NCKHSV – thực trạng kỹ năng nghe của sinh viên và đề xuất giải pháp khắc phục – Tài liệu text

NCKHSV – thực trạng kỹ năng nghe của sinh viên và đề xuất giải pháp khắc phục

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (377.62 KB, 25 trang )

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ – KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TÊN ĐỀ TÀI

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CẢI
THIỆN KỸ NĂNG NGHE CỦA SINH VIÊN
CHUYÊN NGỮ NĂM HAI TRƯỜNG CAO
ĐẲNG KINH TẾ – KỸ THUẬT THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chủ nhiệm đề tài: NGUYỄN THỊ MINH NHƯ
Đơn vị: 19CDTA01
Giảng viên hướng dẫn: NGUYỄN THỊ THỜI MINH

Tp. HCM – 2021

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ – KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TÊN ĐỀ TÀI:

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CẢI THIỆN KỸ
NĂNG NGHE CỦA SINH VIÊN CHUYÊN NGỮ
NĂM HAI TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ – KỸ
THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THƠNG TIN CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI

Họ tên

: NGUYỄN THỊ MINH NHƯ

Học vị

: SINH VIÊN 19CDTA01

Đơn vị

: KHOA NGOẠI NGƯ

Thành viên tham gia : NGUYỄN THỊ HOÀNG TRÚC

Tp. HCM – 2021
2

LỜI MỞ ĐẦU
Tiếng Anh – một ngôn ngữ quốc tế, một phương tiện giao tiếp giúp con người Việt Nam hội
nhập với thế giới. Hiểu được tầm quan trọng của ngôn ngữ này, Bộ giáo dục nước nhà đa
đưa tiếng Anh vào chương trình giáo dục từ tiểu học, trung học đến cao đẳng, đại học.
Nhưng trong quá trình học, ngôn ngữ này vẫn gây nhiều khó khăn cho sinh viên nói chung
và sinh viên khoa Ngoại Ngữ, trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh nói
riêng. Nhận thấy một vấn đề gây khó khăn nhất cho đa số người học tiếng Anh là kỹ năng
nghe hiểu, vậy nên nhóm chúng tôi quyết định thực hiện một đề tài “Thực trạng và giải
pháp cải thiện kỹ năng nghe sinh viên năm hai chuyên ngữ tại trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ
thuật TP. Hồ Chí Minh”. Đề tài này được thực hiện với mong muốn sẽ có những đóng góp
thiết thực vào việc học tiếng Anh cho các bạn sinh viên khoa Ngoại Ngữ của trường, góp
phần giúp các bạn trang bị tốt khả năng ngoại ngữ cho bản thân để có thể hội nhập vào cuộc

sống và nền kinh tế hiện đại.

3

MỤC LỤC
PHẦN 1: TỔNG QUAN……………………………………………………………………………………….3
1.1 Đặt vấn đề, lý do thực hiện đề tài và tính cấp thiết của đề tài……………………………….3
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước………………………………………….3
1.3 Mục tiêu nghiên cứu……………………………………………………………………………………….4
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu………………………………………………………………….. 4
PHẦN 2: NỘI DUNG ĐỀ TÀI……………………………………………………………………………. 5
Chương 1. Cơ sở lý luận………………………………………………………………………………………5
1.1 Định nghĩa kỹ năng nghe hiểu……………………………………………………………………….. 5
1.2 Những khó khăn phổ biến trong việc học kỹ năng nghe…………………………………….. 5
1.3 Yêu cầu của việc học trong quá trình học kỹ năng nghe…………………………………….. 5
1.4 Phương pháp nghiên cứu……………………………………………………………………………….. 6
Chương 2: Thực trạng kỹ năng nghe tiếng Anh của sinh viên năm hai, chuyên ngữ trường
Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật TP.Hồ Chí Minh
2.1 Khái quát về sinh viên khoa ngoại ngữ……………………………………………………………. 6
2.2 Chương trình học kỹ năng nghe……………………………………………………………………… 6
2.3 Nội dung câu hỏi phỏng vấn và bảng hỏi…………………………………………………………. 7
2.3.1 Câu hỏi phỏng vấn……………………………………………………………………………………… 8
2.3.2 Nội dung bảng hỏi……………………………………………………………………………………… 9
2.4 Kết quả khảo sát những khó khăn trong việc học kỹ năng nghe tiếng Anh…………. 11
2.4.1 Khó khăn liên quan đến kỹ năng ngôn ngữ………………………………………………….. 11
2.4.2 Khó khăn liên quan đến kiến thức nền…………………………………………………………..15
2.4.3 Khó khăn liên quan đến tài liệu nghe……………………………………………………………17
2.4.4 Khảo sát liên quan đến cách học kỹ năng nghe………………………………………………17
Chương 3. Đề xuất các biện pháp khắc phục khó khăn nhằm cải thiện kỹ năng nghe….19

1.1 Kết luận……………………………………………………………………………………………………….22
1.2 Kiến nghị…………………………………………………………………………………………………….22
THAM KHẢO…………………………………………………………………………………………………..24

4

PHẦN 1: TỔNG QUAN
1.1

Đặt vấn đề, lý do thực hiện đề tài và tính cấp thiết của đề tài

Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước, con người Việt Nam muốn vươn
lên tầm cao của trí tuệ thì tiếng Anh là một ngoại ngữ không thể thiếu. Đối với sinh viên Việt
Nam nói chung trong quá trình học tiếng Anh, người học luôn gặp phải những khó khăn liên
quan đến bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, đặc biệt là kỹ năng nghe. Có nhiều nguyên nhân
làm người học nhận thấy khó khăn khi học nghe, một trong những nguyên nhân cơ bản là kỹ
năng nghe thường không được chú trọng trong quá trình học tiếng Anh từ nhỏ cho đến khi
vào trường cao đẳng hoặc đại học đối với sinh viên chuyên ngữ. Các sinh viên năm thứ hai
chuyên ngành tiếng Anh ở trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật TP.HCM cũng gặp nhiều khó
khăn trong việc học nghe dẫn đến điểm số không cao và kỹ năng nghe không tốt. Qua khảo
sát cũng như qua thống kê điểm tổng kết học phần, các bài kiểm tra kỹ năng nghe tiếng anh
giữa kì và cuối kì thường thấp hơn điểm của các kỹ năng nói, đọc và viết. Chính vì lẽ đó,
nghiên cứu này được thực hiện với mục đích tìm hiểu những khó khăn trong quá trình học kỹ
năng nghe của sinh viên năm hai trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật TP.HCM, qua đó đề xuất
một vài giải pháp nhằm nâng cao kỹ năng của các bạn sinh viên.
1.2

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

Tình hình ngoài nước:

Trong những thập niên gần đây, kỹ năng nghe hiểu ngày càng thu hút nhiều sự chú ý của các
nhà nghiên cứu trong dạy, học ngoại ngữ nói chung và học tiếng Anh như một ngoại ngữ
(EFL) nói riêng. Rất nhiều học giả cho rằng bước quan trọng nhất để bắt đầu học tập một
ngôn ngữ khác ngoài tiếng mẹ để là cố gắng để nghe được ngôn ngữ đó. Rubin & Thompson
(1994) đa khẳng định: “Kỹ năng nghe rất có thể là kỹ năng ngôn ngữ quan trọng nhất, bởi vì
con người giành khoảng 60% thời gian của mình để nghe…Thêm vào đó, kỹ năng nghe mang
lại cho bạn cơ hội cảm nhận được ngôn ngữ và nâng cao toàn diện khả năng sử dụng ngôn
ngữ.” Rost (1994) cũng nhấn mạnh rằng Nghe có thể được xem như một kỹ năng cần thiết
trong quá trình đào tạo một người học ngoại ngữ và thậm chí còn có thể được coi như một
công cụ dự đoán khả năng thành công về ngôn ngữ của người học. Tuy nhiên, thực tế lại cho
thấy kỹ năng nghe lại là kỹ năng gây nhiều khó khăn nhất cho người học tiếng Anh như ngôn
ngữ thứ hai (ESL) hay tiếng Anh như ngôn ngữ nước ngoài (EFL). Xuất phát từ thực tế trên,
một số tác giả đa thực hiện những nghiên cứu nhằm nâng cao kỹ năng nghe hiểu tiếng Anh
của sinh viên ESL và EFL như nghiên cứu của Kretsai Woottipong (2014) đ ế n t ừ

