Chương 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÍ TUỆ CẢM XÚC – Tài liệu text

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản khá đầy đủ của tài liệu tại đây ( 856.93 KB, 122 trang )

trong cuộc sống và đã nhận diện được 5 khu vực (nhân tố) bao quát về mặt chức năng

phù hợp với sự thành công trong cuộc sống. Từ đó ông đưa ra mô hình trí tuệ cảm xúc

kiểu hỗn hợp.

Vào năm 2000, Bar-On định nghĩa: “Trí tuệ cảm xúc như là một dãy các phi năng

lực và những kỹ năng ảnh hưởng đến năng lực một người thành công trong công việc

đương đầu với những đòi hỏi và sức ép từ môi trường”.

Peter Salovey và John Mayer là hai nhà tâm lý học Mỹ đã công bố định nghĩa

chính thức đầu tiên về trí tuệ cảm xúc vào năm 1990: “Trí tuệ cảm xúc là khả năng hiểu

rõ cảm xúc của bản thân, thấu hiểu cảm xúc của người khác, phân biệt được chúng và sử

dụng những thông tin ấy để hướng dẫn suy nghĩ và hành động của mình” [24]. Định

nghĩa này đã có ảnh hưởng quan trọng đến lý thuyết trí tuệ cảm xúc tại thời điểm đó.

Cũng trong năm 1990, Mayer, Salovey cùng với M.T. Đipaolo đã công bố bộ trắc

nghiệm đo trí tuệ cảm xúc và từ đây hai ông đã dẫn đầu sự phát triển khoa học về lý

thuyết và phương pháp xác định chỉ số trí tuệ cảm xúc (EQ – Emotional Quotient).

Sau bảy năm, Mayer và Salovey (1997) đã chỉnh sửa đôi chút định nghĩa trí tuệ

cảm xúc được nêu vào năm 1990 như sau: “Trí tuệ cảm xúc như là năng lực nhận biết,

bày tỏ cảm xúc; cảm xúc hóa tư duy; hiểu, suy luận với cảm xúc; điều khiển, kiểm soát

cảm xúc của mình và của người khác” [9, tr.98]. Dựa trên định nghĩa này mô hình trí tuệ

cảm xúc thuần năng lực được xây dựng.

Daniel Goleman – tiến sĩ tâm lý học của đại học Harvard – đã tập hợp các kết

quả nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc và cho ra đời cuốn sách đầu tiên “Trí tuệ cảm xúc”

vào năm 1995 thì thuật ngữ “trí tuệ cảm xúc” đã trở thành mối quan tâm hàng đầu trong

xã hội Mỹ. Daniel Goleman nghiên cứu trí tuệ cảm xúc theo lý thuyết hiệu quả thực hiện

công việc, ông xác định: mô hình trí tuệ cảm xúc dựa trên lý thuyết này có thể ứng dụng

trực tiếp vào khu vực hiệu quả quản lý và hoàn thành công việc từ người bán hàng đến

công việc của nhà quản lý. Mô hình trí tuệ cảm xúc mà D. Goleman đề xuất là một mô

hình kiểu hỗn hợp.

Theo D. Goleman, trí tuệ cảm xúc bao gồm các năng lực: sự tự chủ, lòng nhiệt

thành và kiên nhẫn cũng như khả năng và sự kích thích hành động.

Từ năm 1995, Daniel Goleman – người được xem là nhà nghiên cứu hàng đầu về

trí tuệ cảm xúc hiện nay, đề xuất chúng ta phải có những năng lực cảm xúc cá nhân

gồm:

– Năng lực tự nhận biết bản thân;

– Năng lực tạo động lực;

– Những năng lực thông minh cảm xúc xã hội gồm: năng lực thấu cảm với người

khác và năng lực giao tiếp xã hội.

Tuy nhiên vào năm 2001, D. Goleman đưa ra bốn biểu hiện của trí tuệ cảm xúc

nói lên năng lực của cá nhân trong mối quan hệ với mình và năng lực xã hội của con

người trong mối quan hệ với người khác:

– Tự biết mình;

– Tự kiểm soát, tự quản;

– Nhận biết các quan hệ xã hội;

– Kiểm soát, điều khiển các mối quan hệ xã hội.

