 2004.
Doanh s mua vo qua OMO tng nhanh qua cỏc nm t khi khai trng
n nay v nhỡn chung tng nhanh hn tc tng trng ca tng doanh s
giao dch OMO. c bit doanh s mua vo nm 2004 tng t bin, bng 6,2
ln so vi nm 2003. Doanh s mua vo nm 2005 bng 165,1% so vi doanh
s mua vo nm 2004. iu ny chng t s thay i ca NHNN trong iu
hnh CSTT v din bin th trng thng xuyờn thiu vn kh dng. Bờn
cnh ú, t trng doanh s mua vo tng t 71,1% nm 2000 lờn n 98,2%
vo nm 2005. Ch cú nm 2003, t trng ny gim ch cũn 46,5%.
Doanh s trỳng thu bỡnh quõn ca tng phiờn cng tng tng lờn qua
cỏc nm. Nm 2000 mi t 112 t ng thỡ nm 2005 ó t 649 t ng,
10
bánGTCGDự trữNHgiảmDự trữ mởrộng chovay giảmKhốilượng TDgiảmMSgiảmTiểu luận môn Thị trường kinh tế tài chính GVHD : PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờngiảm năng lực cho vay của ngân hàng và vì vậy khối lượng tín dụng thanh toán giảm dẫnđến cung tiền sẽ giảm. Ngược lại, khi NHTW triển khai mua GTCG trên thịtrường mở, hiệu quả làm dự trữ của những ngân hàng tăng lên. Như vậy, khiNHTW triển khai nghiệp vụ thị trường nó sẽ tác động ảnh hưởng đến dự trữ của những ngânhàng, làm ảnh hưởng tác động đến khối lượng tín dụng thanh toán, từ đó ảnh hưởng tác động đến lượngtiền đáp ứng. b. Về mặt giá – Tác động qua lãi suấtHành vi mua và bán GTCG của NHTW trên thị trường mở hoàn toàn có thể ảnhhưởng gián tiếp đến mức lãi suất vay thị trường trải qua 2 con đường sau : Thứ nhất, khi dự trữ của ngân hàng bị ảnh hưởng tác động sẽ ảnh hưởng tác động đến cungcầu vốn NHTW trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Đến lượt nó, cung cầutiền trung ương biến hóa sẽ dẫn đến lãi suất vay thị trường tiền NHTW biến hóa. Mức lãi suất vay thời gian ngắn này, trải qua Dự kiến của thị trường và những hoạtđộng arbitrage về lãi suất vay, sẽ truyền ảnh hưởng tác động tới những mức lãi suất vay trung và dàihạn trên thị trường kinh tế tài chính. Tại một mức lãi suất vay thị trường xác lập, tổngcầu AD của nền kinh tế tài chính, và do đó vận tốc tăng trưởng kinh tế tài chính sẽ được quyếtđịnh. Sơ đồ 1.2. Cơ chế tác động của OMO qua lãi suấtThứ hai, việc mua và bán GTCG sẽ làm tác động ảnh hưởng ngay đến quan hệ cungcầu về loại GTCG đó trên thị trường và Chi tiêu của nó. Khi giá chứng khoánthay đổi, tỷ suất sinh lời của chúng cũng đổi khác. Nếu khối lượng chứng khoánnày chiếm tỷ trọng lớn trong những thanh toán giao dịch trên thị trường kinh tế tài chính thì sự thayđổi tỷ suất sinh lời của nó sẽ ảnh hưởng tác động trở lại lãi suất vay thị trường, và cho nên vì thế mà tácđộng đến tổng cầu AD và sản lượng. Khi NHTW bán tín phiếu kho bạc sẽ làm giảm dự trữ của mạng lưới hệ thống ngânCung TPKBtăngNHTW bánTPKBDự trữ NHgiảmĐầu tưgiảmCung của quỹcho vay giảmLãi suất ngắnhạn tăngLãi suất thịtrường tăngGiá TPKBgiảmLS thị trườngtăngtăngTiểu luận môn Thị trường kinh tế tài chính GVHD : PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờnhàng. Điều