5

tr ườ ng đ ạ i h ọ c Thaksin University, Thailand và nghiên c ứu c ủa Normah
Yusof (2012) đ ế n t ừ Đ ạ i h ọ c Sultan Zainal Abidin, Malaysia. Kretsai
Woottipong đã th ự c hi ệ n nghiên c ứ u trên 41 sinh viên chuyên ng ữ năm
Nh ấ t trong h ọ c kỳ hai 2012 t ạ i tr ườ ng Đ ạ i h ọ c Thaksin, Thailand nh ằm
m ụ c đích tìm hi ể u thái đ ộ c ủ a sinh viên và hi ệ u qu ả c ủa vi ệc áp d ụng
các tài li ệ u video trong gi ả ng d ạ y kỹ năng nghe đ ối v ớ i nhóm 41 sinh
viên này. K ế t qu ả cho th ấ y kh ả năng nghe hi ể u c ủ a sinh viên đ ượ c c ải
thi ệ n đáng k ể và sinh viên có thái đ ộ tích c ự c đ ố i v ớ i vi ệc s ử d ụng các
bài gi ả ng video trong gi ờ h ọ c kỹ năng nghe. T ạ i Malaysia, Normah Yusof

(2012) cũng đã ki ể m tra tính hi ệ u qu ả c ủ a vi ệ c s ử dung các ph ần m ềm trên
máy tính đ ể gi ả ng d ạ y kỹ năng nghe cho 80 sinh viên tham gia vào khóa h ọc
ti ế ng Anh chuyên sâu t ạ i tr ườ ng đ ạ i h ọ c Sultan Zainal Abidin, Malaysia. K ết
qu ả cũng đ ư a ra nh ữ ng s ố li ệ u r ấ t l ạ c quan khi đi ể m s ố c ủa sinh viên tăng
cao khi s ử d ụ ng các ứ ng d ụ ng máy tính vào ph ầ n đ ầ u c ủa bu ổi d ạy h ọc và
vi ệ c áp d ụ ng trên là hoàn toàn hi ệ u qu ả trong vi ệ c gi ả ng d ạy kỹ năng nghe
cho sinh viên.

Tình hình trong nước:

Tác giả Kiều Thị Thu Hương (2014) đã thực hiện nghiên cứu “Nâng cao kỹ năng nghe
hiểu tiếng Anh chuyên ngành quan hệ quốc tế cho cán bộ đối ngoại.” nhằm mục đích tìm
hiểu hiện trạng kỹ năng nghe hiểu tiếng Anh chuyên ngành Quan hệ Quốc tế của cán bộ
đối ngoại, phát hiện những nguyên nhân gây khó khăn cho việc học nghe và đề xuất một số
giải pháp khắc phục. Qua phân tích số liệu thu được từ bảng khảo sát và câu hỏi phỏng vấn
đối với 100 cán bộ đối ngoại đang công tác tại Bộ Ngoại giao, tuổi từ 28 đến 53 và 5 giảng
viên, tác giả Thu Hương đa đề xuất một số giải pháp như (i) Người học quyết tâm, (ii) Giảng
viên hỗ trợ, (iii) Cải thiện cơ sở vật chất, và (iv) Phát triển tài liệu mới để nâng cao kỹ năng
nghe hiểu của nhóm cán bộ này.
Tương tự là bài nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Ánh (2016) khi đi sâu vào việc phân
tích những khó khăn chủ yếu khi học tiếng Anh của đối tượng sinh viên năm hai chuyên
ngành tiếng Anh sư phạm tại trường Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn và đưa ra một số giải
pháp để giúp nâng cao kỹ năng nghe hiểu của sinh viên. Tác giả Ngọc Ánh nhận định
khó khăn lớn nhất đối với sinh viên khi học kỹ năng nghe ở nhà nhà là việc thiếu
động lực học tập và sinh viên cũng không đầu tư nhiều thời gian cho việc h ọc
nghe. Chính vì vậy việc nâng cao nhận thức về vai trò quan trọng của kỹ năng
6

Nghe trong học tập và trong giao tiếp cần được giáo viên nhấn m ạnh. Ngoài ra
việc thay đổi cơ chế, chính sách, ra đề, chấm thi, đa dạng nguồn nghe trong khi ra đề thi
nghe cũng là một điều cần thiết để sinh viên tích cực, chủ động hơn trong học nghe.
Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho thấy để học nghe hiệu quả thì phương pháp tối ưu
đó là tăng cường thời gian học tập và duy trì thời gian học một cách đều đặn và
có khoa học.
1.3

Mục tiêu nghiên cứu

Bài nghiên cứu của chúng em nhằm mục đích: khảo sát thực trạng kỹ năng nghe của sinh viên
năm hai chuyên ngữ tại trường, tìm ra những khó khăn phổ biến nhất, đề xuất một số biện
pháp khắc phục khó khăn và nâng cao kỹ năng nghe hiểu của sinh viên.
1.4

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng của nghiên cứu này là thực trạng kỹ năng nghe của sinh viên chuyên ngữ năm hai
tại Hotec và những khó khăn chủ yếu nhất. Trên cơ sở đó một số phương pháp nhằm nâng cao
kỹ năng nghe cho sinh viên chuyên ngữ sẽ được đề xuất.
Khách thể nghiên cứu bao gồm 30 sinh viên hệ chính quy năm hai chuyên ngành tiếng Anh
thương mại tại trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thành phớ Hờ Chí Minh.
PHẦN 2: NỢI DUNG ĐỀ TÀI
Chương 1. Cơ sở lý luận
1.1

Định nghĩa kỹ năng nghe hiểu

Theo Field (1998:38) “ nghe là một quá trình trí tuệ không nhìn thấy được, do đó rất khó mô
tả. Người nghe phải phân biệt được các âm, hiểu được từ vựng và cấu trúc ngữ pháp, nắm

được trọng âm và ý định của người nói, có thể nhớ và hiểu nó trong ngữ cảnh văn hóa xa hội
của phát ngôn.”
Hay theo Wolvin và Coakley (1985): “ nghe là quá trình cơ quan thính giác tiếp nhận, xử lý
và xác định thông điệp của lời nói”.
Từ các định nghĩa trên ta thấy nghe là quá trình giải quyết vấn đề khá phức tạp, nhiệm vụ của
người nghe không chỉ là tiếp nhận thơng tin mà cịn phải phân tích thơng điệp lời nói, nó địi
hỏi phải có sự rèn lụn trong thời gian dài.
1.2