Những nghiên cứu của Goleman không chỉ dừng lại ở việc xác định bản chất của

trí tuệ cảm xúc mà ông còn đưa ra những biện pháp để giáo dục trí tuệ cảm xúc.

Như vậy, nhìn một cách tổng thể có thể nói có ba đại diện tiêu biểu đã đi sâu

nghiên cứu trí tuệ cảm xúc dưới những cách tiếp cận khác nhau, trong đó R. Bar-On tiếp

cận trí tuệ cảm xúc dưới góc độ nhân cách, P. Salovey và J. Mayer nghiên cứu dưới góc

độ nhận thức và D. Goleman tiếp cận dưới góc độ hiệu quả công việc.

1.1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, vấn đề trí tuệ, đặc biệt là trí thông minh, trí sáng tạo đã được các nhà

tâm lý học nghiên cứu từ lâu. Thế nhưng, những công trình nghiên cứu về trí tuệ cảm

xúc chỉ mới ở những bước đi đầu tiên.

Vào năm 2000, tạp chí Tâm lý học lần đầu tiên đăng các bài viết của PGS.TS

Nguyễn Huy Tú về trí tuệ cảm xúc.

Đề tài cấp nhà nước KX-05-06 giai đoạn 2001 – 2005 do PGS.TS Trần Kiều cùng

với các nhà tâm lý và giáo dục thuộc Viện chiến lược và chương trình giáo dục nghiên

cứu trí tuệ cảm xúc đã xác định trí tuệ cảm xúc là một trong ba thành tố của trí tuệ (trí

thông minh, trí sáng tạo và trí tuệ cảm xúc) trên sinh viên, học sinh và lao động trẻ. Đề

tài này mở đầu cho các công trình nghiên cứu trí tuệ cảm xúc sau này.

Các tác giả trong các công trình nghiên cứu luận văn, luận án tâm lý học cũng đã

chọn trí tuệ cảm xúc làm vấn đề nghiên cứu, chẳng hạn như: luận văn thạc sĩ của Dương

Thị Hoàng Yến (2004), luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Dung (2007),…Các đề tài này

phần lớn tập trung nghiên cứu trí tuệ cảm xúc của giáo viên trong hoạt động chủ nhiệm

lớp. Luận văn thạc sĩ của tác giả Phan Trọng Nam (2004) và Nguyễn Thị Tuấn Anh

(năm 2008) tập trung nghiên cứu trí tuệ cảm xúc của đối tượng là sinh viên sư phạm.

Ngoài ra còn một số sông trình nghiên cứu khác về trí tuệ cảm xúc tập trung chủ yếu

trên đối tượng là sinh viên.

Hiện nay, các tác giả Nguyễn Huy Tú, Nguyễn Công Khanh, Nguyễn Quang Uẩn,

Trần Trọng Thủy, Phan Trọng Ngọ, …và nhiều tác giả khác vẫn đang tiếp tục đi sâu

nghiên cứu trí tuệ cảm xúc.

Như vậy, có thể nói rằng những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về trí

tuệ cảm xúc tuy chưa nhiều nhưng đã đạt được những kết quả bước đầu. Tuy nhiên, các

đề tài về trí tuệ cảm xúc chưa quan tâm nhiều đến đối tượng học sinh trung học phổ

thông. Vì vậy, nghiên cứu trí tuệ cảm xúc của học sinh trung học phổ thông là việc làm

cần thiết.

1.2. Trí tuệ cảm xúc

1.2.1. Khái niệm trí tuệ

Trong tiếng La tinh: Trí tuệ (Intellectus) có nghĩa là trí năng sắc sảo, sự hiểu biết

chu đáo [9, tr.7].

Trong từ điển Tiếng Việt: Trí tuệ là khả năng nhận thức lý tính đạt đến một trình

độ nhất định [14, tr.1245].

Trong từ điển tâm lý: Trí tuệ là khả năng hành động thích nghi với biến động của

hoàn cảnh thiên về tư duy trừu tượng (Nguyễn Khắc Viện, 2001).