này làm giảm cung quỹ cho vay và sẽ ảnh hưởng tác động đến lãi suất vay ngắnhạn, làm lãi suất vay thời gian ngắn có khuynh hướng tăng lên và tác động ảnh hưởng vào làm tăng cáclãi suất thị trường. Bên cạnh đó khi NHTW triển khai bán tín phiếu kho bạctrên thị trường mở sẽ làm tăng cung tín phiếu kho bạc trên thị trường, từ đólàm giảm giá của tín phiếu kho bạc. Điều này làm tác động ảnh hưởng đến tỷ suất sinhlời của tín phiếu kho bạc theo hướng tăng lên, dẫn đến sự chuyển dời vốnđầu tư sang tín phiếu kho bạc. Để cân đối lãi suất vay và hạn chế sự dịch chuyểnvốn góp vốn đầu tư, lãi suất vay thị trường sẽ tăng lên. Khi lãi suất vay thị trường tăng lên thìhoạt động góp vốn đầu tư của những chủ thể so với nền kinh tế tài chính sẽ giảm xuống do tỷ suấtsinh lời giảm. Từ đó tổng cầu trên thị trường giảm xuống và góp thêm phần làmgiảm sản lượng, ảnh hưởng tác động đến lượng tiền đáp ứng. 3. Vai trò của nghiệp vụ thị trường mởa. Đối với ngân hàng trung ươngĐể thực thi trách nhiệm không thay đổi giá trị đồng xu tiền, NHTW đã kiến thiết xây dựng vàthực thi những công cụ CSTT nhằm mục đích đưa tiền ra và rút tiền về từ lưu thông theotín hiệu thị trường. Trong đó, OMO là công cụ CSTT gián tiếp quan trọngnhất tại nhiều vương quốc làm đổi khác cung – cầu tiền tệ dẫn đến đổi khác lãisuất trên thị trường tiền tệ. Thông qua việc mua và bán GTCG tại thị trường mở, NHTW hoàn toàn có thể lan rộng ra hoặc thu hẹp khối lượng tiền dự trữ trong hệ thốngngân hàng và tác động ảnh hưởng một cách tốt nhất đến cơ số tiền tệ, lượng tiền cungứng. Như vậy, OMO đã tạo điều kiện kèm theo cho NHTW hạn chế sử dụng những côngcụ mang tính trực tiếp trong điều hành quản lý CSTT.Bên cạnh mục tiêu điều tiết vốn khả dụng của mạng lưới hệ thống ngân hàng, trải qua mua và bán GTCG trên thị trường mở, NHTW còn cấp tín hiệu cho thịtrường về xu thế điều hành quản lý CSTT trong tương lai là thả lỏng hay thắtchặt. Đặc biệt khi triển khai OMO tiếp tục và hiệu suất cao, lãi suất vay thịtrường mở có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xu thế, chỉ huy lãi suấtthị trường và qua đó NHTW hoàn toàn có thể hạn chế những dịch chuyển của lãi suất vay thịtrường. OMO là một công cụ CSTT có tính dữ thế chủ động cao. OMO do NHTW chủđộng khởi xướng, khác với những nghiệp vụ cho vay tương hỗ vốn khác củaNHTW thường do những ngân hàng có nhu yếu vay vốn dữ thế chủ động khởi xướng. Như vậy, NHTW hoàn toàn có thể dữ thế chủ động thực thi OMO theo định kỳ hoặc vào cácthời điểm thiết yếu. OMO hoàn toàn có thể được thực thi linh động xét trên góc nhìn vềkhối lượng cũng như thời hạn thanh toán giao dịch. NHTW hoàn toàn có thể thực thi OMO ở quyTiểu luận môn Thị trường kinh tế tài chính GVHD : PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờnmô lớn / nhỏ ( khối lượng mua và bán GTCG lớn / nhỏ ) với thời hạn dài / ngắn