Những khó khăn phở biến trong việc học kỹ năng nghe

7

Theo Ur, P.(1996) người nghe thường gặp các khó khăn như: không nhận ra các âm mà người
bản xứ nói, có thói quen phải hiểu hết các từ trong câu mới hiểu được nội dung của bài, cần
phải nghe nhiều lần mới có thể hiểu được, nếu phải nghe kéo dài thì người nghe sẽ rất mệt
mỏi và thiếu tập trung, thấy khó có thể nắm bắt tất cả những thông tin và dự đoán điều mà
người nói sắp nói. Theo Yagang (1994) những vấn đề liên quan đến kỹ năng nghe bao gồm:
thông điệp, người nói, người nghe, môi trường vật lý.
Hay theo Underwood (1989) các khó khăn thường gặp khi nghe là: không theo kịp tốc độ
người nói, hạn chế vốn từ vựng, không thể nhớ tất cả những thông tin nghe được, không nắm
bắt được thông tin chính, không thể tập trung, không thể nhắc lại được thông tin, không hình
thành được thói quen nghe.
Khi đề cập đến các khó khăn khi nghe tiếng Anh hai nhà giáo học pháp ngoại ngữ là Nguyễn
Bàng và Nguyễn Bá Ngọc cũng liệt kê ra các khó khăn: gặp khó khăn với các âm tiếng Anh,
phải hiểu hết các từ, không hiểu được rằng người Anh nói một các tự nhiên, thấy khó có thể
theo kịp tốc độ người nói, cần nghe đi nghe lại nhiều lần, mệt mỏi và thất vọng.
Theo tác giả Kiều Thị Thu Hương (2014), có 2 nhóm lớn các yếu tố gây cản trở việc học nghe
tiếng Anh chuyên ngành của cán bộ đối ngoại. Nhóm các nguyên nhân chủ quan bao gồm

năm nhóm nhỏ là (i) Kiến thức ngôn ngữ, (ii) Chiến lược nghe, (iii) Kiến thức nền và kiến
thức văn hóa, (iv) Tâm lý và sức khỏe và (v) Người học. Nhóm các nguyên nhân khách quan
bao gồm (i) Chất lượng bản tin, (ii) Cơ sở vật chất, (iii) Giảng viên và (iv) Tài liệu học.
Gần gũi hơn là bài nghiên cứu khoa học của nhóm sinh viên chuyên ngữ trường Cao đẳng
Kinh tế Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, chủ nhiệm đề tài là sinh viên Nguyễn Thị Huyền
(2014) với đề tài tương tự là: “Khảo sát những khó khăn trong quá trình học kỹ năng nghe và
đề xuất các biện pháp khắc phục cho sinh viên năm hai chuyên ngữ tại trường cao đẳng kinh
tế kỹ thuật tp. hồ chí minh.” Sinh viên Nguyễn Thị Huyền đa xác định 3 khó khăn chính khi
học nghe của sinh viên chuyên ngữ là: khó khăn từ người học; khó khăn từ tài liệu nghe và
khó khăn từ môi trường vật lý.

8

1.3

Các yếu tố ảnh hưởng đến việc học kỹ năng nghe

Rubin (2001) chỉ ra năm yếu tố có thể ảnh hưởng đến nghe hiểu. Đó là (i) Đặc điểm của bài
nghe như tốc độ nói, chỗ dừng, trọng âm và vần điệu, sự khác biệt giữa ngôn ngữ thứ nhất và
ngôn ngữ thứ hai v.v… (ii) Đặc điểm người đối thoại như giới tính và độ thành thạo ngôn
ngữ; (iii) Đặc điểm bài tập như loại bài tập; (iv) Đặc điểm người nghe như độ thành thạo
ngôn ngữ, trí nhớ, sự tập trung, tuổi, giới tính, khả năng sử dụng ngôn ngữ thứ nhất, kiến thức
nền và (v) Đặc điểm của xử lý thông tin nghe như việc dùng các quá trình trên xuống, dưới
lên, xử lý song song, các chiến lược nghe v.v…
Theo Hasan (2000), người học đôi khi không ý thức được việc họ sai lầm trong nhận định
nguyên nhân các vấn đề họ gặp. Họ thường (i) sử dụng các chiến lược nghe kém hiệu quả và
(ii) cố gắng nghe và cố hiểu từng từ, từng chi tiết của văn bản. Việc cố gằng nghe và cố hiểu
từng từ trong bài nghe là sai lầm, vì ngay cả người bản ngữ cũng không nghe theo cách này.
Người nghe tớt thường chỉ nghe từ khóa để hiểu ý chính của thông điệp nghe và luôn cố gắng

đoán nghĩa của từ mới trong văn cảnh của bài nghe.
Rubin (2001) lại khẳng định rằng mức độ thành thục ngôn ngữ là một nhân tố quan trọng ảnh
hưởng đến việc nghe tiếng Anh là ngoại ngữ. Những học viên có trình độ tiếng Anh cao, với
nhiều kiến thức ngôn ngữ hơn thường hiểu bài nghe tốt hơn những sinh viên có mức độ thành
thực ngôn ngữ thấp và ít kiến thức ngôn ngữ.
Khi bàn đến các chiến lược mà người nghe sử dụng để hiểu thông điệp trong giao tiếp,
Harmer () xác định các kỹ năng vi mô bao gồm (i) kỹ năng dự đốn, (ii) chắt lọc các thơng
tin cụ thể, (iii) hình dung bức tranh tồn cảnh (iv) chắt lọc các thông tin chi tiết, (v) nhận
dạng các chức năng và diễn ngôn, và (vi) suy luận nghĩa từ văn cảnh. Harmer cũng cho rằng
người nghe có hiệu quả là người có khả năng áp dụng tất các các chiến lược phù hợp cùng
lúc. Ông khuyên người học nên khai thác và sử dụng triệt để những chiến lược nghe kể trên,
vì thành công của người nghe trong việc hiểu nội dung của những gì họ nghe thấy, phụ thuộc
rất nhiều vào sự thành thạo của họ trong sử dụng các kỹ năng vi mô này.
Tóm lại, có nhiều yếu tố cũng như nhiều chiến lược trong việc học kỹ năng nghe tiếng Anh.
Người dạy và người học cần chủ động tìm hiểu, lựa chọn những phương pháp, chiến lược phù
hợp và áp dụng cho từng bài nghe nhằm mục tiêu cuối cùng là hiểu đúng thông điệp của
người nói và có phản hồi phù hợp với thông điệp đó.
1.4

Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên kết quả điểm số của môn Nghe ở ba nhóm sinh viên: Giỏi, khá, và trung bình,
Phương pháp định lượng và định tính được sử dụng để tìm kiếm, thu thập, chọn lọc, phân tích
và tổng hợp số liệu.

9

Chương 2: Thực trạng kỹ năng nghe tiếng Anh của sinh viên năm hai, chuyên ngữ
trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật TP.Hồ Chí Minh

2.1

Khái quát về sinh viên khoa ngoại ngữ

Sinh viên khoa Ngoại Ngữ được chia làm 2 lớp trong học kỳ đầu tiên, những học kỳ tiếp theo
sinh viên được tự do đăng ký theo tín chỉ. Sỉ số mỗi lớp từ 15-20 sinh viên. Sinh viên đến từ
các tỉnh khác nhau chủ yếu là miền Tây và miền Trung vì thế giọng đọc của sinh viên có khác
nhau, trình độ giữa các sinh viên cũng khác nhau.
2.2

Chương trình học kỹ năng nghe

Unit

Listening skill

Pronunciation skill

Speaking skill

1

Life events

Using thought groups

Expressing interest in
ideas you hear

Identity

Beyond the ID card

2

The invention of Arthur
Pedrick

Weak form of that

Giving examples

Disagreeing

Giving reasons

Using intonation to
express feeling and
attitudes

Changing the topic and
returning to it

Syllable stress and
meaning

Interrupting politely

Design
Patents for living

creatures
3

Catching lies in the
brain

Thought
Animal intelligence
4

The discovery of fire

Fire

Forest fires: friendor
foe?