Cho đến nay, trong Tâm lý học có rất nhiều định nghĩa về trí tuệ tùy theo cách

tiếp cận. Nhìn chung trí tuệ được hiểu theo hai quan niệm: quan niệm truyền thống và

quan niệm hiện đại.

 Trí tuệ theo quan niệm truyền thống

Điểm chung của quan niệm truyền thống là đồng nhất trí tuệ với trí thông minh

(intelligence). Theo F.S. Freeman (1963), trong vô số các định nghĩa về trí tuệ, có thể

thấy rõ có 3 loại: thứ nhất, xem trí tuệ là năng lực học tập; thứ hai, xem trí tuệ là năng

lực tư duy trừu tượng; thứ ba, xem trí tuệ là năng lực thích ứng cá nhân.

Nhóm quan điểm xem trí tuệ là năng lực học tập

Đây là quan niệm đã có từ lâu và khá phổ biến.

Nhà tâm lý học người Nga B.G.Ananhev xem trí tuệ là đặc điểm tâm lý phức tạp

của con người mà kết quả của công việc học tập và lao động phụ thuộc vào nó [11,

tr.41].

V.V.Bogoxlovki và những người khác (1973) xem hệ thống những thuộc tính trí

tuệ của nhân cách đảm bảo cho sự tương đối dễ dàng trong việc nắm các tri thức, được

hiểu là các năng lực chung [15, tr.71].

Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy giữa học tập (đặc biệt là kết quả học tập)

với khả năng trí tuệ của cá nhân có mối quan hệ nhân quả và chúng không đồng nhất.

Trên thực tế, phần lớn học sinh có chỉ số IQ cao thì kết quả học tập cũng cao, song cũng

có những học sinh có chỉ số IQ cao nhưng kết quả học tập lại không cao. Điều này có

thể giải thích bằng nhiều lý do như động cơ học tập, ý chí, hứng thú, cách học…Chính

A.Binet đã nghiên cứu và chứng minh được những học sinh học kém là do khả năng trí

tuệ và những em do lười hoặc những nguyên nhân khác [11, tr.42].

Nhóm quan điểm xem trí tuệ là năng lực tư duy trừu tượng

L.Terman (1937) cho rằng trí tuệ là năng lực phát triển tư duy trừu tượng. Theo

cách hiểu như vậy thì chức năng của trí thông minh là sử dụng có hiệu quả các khái

niệm và tượng trưng [15, tr.72].

N.A.Menchinskaia xem đặc trưng của trí tuệ là sự tích lũy vốn tri thức và các thao

tác trí tuệ để con người tiếp thu được tri thức [13, tr.15].

X.L.Rubinstein cho rằng đặc trưng cơ bản hàng đầu của trí tuệ là năng lực tâm

thần ở mức cao chẳng hạn như suy luận trừu tượng [1, tr.10].

Theo cách hiểu này, trí tuệ tức là khả năng sử dụng có hiệu quả các thao tác tư

duy để giải quyết các vấn đề đặt ra. Trong khi đó, tư duy chỉ là một thành phần, một bộ

phận của trí tuệ. Quan niệm như vậy đã thu hẹp nội hàm lẫn hình thức của trí tuệ.

Nhóm quan niệm xem trí tuệ là năng lực thích ứng của cá nhân

Đây là quan niệm phổ biến nhất và được nhiều nhà nghiên cứu tán thành.

V. Stern coi trí tuệ là năng lực thích ứng tâm lý chung của con người với những

điều kiện và nhiệm vụ mới trong đời sống [15, tr.72].

D. Wechler (1958) xem trí tuệ là năng lực chung của nhân cách, được thể hiện

trong hoạt động có mục đích, trong sự phán đoán và thông hiểu một cách đúng đắn,

trong sự làm cho môi trường thích nghi với những khả năng của mình [15, tr.72], [9,

tr.96].

J. Piaget xem bản chất của trí tuệ bộc lộ trong việc cấu tạo những mối quan hệ

giữa môi trường và cơ thể [15, tr.72]. Ông cũng cho rằng bất kỳ trí tuệ nào cũng đều là

một sự thích ứng [13, tr.42].

