Nghiên cứu tình hình kê đơn thuốc điều trị ngoại trú, hiểu biết và thực hành của – Tài liệu text
Nghiên cứu tình hình kê đơn thuốc điều trị ngoại trú, hiểu biết và thực hành của bệnh nhân về việc sử dụng thuốc theo đơn tại bệnh viện huyện phong điền
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.21 MB, 84 trang )
Bạn đang đọc: Nghiên cứu tình hình kê đơn thuốc điều trị ngoại trú, hiểu biết và thực hành của – Tài liệu text
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC
NGUYỄN THỊ LỘC HẢI
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH KÊ ĐƠN THUỐC ĐIỀU
TRỊ NGOẠI TRÚ VÀ HIỂU BIẾT, THỰC HÀNH CỦA
BỆNH NHÂN VỀ VIỆC SỬ DỤNG THUỐC THEO
ĐƠN TẠI BỆNH VIỆN HUYỆN PHONG ĐIỀN
Chuyên ngành: Y TẾ CÔNG CỘNG
Mã số : 60 72 76
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
HUẾ – 2008
2
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
ADR
:
Adverse Drug Reaction: Phản ứng có hại của thuốc
BV
:
Bệnh viện
BN
:
Bệnh nhân
ĐH
:
Đại học
ĐT
:
Đơn thuốc
KS
:
Kháng sinh
QĐ
:
Qui định
SL
:
Số lượng
TCYTTG
:
Tổ chức Y tế Thế giới
TH
:
Tiểu học
THPT
:
Trung học Phổ thông
THCS
:
Trung học cơ sở
TL
:
Tỷ lệ
TYT
:
Trạm y tế
3
MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN 3
1.1. Một số khái niệm về thuốc 3
1.2. Nhu cầu thuốc 5
1.3. Một số vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc 6
1.4. Tình hình kê đơn thuốc và sử dụng thuốc 11
1.5. Một số đặc điểm tình hình kinh tế – văn hoá – xã hội – y tế của huyện
Phong Điền 20
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1. Đối tượng nghiên cứu 22
2.2. Phương pháp nghiên cứu 22
2.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 23
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
3.1. Tỷ lệ đơn thuốc điều trị ngoại trú được kê đúng theo qui chế kê đơn của
Bộ Y tế 31
3.2. Hiểu biết, thực hành sử dụng thuốc theo đơn của bệnh nhân và một số
yếu tố liên quan 40
Chƣơng 4. BÀN LUẬN 53
4.1 Tình hình kê đơn thuốc điều trị ngoại trú tại bệnh viện Phong Điền 56
4.2. Hiểu biết, thực hành sử dụng thuốc theo đơn của bệnh nhâ và một số yếu
tố liên quan 62
KẾT LUẬN 68
KIẾN NGHỊ 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
4
ĐẶT VẤN ĐỀ
Con người là nhân tố quyết định đến sự phát triển kinh tế, văn hóa xã
hội và bảo vệ Tổ quốc. Sức khỏe là vốn quý nhất của con người. Chăm sóc và
bảo vệ sức khỏe là trách nhiệm của toàn dân, toàn xã hội, mang tính cấp thiết
của mỗi quốc gia trong đó ngành y tế đóng vai trò chủ chốt, trong đó thuốc
đóng vai trò quan trọng và thiết yếu trong việc chữa bệnh và nâng cao sức
khỏe người dân.
Trong những năm qua, ngành y tế có nhiều nỗ lực trong phục vụ thuốc
chăm sóc sức khỏe nhân dân. Vào tháng 06 năm 1996 tại nghị quyết 37/CP,
Thủ tướng chính phủ đã ban hành “Chính sách quốc gia về thuốc ở Việt
Nam” với hai mục tiêu là: Đảm bảo cung ứng thường xuyên và đủ thuốc có
chất lượng đến tận người dân và đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, có
hiệu quả. Thị trường thuốc đã đáp ứng cung cấp đủ thuốc cho nhu cầu khám
chữa bệnh. Tiền thuốc đầu người ngày một tăng. Tình hình cung ứng, quản lý
sử dụng thuốc trong khu vực điều trị đã được chấn chỉnh. Bệnh viện là cơ sở
khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người bệnh, là đơn vị khoa học kỹ
thuật có nghiệp vụ y tế cao, có vai trò to lớn và nắm giữ vị trí quan trọng
trong đời sống xã hội. Quá trình chăm sóc bằng thuốc cho người bệnh gồm kê
đơn thuốc, cấp phát thuốc và theo dõi dùng thuốc [2].
Tuy nhiên, theo một số điều tra của Ban tư vấn sử dụng kháng sinh của
Bộ Y tế thì việc kê đơn sử dụng thuốc không hợp lý xảy ra ở nhiều bệnh viện
trên cả nước. Việc kê đơn không đúng qui chế, kê quá nhiều thuốc trong một
đơn, kê đơn với nhiều biệt dược, kê đơn thuốc không phải là thuốc thiết yếu
mà là thuốc có tính thương mại cao đang có nguy có phát triển và khó kiểm
soát tại nhiều cơ sở điều trị Việc kê đơn không đúng dẫn đến việc điều trị
không hiệu quả và không an toàn, làm bệnh không khỏi hoặc kéo dài, làm cho
bệnh nhân lo lắng, chưa kể đến chi phí điều trị cao [51]. Hiện tượng bệnh
5
nhân sử dụng thuốc tùy ý, tự mua thuốc điều trị, dùng thuốc không đúng liều,
không theo hướng dẫn của thầy thuốc điển hình là sử dụng thuốc kháng sinh,
corticoid, an thần, gây ngủ đã gây tình trạng lạm dụng thuốc, kháng thuốc,
gây lãng phí, ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe người dân, gây khó khăn cho
công tác điều trị.
Chính vì lý do đó, việc kê đơn thuốc an toàn, hợp lý trở thành nhiệm vụ
cấp bách của toàn ngành y tế nói chung và công tác dược bệnh viện nói riêng.
Bộ Y tế đã ra Chỉ thị số 05/2004/CT-BYT nhằm chấn chỉnh hoạt động cung
ứng và sử dụng thuốc trong bệnh viện. Luật Dược số 34/2005/QH11 của
Quốc hội khóa XI có hiệu lực kể từ ngày 01/10/2005 [12] và đã có Nghị định
số 79/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của chính phủ qui định chi tiết thi hành
một số điều của Luật dược [62].
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một đề tài nào nghiên cứu, đánh giá một
cách đầy đủ về tình hình kê đơn thuốc tại bệnh viện, đánh giá sự hiểu biết của
bệnh nhân về sử dụng thuốc theo đơn. Do vậy, vấn đề đặt ra là có gì tồn tại
trong việc kê đơn thuốc tại bệnh viện? Bệnh viện đã kê đơn thuốc đúng qui
định, hợp lý, an toàn hay chưa? Mức độ hiểu biết và thực hành của bệnh nhân
và các yếu tố liên quan đến việc sử dụng thuốc theo đơn như thế nào? Để trả
lời các câu hỏi đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tình
hình kê đơn thuốc điều trị ngoại trú, hiểu biết và thực hành của bệnh nhân
về việc sử dụng thuốc theo đơn tại bệnh viện huyện Phong điền” với các
mục tiêu nghiên cứu sau:
1. Xác định tỷ lệ đơn thuốc điều trị ngoại trú bệnh nhiễm trùng, bệnh viêm
loét dạ dày tá tràng, bệnh thấp khớp, bệnh tim mạch, bệnh đường hô hấp kê
đúng theo qui chế kê đơn của Bộ Y tế tại bệnh viện huyện Phong Ðiền.
2. Tìm hiểu sự hiểu biết, thực hành và một số yếu tố liên quan đến việc sử
dụng thuốc theo đơn của bệnh nhân tại bệnh viện huyện Phong Ðiền.
6
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ THUỐC
1.1.1. Khái niệm về thuốc
Thuốc là chất hoặc hỗn hợp các chất dùng cho người nhằm mục đích
phòng, chữa bệnh, chẩn đoán bệnh hoặc điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể
bao gồm thuốc thành phẩm, nguyên liệu làm thuốc, vắc xin, sinh phẩm y tế,
trừ thực phẩm chức năng [45].
Thuốc là những sản phẩm có nguồn gốc từ động vật, thực vật, khoáng
vật, hóa dược hay sinh học được bào chế để dùng cho người, nhằm:
– Phòng bệnh, chữa bệnh
– Phục hồi, điều chỉnh chức năng cơ thể
– Làm giảm triệu chứng của bệnh
– Chẩn đoán bệnh
– Phục hồi và nâng cao sức khỏe
– Làm mất cảm giác một bộ phận hay toàn thân
– Làm ảnh hưởng đến quá trình sinh sản
– Làm thay đổi hình dáng cơ thể [14], [30], [57]
1.1.2. Khái niệm về thuốc thiết yếu
Thuốc thiết yếu là thuốc cần cho chăm sóc sức khỏe của đa số nhân dân, được
nhà nước đảm bảo bằng chính sách thuốc quốc gia, gắn liền nghiên cứu, sản
xuất, phân phối với nhu cầu thực tế chăm sóc sức khỏe nhân dân, được lựa
chọn và cung ứng để luôn sẵn có với số lượng đầy đủ, dạng bào chế thích
hợp, chất lượng tốt, an toàn và giá cả phù hợp [30], [57], [62].
Thuốc thiết yếu được coi như một chiến lược về thuốc hiện nay trên thế giới
và đang được hầu hết các nước thực hiện. Lợi ích của việc lựa chọn thuốc
thiết yếu giúp cho việc sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả, ít tốn kém và dễ dàng
7
đáp ứng, dễ giám sát để phòng chống và loại trừ thuốc giả, thuốc kém phẩm
chất, thuốc hết hạn sử dụng [49].
Mục tiêu chính của chương trình hoạt động về thuốc thiết yếu của Tổ
chức Y tế Thế giới, nhằm giúp đỡ các nước cải thiện tình hình cung cấp thuốc
thiết yếu cho toàn dân và việc sử dụng thuốc hợp lý an toàn [17].
1.1.3. Khái niệm về thuốc gây nghiện
Thuốc gây nghiện là những thuốc có nguồn gốc tự nhiên, tổng hợp hay
bán tổng hợp được sử dụng với mục đích phòng bệnh, chữa bệnh. Thuốc gây
nghiện nếu bị lạm dụng có thể dẫn tới nghiện – một tình trạng phụ thuộc về
thể chất hay tâm thần [8], [[62].
1.1.4. Khái niệm thuốc hƣớng tâm thần
Thuốc hướng tâm thần là những thuốc có nguồn gốc tự nhiên, tổng hợp
hay bán tổng hợp có tác dụng trên thần kinh trung ương gây nên tình trạng
kích thích hoặc ức chế được sử dụng với mục đích phòng bệnh, chữa bệnh.
Thuốc hướng tâm thần nếu sử dụng không hợp lý có thể gây nên rối loạn chức
năng vận động, tư duy, hành vi, nhận thức, cảm xúc hoặc gây ảo giác, hoặc có
khả năng lệ thuộc thuốc [9], [62].
1.1.5. Định nghĩa thuốc kháng sinh
– Kháng sinh là những chất do vi sinh vật tiết ra hoặc những chất hóa học bán
tổng hợp, tổng hợp, với nồng độ rất thấp, có khả năng đặc hiệu kìm hãm sự
phát triển hoặc diệt được vi khuẩn [44].
– Kháng sinh là những chất tạo thành do chuyển hóa sinh học, có tác dụng
ngăn cản sự tồn tại hoặc phát triển của vi khuẩn ở nồng độ thấp, được sản
xuất bằng sinh tổng hợp hoặc tổng hợp theo mẫu các kháng sinh tự nhiên
[23].
– Kháng sinh là những chất chống vi khuẩn, các chất này có thể là chất chiết
xuất từ vi sinh vật (chủ yếu từ vi nấm), là chất tổng hợp hoặc là chất bán tổng
hợp [65].
8
– Kháng sinh là những chất mà ngay ở nồng độ thấp đã có tác dụng ức chế
hoặc tiêu diệt vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, đơn bào, virus) mà không có tác
dụng lên tế bào đại sinh vật (người)… Mỗi thuốc kháng sinh chỉ gây rối loạn
một phản ứng sinh học nhất định của tế bào vi sinh vật và từ đó dẫn đến
ngừng phát triển [1].
1.2. NHU CẦU THUỐC
1.2.1. Khái niệm
Thuốc là một loại hàng hoá đặc biệt, sử dụng loại thuốc nào số lượng
bao nhiêu, cách thức ra sao thì lại không phải do người bệnh tự quyết định mà
lại được quyết định bởi thầy thuốc và người dùng phải tuân thủ nghiêm ngặt
[46]. Như vậy nhu cầu thuốc về cơ bản không phải lượng thuốc mà người
bệnh muốn mua ở mỗi mức giá [42], [59]. Thông thường số lượng và cơ cấu
thuốc được sử dụng phụ thuộc mô hình bệnh tật và định hướng dùng thuốc
của từng quốc gia, thầy thuốc có vai trò rất lớn trong việc sử dụng và định
hướng dùng thuốc của nhân dân [73].
Khái niệm nhu cầu thuốc là tập hợp tất cả những loại thuốc với dạng bào
chế thích hợp, hàm lượng thích hợp, đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng
và hiệu lực để giải quyết được các yêu cầu phòng chữa bệnh của cá thể, của
cộng đồng trong một phạm vi thời gian, không gian, một trình độ xã hội, khoa
học kỹ thuật và khả năng chi trả nhất định [25].