tuỳtheo quyết định hành động mua / bán GTCG.OMO hoàn toàn có thể khắc phục được những hạn chế của những công cụ kiểm soáttiền tệ trực tiếp và những công cụ gián tiếp khác. Các thanh toán giao dịch OMO có tính haichiều, qua đó NHTW hoàn toàn có thể bơm thêm tiền vào lưu thông hoặc rút tiền từ lưuthông, trong khi công cụ TCV chỉ hoàn toàn có thể bơm thêm tiền vào lưu thông. Mặtkhác, với công cụ OMO, NHTW hoàn toàn có thể dữ thế chủ động hơn trong việc điều tiết lưuthông, không nhờ vào nhiều vào ý muốn chủ quan của NHTM như trongcông cụ TCV. Qua việc đo lường và thống kê và dự báo vốn khả dụng cũng như lượngtiền đáp ứng, NHTW hoàn toàn có thể biết đúng chuẩn được khối lượng tiền cần bơmthêm hoặc rút về từ lưu thông. b. Đối với những đối tác chiến lược của ngân hàng trung ươngHoạt động kinh doanh của những ngân hàng trong cơ chế thị trường ngàycàng phong phú dẫn đến hoạt động giải trí quản trị và sử dụng vốn khả dụng cần phảichủ động và linh động hơn. Hiện nay trong cơ cấu tổ chức nguồn vốn của những ngânhàng, tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn với thời hạn dưới 12 tháng thườngchiếm tỷ trọng từ 60-70 %. Vì vậy, yếu tố cấp bách lúc bấy giờ so với những ngânhàng là làm thế nào để sử dụng vốn linh động hiệu suất cao và xử lý được khókhăn trong thời điểm tạm thời về vốn khả dụng trong thời hạn ngắn, không gây ách tắc trongthanh toán cũng như phân phối nhu yếu tăng trưởng tín dụng thanh toán. Thị trường mở là nơi những đối tác chiến lược của NHTW được dữ thế chủ động tham giamua bán GTCG với NHTW và lãi suất vay thực sự là mang tính thị trường. . Các thành viên tham gia thị trường mở thường là những đối tác chiến lược có độ tin cậycao, nên việc mua và bán GTCG trên thị trường mở có độ bảo đảm an toàn rất cao. Bêncạnh đó, những điều kiện kèm theo về chủng loại và chất lượng những GTCG được giaodịch trong OMO sẽ gián tiếp làm đổi khác hạng mục góp vốn đầu tư GTCG của cácngân hàng, từ đó cải tổ theo hướng tích cực cơ cấu tổ chức sử dụng vốn của ngânhàng, làm giảm dự trữ không sinh lợi và cải tổ bảng tổng kết gia tài củangân hàng. Ngoài ra, OMO góp thêm phần đa dạng hoá những nghiệp vụ kinh doanh thương mại của cácTCTD. Các TCTD không chỉ đơn thuần thực thi những nghiệp vụ kinh doanhtruyền thống như cho vay, bảo lãnh, dịch vụ … mà còn sử dụng một nguồnvốn nhất định để triển khai nghiệp vụ kinh doanh thương mại mới là mua và bán những GTCG.OMO cũng thôi thúc những mối quan hệ mang tính kinh doanh thương mại giữa những thànhviên tham gia thị trường. Tiểu luận môn Thị trường kinh tế tài chính GVHD : PGS.TS. Nguyễn Đăng DờnOMO do những ngân hàng tự nguyện tham gia triển khai theo những nguyêntắc thị trường, không mang đặc thù bắt buộc như DTBB và cũng không cótác động như một hình thức ” đánh thuế ” so với hoạt động giải trí của những ngân hàngnhư DTBB. Lãi suất trên thị trường mở cũng mang đặc