5

Globalization in history

Movement

Urbanization

10

6

Peer pressure

Pressure

Earthquakes

7

Fear of public speaking

Fear

Phobias

8

A travel story

Stories

Elements of a plot

9

Bottled water

Water

An experiment with dry
ice

10

Hard sell/soft sell

Persuasion

A debate: paper

Intonation in
conditional sentences

Explaining something
you don’t know the
word

Sentences stress

Managing questions

Emphatic stress

Being an effective
public speaker

Stress in word with
suffixes

Using and referring to
visual aids

Linking of same
consonants sounds

Refuting an argument

vs.electronic dictionaries

2.3
Thực trạng kỹ năng nghe của sinh viên chuyên ngữ năm hai trường Cao đẳng
Kinh tế Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh

11

Để khảo sát thực trạng kỹ năng nghe của sinh viên chuyên ngữ năm hai trường Cao đẳng
Kinh tế Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, nhóm nghiên cứu sử dụng câu hỏi phỏng vấn và
bảng khảo sát được xây dựng dựa trên nghiên cứu của tác giả Kiều Thị Thu Hương (2014) và
sinh viên Nguyễn Thị Huyền (2014).
2.3.1

Nội dung câu hỏi phỏng vấn

Đây là bảng câu hỏi khảo sát được thực hiện thơng qua c̣c trị chụn thân mật với 3 bạn
sinh viên, đại diện cho 3 nhóm sinh viên gồm 5 sinh viên có điểm trung bình môn nghe trên
8.0 (giỏi), 10 sinh viên khá và 15 sinh viên trung bình.
Nội dung

Sinh viên 1

Sinh viên 2

Sinh viên 3

Bạn thấy bản
thân gặp khó
khăn gì đối với
học phần nghe?

Các thiết bị âm thanh
kém, thường bị rè,
một phần do tiếng ồn
nên vẫn không thể
nghe được 100%

Nghe nhưng không
hiểu nhiều, do hạn
chế về từ vựng, nên
có thể chỉ nghe được
70%.

Luôn bị cuốn theo từ
vựng, khó khăn để nhận
ra các âm tiết, đôi khi
nghe được cách phát âm
nhưng không viết ra
được.

Bạn có thích kỹ
năng nghe tiếng

Anh không?

Rất thích, tuy nhiên
vẫn gặp rất nhiều khó
khăn

Thích một chút vì kỹ
năng nghe tương đối
khó

Không thích

Ngoài giờ học
nghe trên lớp,
bạn dành bao
nhiêu thời gian
để luyện nghe?

Mỗi ngày đều luyện
tập nghe Tiếng Anh
qua các chương trình
thực tế

Thỉnh thoảng khi
rảnh

Chỉ nghe trên lớp

Bạn thường luyện
nghe từ các

nguồn tài liệu
nào?

Xem phim và các
chương trình thực tế
của nước ngoài trên
YouTube

Nghe các clip ngắn
dạy Tiếng Anh trên
Youtube

Hiếm khi

Bạn có bị ảnh
hưởng bởi các
yếu tố bên ngoài
môi trường khi

Có, hay bị ảnh hưởng
tiếng ồn lúc nghe,

Có, chất lượng file
nghe kém

Hệ thống âm thanh nghe
chưa tốt

12

nghe? ́u tớ gì?

Khi được hỏi về những khó khăn mà các bạn gặp phải đối mặt với môn nghe thì đại
diện 3 nhóm đều có những khó khăn riêng, ví dụ: không nghe hết được từ vựng, không
theo kịp tốc độ nói, số lần nghe ít nên khơng hiểu được hết nội dung. Đa số các khó
khăn này cũng là những khó khăn phở biến đối với nhiều bạn sinh viên khác. Đại diện
nhóm sinh viên giỏi mỗi ngày đều dành thời gian để luyện tập nghe tiếng Anh qua các chương
trình thực tế trên kênh Youtube trong khi đại diện nhóm khá thì thỉnh thoảng có dành thời gian
để luyện nghe bằng cách xem các clip cũng trên Youtube còn đại diện nhóm trung bình thì chỉ
nghe trên lớp. Ngoài ra các bạn cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như: tiếng ồn, chất lượng
âm thanh kém trong quá trình học nghe.
2.3.2

Nội dung bảng hỏi.

Theo cuộc khảo sát 35 sinh viên năm hai, khóa 19 chuyên ngữ tại trường Cao đẳng Kinh tế
Kỹ thuật TP.Hồ Chí Minh có 3 khó khăn chính đối với các bạn khi nghe tiếng Anh liên quan
tới (i) năng lực ngôn ngữ, (ii) kiến thức văn hóa và (iii) chất lượng tài liệu nghe.

13

2.4. Kết quả khảo sát những khó khăn trong việc học kỹ năng nghe ti ếng Anh c ủa
sinh viên chuyên ngữ năm hai trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thu ật Thành ph ố H ồ
Chí Minh.
2.4.1. Khó khăn do năng lực ngôn ngữ:

Khó khăn đầu tiên liên quan đến năng lực ngôn ngữ là vốn từ vựng tiếng Anh của các bạn
sinh viên còn hạn chế. Vì thiếu vốn từ nên các bạn thường mất thời gian suy luận và đoán

nghĩa từ mới để hiểu thông tin vừa nghe được. Do đó, các bạn thường bỏ lỡ các thông tin tiếp
theo. Hạn chế về vốn từ khác nhau giữa 3 nhóm đối tượng sinh viên. Cụ thể, 5 bạn thuộc
nhóm giỏi cho rằng họ tuy cũng thỉnh thoảng gặp phải những từ chuyên ngành hay từ
mới chưa từng nghe, nhưng điều này khơng gây nhiều khó khăn cho các bạn vì khi đã
xác định đây là từ khóa trong bài, các bạn sẽ lập tức áp dụng các chiến lược nghe để suy
luận nhanh ý nghĩa của chúng. Nhóm 10 sinh viên khá cho rằng, họ thường xuyên gặp
phải những từ vựng mới, nhất là những từ ngữ chuyên ngành trong khi nhóm sinh viên
trung bình thì rất thường xuyên gặp phải khó khăn này. Tuy nhiên, nhóm 15 sinh viên
trung bình gặp rắc rối với cả từ vựng thông dụng lẫn những từ vựng chuyên ngành.