1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng
Nhu cầu thuốc phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Tình trạng bệnh tật và mô
hình bệnh tật, chất lượng chẩn đoán bệnh của thầy thuốc và kỹ thuật điều trị.
Hiệu lực điều trị của thuốc, yếu tố môi trường xã hội và chính sách xã hội, giá
cả của sản phẩm và những sản phẩm cạnh tranh, các yếu tố khuyến mại, hiệu
quả của hoạt động thông tin quảng cáo và quyết định cuối cùng của người
bệnh [25].
9
1.3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG THUỐC
1.3.1. Kê đơn thuốc
1.3.1.1. Đơn thuốc
Đơn thuốc là căn cứ hợp pháp để bán thuốc, cấp phát thuốc, pha chế
thuốc, cân thuốc theo đơn và sử dụng thuốc [45], [62].
1.3.1.2. Qui định về ghi đơn thuốc
Theo điều 7 chương II của ” Quy chế kê đơn và bán thuốc theo đơn” của Bộ
Y tế ban hành kèm theo quyết định số 1847/2003/QĐ-BYT ngày 28 tháng 5
năm 2003) [4], [55].
1. Ghi đủ các mục ghi trong đơn. Đơn thuốc viết bằng bút mực hoặc bút
bi.Viết rõ ràng, dễ đọc, dễ hiểu.
2. Với trẻ bệnh dưới 24 tháng tuổi: Ghi số tháng tuổi và ghi tên bố hoặc mẹ.
3. Địa chỉ người bệnh phải ghi chính xác số nhà đường phố hoặc thôn xã.
4. Viết tên thuốc theo tên quốc tế với số thuốc có 01 thành phần; Viết đúng
tên biệt dược với thuốc nhiều thành phần.
5. Ghi tên thuốc, hàm lượng, số lượng, liều dùng 1 lần và liều dùng 24 giờ,
cách dùng của mỗi thứ thuốc.
6. Số lượng thuốc độc A và thuốc gây nghiện phải viết bằng chữ, chữ đầu viết
hoa.
7. Số lượng thuốc độc B và thuốc hướng tâm thần, tiền chất dùng làm thuốc
viết thêm số 0 ở phía trước nếu số lượng thuốc chỉ có một con số.
8. Ký tên bên cạnh nếu kê đơn cho dùng thuốc quá liều tối đa hoặc sữa chữa
đơn.
9. Thuốc gây nghiện phải được kê đơn riêng, một đơn hai bản để người bệnh
giữ 01 bản, nơi bán thuốc lưu 01 bản, cơ sở khám chữa bệnh lưu phần gốc của
đơn.
10. Gạch chéo phần đơn còn giấy trắng. Ký tên, ghi rõ học vị, họ tên người kê
đơn và đóng dấu phòng khám hoặc dấu bệnh viện.
10
1.3.2. Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, kinh tế
1.3.2.1. Khái niệm
– Sử dụng thuốc hợp lý là:
+ Sử dụng đúng thuốc
+ Đúng bệnh
+ Đúng liều
+ Đúng giờ
+ Đúng cách
+ Đúng dạng
+ Đúng giá
– Sử dụng thuốc an toàn là:
+ Sử dụng thuốc có chất lượng đảm bảo nhất
+ Thuốc sử dụng được cân nhắc kỹ lưỡng nhất
+ Thuốc ít tác dụng phụ, ít phản ứng có hại nhất
+ Dùng thuốc được hướng dẫn đầy đủ nhất
+ Dùng thuốc được theo dõi kỹ lưỡng nhất
– Sử dụng thuốc kinh tế là:
+ Thuốc có giá cả hợp lý
+ Lợi nhuận đặt sau lợi ích của người bệnh
+ Người nghèo có khó khăn được hỗ trợ
+ Tính chỉ số: Tổn phí/hiệu quả, tổn phí/lợi ích [30], [57].
Sử dụng thuốc hợp lý là cải thiện hiệu quả sử dụng, nâng cao độ an
toàn và bảo đảm tính kinh tế khi dùng thuốc cho từng cá thể bệnh nhân. Tính
hợp lý là cân nhắc sao cho chỉ số hiệu quả/ rủi ro và hiệu quả/kinh tế đạt cao
nhất [54]. Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) đưa ra khái niệm “Sử dụng
thuốc hợp lý đòi hỏi người bệnh phải nhận được thuốc thích hợp với đòi hỏi
lâm sàng và ở liều lượng đáp ứng được yêu cầu cá nhân người bệnh, trong
11
một khoảng thời gian thích hợp và với chi phí ít gây tốn kém nhất cho người
bệnh và cho cộng đồng” [1].
Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn là biện pháp quan trọng nhất để tiết kiệm
cho người bệnh, tránh được lãng phí thuốc tạo ra sự thiếu thuốc giả tạo, tránh
lạm dụng thuốc nhất là thuốc kháng sinh, vitamin, corticoid…có thể gây
nhiều tác động xấu cho người bệnh và cộng đồng tại thời điểm và cả trong
tương lai [49].
Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn luôn là mục tiêu hàng đầu trong công tác
điều trị. Muốn sử dụng thuốc hợp lý, an toàn phải thiết lập mối quan hệ giữa
dược sỹ, bác sỹ, y tá và bệnh nhân trong việc sử dụng thuốc.
Mối quan hệ giữa dược sĩ, bác sĩ, y tá điều dưỡng và bệnh nhân trong sử
dụng thuốc biểu diễn qua sơ đồ sau:
Y văn về thuốc
Bác sĩ Dược sĩ Điều dưỡng
Kinh nghiệm lâm sàng
Bệnh nhân
Sơ đồ 2. Mối quan hệ giữa dƣợc sĩ, bác sĩ, y tá điều dƣỡng và bệnh
nhân trong sử dụng thuốc
(Nguồn Bộ Y tế (2005), Sử dụng thuốc hợp lý trong điều trị [1])
Một số dạng phổ biến của việc sử dụng thuốc bất hợp lý như [17]
– Không tuân thủ các chỉ định của thầy thuốc
– Tự điều trị với những thuốc cần phải kê đơn
– Sử dụng kháng sinh không đúng
– Lạm dụng các loại thuốc tiêm
12
– Lạm dụng các thuốc được coi là an toàn
– Phối hợp những thuốc không hợp lý
– Sử dụng những thuốc không cần thiết
1.3.3. Phản ứng bất lợi của thuốc (ADR: Adverse Drug Reaction)
Thuốc là “con dao hai lưỡi” vì có thể gây ra những phản ứng có hại ở
nhiều mức độ, thậm chí tử vong kể cả dùng đúng liều, đúng qui định, các
phản ứng như vậy gọi là phản ứng bất lợi.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (2002): “Phản ứng bất lợi của thuốc là một
phản ứng độc hại, không được định trước và xuất hiện ở liều thường dùng cho
người để phòng bệnh, chẩn đoán hoặc chữa bệnh hoặc làm thay đổi một chức
năng sinh lý”. Định nghĩa này không bao gồm những phản ứng do dùng sai
thuốc, dùng sai liều, dùng liều cao có chủ định hay vô tình. Điều trị nhiều
thuốc thì tần suất ADR tăng lên theo cấp số nhân với số lượng thuốc có trong
1 lần điều trị. Tương tác thuốc cũng là một yếu tố làm tăng ADR: tương tác
bất lợi của các thuốc có thể làm thay đổi sinh khả dụng hoặc làm thay đổi
dược lực học của thuốc và do đó gây ra các ADR trên bệnh nhân [40], [52].
1.3.4. Tƣơng tác thuốc
Tương tác thuốc là tác động qua lại giữa các thuốc xảy ra trong cơ thể
khi dung đồng thời dẫn đến những thay đổi về tác dụng dược lý hoặc độc tính
[40]. Thực hành kê đơn tốt, thực hành chăm sóc người bệnh tốt là các khâu
đảm bảo sử dụng thuốc an toàn, hợp lý cho người bệnh. Khi điều trị cho
người mắc đồng thời nhiều bệnh thì không thể tránh khỏi phải dùng đồng thời
nhiều thuốc. Nhưng phải dùng đồng thời nhiều thuốc cùng lúc có thể gây ra
một trạng thái bệnh lý do tương tác thuốc – thuốc. Tỷ lệ các phản ứng có hại
tăng lên theo cấp số nhân khi kết hợp nhiều loại thuốc. Làm thế nào vừa đạt
hiệu quả điều trị, nhưng tránh được tương tác bất lợi để đảm bảo an toàn cho
người bệnh. Yêu cầu này đòi hỏi các nhà chuyên môn y tế cần thận trọng
trong tất cả các khâu sử dụng thuốc cho người bệnh. Trước hết bác sỹ kê đơn
13
phải đảm bảo đơn không có nguy cơ đã biết; tiếp theo là dược sỹ có trách
nhiệm phát hiện các tương tác thuốc nguy hiểm khi đọc đơn thuốc; cuối cùng
là điều dưỡng phải nhận biết những dấu hiệu lâm sàng của tác dụng nguy hại
khi người bệnh dùng thuốc [6].
Vì vậy, bác sỹ, dược sỹ, điều dưỡng nếu nắm được những nguyên lý
của phối hợp thuốc sẽ đạt được những yêu cầu như tăng hiệu quả điều trị, cải
thiện dược động, giải độc thuốc [26].
1.3.5. Nguyên tắc chung trong việc kê đơn kháng sinh [3], [72].
Nguyên tắc chung trong việc kê đơn kháng sinh cần căn cứ vào các tiêu
chí sau:
– Phổ tác dụng của kháng sinh
– Dược lực học và dược động học của kháng sinh
– Chọn đường dùng thuốc hợp lý
– Tính tiện lợi và khả năng tuân thủ điều trị
– Ảnh hưởng tới vi hệ bình thường của cơ thể
– Chi phí điều trị
– Phối hợp kháng sinh
– Tác động của quảng cáo thương mại
– Danh mục thuốc
– Chọn kháng sinh và lựa chọn cách điều trị
1.3.6. Thông tin thuốc cho bệnh nhân
Bệnh nhân là khâu cuối cùng thực hiện các ý đồ sử dụng thuốc để đạt
hiệu quả cao và an toàn. Nếu bệnh nhân không thực hiện đúng y lệnh thì mọi
điều cố gắng của y bác sỹ, dược sỹ, y tá…đều không có hiệu quả và trở thành
vô ích. Muốn thực hiện đúng và tham gia đóng góp tích cực vào quá trình
điều trị, bệnh nhân phải được hiểu rõ lợi ích, tác hại của thuốc để tránh các
biểu hiện sai lệch, không chính xác hay có hại. Việc thông tin – giáo dục –
truyền thông về thuốc đến người bệnh là rất quan trọng [38].
14
Người dân là lực lượng đông đảo nhất đồng thời là đối tượng sử dụng
thuốc quan trọng nhất nhưng lại là người ít hiểu biết nhất về thuốc. Khảo sát
người dân về hiểu biết và thói quen dùng thuốc sẽ giúp cho ngành y tế thấy
được thực trạng và có biện pháp tuyên truyền phổ biến nhân dân để họ thay
đổi hành vi của mình khi bị ốm đau, bệnh tật cần phải dùng thuốc như thế nào
[49].
1.4. TÌNH HÌNH KÊ ĐƠN THUỐC VÀ SỬ DỤNG THUỐC
1.4.1. Tình hình kê đơn và sử dụng thuốc trên thế giới
Trong những năm gần đây nhu cầu thuốc trên thị trường thế giới có sự
gia tăng mạnh mẽ do sự phát triển của dân số thế giới và sự gia tăng tuổi thọ,
nhu cầu dùng thuốc nhiều, dùng các loại thuốc có tỷ trọng chất xám cao nên
thường đắt [35]. Trong vấn đề sử dụng thuốc tồn tại hai vấn đề lớn. Đó là sự
tiêu thụ thuốc chưa đồng đều giữa các nước phát triển và đang phát triển [57]
và vấn đề đáng chú ý là việc kê đơn không hợp lý, không an toàn, còn bệnh
nhân thì không tuân thủ theo chỉ định của bác sỹ, tình trạng bác sỹ kê đơn
nhầm lẫn vẫn còn, còn lạm dụng thuốc, phối hợp thuốc không đúng, không
ghi đủ liều lượng, dạng thuốc vẫn còn diễn ra. Tình trạng kê quá nhiều thuốc
cho một bệnh nhân, lạm dụng kháng sinh tiêm, kê đơn kháng sinh cho bệnh
không nhiễm trùng vẫn còn diễn ra [76].
Khoảng 75% lượng thuốc ở thị trường dược phẩm thế giới là thuộc về
các nước dẫn đầu về kinh tế như Mỹ, Nhật, Pháp, Đức, Ý, Anh, Tây Ban Nha,
Bỉ [13].
Hiện nay, xu hướng sản xuất và sử dụng các loại thuốc bán không cần
đơn trên thế giới tương đối giống nhau và đang có xu hướng tăng lên, xu
hướng này ở các quốc gia đang phát triển như Mỹ, Nhật Bản, các quốc gia
Tây Âu đã và đang ảnh hưởng tới các quốc gia đang phát triển như Trung
Quốc, Ấn Độ vv [16].
15
Thị trường dược phẩm các nước khối ASEAN có một số đặc điểm
chung là thuốc generic chiếm thị phần bình quân khoảng 40%, trong đó
Singapore thấp nhất là 9%, Việt Nam cao nhất 70% theo đánh giá của IMS.