F. Raynal, A. Rieunier (1997) xem trí tuệ là khả năng xử lý thông tin để giải quyết

vấn đề và nhanh chóng thích nghi với tình huống mới [13, tr.42]

N. Sillamy (1997) xem trí tuệ là khả năng hiểu mối quan hệ sẵn có giữa các yếu tố

của tình huống và thích nghi để thực hiện cho lợi ích bản thân [13, tr.42]

Theo cách tiếp cận này, trí tuệ được thể hiện trong mối quan hệ giữa chủ thể và

môi trường. Tuy nhiên sự tác động qua lại đó phải được xem xét như là một sự thích ứng

tích cực, có hiệu quả nhằm cải tạo môi trường cho phù hợp với mục đích của con người,

chứ không phải là sự thích ứng thụ động đơn giản.

Nhìn chung, các quan điểm trên không loại trừ lẫn nhau mà do cách tiếp cận khác

nhau trong việc lựa chọn dấu hiệu quan trọng nhất của trí tuệ. Các quan niệm này còn có

một điểm chung là đã đồng nhất trí tuệ với trí thông minh. Nhưng rõ ràng không một

định nghĩa nào trong các định nghĩa trên chứa đựng được hết bản chất của hiện tượng

tâm lý phức tạp như trí tuệ của con người. Do vậy, có thể xem những quan niệm trên đây

là những quan niệm truyền thống về trí tuệ. Những quan niệm này là nền tảng cho sự ra

đời của quan niệm hiện đại về trí tuệ.

 Trí tuệ theo quan niệm hiện đại

Ngày nay, việc nghiên cứu trí tuệ dưới sự kết hợp các khoa học như: Di truyền

học, Thần kinh học, Công nghệ thông tin…đã đem lại một cách nhìn toàn diện và sâu

sắc hơn. Từ đó, các nhà tâm lý học cũng thừa nhận trí tuệ là một hiện tượng tâm lý xã

hội mang bản chất lịch sử xã hội chứ không phải là cơ cấu khép kín, không thay đổi và

có tính bẩm sinh di truyền. Mặt khác, các nhà nghiên cứu có xu hướng cho rằng có nhiều

loại trí tuệ khác nhau và trí tuệ theo cách hiểu như vậy được biểu thị bởi thuật ngữ

Wisdom.

Các nhà tâm lý học như: Hofstatter (1971), Sterberg và Gardner (1984) khẳng

định trí tuệ phải có cơ sở và gắn liền với thực tiễn. Trí tuệ theo quan niệm mới không chỉ

thể hiện ở việc giải quyết các nhiệm vụ có tính hàn lâm mà còn thể hiện ở việc giải

quyết các tình huống trong đời sống hàng ngày. Trí tuệ chính là kết quả tương tác giữa

con người với môi trường sống đồng thời trí tuệ cũng là tiền đề cho sự tương tác đó.

Theo Neisse (1976), nếu đặt trí tuệ hàn lâm (academic intelligence) vào điều kiện tự

nhiên thì sẽ có một dạng trí tuệ khác được thể hiện khi thực hiện các tình huống đời

thường [17, tr.35]. Cho đến 1990, Amelang và Bartussek gọi dạng trí tuệ này là trí tuệ

thực tiễn (practical intelligence). Con người luôn sống và hoạt động trong mối tương tác

với người khác, với cộng đồng, với các nhóm khác nhau,… Vì vậy, nếu con người chỉ

trang bị cho bản thân những tri thức trường học, tư duy logic, trí nhớ hay trí sáng tạo thì

chưa đủ để hoàn thành nhiệm vụ thực tiễn. Do vậy, ngoài trí thông minh và trí sáng tạo,

con người còn cần phải có trí tuệ xã hội (Social Intelligence = SI). Trí tuệ xã hội là năng

lực hoàn thành các nhiệm vụ trong hoàn cảnh có sự tương tác với người khác. Nó diễn ra

trong hoạt động cùng người khác, với mục đích, tâm lý và tính xã hội nhất định [17,

tr.36]. Trí tuệ xã hội được tạo nên bởi ba thành tố sau đây, trong đó trí tuệ cảm xúc là hạt

nhân:

– Tự nhận thức về bản thân

– Năng lực xã hội (social competence) bao gồm ba tiểu thành tố:

+ Nhận thức (cognitive)

+ Xúc cảm (emotion)

+ Vận động (motorie)

– Trí tuệ cảm xúc bao gồm bốn tiểu thành tố:

+ Tri giác (nhận ra) cảm xúc

+ Khả năng biểu hiện cảm xúc

+ Điều khiển có hiệu quả cảm xúc (của mình và của người khác)

+ Sử dụng những thông tin có liên quan đến cảm xúc để thúc đẩy, đặt kế

hoạch và thực hiện có kết quả những hành động nhất định.