thù thị trường chứkhông bị áp đặt như trong công cụ chiết khấu GTCG của NHTW.Như vậy, thị trường mở tạo điều kiện kèm theo cho những ngân hàng sử dụng nguồnvốn trong thời điểm tạm thời thư thả hiệu suất cao hơn và đa dạng hoá thêm những nghiệp vụ kinhdoanh của những ngân hàng. c. Đối với nền kinh tếMặc dù thành viên của OMO đa phần là những tổ chức triển khai tín dụng thanh toán, tài chínhvà NHTW nhưng OMO cũng có vai trò quan trọng so với nền kinh tế tài chính. Thông qua việc phát hành, mua và bán GTCG trên thị trường mở, những chủthể của thị trường mở đã làm tăng thêm tính thanh toán cho những GTCG này. Điều này góp thêm phần thôi thúc những thị trường kinh tế tài chính tăng trưởng. Từ đó, tạođiều kiện cho những trung gian kinh tế tài chính lôi cuốn vốn trong nền kinh tế tài chính và thayđổi thói quen tiết kiệm chi phí, tiêu dùng của những hộ mái ấm gia đình trong nền kinh tế tài chính. Thị trường mở có sự kết nối ngặt nghèo với những thị trường tiền tệ, đặc biệtlà thị trường nội tệ liên ngân hàng. Sự tăng trưởng của thị trường mở tác độngmạnh đến sự triển khai xong và tăng trưởng của thị trường liên ngân hàng. Mặt khác, lúc bấy giờ Nước Ta đang trong quy trình Open và hội nhậpvào nền kinh tế tài chính quốc tế. Việt Nam phải thực thi những cam kết nhu yếu của cáctổ chức kinh tế tài chính, tiền tệ, thương mại quốc tế hay những vương quốc tăng trưởng, trong đó có nhu yếu về cải cách mạng lưới hệ thống ngân hàng và nâng cao tính minhbạch trong những hoạt động giải trí của NHTW. Tại những vương quốc tăng trưởng hay cácquốc gia trong khu vực Đông Nam á đều sử dụng OMO trong điều hànhCSTT để đạt được những tiềm năng kinh tế tài chính vĩ mô. Chính vì thế, việc sử dụngOMO là một điều kiện kèm theo thiết yếu để hội nhập nền kinh tế tài chính vào khu vực và thếgiới. 4. Thành viên nghiệp vụ thị trường mở4. 1. Ngân hàng trung ươngNHTW là người tổ chức triển khai, thiết kế xây dựng và quản lý và vận hành hoạt động giải trí của thị trườngmở theo những tiềm năng CSTT. NHTW là người quyết định hành động lựa chọn sử dụngcác loại OMO và tần suất sử dụng OMO. NHTW tham gia thị trường thôngqua việc mua và bán những GTCG nhằm mục đích tác động ảnh hưởng đến dự trữ của mạng lưới hệ thống ngânhàng để bảo vệ năng lực thanh toán giao dịch và gián tiếp ảnh hưởng tác động đến những lãi suấtTiểu luận môn Thị trường kinh tế tài chính GVHD : PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờnthị trường theo tiềm năng CSTT. NHTW cũng là người can thiệp thị trường khicần thiết trải qua thực thi tính năng người cho vay sau cuối nhằm mục đích kiểmsoát tiền tệ, bảo vệ đủ phương tiện đi lại thanh toán giao dịch cho những TCTD cũng như nhucầu tín dụng thanh toán của nền kinh tế tài chính. Như vậy, NHTW tham gia thị trường mở không phải vì tiềm năng kinhdoanh mà để quản trị, chi phối, điều tiết thị trường làm cho CSTT được thựchiện