Có thể thấy rằng trong các nước ASEAN, thuốc generic chiếm một tỷ trọng
đáng kể. Trong thị trường dược phẩm, thuốc generic chiếm một tỷ trọng cao
hơn các nước có thu nhập cao. Điều này nói lên vấn đề là người dân ở các
nước có thu nhập thấp ưu tiên lựa chọn generic mỗi khi sử dụng thuốc. thuốc
generic là một thị trường tiềm năng đồng thời là một giải pháp lựa chọn để
người dân các nước đang phát triển có khả năng tiếp cận với thuốc thiêt yếu
theo chính sách của TCYTTG [58], [71].
ADR là một vấn đề nguy hiểm với phạm vi ảnh hưởng đang lớn dần, do
thuốc có mặt trên thi trường ngày càng nhiều và số người gặp ADR ngày càng
tăng. Tại Mỹ, một đánh giá trên nghiên cứu của Lazarou cho thấy năm 1994
có 2,2 triệu phản ứng có hại của thuốc đã xảy ra ở những người đang điều trị
trong bệnh viện (6,7%) và gây ra 106.000 ca tử vong [53].
Sự hình thành vi khuẩn kháng kháng sinh ngày càng tăng và do đó đôi
khi khó tìm ra hướng điều trị hiệu quả chống lại những bệnh nhiễm khuẩn.
Mặc dù có những nghiên cứu để tìm ra những thuốc mới chống lại vi khuẩn
kháng thuốc, nhưng điều này cũng không thật chắc chắn ngay cả khi những
thuốc này sẽ có. Vì mức độ kháng thuốc tỷ lệ thuận với mức độ sử dụng
kháng sinh không hợp lý [22]. Theo thống kê ở Mỹ có 5% bệnh nhân nhiễm
khuẩn đã kháng thuốc, còn ở Pháp con số này là 14,3%. ở các nước phát triển,
việc lạm dụng thuốc kháng sinh còn nghiêm trọng hơn nhiều. Ở Châu Phi có
50% bệnh nhân ngoại trú dùng kháng sinh không hợp lý, ở Banglades con số
này là 57%, ở Trung Quốc, nghiên cứu 100 trường hợp dung kháng sinh thì
chỉ có 59% sử dụng đúng qui định [57], [60].
Vấn đề vi sinh vật kháng kháng sinh ở các nước đang phát triển là hiện
tượng phổ biến, đáng lo ngại vì mô hình bệnh tật của các nước đang phát triển
16
trong đó có Việt Nam là mô hình của các bệnh nhiễm trùng. TCYTTG
khuyến cáo “các nước đặc biệt là các nước đang phát triển cần phải sử dụng
thuốc hợp lý hơn để sử dụng nguồn lực tài chính có hiệu quả và cung cấp
được nhiều thuốc hơn cho nhân dân” [15].
Biện pháp can thiệp quan trọng và khả thi hàng đầu mà các chuyên gia
của TCYTTG lựa chọn để thực hiện chiến lược toàn cầu ngăn chặn sự đề
kháng kháng sinh là “Đào tạo người kê đơn, người cung ứng và hướng dẫn sử
dụng”. Điều này chứng tỏ việc đào tạo và hướng dẫn sử dụng kháng sinh cho
các bác sỹ và dược sỹ là cần thiết và cấp bách cho tất cả các nước trên thế giới
[72]
1.4.2. Tình hình kê đơn thuốc tại Việt Nam
Kê đơn thuốc là một trong những quy định mà Bộ Y tế yêu cầu nghiêm
ngặt nhất đối với thầy thuốc. Thế nhưng trên thực tế, một trong những lỗi
thường gặp nhất ở thầy thuốc lại vẫn liên quan đến kê đơn thuốc. Kê đơn
thuốc không đúng yêu cầu chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp là một hiện
tượng không hiếm gặp ở một số thầy thuốc. Những lỗi thường gặp của thầy
thuốc khi kê đó là viết nhầm tên thuốc, thiếu hiểu biết về thuốc, nhầm lẫn về
liều lượng, đặt nhầm dấu thập phân ở hàm lượng thuốc, không nhận định
đúng về dạng hàm lượng thuốc, nhầm lẫn về tần suất dùng thuốc trong ngày,
viết chữ quá khó đọc, quá tháu, không thận trọng khi dùng các chữ viết tắt,
không chú ý đến tương tác thuốc, không chú ý điều chỉnh liều lượng, không
quan tâm đến tiền sử bệnh của người dùng thuốc [20].
Tình hình lạm dụng tên thuốc biệt dược theo quảng cáo trong các đơn
thuốc hiện nay đang là vấn nạn không chỉ riêng ở nước ta [42].
Trong một nghiên cứu khi khảo sát 250 bệnh án của khoa tiêu hóa một
bệnh viện thành phố có 70% số bệnh án không có hướng dẫn sử dụng thuốc
đầy đủ, chính xác và có 53,6% số bệnh án có tương tác thuốc [27].
17
Một nghiên cứu khác ở bệnh viện tuyến huyện cho thấy trung bình một
đơn thuốc có 4,2 loại thuốc và 62% đơn thuốc có ít nhất 1 loại kháng sinh và
chỉ có 38% số thuốc được kê trong danh mục thuốc thiết yếu.
Theo nghiên cứu về tình hình kê đơn thuốc ở một số phòng khám chữa
bệnh tư ở 4 quận ở Hà Nội số thuốc trung bình trong một đơn thuốc có 4,38%
loại thuốc, số đơn thuốc có kháng sinh 71,72% trong đó đơn thuốc có ít nhất 1
loại kháng sinh là 50,7% và có 41,42% số thuốc được kê trong danh mục
thuốc thiết yếu [18]. Theo nghiên cứu hoạt động bảo đảm cung ứng thuốc
chữa bệnh tại Phòng quân y – Bộ tổng tham mưu – Cơ quan Bộ quốc phòng số
thuốc trung bình trong một đơn ở khu vực ngoai trú là 3,9, khu vực nội trú là
5,3, số đơn thuốc kê chưa đúng thuốc là 21,3%, số đơn thuốc kê chưa đúng
liều là 7%, thuốc an thần chiếm 35% [27].
Thầy thuốc không phải đứng ngoài lề trong việc sử dụng thuốc hợp lý.
Nhiều đơn thuốc kê dài tới 9-10 thuốc. Có thuốc hoạt chất trùng nhau nhưng
tên biệt dược khác nhau cũng kê cùng. Thuốc kháng sinh mới, tác dụng mạnh
kê cả cho trẻ em và nhiều người bệnh khác mà không cần phải thử kháng sinh
đồ [34].
Theo báo cáo điều tra của trường cán bộ quản lý y tế, tại một bệnh viện
trung ương, bệnh nhân thường được dùng 2 loại kháng sinh trở lên, cá biệt có
trường hợp phải dùng đến 6-7 loại kháng sinh khác nhau, chưa kể các loại
thuốc khác. Việc lạm dụng thuốc đang là một vấn đề đáng lo ngại bởi lẽ nó
không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe, tiền của người bệnh mà còn gây nhiều
hậu quả đáng tiếc về sau [43].
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Hiếu về “Thực trạng kê đơn
kháng sinh tại tuyến xã trong điều trị trẻ dưới 5 tuổi mắc bệnh nhiễm khuẩn
hô hấp cấp tính thì kháng sinh dùng đúng chỉ định của phác đồ là 48,1%, sử
dụng kháng sinh không cần thiết 51,9%. Đủ liều kháng sinh chỉ có 60,2% số
đơn cho kháng sinh đủ ngày cần thiết [29].
18
Tại tỉnh thừa Thiên Huế, qui chế kê đơn và bán thuốc theo đơn, Sở y tế
đã triển khai đến các đơn vị trong toàn tỉnh, nhưng việc chấp hành qui chế rất
hạn chế. Tình trạng thầy thuốc khám bệnh bán thuốc, người bán thuốc bán
những loại thuốc phải bán theo đơn nhưng không có đơn Bác sĩ còn khá phổ
biến [47].
Việc kê đơn không đúng dẫn đến việc điều trị không hiệu quả và không
an toàn, làm bệnh không khỏi hoặc kéo dài, làm cho bệnh nhân lo lắng, chưa
kể đến chi phí điều trị cao [51].
1.4.3. Tình hình sử dụng thuốc tại Việt Nam
Thị trường thuốc Việt nam trong cơ chế thị trường đã và đang cạnh tranh
ngày càng quyết liệt, đại bộ phận tiền thuốc do người dân phải tự chi trả. Hệ
thống bảo hiểm y tế còn nhiều bất cập. Nguồn thuốc đảm bảo cho sử dụng
chủ yếu là nhập khẩu, năm 2006 doanh thu thuốc sản xuất trong nước đạt
4.700 tỷ đồng, chiếm 40 % tổng giá trị sử dụng thuốc trong nước [66].
Bảng 1.1. Tiền thuốc bình quân trên đầu người của Việt Nam qua các năm
(Đơn vị tính: USD)
Năm
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
Tiền thuốc bình
quân/ đầu người
5,4
6,0
6,7
7,6
8,6
9,3
9,76
Sự chênh lệch về tiền thuốc cũng thể hiện khá rõ giữa các vùng địa lý và
các vùng dân cư. Năm 2004 bình quân tiền thuốc trên đầu người ở Việt Nam
là 8,6USD, trong đó ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cao hơn nhiều còn
ở miền núi, vùng sâu, vùng xa thì lại rất thấp [19].
Trong những năm gần đây do số lượng, chủng loại thuốc ngày càng đa
dạng và phong phú, người thầy thuốc có nhiều cơ hội để lựa chọn thuốc,
người dân cũng có thể tự mua thuốc để tự điều trị cho mình. Trên thị trường
thuốc hiện nay, người dân có thể dễ dàng mua thuốc ở mọi nơi. Thế nhưng sử
19
dụng loại thuốc gì, dùng như thế nào và thời gian bao nhiêu…lại không thuộc
quyền của người sử dụng mà do người kê đơn là thầy thuốc quyết định [43].
Từ đó nảy sinh bất hợp lý trong sử dụng thuốc.
Hiện nay việc sử dụng thuốc an toàn hợp lý còn nhiều bất cập, tình trạng
kháng thuốc đặc biệt kháng kháng sinh ở các nước đang phát triển là khá phổ
biến trong đó có Việt Nam. Một số nghiên cứu cho thấy lượng kháng sinh sử
dụng ở nước ta chiếm tới 40% giá trị thuốc tiêu thụ, trong khi chỉ số này trên
thế giới theo thống kê chỉ ở mức 10% [39]. Tình hình sử dụng kháng sinh tại
bệnh viện tỉnh Phú Thọ tỷ lệ bệnh nhân dùng kháng sinh là 79% trong đó
38,4% bệnh nhân dùng đơn độc 1 loại kháng sinh, số còn lại là dùng phối hợp
[64].
Sử dụng thuốc không hợp lý, điễn hình là việc lạm dụng kháng sinh,
corticoid, vitamin, thuốc an thần, gây ngủ đang có chiều hướng ngày càng
gia tăng ở các nước phát triển trong đó có Việt Nam và đang xảy ra ở tất cả
các tuyến, các cơ sở điều trị từ xã đến huyện đến tỉnh đến trung ương, cả cộng
đồng và bệnh viện, cả y tế nhà nước và tư nhân [18].
Vitamin là nhóm thuốc chiếm một vị trí khá lớn trong danh mục thuốc
cũng như trên thị trường dược phẩm Việt Nam. Có nhiều chuyên gia trong
lĩnh vực này đã cảnh báo về việc lạm dụng vitamin trong điều trị của thầy
thuốc và về việc lạm dụng vitamin do quan điểm sai trong cộng đồng.Vitamin
là một trong 3 nhóm thuốc sử dụng phổ biến tại cộng đồng và việc lạm dụng
vitamin đang có chiều hướng gia tăng [21], [66]. Tỷ lệ người tiêu dùng sử
dụng vitamin trong tổng số người đang sử dụng thuốc dao động từ 45,9% đến
74,9%, thấp nhất ở Hà Giang và cao nhất ở Thành phố Hồ Chí Minh, trung
bình chung là 52,0%; tỷ lệ đơn thuốc có vitamin ở các tỉnh dao động từ 55,4%
đến 77,5%, tỷ lệ trung bình 66,1% [21]. Theo nghiên cứu về tình hình kê đơn
thuốc ở một số phòng khám chữa bệnh tư ở 4 quận ở Hà Nội tỷ lệ đơn thuốc
20
có Vitamin 47,5%, tỷ lệ đơn thuốc có corticoid 10,1%, tỷ lệ đơn thuốc có
thuốc an thần, gây ngủ là 6,6% [18].
Hơn 1.000 bệnh viện từ trung ương đến địa phương hiện đang sử dụng
70-80% tổng số thuốc cho nhu cầu điều trị hằng năm. Trong khi đó việc sử
dụng thuốc tại các bệnh viện còn nhiều điểm bất hợp lý: tỷ lệ thuốc ngoại còn
cao, không chỉ lạm dụng thuốc kháng sinh, biệt dược đắt tiền mà thuốc bổ
sung vitamin, thuốc hỗ trợ điều trị cũng chiếm tỷ lệ cao trong đơn thuốc [46],
hiện tượng bác sĩ kê toa thuốc để hưởng hoa hồng của các công ty dược phẩm
đã dẫn tới tình trạng lạm dụng thuốc chủ yếu là thuốc kháng sinh, vitamin
[24]. Thông tin dược lâm sàng còn thiếu và yếu, hoạt động thông tin thuốc ở
bệnh viện chưa cao. Hệ thống cung ứng thuốc của bệnh viện chưa được cải
tiến hợp lý phù hợp với tình hình kinh tế hiện nay. Thuốc nội chưa được chú
trọng và sử dụng nhiều trong điều trị [5].