Vào năm 1988, H.J. Eysenck đã đưa ra mô hình trí tuệ ba tầng bậc dựa trên sự kế

thừa, phát triển quan niệm truyền thống với quan niệm hiện đại:

– Trí tuệ sinh học (biological intelligence) là mặt sinh học của năng lực trí tuệ và

là một nguồn gốc của những khác biệt về trí tuệ cá nhân.

– Trí tuệ tâm trắc (psychoetric intelligence) hay trí tuệ hàn lâm là mặt trí tuệ

được đo bằng các trắc nghiệm IQ, CQ (Creative Quotient: chỉ số sáng tạo) truyền thống

được xây dựng trong tình huống giả định, có tính hàn lâm chưa phải là tình huống thực

trong cuộc sống. Nó bao gồm trí tuệ hàn lâm, trí thông minh hay năng lực nhận thức và

sáng tạo.

– Trí tuệ xã hội là sự thể hiện của trí tuệ tâm trắc khi cần phải giải quyết các

nhiệm vụ trong cuộc sống thực tế của chủ thể hoạt động có tự nhận thức rõ ràng về bản

thân, có nhận thức về xã hội và mối quan hệ giữa bản thân với xã hội đó.

Theo Eysenck, trí tuệ là một thuộc tính nhân cách mang bản chất sinh vật, tâm lý,

xã hội và văn hóa một cách sâu sắc.

Như vậy, trí tuệ theo quan niệm hiện đại không còn được hiểu đồng nhất với trí

thông minh, bởi lẽ trí tuệ là một cấu tạo tâm lý động, có phạm vi rộng hơn không chỉ bao

gồm trí thông minh mà còn trí sáng tạo và trí tuệ xã hội.

Trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, khi nghiên

cứu trí tuệ con người cần chú ý đến những vấn đề lý luận và phương pháp luận sau:

– Trí tuệ là yếu tố tâm lý có tính độc lập tương đối với các yếu tố tâm lý khác

của cá nhân.

– Trí tuệ có chức năng đáp ứng mối quan hệ tác động qua lại giữa chủ thể với

môi trường sống, tạo ra sự thích ứng tích cực của cá nhân.

– Trí tuệ được hình thành và biểu hiện trong hoạt động của chủ thể.

– Sự phát triển của trí tuệ chịu ảnh của yếu tố sinh học của cơ thể và chịu sự chế

ước của các yếu tố văn hóa – xã hội.

Như vậy, trí tuệ là một cấu trúc động, tương đối độc lập của các thuộc tính nhận

thức của nhân cách, được hình thành và thể hiện trong hoạt động, do những điều kiện

văn hóa – lịch sử qui định và chủ yếu đảm bảo cho sự tác động qua lại phù hợp với hiện

thực xung quanh, cho sự cải tạo có mục đích. (Blaykhe V.M và Burolachuc L.F, 1978)

[16, tr.5].

Kế thừa và phát huy một cách sáng tạo, các nhà tâm lý học thuộc viện chiến lược

và Chương trình Giáo dục Việt Nam đã đưa ra định nghĩa hiện đại và toàn vẹn hơn về trí

tuệ như sau: Trí tuệ – đó là một cấu trúc tương đối độc lập của những năng lực nhận thức

và xúc cảm của cá nhân, được hình thành và thể hiện trong hoạt động, do những điều

kiện văn hóa – lịch sử quy định và chủ yếu đảm bảo cho sự tác động qua lại phù hợp với

hiện thực xung quanh, cho sự cải tạo có mục đích của hiện thực ấy nhằm đạt được các

mục tiêu quan trọng trong cuộc sống của cá nhân và xã hội [16, tr.6].

