Khảo sát mối liên quan giữa kiểm soát huyết áp và chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân tăng huyết áp | Tim mạch học
TÓM TẮT
Mở đầu:Tăng huyết áp (THA) là một trong những vấn đề của sức khỏe cộng đồng không những vì tần suất mắc bệnh cao mà còn do ảnh hưởng của bệnh đối với chất lượng cuộc sống (CLCS) của người bệnh.
Bạn đang đọc: Khảo sát mối liên quan giữa kiểm soát huyết áp và chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân tăng huyết áp | Tim mạch học
ThS.BS TRẦN CÔNG DUY
PGS.TS.BS CHÂU NGỌC HOA
Bộ môn Nội Tổng Quát, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh
Mục tiêu:Khảo sát mối liên quan giữa kiểm soát huyết áp và CLCS ở bệnh nhân THA.
Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu cắt ngang mô tả, có phân tích trên các bệnh nhân THA đang điều trị tại phòng khám Nội Tim Mạch, bệnh viện Chợ Rẫy từ 10/2013 đến 03/2014, sử dụng bộ câu hỏi SF-36.
Kết quả: Có 300 bệnh nhân tham gia nghiên cứu trong 6 tháng. Tuổi trung bình của bệnh nhân là 64,0 ± 12,5 và tỷ lệ nữ/nam là 1,2/1.Tỷ lệ kiểm soát huyết áp chung theo mục tiêu huyết áp của ESH/ESC 2013 là 46,7%. Điểm số CLCS của bệnh nhân kiểm soát huyết áp cao hơn bệnh nhân không kiểm soát huyết áp ở tất cả lĩnh vực sức khỏe một cách có ý nghĩa thống kê: hoạt động chức năng (p=0,043), giới hạn chức năng (p=0,008), cảm nhận đau đớn (p=0,000), sức khỏe tổng quát (p=0,011), cảm nhận sức sống (p=0,015), hoạt động xã hội (p=0,002), giới hạn tâm lý (p=0,022) và tinh thần tổng quát (p=0,042).
Kết luận:Kiểm soát huyết áp có liên quan với CLCS ở tất cả lĩnh vực sức khỏe. Điều này làm nổi bật vai trò của việc đạt mục tiêu huyết áp để đảm bảo CLCS tốt hơn cho bệnh nhân THA.
Từ khóa:Kiểm soát huyết áp, chất lượng cuộc sống, tăng huyết áp, SF-36
ABSTRACT
ASSOCIATION BETWEEN BLOOD PRESSURE CONTROL AND QUALITY OF LIFE AMONG HYPERTENSIVE PATIENTS
Tran Cong Duy, Chau Ngoc Hoa
Background:Hypertension is one of public health issuses not only because of its high prevalence but also the effect on patients’ quality of life (QOL).
Objectives: To survey the association between blood pressure control and QOL among hypertensive patients.
Methods:Across-sectional study was carried out from October 2013 to March 2014 to investigate treated hypertensive patients at the Cardiovascular Clinic, Cho Ray Hospital, using SF-36 questionaire.
Results: There were 300 hypertensive patients attending our study during 6 months. The mean age of patients was 64.0 ± 12.5 and the female/male ratio was 1.2/1. The overallblood pressure control rate according to 2013 ESH/ESC guidelines was 46.7%. Patients with controlled hypertension had significantly higher QOL scores in all health domains than those with poorly controlled hypertension: physical role functioning (p=0.043), role physical (p=0.008), bodily pain (p=0.000), general health perceptions (p=0.011), vitality (p=0.015), social role functioning (p=0.002), emotional role functioning (p=0.022) and mental health (p=0.042).
Conclusions:There was a significant association between blood pressure control and QOL in all health domains. This study highlights the role of achieving blood pressure control in ensuring a better quality of life for hypertensive patients.