Sử dụng kháng sinh thường không làm kháng sinh đồ, nhiều người chỉ
dùng theo kinh nghiệm và thói quen. Đã có nhiều trường hợp dùng kháng sinh
không đủ liều hoặc quá liều hoặc sử dụng kháng sinh để điều trị mà chưa tính
đến tương tác thuốc [39]. Đây là những lý do làm cho hiệu quả sử dụng thuốc
không cao, lãng phí và là một trong các nguyên nhân tạo nên nhiều chủng vi
khuẩn kháng kháng sinh, một vấn đề nan giải hiện nay. Sử dụng kháng sinh
hợp lý nhằm đảm bảo hiệu lực điều trị và ngăn ngừa sự gia tăng vi khuẩn
kháng thuốc là mục tiêu của tất cả các quốc gia trong đó có Việt Nam. Tuy
mô hình bệnh tật của Việt Nam đang có xu hướng chuyển dịch sang bệnh
không lây nhiễm, nhưng những bệnh nhiễm khuẩn vẫn là những bệnh có tỷ lệ
mắc cao nhất, do đó chi phí cho thuốc kháng sinh vẫn chiếm một lượng không
nhỏ trên tổng chi phí dùng trong điều trị. Mặc khác hiện tượng sử dụng kháng
sinh chưa hợp lý vẫn còn khá phổ biến, điều này làm gia tăng sự kháng thuốc
của vi khuẩn gây bệnh thường gặp ở Việt Nam [3].
21
Mặc dù các bệnh viện và phương tiện thông tin đại chúng thường xuyên
nhắc nhở và giáo dục về sử dụng thuốc phải an toàn, hợp lý, ý thức cảnh giác
dược vẫn chưa được ăn sâu vào tiềm thức của nhân dân. Hiện tượng tự mua
thuốc, kể cả thuốc kê đơn không cần qua bác sỹ chỉ định, hướng dẫn vẫn
được coi là bình thường. Rồi người bệnh tự điều trị thậm chí còn mách nhau
mua thuốc, chữa bệnh hộ nhau…vẫn còn phổ biến [34]. Theo nghiên cứu của
trường Đại học Dược Hà Nội tỷ lệ người dân tự mua thuốc, tự điều trị chiếm
tới hơn 80% trong đó chủ yếu là mua ở các hiệu thuốc, nhà thuốc làm gia tăng
hiện tượng kháng thuốc, tăng thêm phản ứng có hại của thuốc, làm tổn hại
đến sức khỏe và kinh tế của cộng đồng [66]. Theo kết quả điều tra về kiến
thức và thực hành sử dụng kháng sinh của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại
một số xã nông thôn thuộc tỉnh Hà Tây của Nguyễn Thị Minh Hiếu cho thấy
có 75% bà mẹ có quan niệm sai lầm rằng nên uống kháng sinh trong vòng 2-4
ngày, có tới 40% bà mẹ nghĩ rằng nếu trẻ hết triệu chứng thì dừng uống thuốc
mà không quan tâm đến thời gian sử dụng thuốc. Và chỉ có 80,3% bà mẹ thực
hành đúng sử dụng kháng sinh khi có chỉ định của thầy thuốc, 12,4% bà mẹ
dùng kháng sinh theo kinh nghiệm lần trước và 7,3% theo lời khuyên của
người bán thuốc [28].
Theo điều tra tại các tỉnh Hà Tây, Phú Thọ, Sơn La, Thanh Hóa thì
trong số 828 lượt bán thuốc có 23,67% mua có đơn, 41,79% tự quyết định
mua, 34,54% theo sự hướng dẫn của người bán [67]. Tình trạng tự dùng
thuốc, mua thuốc không có chỉ định của thầy thuốc đã gây nhiều hậu quả như
lãng phí, có hại sức khỏe, tai biến khi dùng thuốc [41].
Tuy nhiên, càng ngày người dân càng có nhận thức cao đối với việc sử
dụng thuốc như 78,1% bệnh nhân tìm hiểu thông tin thuốc qua cán bộ y tế,
75,2% bệnh nhân khi ốm đau thường đến có sở y tế để được hướng dẫn dùng
thuốc nhưng còn có 24,8% bệnh nhân tự mua thuốc để uống [36].
22
Việc thực hiện qui chế về thông tin quảng cáo thuốc chữa bệnh cho
người còn nhiều bất cập như người giới thiệu thuốc không đăng ký với cơ
quan quản lý, trình dược viên ký gửi hàng hóa và dùng các lợi ích vật chất tác
động vào thầy thuốc nên đã ảnh hưởng đến việc kê đơn thuốc. Chưa quản lý
được đội ngũ trình dược viên vì chủ yếu hoạt động ngoài giờ và phần lớn hoạt
động trong các bệnh viện và các cơ sở chưa chấp hành tốt qui chế thông tin
quảng cáo [47]. Tình hình lạm dụng tên thuốc biệt dược theo quảng cáo trong
các đơn thuốc kê cho bệnh nhân hiện nay đang là vấn nạn không chỉ riêng ở
nước ta [42].
Công tác theo dõi ADR đã triển khai, phổ biến đến các thầy thuốc để
thầy thuốc hướng dẫn cho bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân phát hiện kịp
thời các trường hợp ADR. Năm 2006 các đơn vị đã báo cáo về sở y tế và
trung tâm ADR quốc gia 18 trường hợp, những trường hợp này đã được thầy
thuốc xử lý tốt, không để xảy ra tử vong và di chứng [47].
Theo báo cáo công tác thanh tra dược năm 2006 là thuốc điều trị trong
bệnh viện chủ yếu là thuốc nội từ các nguồn thuốc của bảo hiểm y tế và thuốc
phục vụ dân nghèo. Tất cả các bệnh viện đã xây dựng danh mục thuốc thiết
yếu, đảm bảo đủ thuốc có chất lượng phục vụ điều trị, không để bệnh nhân và
người nhà bệnh nhân tự túc mua thuốc nằm trong danh mục thuốc thiết yếu
[48]. Tuy nhiên, nhiều bệnh viện chưa đảm bảo việc cung ứng thuốc, người
bệnh ngoại trú phải tự mua thuốc để dùng; nhà thuốc bệnh viện chưa thực
hiện nghiêm các qui định của Bộ Y tế; chưa thực hiện nghiêm túc qui chế kê
đơn và bán thuốc theo đơn [5].
Việc sử dụng thuốc an toàn hợp lý là một vấn đề rất quan trọng. Nhưng
hiệu quả chỉ đạo sử dụng thuốc của Bộ Y tế bị hạn chế. Trong khi đó, hoạt
động của Hội đồng thuốc và điều trị tại các bệnh viên thì hạn chế và phân tán.
Xét về mặt hệ thống, cách chỉ đạo việc sử dụng thuốc hợp lý an toàn là phi
23
tập trung đưa đến tùy tiện trong bối cảnh trên 10.000 mặt hàng thuốc lưu hành
cả nước và sự tác động của gần 600 công ty dược [32].
Để tăng cường sử dụng thuốc hợp lý trong bệnh viện cần nhiều hoạt
động đồng bộ, trong đó điều trước tiên là Hội đồng thuốc và điều trị cần giám
sát kê đơn thường xuyên thông qua bình đơn thuốc, bình bệnh án. Nhưng thực
tế nhiều bệnh viện chưa thường xuyên bình đơn thuốc, bình bệnh án, chỉ tập
trung khi có kiểm tra của cấp trên hay làm hình thức, mới chỉ là kiểm tra các
thủ tục hành chính của đơn thuốc và bệnh án, chưa thực sự đi sâu vào nhận
xét về chẩn đoán và điều trị. Do đó, kết quả bình đơn, bình bệnh án còn hạn
chế, chưa điều chỉnh được sử dụng thuốc hợp lý trong bệnh viện [7].
1.5. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH KINH TẾ – VĂN HÓA – XÃ HỘI
– Y TẾ CỦA HUYỆN PHONG ĐIỀN
Huyện Phong điền nằm ở phía bắc tỉnh Thừa Thiên Huế, có diện tích
95.375 ha, gồm 15 xã và 01 thị trấn, dân số năm 2007 là 105.217 người [61].
Về địa lý có thể chia làm 3 vùng: Vùng núi, vùng đồng bằng, vùng ven biển.
Đời sống nhân dân ngày một cải thiện rõ rệt, không còn hộ đói, theo số liệu từ
phòng thương binh xã hội huyện, tổng số hộ nghèo năm 2007 toàn huyện là
3668 chiếm tỷ lệ 18,16 %. Đa số dân cư sống bằng nghề làm ruộng, trồng hoa
màu, một số sống bằng nghề tiểu thương, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản trên
biển và đầm phá. 100% xã, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng
độ tuổi. Triển khai đầy đủ các chương trình y tế quốc gia, 100% trạm y tế xã,
thị trấn có bác sỹ.
Tổng số người có bảo hiểm y tế toàn huyện năm 2007 là 41.863 người,
trong đó bảo hiểm y tế người nghèo 15.319 người.
Bệnh viện Phong Điền thuộc Trung tâm y tế Phong Điền, nằm trên địa
bàn huyện, ở phía bắc của tỉnh Thừa Thiên Huế, cách thành phố Huế 30 km.
24
Chức năng của bệnh viện là chịu trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe,
thực hiện công tác khám chữa bệnh cho nhân dân trên địa bàn huyện Phong
Điền, hổ trợ cho Y tế tuyến xã, tham gia công tác phòng chống dịch bệnh,
thảm họa thiên tai. Năm 2007, bệnh viện tiếp tục triển khai chỉ thị
05/2004/CT-BYT về vấn cung ứng và sử dụng thuốc và chỉ thi 05/2003/CT-
BYT về chăm sóc bệnh nhân toàn diện.
Tình hình nhân lực của bệnh viện năm 2007, tổng số cán bộ 84 người,
trong đó có 21 bác sỹ, 9 y sỹ, 1 dược sỹ đại học, 5 dược sỹ trung học, 1 dược
tá, 17 điều dưỡng trung học và sơ học, 5 nữ hộ sinh, các trình độ khác là 18
[56].
25
Chƣơng 2
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
– Đơn thuốc của bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên điều trị ngoại trú một số
bệnh thường gặp.
– Bệnh nhân đã nhận và sử dụng thuốc trong đơn thuốc trên.
(Qua điều tra các đơn thuốc điều trị ngoại trú tại bệnh viện Phong Điền chủ
yếu tập trung vào 5 nhóm bệnh: nhiễm trùng, viêm loét dạ dày tá tràng, thấp
khớp, tim mạch, hệ hô hấp).
2.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, điều tra ngang.
2.2.2. Cỡ mẫu: Đơn thuốc và bệnh nhân
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ngẫu nhiên [33]
2
2
)
2
1(
d
P)(1 P x Z
n
Trong đó:
n: Cỡ mẫu nghiên cứu
Chọn = 0,05 với độ tin cậy 95%.
Z
2
(1- /2) = 1,96
2
d: Độ sai lệch giữa tham số mẫu và tham số quần thể, d = 0,05
P: Tỷ lệ đơn thuốc đúng chưa xác định được nên chọn P = 0,5
Tính được n = 384, thêm 5% sai số điều tra = 16. Tổng cộng: 400
Cỡ mẫu đơn thuốc thu thập và bệnh nhân là 400.