Năng lực ngôn ngữ không chỉ thể hiện qua vốn từ mà còn là kỹ năng phát âm và kiến
thức về ngữ pháp. Với 5 sinh viên giỏi, do có nền tảng khá vững về ngữ âm và ngữ nghĩa,
các bạn ít gặp khó khăn trong việc nhận diện âm vị tiếng Anh. Hơi khác với nhóm giỏi là
tình hình của 10 sinh viên thuộc nhóm khá. Các bạn thuộc nhóm này mặc dù có vốn từ
tương đối phong phú nhưng vẫn gặp khó khăn khi nghe vì lỗi phát âm. Nhiều từ đã học,
đã biết nhưng khi nghe họ vẫn nghĩ là từ mới. Sự thiếu hụt về kiến thức ngôn ngữ giải
thích rõ nhất về sự khó khăn trong nghe hiểu của nhóm trung bình. 15 bạn thuộc nhóm
trung bình cho biết, họ thường xun gặp khó khăn khơng nhận diện được âm vị tiếng
Anh. Khiếm khuyết về kiến thức ngữ pháp cũng làm cho việc nghe hiểu của nhóm sinh
viên trung bình gặp nhiều khó khăn.
2.4.2. Khó khăn liên quan đến kiến thức nền:
Sự thiếu hụt về kiến thức văn hóa và kiến thức nền cũng là một trong những thách
thức của các bạn sinh viên trong quá trình nghe hiểu. Vì chương trình học môn Nghe nói 3 tập
trung ở những chủ đề đa dạng như Globalization, Patents, Animal Intelligence…nên do không
được trang bị sẵn những kiến thức nền, việc tiếp thu lĩnh hội kiến thức nghe qua các bài nói
gặp rất nhiều trở ngại. Về nội dung này thì kết quả lại khá tương đồng giữa 3 nhóm khi cả 3
nhóm đều thừa nhận là những nội dung nghe thời học phổ thông khá đơn giản cộng với bản

14

thân chưa được trang bị sẵn kiến thức văn hóa, xa hội, tự nhiên khiến cho họ gặp nhiều khó
khăn để đưa ra phán đoán chính xác trước, trong và sau khi nghe.

2.4.3. Khó khăn liên quan đến tài liệu nghe:

Đề cập tới những khó khăn liên quan đến tài liệu nghe, nổi bật có 4 khó khăn chủ yếu như
sau: đa số các bài nghe trong chương trình Nghe nói đều tương đối dài với thời lượng hơn 5
phút mỗi bài; các bài nghe trong các môn học khác bao gồm giọng đọc rất đa dạng không chỉ
riêng người bản xứ; một số bài nghe có những cấu trúc câu không theo quy tắc văn phạm hay
chứa đựng những từ thông tục, tiếng lóng và cuối cùng là chất lượng các bài nghe đơi khi
khơng được tớt, cịn nhiều tạp âm hay do các thiết bị truyền âm thanh trong lớp học chưa tốt.
Kết quả khảo sát liên quan đến nhóm khó khăn này của 3 nhóm cho ra những kết quả
như sau: về thời lượng nghe dài thì cả 3 nhóm đều gặp khó khăn như nhau. Nếu nhóm
giỏi cảm thấy khó khăn trong việc cố tách từ khóa ra khỏi bài nghe dài và dày đặc từ thì
nhóm khá lại khơng thể lưu trữ q nhiều thơng tin trong trí nhớ ngắn hạn. Nhóm
trung bình thì cảm thấy mệt mỏi và không thể tập trung với thời lượng nghe quá lâu. Sự
đa dạng trong giọng nói cũng gây khó khăn khác nhau cho 3 nhóm sinh viên khi nghe
hiểu. Nhóm giỏi ít gặp khó khăn này khi chỉ có 20% sinh viên trong nhóm gặp phải
trong khi nhóm khá (60%) và nhóm trung bình (80%) thường xuyên phải vất vả để làm
quen với cách nói tiếng Anh của người Pháp, Tây Ban Nha, Úc hay Nhật, Hàn. Với các
tài liệu nghe chứa đựng những cấu trúc câu không theo quy tắc văn phạm hay những từ
thông tục, tiếng lóng thì 10% sinh viên giỏi thỉnh thoảng cảm thấy lạ lẫm cịn nhóm khá
và trung bình thì gần như cảm thấy xa lạ với các số liệu lần lượt là 90% và 100%. Cả 3
nhóm sinh viên bao gồm 80% nhóm giỏi, 80% nhóm khá và 90% nhóm trung bình đều
cho rằng tiếng ồn, chất lượng tài liệu nghe và các thiết bị truyền dẫn âm thanh không tốt
sẽ ảnh hưởng không ít đến việc tiếp thu kiến thức trong quá trình học nghe.

2.4.4. Khảo sát liên quan đến cách học kỹ năng nghe của sinh viên:

Mỗi sinh viên đều có các cách học kỹ năng nghe khác nhau, tùy thuộc vào năng lực ngôn ngữ
và chiến lược nghe của mỗi bạn. Nhìn chung, sinh viên thường áp dụng 3 chiến lược nghe sau

15

(i) chỉ nghe, không ghi gì và cố gắng nhớ; (ii) nghe và ghi lại những từ quan trọng; (iii): nghe
và ghi lại những chi tiết chính bao gồm cả từ khóa và từ thể hiện mối liên kết giữa các ý. Kết
quả khảo sát cho thấy hai nhóm sinh viên giỏi và khá (100%) áp dụng cả hai chiến lược
(ii) và (iii) trong khi nhóm sinh viên trung bình cho biết họ có ý thức nên áp dụng chiến
lược (ii) nhưng khi thực hành thì chỉ có 30% áp dụng chiến lược (ii) còn chủ yếu là chiến
lược (i) với con số là 70%. Thực tế trên phản ánh một điều đa số sinh viên chưa có các áp
dụng chiến lược nghe hiệu quả hay cho dù có chiến lược nghe phù hợp, điều đó chưa đủ để
nói lên được họ thành thục các kỹ năng nghe ý chính, nghe các thông tin cần thiết và ghi tốc
ký. Ngoài ra, chúng ta cũng có thể nhận thấy là về mặt lý thuyết, đa số sinh viên biết rằng
chiến lược nghe thích hợp là nghe từ khóa, nắm bắt ý chính và ghi chép chi tiết có chọn lọc.
Nhưng khi thực hành, họ thường không làm được như vậy. Khi xem phần ghi chép của sinh
viên, có thể nhận thấy rất ít bạn ghi kịp mà thường là bỏ sót nhiều chi tiết, ít viết tắt, ít dùng
ký tự hay biểu tượng.
Chương 3.
3.1

Đề xuất các biện pháp khắc phục khó khăn nhằm cải thiện kỹ năng nghe.

Liên quan đến năng lực ngôn ngữ:

Để nâng cao năng lực ngôn ngữ, cụ thể là kiến thức ngữ âm, ngữ pháp và vốn từ vựng tiếng
Anh, sinh viên cần có kế hoạch cụ thể để rèn luyện.
Đầu tiên là việc thay đổi phương pháp học từ vựng. Cách học từ vựng hiệu quả bắt đầu từ
việc tự tạo hứng thú cho bản thân và bắt đầu học tiếng Anh như một thói quen, dần dần trở

thành một niềm đam mê. Bước tiếp theo là sinh viên cần thay đổi phương pháp học từ vựng từ
thụ động như ghi ra giấy từ mới và ý nghĩa của chúng sang học theo chủ đề và trang bị cho
mình một cuốn sổ ghi từ vựng riêng. Cuốn sổ tay sẽ chia thành các chủ đề từ gần gũi, hàng
ngày như: các hoạt động vui chơi, các loại thức uống…đến các chủ để mang tính nâng
cao như công nghệ, phần mềm…Ngoài ra, sinh viên cần tăng cường thời lượng đọc các
bài viết, tạp chí… bằng tiếng Anh bắt đầu với các chủ đề mà mình đang quan tâm và thích
thú và dần dần mở rộng sang các chủ đề về thời sự, thông tin công nghệ phiên bản tiếng Anh.
Một số nhật báo tiếng Anh hữu ích mà sinh viên có thể tham khảo là:
– The Sun (English): www.thesun.co.uk cung cấp tin tức về các diễn viên, người nổi tiếng, thể
thao, đua xe, tin tức thế giới
– New York Times (American): www.nytimes.com cung cấp các bản tin, các bình luận, quan
điểm của Washington về kinh doanh, thể thao, điện ảnh, du lịch, nghề nghiệp, giáo dục, bất
động sản…