Key words:Blood pressure control, quality of life, hypertension, SF-36
MỞ ĐẦU
Ảnh hưởng khoảng chừng 1,6 tỷ người trên khắp quốc tế, tăng huyết áp ngày này vẫn còn là một yếu tố sức khỏe thể chất hội đồng với tần suất mắc bệnh cao và CLCS của bệnh nhân suy giảm [ 20 ]. Mặc dù có nhiều văn minh trong chẩn đoán và điều trị của y học, sự tăng trưởng của những chương trình sức khỏe thể chất hội đồng và sự nhận thức của người dân nhưng tỷ suất trấn áp huyết áp đạt được vẫn chưa cao. Các nghiên cứu trước đây trên quốc tế và ở Nước Ta về tỷ suất trấn áp huyết áp thường dựa trên khuyến nghị của JNC, ít nghiên cứu dựa vào tiềm năng của ESH / ESC .
Để nhìn nhận CLCS của bệnh nhân THA, bộ câu hỏi SF-36 là một công cụ tốt đã được sử dụng trong nhiều nghiên cứu trên quốc tế. SF-36 gồm 36 câu hỏi thống kê giám sát 8 nghành sức khỏe thể chất, được chia thành 2 thành phần : sức khỏe thể chất sức khỏe thể chất ( SKTC ) và sức khỏe thể chất niềm tin ( SKTT ) [ 22 ], [ 23 ]. SKTC gồm những nghành hoạt động giải trí tính năng ( HĐCN ), số lượng giới hạn công dụng ( GHCN ), cảm nhận đau đớn ( CNĐĐ ) và sức khỏe thể chất tổng quát ( SKTQ ). SKTT gồm những nghành nghề dịch vụ hoạt động giải trí xã hội ( HĐXH ), số lượng giới hạn tâm ý ( GHTL ), cảm nhận sức sống ( CNSS ) và niềm tin tổng quát ( TTTQ ) .
Cho đến thời gian hiện tại, chúng tôi ghi nhận chưa có nghiên cứu nào trong nước về mối tương quan giữa trấn áp huyết áp và CLCS của bệnh nhân THA .
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Khảo sát mối liên quangiữa trấn áp huyết áp theo tiềm năng của ESH / ESC 2013 và chất lượng đời sống được nhìn nhận bằng bộ câu hỏi SF-36 ởbệnh nhân tăng huyết áp .
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang diễn đạt, có nghiên cứu và phân tích
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân THA đang điều trị ngoại trú tại phòng khám Nội Tim Mạch, bệnh viện Chợ Rẫy từ 10/2013 đến 03/2014 .
Tiêu chuẩn chọn bệnh
· Bệnh nhân nam hoặc nữ, ≥ 18 tuổi
· Đã được chẩn đoán và đang điều trị THA
· Đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ
· Phụ nữ mang thai
· Đang mắc những bệnh cấp tính nặng : tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim cấp, suy thận cấp, viêm phổi nặng …
· Bệnh nhân không hợp tác được : sự không tương đồng ngôn từ, giảm thính lực, bệnh lý tinh thần …
Cở mẫu:
n = Z2 1 – α / 2. p. ( 1 – p ) / d2
· Z : tham số lấy từ bảng phân bổ chuẩn ; α : Xác Suất sai lầm đáng tiếc loại I, chọn α = 0,05 nên Z = 1,96
· d : sai số được cho phép ; d = 0,05
· p : tỷ suất THA theo tác giả Phạm Thái Sơn và cs 25,1 % [ 18 ]
=> n = 289
Kỹ thuật chọn mẫu: chọn mẫu thuận tiện
Phương pháp thu thập số liệu:mẫu thu thập số liệu soạn sẵn được hoàn thành bằng cách hỏi bệnh, khám lâm sàng và thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng để chẩn đoán xác định.
Huyết áp : Bệnh nhân được đo bởi người nghiên cứu bằng huyết áp kế đồng hồ đeo tay với kích cỡ băng quấn tương thích và tuân theo hướng dẫn đo của ESH / ESC [ 10 ] .