1.2.2. Trí tuệ cảm xúc

1.2.2.1. Khái niệm trí tuệ cảm xúc

Nếu trí thông minh được biết đến và nghiên cứu một cách phổ biến, sâu sắc trong

gần một thế kỷ nay thì trí tuệ cảm xúc là một khái niệm mới được biết đến khoảng trên

một thập kỷ trở lại đây. Những nghiên cứu đầu tiên về trí tuệ cảm xúc được công bố trên

các tạp chí vào những năm 90 của thế kỷ XX, được xem là nhân tố dự đoán sự thành

công của con người (Daniel Goleman) và là nhân tố mang lại hạnh phúc cho con người

(Hein Steve).

Thuật ngữ trí tuệ cảm xúc được P. Salovey và J. Mayer sử dụng đầu tiên vào năm

1990. Không lâu sau đó vào năm 1995, D. Goleman cho ra đời cuốn sách bán rất chạy

mang tên “Emotional Intelligence” thì thuật ngữ trí tuệ cảm xúc trở nên rất phổ biến và

thông dụng ở nước Mỹ. Từ đây, các công trình nghiên cứu trí tuệ cảm xúc diễn ra một

cách rộng khắp và phổ biến.

Trí tuệ cảm xúc là một vấn đề còn mới mẻ, phức tạp đã và đang được nghiên cứu

sâu rộng. Vì thế, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về trí tuệ cảm xúc.

Tuy nhiên, nhìn tổng quát có thể nhận ra hai dòng quan niệm tiêu biểu về trí tuệ cảm xúc

như sau:

Quan niệm trí tuệ cảm xúc theo kiểu thuần năng lực tâm thần

Trên cơ sở quan niệm của Howard Gardner về sự tồn tại một dạng trí tuệ cá nhân

bao gồm trí tuệ về mối quan hệ giữa các cá nhân và trí tuệ cá nhân hướng nội, năm 1990,

P. Salovey và J. Mayer đi tiên phong trong việc phát triển lý thuyết trí tuệ cảm xúc theo

kiểu thuần năng lực tâm thần. Hai ông đã đưa ra nội dung chính thức về trí tuệ cảm xúc

như sau: “Trí tuệ cảm xúc là khả năng hiểu rõ cảm xúc bản thân, thấu hiểu cảm xúc của

người khác, phân biệt được chúng và sử dụng những thông tin ấy để hướng dẫn suy nghĩ

và hành động của mình” [24].

Sau nhiều công trình nghiên cứu, năm 1997, Mayer và Salovey đã thay đổi đôi

chút định nghĩa trí tuệ cảm xúc được nêu vào năm 1990 nhằm nhấn mạnh hơn nữa khía

cạnh nhận thức, suy nghĩ về cảm giác và các giai đoạn phát triển trí tuệ và xúc cảm.

Mayer và Salovey đã chính xác hóa nội dung định nghĩa như sau: “Trí tuệ cảm xúc là

năng lực nhận biết và bày tỏ cảm xúc; hòa cảm xúc vào suy nghĩ; hiểu và suy luận với

cảm xúc; điều khiển, quản lý cảm xúc của mình và của người khác” [9, tr.98].

Trong một cuốn sách xuất bản năm 1996, H. Steve cũng đưa ra định nghĩa tương

đồng với các tác giả trên, theo đó: “Trí tuệ cảm xúc là sự kết hợp giữa sự nhạy cảm về

cảm xúc có tính chất tự nhiên với các kỹ năng quản lý cảm xúc có được do tự học hỏi,

nhằm giúp con người đạt được hạnh phúc trong cuộc sống” [11, tr.176]. Theo đó, ông

cho rằng: trí tuệ cảm xúc là một tiềm năng bẩm sinh để cảm nhận, sử dụng, giao tiếp,

nhận biết, ghi nhớ, mô tả, xác định, học hỏi, quản lý hiểu và giải thích cảm xúc [22].

Cùng với quan điểm trên, Boyatizis (1999) cho rằng: “Trí tuệ cảm xúc là năng lực

nhận biết những tình cảm của mình và của người khác để tự thúc đẩy mình, kiểm soát,

điều khiển cảm xúc của mình và của người khác” [9, tr.98].