16

– Los Angeles Times (American): www.latimes.com cung cấp tin tức về vùng nam California,
các địa điểm vui chơi, giải trí, phim ảnh, truyền hình, âm nhạc, chính trị, kinh doanh, y tế,
công nghệ, du lịch…
Bên cạnh đó, sinh viên cũng nên tận dụng hiệu quả điện thoại di động của mình hay trang bị
cho mình từ điển điện tử để có thể vừa học cách viết, cách phát âm và các cụm từ thông dụng
đi chung với từ vựng mới. Với kho từ vựng không giới hạn, cùng các cụm từ thông dụng, các
từ đồng nghĩa/trái nghĩa và các ví dụ đi kèm của các từ điển điện tử thì việc tăng vốn từ vựng
tiếng Anh sẽ được hỗ trợ rất nhiều. Để khắc sâu vào trí nhớ, sinh viên cần thường xuyên ôn
tập, luyện tập đặt câu có sử dụng từ vựng mới học, đặt chúng vào những văn cảnh thật gần gũi
như nhật ký để giúp ghi nhớ thật lâu. Người học nên luôn luôn học từ mới theo cụm, không
học các từ đơn lẻ, ví dụ: theo cách học thông thường thì give mang nghĩa cho, tặng. Nhưng
như thế chỉ là cách học một chiều. Mặc khác, khi học cả câu: He gives David an apple
everyday hoặc I usually give my friend a lot of junk food, sẽ học được ngữ pháp một cách tự

nhiên, hình thành được hình ảnh về ngữ cảnh, câu chuyện, học được nhiều từ vựng hơn.
Để rèn luyện kiến thức về ngữ âm và ngữ pháp, sinh viên có thể áp dụng nhiều cách khác
nhau. Bước đầu tiên là người học cần nhận biết được và phát âm thuần thục những phụ âm và
nguyên âm cơ bản vì đây được xem như là nền tảng của việc học phát âm. Sau đó học những
cụm từ có cách phát âm gần giống nhau nhưng nghĩa hoàn toàn khác nhau như:
Angel /’eindʒəl/ (n) = thiên thần
Angle /’æηgl/ (n) = góc (trong hình học)
Dessert /di’zə:t/ (n) = món tráng miệng
Desert /di’zə:t/ (v) = bỏ, bỏ mặc, đào ngũ
Desert /’dezət/ (n) = sa mạc
Later /`leitə/ (adv) = sau đó, rồi thì (thường dùng với động từ thời tương lai)
Latter/’lætə/ (adj) = cái thứ 2, người thứ 2, cái sau, người sau.
Affect /ə’fekt/ (v) = tác động đến
Effect /i’fekt/ (n) = ảnh hưởng, hiệu quả; (v) = thực hiện, đem lại
Emigrant /’emigrənt/ (n) = người di cư
Immigrant /’imigrənt/ (n) = người nhập cư
Elude /i’lu:d/ (v) = tránh khỏi, lảng tránh, vượt ngòai tầm hiểu biết.
Allude /ə’lu:d/ (v) = nói đến ai/cái gì một cách rút gọn hoặc gián tiếp; ám chỉ; nói bóng gió
Complement /’kɔmpliment/ (n) = bổ ngữ
Compliment / ‘kɔmplimənt/ (n) = lời khen ngợi
Tiếng Anh được coi là ngôn ngữ có trọng âm nên khi nói người nói chỉ nhấn mạnh đến từ
mang trọng âm của câu. Do vậy, sinh viên cần luyện phát âm những từ và cụm từ tiếng Anh

17

thường xuyên và dành ra khoảng 15- 30 phút mỗi ngày để luyện tập cách đọc một cụm từ, học
cách ghi nhớ một câu từ đó học cách nói một đoạn, đặc biệt là phải tăng cường lắng nghe
người bản xức đọc từ và câu chứa từ mới trong thực tế.
Sinh viên có thể khắc phục việc vấn đề phát âm khi phân biệt được các từ đồng âm dựa vào

cách phát âm, cách này có thể áp dụng hiệu quả cho các từ có cách phát âm gần giống nhau vì
chúng có trọng âm rơi vào các âm tiết khác nhau, ví dụ: sixteen/sixty hoặc thirteen/thirty và đợ
dài ngắn của các âm là khác nhau, ví dụ: slip/sleep hoặc fit/feet. Dựa vào nghĩa của cả câu và
chức năng của từ đó trong câu, các từ đồng âm được phát âm giống hệt nhau, việc này rất dễ
gây nhầm lẫn cho người nghe, ví dụ: some/sum hoặc I/eye. Người nghe cần phải dựa vào chức
năng của từ đó trong câu, cấu trúc câu được tạo nên bởi từ đó, đặc biệt là ngữ cảnh của câu.
Để giảm sự nhầm lẫn giữa khẳng định và phủ định, cần chú ý đến các tiền tớ và hậu tớ của từ,
ví dụ: im trong impolite hoặc less trong careless. Cần chú ý các trợ động từ, ngữ cảnh và
giọng điệu lời nói.
Một số ảnh hưởng về phát âm trong chuỗi lời nói trong tiếng Anh như: dạng yếu trong cách
phát âm, hiện tượng ńt âm, nới âm hoặc rút gọn, ví dụ: gonna, wanna, dunno, đây là hình
thức rút gọn của going to, want to, don’t know. Sinh viên cần tìm học thật nhiều các ví dụ về
các đặc trưng này. Trên hết, sinh viên cần phải lắng nghe càng nhiều càng tốt, học bằng tai sẽ
giúp sinh viên phản xạ tốt với các hiện tượng này hơn.
Thay đổi cách học nghe và thực hành chiến lược nghe phù hợp:
Để rèn luyện khả năng bắt kịp tốc độ người nói cần nghe hiểu nội dung và nghe lặp đi lặp lại
nhiều lần. Nghe hiểu thì chỉ mới đạt 50%, cần nghe lặp đi lặp lại thật nhiều lần. Thế bao nhiêu
lần mới là đủ? Khi nghe một từ, một câu, một đọan hoặc một bài 5 lần, 10 lần, 15 hay 20 lần
vẫn chưa là đủ, người học vẫn sẽ quên nó sau thời gian ngắn, để nhận ra và có thể sử dụng nó
ngay lập tức cần nghe từ 50 đến 100 lần hoặc nhiều hơn thì càng tốt. Việc nghe nhiều như thế
sẽ giúp tạo phản xạ tự nhiên với nội dung đó. Mỗi ngày nên nghe tiếng Anh ít nhất 2 tiếng,
chia ra nhiều lần trong ngày không nên nghe một lần, vì nếu nghe thời gian dài sẽ gây nên mệt
mòi và giảm hiệu quả. Bước đầu tiên để cải thiện kỹ năng nghe là thực hiện quá trình chỉ
nghe, quá trình này rất quan trọng vì giúp người học quen dần với những âm thanh, âm tiết
trong tiếng Anh. Đa số các chuyên gia khuyên rằng những người học tiếng Anh nên dành 80%
thời gian học để nghe.
Để có thể nhớ và lặp lại được nội dung nghe, người nghe cần nghe thật nhiều lần. Thông
thường ở lớp giáo viên cho nghe khoảng 3 lần. Với những sinh viên đa có kỹ năng nghe tốt,
họ dễ dàng hiểu bài, nhưng không phải sinh viên nào cũng có khả năng hiểu bài sau 3 lần
nghe, vì vậy đòi hỏi các bạn sinh viên cần siêng năng nghe bài trước ở nhà. Thói quen cố gắng

nghe từng từ vựng cũng sẽ khiến người nghe gặp khó khăn, khi nghe một nội dung thì không
cần phải cố gắng nghe hết tất cả từ vựng, cần phải xác định nội dung cần nghe ngay từ đầu.
Thông thường các từ khóa mang ý chính của bài đều được nhấn mạnh hoặc lặp lại bằng các từ
18

đồng nghĩa. Ví dụ: khi nghe 1 đọan “Her husband of 39 years no longer hugs her or shows
her any affection. She have seen him through cancer and diabetes. They have four grown
children and they have been seeing therapist for a year and a half. He kind, generous and
friendly, but there are no compliments or any of the flirtatious banter”, chỉ cần nghe được các
từ in đậm sẽ có thể đóan được nội dung của bài. “ Anh ấy đa thay đổi rồi”.