Kiểm soát huyết áp được định nghĩa theo tiềm năng huyết áp của ESH / ESC 2013 [ 10 ] : < 140 / 85 mmHg ở bệnh nhân đái tháo đường ( ĐTĐ ) ( không có bệnh thận mạn ) ; < 140 / 90 mmHg ở bệnh nhân bệnh thận mạn ( BTM ) ( có hoặc không có đái tháo đường ) ; < 140 / 90 mmHg ở bệnh nhân < 65 tuổi không kèm đái tháo đường và bệnh thận mạn ; < 150 / 90 mmHg ở bệnh nhân ≥ 65 tuổi không kèm đái tháo đường và bệnh thận mạn
CLCS của bệnh nhân THA được nhìn nhận bằng bộ câu hỏi SF-36 đã được Việt hóa và chuẩn hóa của tác giả Võ Tuấn Khoa và Nguyễn Thy Khuê năm 2007 [ 21 ] ; người nghiên cứu phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân và điểm số những nghành CLCS được tính theo thang điểm 100 .
Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Sử dụng ứng dụng Microsoft Excel 2007 và SPSS 16.0 để xử lý số liệu
Kết quả của một phép kiểm độc lạ có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05 .
KẾT QUẢ
Đặc điểm dân số nghiên cứu
Nghiên cứu của chúng tôi trong thời hạn 6 tháng có 300 bệnh nhân tham gia. Tuổi trung bình là 64,0 ± 12,5. Tỷ lệ nữ / nam là 1,2 / 1 .
Bảng 1: Đặc điểm dân số nghiên cứu
|
Biến số |
Tần số |
Tỷ lệ (%) |
||
| Giới tính |
Nam Nữ |
135 165 |
45 55 |
|
| Nhóm tuổi | < 45 45 – 54 55 – 64 ≥ 65 |
16 54 92 138 |
5,3 18,0 30,7 46,0 |
|
| Hút thuốc lá | 77 | 25,7 | ||
| Ít hoạt động thể lực | 241 | 80,3 | ||
| Chỉ số khối khung hình |
Thiếu cân Bình thường Thừa cân Béo phì |
60 147 53 40 |
20,0 49,0 17,7 13,3 |
|
| Rối loạn lipid máu | 209 | 69,7 | ||
| Đái tháo đường | 77 | 25,7 | ||
| Tiền sử mái ấm gia đình bệnh tim mạch sớm | 58 | 19,3 | ||
| Thời gian phát hiện THA | < 5 năm 5 – 10 năm ≥ 10 năm |
82 138 80 |
27,3 46,0 26,7 |
|
| Số thuốc hạ áp |
1 2 3 4 |
39 157 91 129 |
13,0 52,3 30,3 4,3 |
|
Tỷ lệ kiểm soát huyết áp theo mục tiêu của ESH/ESC 2013
Bảng 2: Tỷ lệ kiểm soát huyết áp theo ESH/ESC 2013
|
Nhóm BN |
Mục tiêu (mmHg) |
Tần số |
Tổng |
Tỷ lệ (%) |
| THA < 65 tuổi ( không có ĐTĐ và BTM ) | < 140 / 90 | 45 | 93 | 48,4 |
| THA ≥ 65 tuổi ( không có ĐTĐ và BTM ) | < 150 / 90 |
40 |
72 | 55,6 |
| THA + ĐTĐ ( không có BTM ) | < 140 / 85 | 23 | 59 | 39,0 |
| THA + BTM ( có hoặc không có ĐTĐ ) | < 140 / 90 | 33 | 76 | 43,1 |
| Chung | 140 | 300 | 46,7 |
Điểm số chất lượng cuộc sống của bệnh nhân tăng huyết áp
Bảng 3: Điểm số CLCScủa bệnh nhân THA
|
Lĩnh vực |
Trung bình |
Độ lệch chuẩn |
Giá trị lớn nhất |
Giá trị nhỏ nhất |
| HĐCN | 68,3 | 15,1 | 25 | 100 |
| GHCN | 57,2 | 36,7 | 0 | 100 |
| CNĐĐ | 57,1 | 18,2 | 10 | 100 |
| SKTQ | 37,2 | 26,5 | 0 | 92 |
| CNSS | 55,5 | 9,7 | 35 | 85 |
| HĐXH | 57,5 | 17,1 | 0 | 100 |
| GHTL | 58,7 | 35,2 | 0 | 100 |
| TTTQ | 48,8 | 10,0 | 5 | 84 |
Mối liên quan giữa kiểm soát huyết áp và chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân tăng huyết áp
Điểm số CLCS của nhóm bệnh nhân đạt tiềm năng huyết áp cao hơn nhóm không đạt tiềm năng huyết áp ở toàn bộ nghành nghề dịch vụ CLCS. Như vậy, trấn áp huyết áp có ảnh hưởng tác động lên CLCS của bệnh nhân THA một cách có ý nghĩa thống kê .