HUẾ – 2008NH ỮNG CHỮ VIẾT TẮTADRAdverse Drug Reaction : Phản ứng có hại của thuốcBVBệnh việnBNBệnh nhânĐHĐại họcĐTĐơn thuốcKSKháng sinhQĐQui địnhSLSố lượngTCYTTGTổ chức Y tế Thế giớiTHTiểu họcTHPTTrung học Phổ thôngTHCSTrung học cơ sởTLTỷ lệTYTTrạm y tếMỤC LỤCTrangĐẶT VẤN ĐỀ 1C hƣơng 1. TỔNG QUAN 31.1. Một số khái niệm về thuốc 31.2. Nhu cầu thuốc 51.3. Một số yếu tố tương quan đến sử dụng thuốc 61.4. Tình hình kê đơn thuốc và sử dụng thuốc 111.5. Một số đặc thù tình hình kinh tế tài chính – văn hoá – xã hội – y tế của huyệnPhong Điền 20C hƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 222.1. Đối tượng nghiên cứu 222.2. Phương pháp nghiên cứu 222.3. Địa điểm và thời hạn nghiên cứu 23C hƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 313.1. Tỷ lệ đơn thuốc điều trị ngoại trú được kê đúng theo qui chế kê đơn củaBộ Y tế 313.2. Hiểu biết, thực hành thực tế sử dụng thuốc theo đơn của bệnh nhân và một sốyếu tố tương quan 40C hƣơng 4. BÀN LUẬN 534.1 Tình hình kê đơn thuốc điều trị ngoại trú tại bệnh viện Phong Điền 564.2. Hiểu biết, thực hành thực tế sử dụng thuốc theo đơn của bệnh nhâ và 1 số ít yếutố tương quan 62K ẾT LUẬN 68KI ẾN NGHỊ 70T ÀI LIỆU THAM KHẢOPHỤ LỤCĐẶT VẤN ĐỀCon người là tác nhân quyết định hành động đến sự tăng trưởng kinh tế tài chính, văn hóa truyền thống xãhội và bảo vệ Tổ quốc. Sức khỏe là vốn quý nhất của con người. Chăm sóc vàbảo vệ sức khỏe thể chất là nghĩa vụ và trách nhiệm của toàn dân, toàn xã hội, mang tính cấp thiếtcủa mỗi vương quốc trong đó ngành y tế đóng vai trò chủ chốt, trong đó thuốcđóng vai trò quan trọng và thiết yếu trong việc chữa bệnh và nâng cao sứckhỏe người dân. Trong những năm qua, ngành y tế có nhiều nỗ lực trong Giao hàng thuốcchăm sóc sức khỏe thể chất nhân dân. Vào tháng 06 năm 1996 tại nghị quyết 37 / CP, Thủ tướng chính phủ nước nhà đã phát hành “ Chính sách vương quốc về thuốc ở ViệtNam ” với hai tiềm năng là : Đảm bảo đáp ứng liên tục và đủ thuốc cóchất lượng đến tận người dân và bảo vệ sử dụng thuốc hài hòa và hợp lý, bảo đảm an toàn, cóhiệu quả. Thị trường thuốc đã phân phối phân phối đủ thuốc cho nhu yếu khámchữa bệnh. Tiền thuốc đầu người ngày một tăng. Tình hình đáp ứng, quản lýsử dụng thuốc trong khu vực điều trị đã được kiểm soát và chấn chỉnh. Bệnh viện là cơ sởkhám chữa bệnh và chăm nom sức khỏe thể chất cho người bệnh, là đơn vị chức năng khoa học kỹthuật có nhiệm vụ y tế cao, có vai trò to lớn và nắm giữ vị trí quan trọngtrong đời sống xã hội. Quá trình chăm nom bằng thuốc cho người bệnh gồm kêđơn thuốc, cấp phép thuốc và theo dõi dùng thuốc [ 2 ]. Tuy nhiên, theo một số ít tìm hiểu của Ban tư vấn sử dụng kháng sinh củaBộ Y tế thì việc kê đơn sử dụng thuốc không hài hòa và hợp lý xảy ra ở nhiều bệnh việntrên cả nước. Việc kê đơn không đúng qui chế, kê quá nhiều thuốc trong mộtđơn, kê đơn với nhiều biệt dược, kê đơn thuốc không phải là thuốc thiết yếumà là thuốc có tính thương mại cao đang có nguy có tăng trưởng và khó kiểmsoát tại nhiều cơ sở điều trị Việc kê đơn không đúng dẫn đến việc điều trịkhông hiệu suất cao và không bảo đảm an toàn, làm bệnh không khỏi hoặc lê dài, làm chobệnh nhân lo ngại, chưa kể đến ngân sách điều trị cao [ 51 ]. Hiện tượng bệnhnhân sử dụng thuốc tùy ý, tự mua thuốc điều trị, dùng thuốc không đúng liều, không theo hướng dẫn của thầy thuốc nổi bật là sử dụng thuốc kháng sinh, corticoid, an thần, gây ngủ đã gây thực trạng lạm dụng thuốc, kháng thuốc, gây tiêu tốn lãng phí, ảnh hưởng tác động không tốt đến sức khỏe thể chất người dân, gây khó khăn vất vả chocông tác điều trị. Chính vì lý do đó, việc kê đơn thuốc bảo đảm an toàn, hài hòa và hợp lý trở thành nhiệm vụcấp bách của toàn ngành y tế nói chung và công tác làm việc dược bệnh viện nói riêng. Bộ Y tế đã ra Chỉ thị số 05/2004 / CT-BYT nhằm mục đích kiểm soát và chấn chỉnh hoạt động giải trí cungứng và sử dụng thuốc trong bệnh viện. Luật Dược số 34/2005 / QH11 củaQuốc hội khóa XI có hiệu lực hiện hành kể từ ngày 01/10/2005 [ 12 ] và đã có Nghị địnhsố 79/2006 / NĐ-CP ngày 09/8/2006 của cơ quan chính phủ qui định chi tiết cụ thể thi hànhmột số điều của Luật dược [ 62 ]. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một đề tài nào nghiên cứu, nhìn nhận mộtcách khá đầy đủ về tình hình kê đơn thuốc tại bệnh viện, nhìn nhận sự hiểu biết củabệnh nhân về sử dụng thuốc theo đơn. Do vậy, yếu tố đặt ra là có gì tồn tạitrong việc kê đơn thuốc tại bệnh viện ? Bệnh viện đã kê đơn thuốc đúng quiđịnh, hài hòa và hợp lý, bảo đảm an toàn hay chưa ? Mức độ hiểu biết và thực hành thực tế của bệnh nhânvà những yếu tố tương quan đến việc sử dụng thuốc theo đơn như thế nào ? Để trảlời những câu hỏi đó, chúng tôi triển khai nghiên cứu đề tài : ” Nghiên cứu tìnhhình kê đơn thuốc điều trị ngoại trú, hiểu biết và thực hành thực tế của bệnh nhânvề việc sử dụng thuốc theo đơn tại bệnh viện huyện Phong điền ” với cácmục tiêu nghiên cứu sau : 1. Xác định tỷ suất đơn thuốc điều trị ngoại trú bệnh nhiễm trùng, bệnh viêmloét dạ dày tá tràng, bệnh thấp khớp, bệnh tim mạch, bệnh đường hô hấp kêđúng theo qui chế kê đơn của Bộ Y tế tại bệnh viện huyện Phong Ðiền. 2. Tìm hiểu sự hiểu biết, thực hành thực tế và một số ít yếu tố tương quan đến việc sửdụng thuốc theo đơn của bệnh nhân tại bệnh viện huyện Phong Ðiền. Chƣơng 1T ỔNG QUAN TÀI LIỆU1. 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ THUỐC1. 1.1. Khái niệm về thuốcThuốc là chất hoặc hỗn hợp những chất dùng cho người nhằm mục đích mục đíchphòng, chữa bệnh, chẩn đoán bệnh hoặc kiểm soát và điều chỉnh tính năng sinh lý cơ thểbao gồm thuốc thành phẩm, nguyên vật liệu làm thuốc, vắc xin, sinh phẩm y tế, trừ thực phẩm công dụng [ 45 ]. Thuốc là những loại sản phẩm có nguồn gốc từ động vật hoang dã, thực vật, khoángvật, hóa dược hay sinh học được bào chế để dùng cho người, nhằm mục đích : – Phòng bệnh, chữa bệnh – Phục hồi, kiểm soát và điều chỉnh tính năng khung hình – Làm giảm triệu chứng của bệnh – Chẩn đoán bệnh – Phục hồi và nâng cao sức khỏe thể chất – Làm mất cảm xúc một bộ phận hay body toàn thân – Làm ảnh hưởng tác động đến quy trình sinh sản – Làm biến hóa hình dáng khung hình [ 14 ], [ 30 ], [ 57 ] 1.1.2. Khái niệm về thuốc thiết yếuThuốc thiết yếu là thuốc cần cho chăm nom sức khỏe thể chất của hầu hết nhân dân, đượcnhà nước bảo vệ bằng chủ trương thuốc vương quốc, gắn liền nghiên cứu, sảnxuất, phân phối với nhu yếu thực tiễn chăm nom sức khỏe thể chất nhân dân, được lựachọn và đáp ứng để luôn sẵn có với số lượng khá đầy đủ, dạng bào chế thíchhợp, chất lượng tốt, bảo đảm an toàn và Ngân sách chi tiêu tương thích [ 30 ], [ 57 ], [ 62 ]. Thuốc thiết yếu được coi như một kế hoạch về thuốc lúc bấy giờ trên thế giớivà đang được hầu hết những nước triển khai. Lợi ích của việc lựa chọn thuốcthiết yếu giúp cho việc sử dụng thuốc bảo đảm an toàn, hiệu suất cao, ít tốn kém và dễ dàngđáp ứng, dễ giám sát để phòng chống và loại trừ thuốc giả, thuốc kém phẩmchất, thuốc hết hạn sử dụng [ 49 ]. Mục tiêu chính của chương trình hoạt động giải trí về thuốc thiết yếu của Tổchức Y tế Thế giới, nhằm mục đích giúp sức những nước cải tổ tình hình phân phối thuốcthiết yếu cho toàn dân và việc sử dụng thuốc hài hòa và hợp lý bảo đảm an toàn [ 17 ]. 1.1.3. Khái niệm về thuốc gây nghiệnThuốc gây nghiện là những thuốc có nguồn gốc tự nhiên, tổng hợp haybán tổng hợp được sử dụng với mục tiêu phòng bệnh, chữa bệnh. Thuốc gâynghiện nếu bị lạm dụng hoàn toàn có thể dẫn tới nghiện – một thực trạng phụ thuộc vào vềthể chất hay tinh thần [ 8 ], [ [ 62 ]. 1.1.4. Khái niệm thuốc hƣớng tâm thầnThuốc hướng tâm thần là những thuốc có nguồn gốc tự nhiên, tổng hợphay bán tổng hợp có công dụng trên thần kinh TW gây nên tình trạngkích thích hoặc ức chế được sử dụng với mục tiêu phòng bệnh, chữa bệnh. Thuốc hướng tâm thần nếu sử dụng không hài hòa và hợp lý hoàn toàn có thể gây nên rối loạn chứcnăng hoạt động, tư duy, hành vi, nhận thức, xúc cảm hoặc gây ảo giác, hoặc cókhả năng chịu ràng buộc thuốc [ 9 ], [ 62 ]. 1.1.5. Định nghĩa thuốc kháng sinh – Kháng sinh là những chất do vi sinh vật tiết ra hoặc những chất hóa học bántổng hợp, tổng hợp, với nồng độ rất thấp, có năng lực đặc hiệu ngưng trệ sựphát triển hoặc diệt được vi trùng [ 44 ]. – Kháng sinh là những chất tạo thành do chuyển hóa sinh học, có tác dụngngăn cản sự sống sót hoặc tăng trưởng của vi trùng ở nồng độ thấp, được sảnxuất bằng sinh tổng hợp hoặc tổng hợp theo mẫu những kháng sinh tự nhiên [ 23 ]. – Kháng sinh là những chất chống vi trùng, những chất này hoàn toàn có thể là chất chiếtxuất từ vi sinh vật ( hầu hết từ vi nấm ), là chất tổng hợp hoặc là chất bán tổnghợp [ 65 ]. – Kháng sinh là những chất mà ngay ở nồng độ thấp đã có tính năng ức chếhoặc hủy hoại vi sinh vật ( vi trùng, nấm, đơn bào, virus ) mà không có tácdụng lên tế bào đại sinh vật ( người ) … Mỗi thuốc kháng sinh chỉ gây rối loạnmột phản ứng sinh học nhất định của tế bào vi sinh vật và từ đó dẫn đếnngừng tăng trưởng [ 1 ]. 1.2. NHU CẦU THUỐC1. 2.1. Khái niệmThuốc là một loại hàng hoá đặc biệt quan trọng, sử dụng loại thuốc nào số lượngbao nhiêu, phương pháp thế nào thì lại không phải do người bệnh tự quyết định hành động màlại được quyết định hành động bởi thầy thuốc và người dùng phải tuân thủ khắt khe [ 46 ]. Như vậy nhu yếu thuốc về cơ bản không phải lượng thuốc mà ngườibệnh muốn mua ở mỗi mức giá [ 42 ], [ 59 ]. Thông thường số lượng và cơ cấuthuốc được sử dụng nhờ vào quy mô bệnh tật và khuynh hướng dùng thuốccủa từng vương quốc, thầy thuốc có vai trò rất lớn trong việc sử dụng và địnhhướng dùng thuốc của nhân dân [ 73 ]. Khái niệm nhu yếu thuốc là tập hợp tổng thể những loại thuốc với dạng bàochế thích hợp, hàm lượng thích hợp, đủ về số lượng, bảo vệ về chất lượngvà hiệu lực hiện hành để xử lý được những nhu yếu phòng chữa bệnh của thành viên, củacộng đồng trong một khoanh vùng phạm vi thời hạn, khoảng trống, một trình độ xã hội, khoahọc kỹ thuật và năng lực chi trả nhất định [ 25 ]. 