Quan niệm trí tuệ cảm xúc theo kiểu hỗn hợp

R. Bar-On dựa trên cơ sở hiểu biết cảm xúc và xã hội có ảnh hưởng đến khả năng

đối phó có hiệu quả của con người đối với môi trường và hoàn cảnh, ông cho rằng: “Trí

tuệ cảm xúc là một dãy các năng lực phi nhận thức và những kỹ năng có ảnh hưởng đến

khả năng thành công của một người trong hoàn cảnh người đó phải đương đầu với

những yêu cầu và sức ép từ môi trường” [9, tr.98-99].

Theo cách tiếp cận trên, quan niệm của D. Goleman (1995) được biết đến một

cách rộng rãi hơn: “Trí tuệ cảm xúc bao gồm các năng lực: tự kiềm chế, kiểm soát, nhiệt

tình và năng lực tự thôi thúc mình” [9, tr.99]. Goleman nhận thức được rằng ông đang đi

từ trí tuệ cảm xúc sang cái gì đó rộng lớn hơn khi cho rằng có một từ có vẻ lỗi thời cho

một loạt các kỹ năng mà trí tuệ cảm xúc được xem là đại diện qua các kỹ năng này là:

“tính nết”. [9, tr.106]

Các quan niệm theo kiểu hỗn hợp cho thấy có sự pha trộn hay kết hợp giữa các

năng lực tâm thần và các năng lực không phải là tâm thần, chẳng hạn như các nét nhân

cách: nhiệt tình, kiên trì, lạc quan…

Hiện nay trí tuệ cảm xúc được các nhà tâm lý học trên thế giới định nghĩa như là

khả năng tác động một cách có hiệu quả lên những ham muốn của bản thân (R. Busk,

1991; E.L. Ykovleva, 1997); khả năng hiểu sự thể hiện của nhân cách ra bên ngoài

thông qua cảm xúc, cũng như dùng trí tuệ để phân tích, tổng hợp vấn đề, trên cơ sở đó

điều tiết cảm xúc của mình (Peter Salovey, John D. Mayer, 1994; G.G. Gorskova, 1999)

[1, tr.26].

Như vậy, các cách tiếp cận trên đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về trí tuệ cảm

xúc, từ đây sẽ làm nảy sinh các mô hình trí tuệ cảm xúc khác nhau. Nhìn chung chúng ta

có thể nhận thấy trí tuệ cảm xúc là một phẩm chất phức hợp, đa diện, đại diện cho những

nhân tố khó thấy, khó nắm bắt như tự ý thức, tự nhận thức, tự tin, sự thấu cảm, tính tích

cực hoạt động xã hội… Về cơ bản, các tác giả nhất trí xem trí tuệ cảm xúc có liên quan

đến những năng lực nhận biết và điều khiển các cảm xúc của mình và của người khác.

Nghiên cứu trí tuệ cảm xúc dưới góc độ thuần năng lực đã cho thấy có sự khác

biệt giữa trí tuệ cảm xúc và các nét tính cách quan trọng của nhân cách, khu trú trí tuệ

cảm xúc vào năng lực tâm lý và chỉ rõ nội dung cốt lõi của trí tuệ cảm xúc là sự tương

tác giữa cảm xúc và tư duy. Điều này có nghĩa là những người được coi là có trí tuệ cảm

xúc cao phải có khả năng tiến hành xử lý thông tin xúc cảm một cách tinh tế. Do vậy khi

con người sử dụng năng lực của bản thân để làm cho suy nghĩ của chính mình dễ dàng

thì họ có thể học được cách điều chỉnh cảm xúc. Trên cơ sở này, chúng tôi chọn quan

điểm trí tuệ cảm xúc theo kiểu thuần năng lực của Mayer và Salovey làm cơ sở lý luận

định hướng nghiên cứu của đề tài.

1.2.2.2. Những nét đặc trưng của trí tuệ cảm xúc

* Trí tuệ cảm xúc là một cấu trúc phức hợp của nhiều năng lực khác nhau

liên quan đến lĩnh vực cảm xúc