Bảng 4:Mối liên quan giữa kiểm soát huyết áp và CLCSở bệnh nhân THA
|
Đặc điểm |
Kiểm soát huyết áp |
Không kiểm soát huyết áp |
p |
|
HĐCN TB ( ĐLC ) |
70,2 ( 15,5 ) |
66,6 ( 14,7 ) |
0,043 |
|
GHCN TB ( ĐLC ) |
63,1 ( 36,4 ) |
51,9 ( 36,3 ) |
0,008 |
|
CNĐĐ TB ( ĐLC ) |
61,0 ( 17,0 ) |
53,6 ( 18,6 ) |
0,000 |
|
SKTQ TB ( ĐLC ) |
41,3 ( 27,0 ) |
33,6 ( 25,6 ) |
0,011 |
|
CNSS TB ( ĐLC ) |
57,0 ( 9,9 ) |
54,2 ( 9,3 ) |
0,015 |
|
HĐXH TB ( ĐLC ) |
60,7 ( 16,7 ) |
54,6 ( 17,1 ) |
0,002 |
|
GHTL TB ( ĐLC ) |
63,6 ( 34,5 ) |
54,3 ( 35,5 ) |
0,022 |
|
TTTQ TB ( ĐLC ) |
50,0 ( 10,4 ) |
47,7 ( 9,5 ) |
0,042 |
BÀN LUẬN
Tỷ lệ kiểm soát huyết áp
Tỷ lệ bệnh nhân đạt huyết áp tiềm năng theo ESH / ESC 2013 trong nghiên cứu của chúng tôi là 46,7 %. Tỷ lệ trấn áp huyết áp của chúng tôi cao hơn so với hầu hết những nghiên cứu trước đây. Sự khác nhau về tỷ suất trấn áp huyết áp hoàn toàn có thể biến hóa tùy theo nghiên cứu được thực thi trong hội đồng hay tại bệnh viện và tiêu chuẩn huyết áp tiềm năng. Nhìn chung, dù có khác nhau về dân số nghiên cứu và tiềm năng huyết áp giữa những nghiên cứu nhưng chúng tôi nhận thấy theo thời hạn tỷ suất trấn áp huyết áp ở nước ta đã cải tổ. Đối với những nghiên cứu thực thi trong hội đồng, tỷ suất trấn áp huyết áp là 0 % vào năm 2001 ( Nguyễn Minh Tâm ) [ 13 ], 6,27 % vào năm 2003 ( Nguyễn Kim Ngôi ) [ 12 ], đã tăng lên đến 36,3 % vào năm 2012 ( Phạm Thái Sơn và cs ) [ 18 ]. Sự cải tổ tần suất trấn áp huyết áp cũng được phát hiện qua những nghiên cứu được triển khai trên những bệnh nhân THA điều trị tại bệnh viện. Tỷ lệ đó là 16,7 % vào năm 2007 ( Huỳnh Thị Tiền ) [ 8 ], 32,7 % vào năm 2010 ( Phạm Việt Bắc ) [ 16 ] đến 57,5 % vào năm 2013 ( Nguyễn Ngọc Thanh Vân ) [ 14 ]. Tỷ lệ trấn áp huyết áp trong những năm gần đây giao động từ 32,7 % đến 57,5 % và tỷ suất trong nghiên cứu của chúng tôi nằm trong khoảng chừng xê dịch đó .