1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởngNhu cầu thuốc phụ thuộc vào vào nhiều yếu tố : Tình trạng bệnh tật và môhình bệnh tật, chất lượng chẩn đoán bệnh của thầy thuốc và kỹ thuật điều trị. Hiệu lực điều trị của thuốc, yếu tố thiên nhiên và môi trường xã hội và chính sách xã hội, giácả của loại sản phẩm và những loại sản phẩm cạnh tranh đối đầu, những yếu tố khuyến mại, hiệuquả của hoạt động giải trí thông tin quảng cáo và quyết định hành động ở đầu cuối của ngườibệnh [ 25 ]. 1.3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG THUỐC1. 3.1. Kê đơn thuốc1. 3.1.1. Đơn thuốcĐơn thuốc là địa thế căn cứ hợp pháp để bán thuốc, cấp phép thuốc, pha chếthuốc, cân thuốc theo đơn và sử dụng thuốc [ 45 ], [ 62 ]. 1.3.1. 2. Qui định về ghi đơn thuốcTheo điều 7 chương II của ” Quy chế kê đơn và bán thuốc theo đơn ” của BộY tế phát hành kèm theo quyết định hành động số 1847 / 2003 / QĐ-BYT ngày 28 tháng 5 năm 2003 ) [ 4 ], [ 55 ]. 1. Ghi đủ những mục ghi trong đơn. Đơn thuốc viết bằng bút mực hoặc bútbi. Viết rõ ràng, dễ đọc, dễ hiểu. 2. Với trẻ bệnh dưới 24 tháng tuổi : Ghi số tháng tuổi và ghi tên bố hoặc mẹ. 3. Địa chỉ người bệnh phải ghi đúng chuẩn số nhà đường phố hoặc thôn xã. 4. Viết tên thuốc theo tên quốc tế với số thuốc có 01 thành phần ; Viết đúngtên biệt dược với thuốc nhiều thành phần. 5. Ghi tên thuốc, hàm lượng, số lượng, liều dùng 1 lần và liều dùng 24 giờ, cách dùng của mỗi thứ thuốc. 6. Số lượng thuốc độc A và thuốc gây nghiện phải viết bằng chữ, chữ đầu viếthoa. 7. Số lượng thuốc độc B và thuốc hướng tâm thần, tiền chất dùng làm thuốcviết thêm số 0 ở phía trước nếu số lượng thuốc chỉ có một số lượng. 8. Ký tên bên cạnh nếu kê đơn cho dùng thuốc quá liều tối đa hoặc sữa chữađơn. 9. Thuốc gây nghiện phải được kê đơn riêng, một đơn hai bản để người bệnhgiữ 01 bản, nơi bán thuốc lưu 01 bản, cơ sở khám chữa bệnh lưu phần gốc củađơn. 10. Gạch chéo phần đơn còn giấy trắng. Ký tên, ghi rõ học vị, họ tên người kêđơn và đóng dấu phòng khám hoặc dấu bệnh viện. 101.3.2. Sử dụng thuốc hài hòa và hợp lý, bảo đảm an toàn, kinh tế1. 3.2.1. Khái niệm – Sử dụng thuốc hài hòa và hợp lý là : + Sử dụng đúng thuốc + Đúng bệnh + Đúng liều + Đúng giờ + Đúng cách + Đúng dạng + Đúng giá – Sử dụng thuốc bảo đảm an toàn là : + Sử dụng thuốc có chất lượng bảo vệ nhất + Thuốc sử dụng được xem xét kỹ lưỡng nhất + Thuốc ít tính năng phụ, ít phản ứng có hại nhất + Dùng thuốc được hướng dẫn không thiếu nhất + Dùng thuốc được theo dõi kỹ lưỡng nhất – Sử dụng thuốc kinh tế tài chính là : + Thuốc có giá thành hài hòa và hợp lý + Lợi nhuận đặt sau quyền lợi của người bệnh + Người nghèo có khó khăn vất vả được tương hỗ + Tính chỉ số : Tổn phí / hiệu suất cao, tổn phí / quyền lợi [ 30 ], [ 57 ]. Sử dụng thuốc hài hòa và hợp lý là cải tổ hiệu suất cao sử dụng, nâng cao độ antoàn và bảo vệ tính kinh tế tài chính khi dùng thuốc cho từng thành viên bệnh nhân. Tínhhợp lý là xem xét sao cho chỉ số hiệu suất cao / rủi ro đáng tiếc và hiệu suất cao / kinh tế tài chính đạt caonhất [ 54 ]. Tổ chức Y tế Thế giới ( TCYTTG ) đưa ra khái niệm “ Sử dụngthuốc hài hòa và hợp lý yên cầu người bệnh phải nhận được thuốc thích hợp với đòi hỏilâm sàng và ở liều lượng cung ứng được nhu yếu cá thể người bệnh, trong11một khoảng chừng thời hạn thích hợp và với ngân sách ít gây tốn kém nhất cho ngườibệnh và cho hội đồng ” [ 1 ]. Sử dụng thuốc hài hòa và hợp lý, bảo đảm an toàn là giải pháp quan trọng nhất để tiết kiệmcho người bệnh, tránh được tiêu tốn lãng phí thuốc tạo ra sự thiếu thuốc giả tạo, tránhlạm dụng thuốc nhất là thuốc kháng sinh, vitamin, corticoid … hoàn toàn có thể gâynhiều tác động ảnh hưởng xấu cho người bệnh và hội đồng tại thời gian và cả trongtương lai [ 49 ]. Sử dụng thuốc hài hòa và hợp lý, bảo đảm an toàn luôn là tiềm năng số 1 trong công tácđiều trị. Muốn sử dụng thuốc hài hòa và hợp lý, bảo đảm an toàn phải thiết lập mối quan hệ giữadược sỹ, bác sỹ, y tá và bệnh nhân trong việc sử dụng thuốc. Mối quan hệ giữa dược sĩ, bác sĩ, y tá điều dưỡng và bệnh nhân trong sửdụng thuốc màn biểu diễn qua sơ đồ sau : Y văn về thuốcBác sĩ Dược sĩ Điều dưỡngKinh nghiệm lâm sàngBệnh nhânSơ đồ 2. Mối quan hệ giữa dƣợc sĩ, bác sĩ, y tá điều dƣỡng và bệnhnhân trong sử dụng thuốc ( Nguồn Bộ Y tế ( 2005 ), Sử dụng thuốc hài hòa và hợp lý trong điều trị [ 1 ] ) Một số dạng thông dụng của việc sử dụng thuốc bất hài hòa và hợp lý như [ 17 ] – Không tuân thủ những chỉ định của thầy thuốc – Tự điều trị với những thuốc cần phải kê đơn – Sử dụng kháng sinh không đúng – Lạm dụng những loại thuốc tiêm12 – Lạm dụng những thuốc được coi là bảo đảm an toàn – Phối hợp những thuốc không hài hòa và hợp lý – Sử dụng những thuốc không cần thiết1. 3.3. Phản ứng bất lợi của thuốc ( ADR : Adverse Drug Reaction ) Thuốc là “ con dao hai lưỡi ” vì hoàn toàn có thể gây ra những phản ứng có hại ởnhiều mức độ, thậm chí tử vong kể cả dùng đúng liều, đúng qui định, cácphản ứng như vậy gọi là phản ứng bất lợi. Theo Tổ chức Y tế Thế giới ( 2002 ) : “ Phản ứng bất lợi của thuốc là mộtphản ứng ô nhiễm, không được định trước và Open ở liều thường dùng chongười để phòng bệnh, chẩn đoán hoặc chữa bệnh hoặc làm đổi khác một chứcnăng sinh lý ”. Định nghĩa này không gồm có những phản ứng do dùng saithuốc, dùng sai liều, dùng liều cao có chủ định hay vô tình. Điều trị nhiềuthuốc thì tần suất ADR tăng lên theo cấp số nhân với số lượng thuốc có trong1 lần điều trị. Tương tác thuốc cũng là một yếu tố làm tăng ADR : tương tácbất lợi của những thuốc hoàn toàn có thể làm biến hóa sinh khả dụng hoặc làm thay đổidược lực học của thuốc và do đó gây ra những ADR trên bệnh nhân [ 40 ], [ 52 ]. 1.3.4. Tƣơng tác thuốcTương tác thuốc là tác động ảnh hưởng qua lại giữa những thuốc xảy ra trong cơ thểkhi dung đồng thời dẫn đến những đổi khác về công dụng dược lý hoặc độc tính [ 40 ]. Thực hành kê đơn tốt, thực hành thực tế chăm nom người bệnh tốt là những khâuđảm bảo sử dụng thuốc bảo đảm an toàn, hài hòa và hợp lý cho người bệnh. Khi điều trị chongười mắc đồng thời nhiều bệnh thì không hề tránh khỏi phải dùng đồng thờinhiều thuốc. Nhưng phải dùng đồng thời nhiều thuốc cùng lúc hoàn toàn có thể gây ramột trạng thái bệnh lý do tương tác thuốc – thuốc. Tỷ lệ những phản ứng có hạităng lên theo cấp số nhân khi phối hợp nhiều loại thuốc. Làm thế nào vừa đạthiệu quả điều trị, nhưng tránh được tương tác bất lợi để bảo vệ bảo đảm an toàn chongười bệnh. Yêu cầu này yên cầu những nhà chuyên môn y tế cần thận trọngtrong toàn bộ những khâu sử dụng thuốc cho người bệnh. Trước hết bác sỹ kê đơn13phải bảo vệ đơn không có rủi ro tiềm ẩn đã biết ; tiếp theo là dược sỹ có tráchnhiệm phát hiện những tương tác thuốc nguy khốn khi đọc đơn thuốc ; cuối cùnglà điều dưỡng phải nhận ra những tín hiệu lâm sàng của công dụng nguy hạikhi người bệnh dùng thuốc [ 6 ]. Vì vậy, bác sỹ, dược sỹ, điều dưỡng nếu nắm được những nguyên lýcủa phối hợp thuốc sẽ đạt được những nhu yếu như tăng hiệu suất cao điều trị, cảithiện dược động, giải độc thuốc [ 26 ]. 1.3.5. Nguyên tắc chung trong việc kê đơn kháng sinh [ 3 ], [ 72 ]. Nguyên tắc chung trong việc kê đơn kháng sinh cần địa thế căn cứ vào những tiêuchí sau : – Phổ tính năng của kháng sinh – Dược lực học và dược động học của kháng sinh – Chọn đường dùng thuốc hài hòa và hợp lý – Tính tiện nghi và năng lực tuân thủ điều trị – Ảnh hưởng tới vi hệ thông thường của khung hình – Ngân sách chi tiêu điều trị – Phối hợp kháng sinh – Tác động của quảng cáo thương mại – Danh mục thuốc – Chọn kháng sinh và lựa chọn cách điều trị1. 3.6. Thông tin thuốc cho bệnh nhânBệnh nhân là khâu ở đầu cuối thực thi những ý đồ sử dụng thuốc để đạthiệu quả cao và bảo đảm an toàn. Nếu bệnh nhân không thực thi đúng y lệnh thì mọiđiều cố gắng nỗ lực của y bác sỹ, dược sỹ, y tá … đều không có hiệu suất cao và trở thànhvô ích. Muốn triển khai đúng và tham gia góp phần tích cực vào quá trìnhđiều trị, bệnh nhân phải được hiểu rõ quyền lợi, mối đe dọa của thuốc để tránh cácbiểu hiện rơi lệch, không đúng mực hay có hại. Việc thông tin – giáo dục – tiếp thị quảng cáo về thuốc đến người bệnh là rất quan trọng [ 38 ]. 14N gười dân là lực lượng phần đông nhất đồng thời là đối tượng người dùng sử dụngthuốc quan trọng nhất nhưng lại là người ít hiểu biết nhất về thuốc. Khảo sátngười dân về hiểu biết và thói quen dùng thuốc sẽ giúp cho ngành y tế thấyđược tình hình và có giải pháp tuyên truyền phổ cập nhân dân để họ thayđổi hành vi của mình khi bị ốm đau, bệnh tật cần phải dùng thuốc như thế nào [ 49 ]. 1.4. TÌNH HÌNH KÊ ĐƠN THUỐC VÀ SỬ DỤNG THUỐC1. 4.1. Tình hình kê đơn và sử dụng thuốc trên thế giớiTrong những năm gần đây nhu yếu thuốc trên thị trường quốc tế có sựgia tăng can đảm và mạnh mẽ do sự tăng trưởng của dân số quốc tế và sự ngày càng tăng tuổi thọ, nhu yếu dùng thuốc nhiều, dùng những loại thuốc có tỷ trọng chất xám cao nênthường đắt [ 35 ]. Trong yếu tố sử dụng thuốc sống sót hai yếu tố lớn. Đó là sựtiêu thụ thuốc chưa đồng đều giữa những nước tăng trưởng và đang tăng trưởng [ 57 ] và yếu tố đáng quan tâm là việc kê đơn không hài hòa và hợp lý, không bảo đảm an toàn, còn bệnhnhân thì không tuân thủ theo chỉ định của bác sỹ, thực trạng bác sỹ kê đơnnhầm lẫn vẫn còn, còn lạm dụng thuốc, phối hợp thuốc không đúng, khôngghi đủ liều lượng, dạng thuốc vẫn còn diễn ra. Tình trạng kê quá nhiều thuốccho một bệnh nhân, lạm dụng kháng sinh tiêm, kê đơn kháng sinh cho bệnhkhông nhiễm trùng vẫn còn diễn ra [ 76 ]. Khoảng 75 % lượng thuốc ở thị trường dược phẩm quốc tế là thuộc vềcác nước đứng vị trí số 1 về kinh tế tài chính như Mỹ, Nhật, Pháp, Đức, Ý, Anh, Tây Ban Nha, Bỉ [ 13 ]. Hiện nay, khuynh hướng sản xuất và sử dụng những loại thuốc bán không cầnđơn trên quốc tế tương đối giống nhau và đang có khuynh hướng tăng lên, xuhướng này ở những vương quốc đang tăng trưởng như Mỹ, Nhật Bản, những quốc giaTây Âu đã và đang ảnh hưởng tác động tới những vương quốc đang tăng trưởng như TrungQuốc, Ấn Độ vv [ 16 ]. 