3.2

Liên quan đến kiến thức nền:

Sinh viên nên lắng nghe các chủ đề đa dạng để quen dần với nó, củng cố thêm kiến thức cũng
như các kỹ năng. Tìm các tài liệu nghe có chứa từ ngữ thơng tục, ví dụ: a bunch of numpties,
look blue, go bananas, buzz off, just for fun, để học hỏi thêm. Khi gặp một tài liệu nghe về chủ
đề mà bản thân không hiểu, sinh viên cần tìm người trao đổi có thể là giảng viên hoặc bạn bè.
Đối với các sinh viên đang yếu kỹ năng nghe, hay chọn những tài liệu có nội dung đơn giản,
dễ hiểu như các cuộc hội thoại thực tế trong cuộc sống hằng ngày, tập nghe thật nhiều lần,
tăng dần cấp độ khó của tài liệu theo thời gian như các bài nghe ở các trang web VOA, BBC
hay các tài liệu có nguồn gốc uy tín như nền tảng Youtube, đừng bắt đầu với tài liệu khó hiểu.
Sinh viên cũng cần tìm các tài liệu nghe với các giọng nói khác nhau để tránh gặp trường hợp
nghe nhưng không hiểu được.
3.3

Liên quan đến tài liệu nghe:

Về tài liệu nghe, sinh viên nên học nghe ở môi trường yên tĩnh, hạn chế tiếng ồn, cần thiết kế
phòng học để giảm sự ảnh hưởng của các âm thanh từ bên ngoài, có thể treo rèm cửa để giảm
tiếng ồn. Nếu nghe cá nhân thì nên đeo tai nghe, nếu nghe tập thể thì cần giữa im lặng và thả
lõng tinh thần, tập trung nghe tốt nội dung, tránh trao đổi khi nghe sẽ ảnh hưởng đến bản thân
và người xung quanh. Các thiết bị như: tai nghe, loa, radio, cassette, nên được đầu tư cải tiến
âm thanh. Các loại băng đĩa, tài liệu nghe nên được đảm bảo chất lượng âm thanh.
PHẦN 3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHI
1.1

Kết luận

Dựa vào kết quả thu được và trong phạm vi kiến thức, nhóm nghiên cứu đưa ra một số kết
luận sau:
Đối với sinh viên khoa ngoại ngữ năm hai trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật TP.Hồ Chí Minh
nói riêng, cũng như sinh viên nói chung nhu cầu học ngoại ngữ là rất lớn. Nhưng khó khăn
khi học tiếng Anh cũng là vấn đề phải đề cập đến. Trong đó, nghe là một kỹ năng khó nhưng
lại quan trọng.

19

Theo như khảo sát, nhóm nghiên cứu nhận thấy các khó khăn khi nghe tiếng Anh xuất phát từ
ba nguyên nhân cơ bản: khó khăn liên quan đến năng lực ngôn ngữ, khó khăn liên quan đến
kiến thức nền và khó khăn liên quan đến tài liệu nghe. Mỗi khó khăn đều có các vấn đề cần
giải quyết.
Khó khăn từ người học gồm: hạn chế vốn từ vựng, hạn chế về kiến thức ngữ âm và ngữ pháp.
Khó khăn từ tài liệu nghe gồm: chủ đề nghe không quen thuộc, bài nghe dài, nhiều từ thông
tục, tài liệu nghe chưa đáng tin cậy, giọng đọc khác nhau, những câu không theo quy tắc văn
phạm.
Khó khăn từ môi trường vật lý gồm: tiếng ồn, băng nghe kém chất lượng, chất lượng thiết bị

nghe chưa tốt.
Đồng thời nhóm nghiên cứu cũng đa đưa ra một số biện pháp như sau:
Để khắc phục khó khăn xuất phát từ hạn chế về năng lực ngôn ngữ, người học nghe cần có ý
thức củng cố kiến thức một cách tổng quát, từ việc cải tiến phương pháp học từ vựng để nâng
cao vốn từ đến việc ôn luyện lại kiến thức ngữ âm và ngữ pháp một cách bài bản.
Liên quan đến khó khăn do tài liệu nghe, sinh viên cần rèn luyện nghe tiếng Anh từ nhiều
nguồn tài liệu khác nhau, mỗi ngày cần thường xuyên lắng nghe để tạo thành phản xạ. Khi
nghe, cũng cần lựa chọn các chủ đề đa dạng về nhiều lĩnh vực trong cuộc sống, chọn tài liệu
nghe chứa các từ thông tục để tránh sự lạ lẫm khi nghe , nghe tài liệu nghe với nhiều giọng
đọc khác nhau. Muốn khắc phục các khó khăn từ môi trường vật lý người nghe cần học nghe
nơi yên tĩnh, đeo tai nghe khi nghe cá nhân, giữ im lặng và không trao đổi khi nghe tập thể,
đảm bảo chất lượng thiết bị nghe, giữ tinh thần thoải mái, vui vẻ và tỉnh táo khi nghe.
Hi vọng những đóng góp của nhóm nghiên cứu sẽ góp phần cải thiện được kỹ năng nghe của
các bạn sinh viên.
1.2

Kiến nghị

Thông qua tìm hiểu và chọn lọc chi tiết từ nhiều nguyên nhân gây khó khăn cho sinh viên
trong quá trình học kỹ năng nghe, bài nghiên cứu đa nêu rõ những khó khăn phổ biến nhất mà
sinh viên gặp phải và đa đề xuất các biện pháp nhằm khắc phục các khó khăn đó.
Mặc dù các phương pháp đưa ra chưa thực sự hoàn hảo và có thể gặp nhiều khó khăn khi rèn
luyện nhưng đa có đóng góp để góp phần cải thiện tốt kỹ năng gnhe cho các bạn sinh viên.

20

Nhóm thực hiện đề tài hi vọng ban giám hiệu nhà trường cùng quý thầy cô tiếp tục xem xét,
đánh giá và nghiên cứu để có thể áp dụng và triển khai vào chương trình nghe của sinh viên
tại trường, tạo thêm điều kiện giúp các bạn sinh viên được cải thiện kỹ năng nghe tiếng Anh.

Bài báo cáo chắc chắn không tránh được các sai sót, mong quý thầy cơ vui lịng bỏ qua và
đóng góp ý kiến.
Xin chân thành cảm ơn!