Các nghiên cứu trên quốc tế cũng ghi nhận tỷ suất trấn áp huyết áp cải tổ trong những thập niên qua. Tại Hoa Kỳ, những cuộc khảo sát dinh dưỡng và sức khỏe thể chất vương quốc cho thấy tỷ suất trấn áp huyết áp ở những bệnh nhân THA được điều trị tăng dần từ 46,5 % ( 1999 – 2000 ) ; 62,0 % ( 2005 – 2006 ) đến 64,4 % ( 2009 – 2010 ) [ 6 ]. Tỷ lệ trấn áp huyết áp ở Trung Quốc cũng cải tổ từ 19 % ( 2002 ) đến 30,6 % ( 2009 ) [ 7 ]. Dù tiềm năng huyết áp nào được sử dụng thì lược qua những nghiên cứu trên, tất cả chúng ta có nhận thấy tình hình trấn áp huyết áp trên quốc tế từng bước được cải tổ, tỷ suất đạt huyết áp tiềm năng tăng dần và tỷ suất này cao hơn ở những nước tăng trưởng so với những nước đang tăng trưởng .
Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân THA
Trong mẫu nghiên cứu, điểm trung bình của những nghành sức khỏe thể chất tương đối thấp, xê dịch từ 37,2 đến 68,3 điểm, trong đó nghành nghề dịch vụ SKTQ có điểm trung bình thấp nhất và HĐCN có điểm trung bình cao nhất. Điều đó cho thấy THA làm giảm CLCS của bệnh nhân. Điểm trung bình của những nghành sức khỏe thể chất trong nghiên cứu của chúng tôi gần tương tự hiệu quả nghiên cứu của Aydemir và Brito ở nhiều nghành nghề dịch vụ [ 1 ], [ 4 ]. Hai nghiên cứu của Deforge và Bardage C ghi nhận điểm trung bình những nghành nghề dịch vụ đều cao hơn tổng thể những nghành trong nghiên cứu của chúng tôi [ 3 ], [ 5 ]. Sự khác nhau về điểm số CLCS giữa những nghiên cứu là do dân số chọn mẫu khác nhau. Nghiên cứu của chúng tôi, Aydemir và Brito chọn đối tượng người tiêu dùng nghiên cứu là bệnh nhân THA điều trị ngoại trú tại phòng khám của bệnh viện, trong khi đó Deforge và Bardage chọn những bệnh nhân THA trong hội đồng. Các bệnh nhân THA đến bệnh viện khám thường là những người có những yếu tố ảnh hưởng tác động SKTC và SKTT nhiều hơn những bệnh nhân trong hội đồng nên dẫn đến CLCS thấp hơn .