15T hị trường dược phẩm những nước khối ASEAN có một số ít đặc điểmchung là thuốc generic chiếm thị trường trung bình khoảng chừng 40 %, trong đóSingapore thấp nhất là 9 %, Việt Nam cao nhất 70 % theo nhìn nhận của IMS.Có thể thấy rằng trong những nước ASEAN, thuốc generic chiếm một tỷ trọngđáng kể. Trong thị trường dược phẩm, thuốc generic chiếm một tỷ trọng caohơn những nước có thu nhập cao. Điều này nói lên yếu tố là người dân ở cácnước có thu nhập thấp ưu tiên lựa chọn generic mỗi khi sử dụng thuốc. thuốcgeneric là một thị trường tiềm năng đồng thời là một giải pháp lựa chọn đểngười dân những nước đang tăng trưởng có năng lực tiếp cận với thuốc thiêt yếutheo chủ trương của TCYTTG [ 58 ], [ 71 ]. ADR là một yếu tố nguy khốn với phạm vi ảnh hưởng đang lớn dần, dothuốc xuất hiện trên thi trường ngày càng nhiều và số người gặp ADR ngày càngtăng. Tại Mỹ, một nhìn nhận trên nghiên cứu của Lazarou cho thấy năm 1994 có 2,2 triệu phản ứng có hại của thuốc đã xảy ra ở những người đang điều trịtrong bệnh viện ( 6,7 % ) và gây ra 106.000 ca tử trận [ 53 ]. Sự hình thành vi trùng kháng kháng sinh ngày càng tăng và do đó đôikhi khó tìm ra hướng điều trị hiệu suất cao chống lại những bệnh nhiễm khuẩn. Mặc dù có những nghiên cứu để tìm ra những thuốc mới chống lại vi khuẩnkháng thuốc, nhưng điều này cũng không thật chắc như đinh ngay cả khi nhữngthuốc này sẽ có. Vì mức độ kháng thuốc tỷ suất thuận với mức độ sử dụngkháng sinh không hài hòa và hợp lý [ 22 ]. Theo thống kê ở Mỹ có 5 % bệnh nhân nhiễmkhuẩn đã kháng thuốc, còn ở Pháp số lượng này là 14,3 %. ở những nước tăng trưởng, việc lạm dụng thuốc kháng sinh còn nghiêm trọng hơn nhiều. Ở Châu Phi có50 % bệnh nhân ngoại trú dùng kháng sinh không hài hòa và hợp lý, ở Banglades con sốnày là 57 %, ở Trung Quốc, nghiên cứu 100 trường hợp dung kháng sinh thìchỉ có 59 % sử dụng đúng qui định [ 57 ], [ 60 ]. Vấn đề vi sinh vật kháng kháng sinh ở những nước đang tăng trưởng là hiệntượng thông dụng, đáng lo lắng vì quy mô bệnh tật của những nước đang phát triển16trong đó có Nước Ta là quy mô của những bệnh nhiễm trùng. TCYTTGkhuyến cáo ” những nước đặc biệt quan trọng là những nước đang tăng trưởng cần phải sử dụngthuốc hài hòa và hợp lý hơn để sử dụng nguồn lực kinh tế tài chính có hiệu suất cao và cung cấpđược nhiều thuốc hơn cho nhân dân ” [ 15 ]. Biện pháp can thiệp quan trọng và khả thi số 1 mà những chuyên giacủa TCYTTG lựa chọn để triển khai kế hoạch toàn thế giới ngăn ngừa sự đềkháng kháng sinh là “ Đào tạo người kê đơn, người đáp ứng và hướng dẫn sửdụng ”. Điều này chứng tỏ việc giảng dạy và hướng dẫn sử dụng kháng sinh chocác bác sỹ và dược sỹ là thiết yếu và cấp bách cho toàn bộ những nước trên quốc tế [ 72 ] 1.4.2. Tình hình kê đơn thuốc tại Việt NamKê đơn thuốc là một trong những pháp luật mà Bộ Y tế nhu yếu nghiêmngặt nhất so với thầy thuốc. Thế nhưng trên trong thực tiễn, một trong những lỗithường gặp nhất ở thầy thuốc lại vẫn tương quan đến kê đơn thuốc. Kê đơnthuốc không đúng nhu yếu trình độ và đạo đức nghề nghiệp là một hiệntượng không hiếm gặp ở 1 số ít thầy thuốc. Những lỗi thường gặp của thầythuốc khi kê đó là viết nhầm tên thuốc, thiếu hiểu biết về thuốc, nhầm lẫn vềliều lượng, đặt nhầm dấu thập phân ở hàm lượng thuốc, không nhận địnhđúng về dạng hàm lượng thuốc, nhầm lẫn về tần suất dùng thuốc trong ngày, viết chữ quá khó đọc, quá tháu, không thận trọng khi dùng những chữ viết tắt, không quan tâm đến tương tác thuốc, không chú ý quan tâm kiểm soát và điều chỉnh liều lượng, khôngquan tâm đến tiền sử bệnh của người dùng thuốc [ 20 ]. Tình hình lạm dụng tên thuốc biệt dược theo quảng cáo trong những đơnthuốc lúc bấy giờ đang là vấn nạn không chỉ riêng ở nước ta [ 42 ]. Trong một nghiên cứu khi khảo sát 250 bệnh án của khoa tiêu hóa mộtbệnh viện thành phố có 70 % số bệnh án không có hướng dẫn sử dụng thuốcđầy đủ, đúng chuẩn và có 53,6 % số bệnh án có tương tác thuốc [ 27 ]. 17M ột nghiên cứu khác ở bệnh viện tuyến huyện cho thấy trung bình mộtđơn thuốc có 4,2 loại thuốc và 62 % đơn thuốc có tối thiểu 1 loại kháng sinh vàchỉ có 38 % số thuốc được kê trong hạng mục thuốc thiết yếu. Theo nghiên cứu về tình hình kê đơn thuốc ở một số ít phòng khám chữabệnh tư ở 4 Q. ở Thành Phố Hà Nội số thuốc trung bình trong một đơn thuốc có 4,38 % loại thuốc, số đơn thuốc có kháng sinh 71,72 % trong đó đơn thuốc có tối thiểu 1 loại kháng sinh là 50,7 % và có 41,42 % số thuốc được kê trong danh mụcthuốc thiết yếu [ 18 ]. Theo nghiên cứu hoạt động giải trí bảo vệ đáp ứng thuốcchữa bệnh tại Phòng quân y – Bộ tổng tham mưu – Cơ quan Bộ quốc phòng sốthuốc trung bình trong một đơn ở khu vực ngoai trú là 3,9, khu vực nội trú là5, 3, số đơn thuốc kê chưa đúng thuốc là 21,3 %, số đơn thuốc kê chưa đúngliều là 7 %, thuốc an thần chiếm 35 % [ 27 ]. Thầy thuốc không phải đứng ngoài lề trong việc sử dụng thuốc hài hòa và hợp lý. Nhiều đơn thuốc kê dài tới 9-10 thuốc. Có thuốc hoạt chất trùng nhau nhưngtên biệt dược khác nhau cũng kê cùng. Thuốc kháng sinh mới, công dụng mạnhkê cả cho trẻ nhỏ và nhiều người bệnh khác mà không cần phải thử kháng sinhđồ [ 34 ]. Theo báo cáo giải trình tìm hiểu của trường cán bộ quản trị y tế, tại một bệnh việntrung ương, bệnh nhân thường được dùng 2 loại kháng sinh trở lên, riêng biệt cótrường hợp phải dùng đến 6-7 loại kháng sinh khác nhau, chưa kể những loạithuốc khác. Việc lạm dụng thuốc đang là một yếu tố đáng lo lắng bởi lẽ nókhông chỉ ảnh hưởng tác động đến sức khỏe thể chất, tiền của người bệnh mà còn gây nhiềuhậu quả đáng tiếc về sau [ 43 ]. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Hiếu về “ Thực trạng kê đơnkháng sinh tại tuyến xã trong điều trị trẻ dưới 5 tuổi mắc bệnh nhiễm khuẩnhô hấp cấp tính thì kháng sinh dùng đúng chỉ định của phác đồ là 48,1 %, sửdụng kháng sinh không thiết yếu 51,9 %. Đủ liều kháng sinh chỉ có 60,2 % sốđơn cho kháng sinh đủ ngày thiết yếu [ 29 ]. 18T ại tỉnh thừa Thiên Huế, qui chế kê đơn và bán thuốc theo đơn, Sở y tếđã tiến hành đến những đơn vị chức năng trong toàn tỉnh, nhưng việc chấp hành qui chế rấthạn chế. Tình trạng thầy thuốc khám bệnh bán thuốc, người bán thuốc bánnhững loại thuốc phải bán theo đơn nhưng không có đơn Bác sĩ còn khá phổbiến [ 47 ]. Việc kê đơn không đúng dẫn đến việc điều trị không hiệu suất cao và khôngan toàn, làm bệnh không khỏi hoặc lê dài, làm cho bệnh nhân lo ngại, chưakể đến ngân sách điều trị cao [ 51 ]. 1.4.3. Tình hình sử dụng thuốc tại Việt NamThị trường thuốc Việt nam trong cơ chế thị trường đã và đang cạnh tranhngày càng kinh khủng, đại bộ phận tiền thuốc do người dân phải tự chi trả. Hệthống bảo hiểm y tế còn nhiều chưa ổn. Nguồn thuốc bảo vệ cho sử dụngchủ yếu là nhập khẩu, năm 2006 lệch giá thuốc sản xuất trong nước đạt4. 700 tỷ đồng, chiếm 40 % tổng giá trị sử dụng thuốc trong nước [ 66 ]. Bảng 1.1. Tiền thuốc trung bình trên đầu người của Nước Ta qua những năm ( Đơn vị tính : USD ) Năm2000200120022003200420052006Tiền thuốc bìnhquân / đầu người5, 46,06,77,68,69,39,76 Sự chênh lệch về tiền thuốc cũng bộc lộ khá rõ giữa những vùng địa lý vàcác vùng dân cư. Năm 2004 trung bình tiền thuốc trên đầu người ở Việt Namlà 8,6 USD, trong đó ở Thành Phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cao hơn nhiều cònở miền núi, vùng sâu, vùng xa thì lại rất thấp [ 19 ]. Trong những năm gần đây do số lượng, chủng loại thuốc ngày càng đadạng và nhiều mẫu mã, người thầy thuốc có nhiều thời cơ để lựa chọn thuốc, người dân cũng hoàn toàn có thể tự mua thuốc để tự điều trị cho mình. Trên thị trườngthuốc lúc bấy giờ, dân cư hoàn toàn có thể thuận tiện mua thuốc ở mọi nơi. Thế nhưng sử19dụng loại thuốc gì, dùng như thế nào và thời hạn bao nhiêu … lại không thuộcquyền của người sử dụng mà do người kê đơn là thầy thuốc quyết định hành động [ 43 ]. Từ đó phát sinh bất hài hòa và hợp lý trong sử dụng thuốc. Hiện nay việc sử dụng thuốc bảo đảm an toàn hài hòa và hợp lý còn nhiều chưa ổn, tình trạngkháng thuốc đặc biệt quan trọng kháng kháng sinh ở những nước đang tăng trưởng là khá phổbiến trong đó có Nước Ta. Một số nghiên cứu cho thấy lượng kháng sinh sửdụng ở nước ta chiếm tới 40 % giá trị thuốc tiêu thụ, trong khi chỉ số này trênthế giới theo thống kê chỉ ở mức 10 % [ 39 ]. Tình hình sử dụng kháng sinh tạibệnh viện tỉnh Phú Thọ tỷ suất bệnh nhân dùng kháng sinh là 79 % trong đó38, 4 % bệnh nhân dùng đơn độc 1 loại kháng sinh, số còn lại là dùng phối hợp [ 64 ]. Sử dụng thuốc không hài hòa và hợp lý, điễn hình là việc lạm dụng kháng sinh, corticoid, vitamin, thuốc an thần, gây ngủ đang có khunh hướng ngày cànggia tăng ở những nước tăng trưởng trong đó có Nước Ta và đang xảy ra ở tất cảcác tuyến, những cơ sở điều trị từ xã đến huyện đến tỉnh đến TW, cả cộngđồng và bệnh viện, cả y tế nhà nước và tư nhân [ 18 ]. Vitamin là nhóm thuốc chiếm một vị trí khá lớn trong hạng mục thuốccũng như trên thị trường dược phẩm Nước Ta. Có nhiều chuyên viên tronglĩnh vực này đã cảnh báo nhắc nhở về việc lạm dụng vitamin trong điều trị của thầythuốc và về việc lạm dụng vitamin do quan điểm sai trong hội đồng. Vitaminlà một trong 3 nhóm thuốc sử dụng thông dụng tại hội đồng và việc lạm dụngvitamin đang có khunh hướng ngày càng tăng [ 21 ], [ 66 ]. Tỷ lệ người tiêu dùng sửdụng vitamin trong tổng số người đang sử dụng thuốc giao động từ 45,9 % đến74, 9 %, thấp nhất ở Hà Giang và cao nhất ở Thành phố Hồ Chí Minh, trungbình chung là 52,0 % ; tỷ suất đơn thuốc có vitamin ở những tỉnh xê dịch từ 55,4 % đến 77,5 %, tỷ suất trung bình 66,1 % [ 21 ]. Theo nghiên cứu về tình hình kê đơnthuốc ở một số ít phòng khám chữa bệnh tư ở 4 Q. ở TP.HN tỷ suất đơn