theo những tiềm năng xác lập của nó. 4.2. Các đối tác chiến lược của ngân hàng trung ươnga. Các ngân hàng thương mạiCác NHTM là thành viên hầu hết tham gia OMO của NHTW và là đốitác quan trọng của NHTW xét trên 2 phương diện độ an toàn và đáng tin cậy và tính hiệu suất cao. Các NHTM tham gia thị trường nhằm mục đích điều hoà vốn khả dụng để bảo vệ khảnăng thanh toán giao dịch và góp vốn đầu tư những nguồn vốn trong thời điểm tạm thời nhàn nhã để hưởng lãi. Sự tham gia của những NHTM trong những thanh toán giao dịch OMO có ý nghĩa quantrọng xét trên góc nhìn hiệu suất cao CSTT do : ( i ) NHTM là trung gian kinh tế tài chính lớnnhất, có mạng lưới hoạt động giải trí rộng. NHTM đóng vai trò quan trọng trong việccung ứng vốn cho nền kinh tế tài chính, nhất là ở những nước đang tăng trưởng ; ( ii ) Hơnnữa NHTM vừa là người đi vay, vừa là người cho vay trên thị trường tiền tệ. b. Các tổ chức triển khai kinh tế tài chính phi ngân hàngTại 1 số ít vương quốc, những tổ chức triển khai kinh tế tài chính phi ngân hàng cũng được thamgia OMO. Các công ty bảo hiểm, công ty kinh tế tài chính, quỹ góp vốn đầu tư, hội tiết kiệm ngân sách và chi phí … coi thị trường mở như là nơi kiếm thu nhập trải qua việc sử dụng vốnnhàn rỗi để mua và bán những GTCG.c. Các nhà thanh toán giao dịch sơ cấpCác nhà thanh toán giao dịch sơ cấp tham gia vào OMO với tư cách là người trunggian trong việc mua và bán những GTCG giữa NHTW và những đối tác chiến lược khác. Các nhàgiao dịch sơ cấp hoàn toàn có thể là những NHTM, công ty sàn chứng khoán, công ty kinh tế tài chính. Thực tế ở nhiều nước, 70 % thanh toán giao dịch can thiệp của NHTW trên thị trường mởđược triển khai trải qua những nhà thanh toán giao dịch sơ cấp. Khi đó, NHTW chỉ thựchiện mua và bán GTCG với những nhà thanh toán giao dịch sơ cấp. Và để thực thi được vaitrò này, những nhà thanh toán giao dịch sơ cấp phải có nguồn vốn đủ mạnh cung ứng yêu cầuquy định của NHTW và phải chuẩn bị sẵn sàng thực thi vai trò người tạo lập thịtrường trong tổng thể những phiên đấu thầu tín phiếu kho bạc. Tiểu luận môn Thị trường kinh tế tài chính GVHD : PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn5. Hàng hoá của nghiệp vụ thị trường mở5. 1. Tín phiếu kho bạcTín phiếu kho bạc là loại sàn chứng khoán nhà nước được phát hành nhằmmục đích bù đắp thiếu vắng trong thời điểm tạm thời của ngân sách trong năm kinh tế tài chính. Thờihạn của tín phiếu kho bạc thường dưới 12 tháng. Việc sử dụng tín phiếu kho bạc trong OMO có 1 số ít ưu điểm nhấtđịnh. Khi NHTW bán tín phiếu kho bạc thay cho việc phát hành tín phiếuNHTW để triển khai CSTT thắt chặt thì gánh nặng về triển khai CSTT sẽchuyển sang ngân sách và được bộc lộ rõ ràng trên số liệu ngân sách. Mặtkhác khi thị trường tiền tệ chưa tăng trưởng, số dư tín phiếu kho bạc lại khá lớnthì việc sử dụng tín phiếu kho bạc để triển khai CSTT sẽ giảm rủi ro đáng tiếc của việcphân tách thị trường. 