Mối liên quan giữa kiểm soát huyết áp và chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân THA
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy những bệnh nhân được trấn áp huyết áp tốt có điểm số CLCS cao hơn bệnh nhân không trấn áp huyết áp ở tổng thể 8 nghành nghề dịch vụ sức khỏe thể chất. Hay nói cách khác, CLCS của bệnh nhân THA cải tổ khi đạt được tiềm năng huyết áp. Nhận định này cũng tương thích với hiệu quả nghiên cứu của những tác giả khác. Theo nghiên cứu IMPROVE của Tautu O và cs ở 3.293 bệnh nhân THA ( tuổi trung bình 62,82 ± 10,91 ; 58,4 % nữ ; huyết áp trung bình 169 ± 17,25 / 95,48 ± 11,29 ), có mối tương quan ý nghĩa giữa trấn áp huyết áp và CLCS độc lập với tuổi, giới và trị số huyết áp khởi đầu [ 19 ]. Khảo sát cắt ngang của LiW và cs ở 4.510 bệnh nhân > 35 tuổi điều trị ngoại trú tại 18 phòng khám của những bệnh viện ở miền Bắc và miền Nam Trung Quốc phát hiện bệnh nhân được trấn áp huyết áp có điểm số CLCS cao hơn bệnh nhân trấn áp huyết áp kém [ 9 ]. Youssef RM và cs nhận thấy trấn áp huyết áp là yếu tố tiên đoán CLCS tốt hơn độc lập với ảnh hưởng tác động của những yếu tố dân số, kinh tế tài chính xã hội và bệnh đồng mắc ở 316 bệnh nhân THA [ 24 ]. Một nghiên cứu cắt ngang của Ogunlana MO và cs ghi nhận điểm số nghành nghề dịch vụ SKTC khác nhau không có ý nghĩa giữa hai nhóm trấn áp huyết áp và không trấn áp huyết áp ( p = 0,16 ), nhưng điểm số SKTT và tổng điểm CLCS cao hơn có ý nghĩa ở nhóm trấn áp huyết áp ( p = 0,004 và p = 0,014 ) [ 15 ]. Nghiên cứu của Raskeliene và cs cho thấy không có sự khác nhau về CLCS giữa bệnh nhân có trấn áp huyết áp và bệnh nhân không THA ; ngược lại, những bệnh nhân không trấn áp huyết áp có CLCS kém hơn bệnh nhân không THA ở những nghành HĐCN ( p = 0,003 ), GHCN ( p = 0,003 ), SKTQ ( p = 0,017 ), CNSS ( p = 0,008 ) và GHTL ( p = 0,015 ) [ 17 ]. Một nghiên cứu của Mena-Martin FT và cs có 40,4 % bệnh nhân trấn áp huyết áp tốt ( < 140 / 90 mmHg ) và trong nghiên cứu và phân tích đa biến, bệnh nhân không trấn áp huyết áp có điểm GHTL thấp hơn ( 73,1 ± 59,8 so với 98,9 ± 41,6 ; p = 0,020 ) [ 11 ]. Tuy nhiên, nghiên cứu của Banegas JR và cs ở 3.368 bệnh nhân THA ≥ 60 tuổi phát hiện trấn áp HA không tương quan với CLCS ở tổng thể nghành nghề dịch vụ [ 2 ] .
KẾT LUẬN
Tỷ lệ trấn áp huyết áp chung ở bệnh nhân THA theo tiềm năng huyết áp của ESH / ESC 2013 là 46,7 %. Dù được xem là bệnh thường không có triệu chứng nhưng điểm số CLCS của bệnh nhân THA đều thấp ở toàn bộ nghành nghề dịch vụ sức khỏe thể chất, xê dịch từ 37,2 đến 68,3 điểm. Kiểm soát huyết áp có tương quan với CLCS ở toàn bộ nghành nghề dịch vụ sức khỏe thể chất. Điều này làm điển hình nổi bật vai trò của việc đạt tiềm năng huyết áp để bảo vệ CLCS tốt hơn cho bệnh nhân THA .
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Aydemir O, Ozdemir C, Koroglu E (2005). The impact of co-morbid conditions on the SF-36: A primary-care-based study among hypertensives. Arch Med Res, 36: 136-141.
2. Banegas JR, Guallar-Castillón P, Rodrígiez-Artalejo F, et al (2006). Association between awareness, treatment, and control of hypertension, and quality of life among older adults in Spain. American Journal of Hypertension, 19: 686-693.
3. Bardage C, Isacson DGL (2001). Hypertension and health-related quality of life: an epidemiological study in Sweden. J Clin Epedimiol, 54: 172-181.
4. Brito DM, Araujo TL, Galvao MT, et al (2008). Quality of life and perception of illness among individuals with blood pressure. Cad Saude Publica, 24: 933-940.
5. Deforge BR, Stewart DL, DeVoe-Weston M, et al (1998). The relationship between health status and blood pressure in urban African American. J Natl Med Assoc, 90: 658-664.