thuốc20có Vitamin 47,5 %, tỷ suất đơn thuốc có corticoid 10,1 %, tỷ suất đơn thuốc cóthuốc an thần, gây ngủ là 6,6 % [ 18 ]. Hơn 1.000 bệnh viện từ TW đến địa phương hiện đang sử dụng70-80 % tổng số thuốc cho nhu yếu điều trị hằng năm. Trong khi đó việc sửdụng thuốc tại những bệnh viện còn nhiều điểm bất hài hòa và hợp lý : tỷ suất thuốc ngoại còncao, không riêng gì lạm dụng thuốc kháng sinh, biệt dược đắt tiền mà thuốc bổsung vitamin, thuốc tương hỗ điều trị cũng chiếm tỷ suất cao trong đơn thuốc [ 46 ], hiện tượng kỳ lạ bác sĩ kê toa thuốc để hưởng hoa hồng của những công ty dược phẩmđã dẫn tới thực trạng lạm dụng thuốc hầu hết là thuốc kháng sinh, vitamin [ 24 ]. Thông tin dược lâm sàng còn thiếu và yếu, hoạt động giải trí thông tin thuốc ởbệnh viện chưa cao. Hệ thống đáp ứng thuốc của bệnh viện chưa được cảitiến hài hòa và hợp lý tương thích với tình hình kinh tế tài chính lúc bấy giờ. Thuốc nội chưa được chútrọng và sử dụng nhiều trong điều trị [ 5 ]. Sử dụng kháng sinh thường không làm kháng sinh đồ, nhiều người chỉdùng theo kinh nghiệm tay nghề và thói quen. Đã có nhiều trường hợp dùng kháng sinhkhông đủ liều hoặc quá liều hoặc sử dụng kháng sinh để điều trị mà chưa tínhđến tương tác thuốc [ 39 ]. Đây là những nguyên do làm cho hiệu suất cao sử dụng thuốckhông cao, tiêu tốn lãng phí và là một trong những nguyên nhân tạo nên nhiều chủng vikhuẩn kháng kháng sinh, một yếu tố nan giải lúc bấy giờ. Sử dụng kháng sinhhợp lý nhằm mục đích bảo vệ hiệu lực hiện hành điều trị và ngăn ngừa sự ngày càng tăng vi khuẩnkháng thuốc là tiềm năng của toàn bộ những vương quốc trong đó có Nước Ta. Tuymô hình bệnh tật của Nước Ta đang có khuynh hướng chuyển dời sang bệnhkhông lây nhiễm, nhưng những bệnh nhiễm khuẩn vẫn là những bệnh có tỷ lệmắc cao nhất, do đó ngân sách cho thuốc kháng sinh vẫn chiếm một lượng khôngnhỏ trên tổng ngân sách dùng trong điều trị. Mặc khác hiện tượng kỳ lạ sử dụng khángsinh chưa hài hòa và hợp lý vẫn còn khá phổ cập, điều này làm ngày càng tăng sự kháng thuốccủa vi trùng gây bệnh thường gặp ở Nước Ta [ 3 ]. 21M ặc dù những bệnh viện và phương tiện thông tin đại chúng thường xuyênnhắc nhở và giáo dục về sử dụng thuốc phải bảo đảm an toàn, hài hòa và hợp lý, ý thức cảnh giácdược vẫn chưa được ăn sâu vào tiềm thức của nhân dân. Hiện tượng tự muathuốc, kể cả thuốc kê đơn không cần qua bác sỹ chỉ định, hướng dẫn vẫnđược coi là thông thường. Rồi người bệnh tự điều trị thậm chí còn còn mách nhaumua thuốc, chữa bệnh hộ nhau … vẫn còn thông dụng [ 34 ]. Theo nghiên cứu củatrường Đại học Dược TP.HN tỷ suất người dân tự mua thuốc, tự điều trị chiếmtới hơn 80 % trong đó đa phần là mua ở những hiệu thuốc, nhà thuốc làm gia tănghiện tượng kháng thuốc, tăng thêm phản ứng có hại của thuốc, làm tổn hạiđến sức khỏe thể chất và kinh tế tài chính của hội đồng [ 66 ]. Theo hiệu quả tìm hiểu về kiếnthức và thực hành thực tế sử dụng kháng sinh của những bà mẹ có con dưới 5 tuổi tạimột số xã nông thôn thuộc tỉnh Hà Tây của Nguyễn Thị Minh Hiếu cho thấycó 75 % bà mẹ có ý niệm sai lầm đáng tiếc rằng nên uống kháng sinh trong vòng 2-4 ngày, có tới 40 % bà mẹ nghĩ rằng nếu trẻ hết triệu chứng thì dừng uống thuốcmà không chăm sóc đến thời hạn sử dụng thuốc. Và chỉ có 80,3 % bà mẹ thựchành đúng sử dụng kháng sinh khi có chỉ định của thầy thuốc, 12,4 % bà mẹdùng kháng sinh theo kinh nghiệm tay nghề lần trước và 7,3 % theo lời khuyên củangười bán thuốc [ 28 ]. Theo tìm hiểu tại những tỉnh Hà Tây, Phú Thọ, Sơn La, Thanh Hóa thìtrong số 828 lượt bán thuốc có 23,67 % mua có đơn, 41,79 % tự quyết địnhmua, 34,54 % theo sự hướng dẫn của người bán [ 67 ]. Tình trạng tự dùngthuốc, mua thuốc không có chỉ định của thầy thuốc đã gây nhiều hậu quả nhưlãng phí, có hại sức khỏe thể chất, tai biến khi dùng thuốc [ 41 ]. Tuy nhiên, càng ngày người dân càng có nhận thức cao so với việc sửdụng thuốc như 78,1 % bệnh nhân khám phá thông tin thuốc qua cán bộ y tế, 75,2 % bệnh nhân khi ốm đau thường đến có sở y tế để được hướng dẫn dùngthuốc nhưng còn có 24,8 % bệnh nhân tự mua thuốc để uống [ 36 ]. 22V iệc thực thi qui chế về thông tin quảng cáo thuốc chữa bệnh chongười còn nhiều chưa ổn như người trình làng thuốc không ĐK với cơquan quản trị, trình dược viên ký gửi sản phẩm & hàng hóa và dùng những quyền lợi vật chất tácđộng vào thầy thuốc nên đã ảnh hưởng tác động đến việc kê đơn thuốc. Chưa quản lýđược đội ngũ trình dược viên vì hầu hết hoạt động giải trí ngoài giờ và phần đông hoạtđộng trong những bệnh viện và những cơ sở chưa chấp hành tốt qui chế thông tinquảng cáo [ 47 ]. Tình hình lạm dụng tên thuốc biệt dược theo quảng cáo trongcác đơn thuốc kê cho bệnh nhân lúc bấy giờ đang là vấn nạn không chỉ riêng ởnước ta [ 42 ]. Công tác theo dõi ADR đã tiến hành, thông dụng đến những thầy thuốc đểthầy thuốc hướng dẫn cho bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân phát hiện kịpthời những trường hợp ADR. Năm 2006 những đơn vị chức năng đã báo cáo giải trình về sở y tế vàtrung tâm ADR vương quốc 18 trường hợp, những trường hợp này đã được thầythuốc giải quyết và xử lý tốt, không để xảy ra tử trận và di chứng [ 47 ]. Theo báo cáo giải trình công tác làm việc thanh tra dược năm 2006 là thuốc điều trị trongbệnh viện đa phần là thuốc nội từ những nguồn thuốc của bảo hiểm y tế và thuốcphục vụ dân nghèo. Tất cả những bệnh viện đã thiết kế xây dựng hạng mục thuốc thiếtyếu, bảo vệ đủ thuốc có chất lượng Giao hàng điều trị, không để bệnh nhân vàngười nhà bệnh nhân tự cung tự túc mua thuốc nằm trong hạng mục thuốc thiết yếu [ 48 ]. Tuy nhiên, nhiều bệnh viện chưa bảo vệ việc đáp ứng thuốc, ngườibệnh ngoại trú phải tự mua thuốc để dùng ; nhà thuốc bệnh viện chưa thựchiện nghiêm những qui định của Bộ Y tế ; chưa thực thi trang nghiêm qui chế kêđơn và bán thuốc theo đơn [ 5 ]. Việc sử dụng thuốc bảo đảm an toàn hài hòa và hợp lý là một yếu tố rất quan trọng. Nhưnghiệu quả chỉ huy sử dụng thuốc của Bộ Y tế bị hạn chế. Trong khi đó, hoạtđộng của Hội đồng thuốc và điều trị tại những bệnh viên thì hạn chế và phân tán. Xét về mặt mạng lưới hệ thống, cách chỉ huy việc sử dụng thuốc hài hòa và hợp lý bảo đảm an toàn là phi23tập trung đưa đến tùy tiện trong toàn cảnh trên 10.000 loại sản phẩm thuốc lưu hànhcả nước và sự ảnh hưởng tác động của gần 600 công ty dược [ 32 ]. Để tăng cường sử dụng thuốc hài hòa và hợp lý trong bệnh viện cần nhiều hoạtđộng đồng nhất, trong đó điều thứ nhất là Hội đồng thuốc và điều trị cần giámsát kê đơn tiếp tục trải qua bình đơn thuốc, bình bệnh án. Nhưng thựctế nhiều bệnh viện chưa liên tục bình đơn thuốc, bình bệnh án, chỉ tậptrung khi có kiểm tra của cấp trên hay làm hình thức, mới chỉ là kiểm tra cácthủ tục hành chính của đơn thuốc và bệnh án, chưa thực sự đi sâu vào nhậnxét về chẩn đoán và điều trị. Do đó, hiệu quả bình đơn, bình bệnh án còn hạnchế, chưa kiểm soát và điều chỉnh được sử dụng thuốc hài hòa và hợp lý trong bệnh viện [ 7 ]. 1.5. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH KINH TẾ – VĂN HÓA – XÃ HỘI – Y TẾ CỦA HUYỆN PHONG ĐIỀNHuyện Phong điền nằm ở phía bắc tỉnh Thừa Thiên Huế, có diện tích95. 375 ha, gồm 15 xã và 01 thị xã, dân số năm 2007 là 105.217 người [ 61 ]. Về địa lý hoàn toàn có thể chia làm 3 vùng : Vùng núi, vùng đồng bằng, vùng ven biển. Đời sống nhân dân ngày một cải tổ rõ ràng, không còn hộ đói, theo số liệu từphòng thương bệnh binh xã hội huyện, tổng số hộ nghèo năm 2007 toàn huyện là3668 chiếm tỷ suất 18,16 %. Đa số dân cư sống bằng nghề làm ruộng, trồng hoamàu, một số ít sống bằng nghề kinh doanh nhỏ lẻ, đánh bắt cá, nuôi trồng thủy hải sản trênbiển và đầm phá. 100 % xã, thị xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúngđộ tuổi. Triển khai khá đầy đủ những chương trình y tế vương quốc, 100 % trạm y tế xã, thị xã có bác sỹ. Tổng số người có bảo hiểm y tế toàn huyện năm 2007 là 41.863 người, trong đó bảo hiểm y tế người nghèo 15.319 người. Bệnh viện Phong Điền thuộc Trung tâm y tế Phong Điền, nằm trên địabàn huyện, ở phía bắc của tỉnh Thừa Thiên Huế, cách thành phố Huế 30 km. 24C hức năng của bệnh viện là chịu nghĩa vụ và trách nhiệm bảo vệ, chăm nom sức khỏe thể chất, thực thi công tác làm việc khám chữa bệnh cho nhân dân trên địa phận huyện PhongĐiền, hổ trợ cho Y tế tuyến xã, tham gia công tác làm việc phòng chống dịch bệnh, thảm họa thiên tai. Năm 2007, bệnh viện liên tục tiến hành chỉ thị05 / 2004 / CT-BYT về vấn đáp ứng và sử dụng thuốc và chỉ thi 05/2003 / CT-BYT về chăm nom bệnh nhân tổng lực. Tình hình nhân lực của bệnh viện năm 2007, tổng số cán bộ 84 người, trong đó có 21 bác sỹ, 9 y sỹ, 1 dược sỹ ĐH, 5 dược sỹ trung học, 1 dượctá, 17 điều dưỡng trung học và sơ học, 5 nữ hộ sinh, những trình độ khác là 18 [ 56 ]. 25C hƣơng 2 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU2. 1. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU – Đơn thuốc của bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên điều trị ngoại trú một sốbệnh thường gặp. – Bệnh nhân đã nhận và sử dụng thuốc trong đơn thuốc trên. ( Qua tìm hiểu những đơn thuốc điều trị ngoại trú tại bệnh viện Phong Điền chủyếu tập trung chuyên sâu vào 5 nhóm bệnh : nhiễm trùng, viêm loét dạ dày tá tràng, thấpkhớp, tim mạch, hệ hô hấp ). 2.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU2. 2.1. Thiết kế nghiên cứu : Nghiên cứu miêu tả, tìm hiểu ngang. 2.2.2. Cỡ mẫu : Đơn thuốc và bệnh nhânÁp dụng công thức tính cỡ mẫu ngẫu nhiên [ 33 ] 1 ( P. ) ( 1 P x ZTrong đó : n : Cỡ mẫu nghiên cứuChọn = 0,05 với độ an toàn và đáng tin cậy 95 %. ( 1 – / 2 ) = 1,96 d : Độ xô lệch giữa tham số mẫu và tham số quần thể, d = 0,05 P. : Tỷ lệ đơn thuốc đúng chưa xác lập được nên chọn P = 0,5 Tính được n = 384, thêm 5 % sai số tìm hiểu = 16. Tổng cộng : 400C ỡ mẫu đơn thuốc tích lũy và bệnh nhân là 400 .
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Nghiên Cứu