5.2. Tín phiếu ngân hàng trung ươngTín phiếu NHTW là loại GTCG thời gian ngắn do NHTW phát hành để làmcông cụ cho OMO. Việc sử dụng tín phiếu NHTW làm hàng hoá trên thịtrường mở có 1 số ít ưu điểm như tăng cường tính độc lập của NHTW trongviệc thực thi CSTT và là công cụ linh động cho việc quản trị vốn khả dụngTuy nhiên, việc phát hành tín phiếu NHTW để thực thi CSTT sẽ làm chochi phí hoạt động giải trí của NHTW tăng lên, mặc dầu NHTW hoạt động giải trí không vìmục tiêu doanh thu. Việc sử dụng tín phiếu NHTW yên cầu phải có sự phốihợp nhất định với Bộ Tài chính. Khi NHTW và Bộ Tài chính đồng thời pháthành tín phiếu NHTW và tín phiếu kho bạc, nếu lãi suất vay chênh lệch thì những đốitác trên thị trường mở sẽ tập trung chuyên sâu mua loại tín phiếu có lãi suất vay cao hơn. Khiđó sẽ có sự phân khúc giữa thị trường tín phiếu kho bạc và thị trường tínphiếu NHTW, làm cho mục tiêu phát hành những GTCG này không đạt được vàcó thể làm giảm hiệu suất cao tác động ảnh hưởng của 2 loại hàng hoá này. 5.3. Trái phiếu Chính phủTrái phiếu chính phủ nước nhà là giấy nhận nợ dài hạn do nhà nước phát hànhnhằm mục tiêu kêu gọi vốn cho ngân sách. Mặc dù là GTCG dài hạn cóthời hạn lên đến 10-30 năm nhưng trái phiếu nhà nước được sử dụng khárộng rãi trong những thanh toán giao dịch OMO ở 1 số ít nước bởi tính bảo đảm an toàn, ổn địnhtrong phát hành và khối lượng phát hành thường lớn, có năng lực tác độngtrực tiếp Chi tiêu trên thị trường kinh tế tài chính. Tiểu luận môn Thị trường kinh tế tài chính GVHD : PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn5. 4. Trái phiếu Chính quyền địa phươngTương tự như trái phiếu nhà nước, nhưng trái phiếu chính quyền sở tại địaphương khác về thời hạn và những điều kiện kèm theo khuyến mại về thuế thu nhập từ tráiphiếu và thường do những chính quyền sở tại địa phương lớn phát hành. Sự can thiệpcủa NHTW trải qua việc mua và bán loại trái phiếu này cũng tựa như như tráiphiếu nhà nước. 5.5. Chứng chỉ tiền gửiChứng chỉ tiền gửi ( CD ) là giấy nhận nợ của ngân hàng hay tổ chức triển khai tàichính phi ngân hàng phát hành, xác nhận một món tiền đã được gửi vào ngânhàng với một kỳ hạn và lãi suất vay nhất định. Thời hạn của CD hoàn toàn có thể từ 7 ngàyđến 7 năm nhưng thường là thời gian ngắn. CD được sử dụng khá phổ cập trên thịtrường tiền tệ do những nhà đầu tư hoàn toàn có thể thuận tiện quy đổi thành tiền khi cầnthiết mà không phải rút tiền gửi trước hạn. Tiểu luận môn Thị trường kinh tế tài chính GVHD : PGS.TS. Nguyễn Đăng DờnCHƯƠNG II.THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦANGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUAI. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞCỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAMBắt đầu từ ngày 12/7/2000, NHNN triển khai đưa công cụ OMO vàohoạt động. Đây là một bước tiến mới trong quản lý CSTT của NHNN theohướng từ sử dụng những công cụ trực tiếp sang những công cụ gián tiếp, để phùhợp với thông lệ quốc tế và sự tăng trưởng của quốc gia. Nó đã mở ra một kênhcung ứng và điều tiết vốn khả dụng của những TCTD cho NHNN và tạo điềukiện cho những TCTD sử dụng linh động những loại GTCG của mình. Công cụOMO liên tục được NHNN nâng cấp cải tiến trong những năm qua và dần trở thànhmột công cụ CSTT đa phần của NHNN. 1. Doanh số trúng thầu nghiệp vụ thị trường mởNgay từ khi tiến hành, NHNN đã xác lập OMO sẽ là một công cụ chủyếu trong điều hành quản lý CSTT của NHNN. Để đạt được mục tiêu đó, NHNN đãtập trung thực hiện việc điều hoà lưu thông tiền tệ trải qua công cụ này. Điều này bộc lộ ở doanh thu mua và bán GTCG trên thị trường mở tăng nhanhqua những năm. Những năm gần đây, vận tốc này đạt trên 200 %. Bảng 1. Tổng doanh thu trúng thầu OMO qua những nămĐơn vị : tỷ đồngNăm thựchiệnSốphiênthựchiệnKhối lượng trúng thầu theo cácphương thức giao dịchMua kỳhạnMuahẳnBánkỳ hạnBán hẳn Tổng cộng2000 17 873,50 480,00 550,00 1.903,502001 48 3.253,81 60,00 50,00 570,00 3.933,812002 85 7.245,53 1.900,00 9.145,532003 107 9.844,15 11.340,00 21.184,152004 123 60.985,91 950,00 61.935,912005 159 100.679,15 700,00 1.100,00 102.479,1510 t / 2006 133 26.332,77 200,00 77.102,00 103.634,77 Tổngcộng672209. 214,8540,0950,0093. 512,0304. 216,82 Nguồn : Ngân hàng Nhà nước Việt NamTiu lun mụn Th trng ti chớnh GVHD : PGS.TS. Nguyn ng DnThụng qua hot ng OMO, NHNN khụng ch mua GTCG bm thờmvn kh dng khi th trng thiu ht vn kh dng v m cũn bỏn GTCGhỳt tin nhn ri khi th trng d tha vn nhm thc hin mc tiờu CSTT.Doanh s trỳng thu OMO tng mnh qua cỏc nm, trung bỡnh tng 1,9573 ln / nm, qua ú tng kh nng iu tit ca cụng c ny n vn kh dngca TCTD cng nh cỏc iu kin tin t. Biểu đồ 2.1. Tổng doanh thu trúng thầu OMO qua những năm20. 00040.00060.00080.000100.000120.0002000 2001 2002 2003 2004 2005T ỷ đồngDoanh số mua vào Doanh số bán ra Tổng doanh thu trúng thầuT nm 2002 – 2004, doanh s trỳng thu tng trng hng nm trờn100 % v nm 2004 bng 2,924 ln nm 2003 v 15,74 ln nm 2001. Doanhs trỳng thu tng nhanh bi cỏc phiờn OMO ó c t chc thng xuyờnhn, v doanh s giao dch tng phiờn tng lờn. Nm 2005, doanh s trỳngthu bng 165,5 % so vi nm 2004. Doanh s mua vo qua OMO tng nhanh qua cỏc nm t khi khai trngn nay v nhỡn chung tng nhanh hn tc tng trng ca tng doanh sgiao dch OMO. c bit doanh s mua vo nm 2004 tng t bin, bng 6,2 ln so vi nm 2003. Doanh s mua vo nm 2005 bng 165,1 % so vi doanhs mua vo nm 2004. iu ny chng t s thay i ca NHNN trong iuhnh CSTT v din bin th trng thng xuyờn thiu vn kh dng. Bờncnh ú, t trng doanh s mua vo tng t 71,1 % nm 2000 lờn n 98,2 % vo nm 2005. Ch cú nm 2003, t trng ny gim ch cũn 46,5 %. Doanh s trỳng thu bỡnh quõn ca tng phiờn cng tng tng lờn quacỏc nm. Nm 2000 mi t 112 t ng thỡ nm 2005 ó t 649 t ng, 10