6. Guo F, He D, Zhang W, et al (2012). Trends in prevalence, awareness, management, and control of hypertension among United State adults, 1999 to 2010. JACC, 60 (7): 599-606.
7. Hu DY, Liu LS, Yu JM, Yao CH; China STATUS Study Group (2010). National survey of blood pressure control rate in Chinese hypertensive outpatients – China STATUS. Zhonghua Xin Xue Guan Bing Za Zhi, 38 (3): 230-238.
8. Huỳnh Thị Tiền (2007). Khảo sát sự tuân thủ điều trị bệnh nhân tăng huyết áp. Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh.
9. Li W, Liu L, Puente JG, et al (2005). Hypertension and health-related quality of life: an epidemiological study in patients attending hospital clinics in China. J Hypertens, 23: 1667-1676.
10. Mancia G, Fagard R, Narkiewicz K, et al (2013). 2013 ESH/ESC Guidelines for the management of arterial hypertension. Eur Heart J, 34: 2159-2219.
11. Mena-Martin FJ, Martin-Escudero, Simal-Blanco F, et al (2003). Health-related quality of subjects with known and unknown hypertension: Results from the popultion-based Hortega study. J Hypertens, 21: 1283-1289.
12. Nguyễn Kim Ngôi (2003). Khảo sát tình hình tăng huyết áp tại phòng khám đa khoa huyện Chợ Gạo. Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh.
13. Nguyễn Minh Tâm (2001). Nghiên cứu dịch tễ học bệnh nhân tăng huyết áp tại tỉnh Tiền Giang. Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh.
14. Nguyễn Ngọc Thanh Vân (2013). Khảo sát tình hình thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng và tần suất kiểm soát huyết áp trên bệnh nhân tăng huyết áp. Khóa luận tốt nghiệp Bác sĩ đa khoa, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh.
15. Ogunlana MO, Adedokun B, Dairo MD, et al (2009). Profile and predictor of health-related quality of life among hypertensive patients in South-Western Nigeria. BMC Cardiovasc Disord, 9: 25.
16. Phạm Việt Bắc (2010). Khảo sát biến chứng võng mạc trên bệnh nhân tăng huyết áp bằng chụp hình màu đáy mắt. Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh.
17. Raskeliene V, Babarskiene MR, Macijauskiene J, Seskevicius A (2009). Impact of duration and treatment of arterial hypertension on health-related quality of life. Medicina (Kaunas), 45(5): 405-411.
18. Son PT, Quang NN, Viet NL, Khai PG, et al (2012). Prevalence, awareness, treatment and control of hypertension in Viet Nam – results from a national survey. Journal of Human Hypertension, 26: 268-280.
19. Tautu O, et al (2016). Blood pressure control and quality of life in hypertensive patients treated with amlodipine/valsartan fixed dose combination – IMPROVE study results. Modern Medicine, 23 (2): 135-142.
20. Victor RG (2012). Systemic hypertension: Mechanisms and Diagnosis. In: Bonow PO, Mann DL, Zipes DP, Libby P, Braunwalds heart disease: a textbook of cardiovascular medicine, Elsevier Saunders, ninth edition: 935-953.
21. Võ Tuấn Khoa, Nguyễn Thy Khuê (2007), Nghiên cứu về bảng đánh giá chất lượng cuộc sống Short form (SF)-36 và ứng dụng để đánh giá chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân đái tháo đường sau đoạn chi tại bệnh viện Chợ Rẫy, Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh.
22. Ware JE (1992). The MOS 36-item short-form health survey (SF-36), conceptual framework and item selection. Med Care, 30(6): 473-483.
23. Ware JE (2000). SF-36 Health Survey Update. Spine, 25: 3130-3139.
24. Youssef RM, Moubarak II, Kamel MI (2005). Factors affecting the quality of life of hypertensive patients. East Mediterr Health J; 11(1-2): 109-118.
Source: https://laodongdongnai.vn
Category: Nghiên Cứu