21

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Website của trường đại học Văn Hóa Hà Nội
Wolvin, A.D. and Coakley, C (1985). Listening. Dubuque.
Efforless English- A.J.Hoge
Field, J (1988). Skills and Strategies: toward a new methodology for listening. Oxford.OUP.
Underwood, M (1989)- Teaching Listening
Nguyễn Bàng và Nguyễn Bá Ngọc (2002) –A Course in TEFL Theory and Practice.
Flowerdew,J and Miller, L. (1996). Student perceptions, problems and strategies in second
language lecture comprehension RELC Journal 23(2)
Higgins,JM.D.(1995) Facilitating listening in second language classrooms through the
manipulation of temporal variables. Unpublished doctoral thesis, University of Kent at
Canterbury.
Rost, M. (1994) Listening. London: Longman
Wenden, A. (1986) What do second language learners know their language learning? A
second look at retrospective account. Applied Linguistics 7 (2).
Yagang, F. (1994) Listening: Problems and solutions. In T.Kral(ed.) Teacher Development :
Making the Right Moves. Washington, DC: English Language Programs Divisions, USIA.
. (theo />(Theo . /> />(Theo />
22

PHỤ LỤC
Phiếu Khảo Sát

Quá trình khảo sát này là một phần trong đề tài nghiên cứu khoa học của chúng tôi nhằm, “
tìm hiểu trực trạng và đề ra giải pháp để nâng cao kỹ năng nghe của sinh viên năm hai chuyên
ngữ tại Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật TP.Hồ Chí Minh”. Mục đích cuối cùng là giúp các
bạn sinh viên có thể cải thiện được kỹ năng nghe tiếng Anh của mình.
Chúng tôi cam kết sẽ giữ bí mật danh tánh cũng như câu trả lời của riêng tất cả các bạn sinh
viên tham gia cuộc khảo sát này. Chúng tôi sẽ gửi kết quả tổng hợp cho các bạn nếu các bạn
có nhu cầu.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các bạn vì đa dành thời gian để làm khảo sát.
Phần 1: thông tin các nhân người tham gia khảo sát:
Họ và tên:………………………………………………………..
Lớp :……………………………………………………………….
Phần 2: nội dung phỏng vấn
Câu 1: Bạn vui lòng cho biết ý kiến với những câu hỏi sau:

Nội dung

Nhóm sinh viên 1

Nhóm sinh viên 2

Nhóm sinh
viên 3

Bạn thấy bản thân
gặp khó khăn gì đối
với học phần nghe?

?

?

?

Bạn có thích kỹ
năng nghe tiếng
Anh không?

?

?

?

23

Ngoài giờ học nghe
trên lớp, bạn dành
bao nhiêu thời gian
để luyện nghe?

?

?

?

Bạn thường xuyên
nghe từ các nguồn
tài liệu nào?

?

?

?

Bạn có bị ảnh
hưởng bởi các yếu
tố bên ngoài môi
trường khi nghe?
Yếu tớ gì?

?

?

?

Câu2: Bạn vui lịng cho biết mức đợ ảnh hưởng của những khó khăn liên quan đến quá trình
học nghe bằng cách tô đen vào ô lựa chọn.
Rất thường xuyên (1)
Thường xuyên (2)
Thỉnh thoảng (3)

Các khó khăn liên
quan đến

Rất thường xuyên

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

(1)

(2)

(3)

Hạn chế vốn từ
vựng

Kỹ năng phát âm
chưa chuẩn

Kiến thức ngữ pháp
chưa tốt

24

Thiếu hụt kiến
thức nền và kiến
thức văn hóa

Thời lượng nghe
dài

Giọng đọc khác

nhau

Câu không theo
quy tắc văn phạm
và chứa nhiều từ
thông tục

Chất lượng tài liệu
nghe chưa tốt

25

Họ tên: NGUYỄN THỊ MINH NHƯHọc vị: SINH VIÊN 19CDTA01Đơn vị: KHOA NGOẠI NGƯThành viên tham gia : NGUYỄN THỊ HOÀNG TRÚCTp. HCM – 2021LỜI MỞ ĐẦUTiếng Anh – một ngôn ngữ quốc tế, một phương tiện giao tiếp giúp con người Việt Nam hộinhập với thế giới. Hiểu được tầm quan trọng của ngôn ngữ này, Bộ giáo dục nước nhà đađưa tiếng Anh vào chương trình giáo dục từ tiểu học, trung học đến cao đẳng, đại học.Nhưng trong quá trình học, ngôn ngữ này vẫn gây nhiều khó khăn cho sinh viên nói chungvà sinh viên khoa Ngoại Ngữ, trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh nóiriêng. Nhận thấy một vấn đề gây khó khăn nhất cho đa số người học tiếng Anh là kỹ năngnghe hiểu, vậy nên nhóm chúng tôi quyết định thực hiện một đề tài “Thực trạng và giảipháp cải thiện kỹ năng nghe sinh viên năm hai chuyên ngữ tại trường Cao đẳng Kinh tế Kỹthuật TP. Hồ Chí Minh”. Đề tài này được thực hiện với mong muốn sẽ có những đóng gópthiết thực vào việc học tiếng Anh cho các bạn sinh viên khoa Ngoại Ngữ của trường, gópphần giúp các bạn trang bị tốt khả năng ngoại ngữ cho bản thân để có thể hội nhập vào cuộcsống và nền kinh tế hiện đại.MỤC LỤCPHẦN 1: TỔNG QUAN……………………………………………………………………………………….31.1 Đặt vấn đề, lý do thực hiện đề tài và tính cấp thiết của đề tài……………………………….31.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước………………………………………….31.3 Mục tiêu nghiên cứu……………………………………………………………………………………….41.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu………………………………………………………………….. 4PHẦN 2: NỘI DUNG ĐỀ TÀI……………………………………………………………………………. 5Chương 1. Cơ sở lý luận………………………………………………………………………………………51.1 Định nghĩa kỹ năng nghe hiểu……………………………………………………………………….. 51.2 Những khó khăn phổ biến trong việc học kỹ năng nghe…………………………………….. 51.3 Yêu cầu của việc học trong quá trình học kỹ năng nghe…………………………………….. 51.4 Phương pháp nghiên cứu……………………………………………………………………………….. 6Chương 2: Thực trạng kỹ năng nghe tiếng Anh của sinh viên năm hai, chuyên ngữ trườngCao đẳng Kinh tế Kỹ thuật TP.Hồ Chí Minh2.1 Khái quát về sinh viên khoa ngoại ngữ……………………………………………………………. 62.2 Chương trình học kỹ năng nghe……………………………………………………………………… 62.3 Nội dung câu hỏi phỏng vấn và bảng hỏi…………………………………………………………. 72.3.1 Câu hỏi phỏng vấn……………………………………………………………………………………… 82.3.2 Nội dung bảng hỏi……………………………………………………………………………………… 92.4 Kết quả khảo sát những khó khăn trong việc học kỹ năng nghe tiếng Anh…………. 112.4.1 Khó khăn liên quan đến kỹ năng ngôn ngữ………………………………………………….. 112.4.2 Khó khăn liên quan đến kiến thức nền…………………………………………………………..152.4.3 Khó khăn liên quan đến tài liệu nghe……………………………………………………………172.4.4 Khảo sát liên quan đến cách học kỹ năng nghe………………………………………………17Chương 3. Đề xuất các biện pháp khắc phục khó khăn nhằm cải thiện kỹ năng nghe….191.1 Kết luận……………………………………………………………………………………………………….221.2 Kiến nghị…………………………………………………………………………………………………….22THAM KHẢO…………………………………………………………………………………………………..24PHẦN 1: TỔNG QUAN1.1Đặt vấn đề, lý do thực hiện đề tài và tính cấp thiết của đề tàiTrong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước, con người Việt Nam muốn vươnlên tầm cao của trí tuệ thì tiếng Anh là một ngoại ngữ không thể thiếu. Đối với sinh viên ViệtNam nói chung trong quá trình học tiếng Anh, người học luôn gặp phải những khó khăn liênquan đến bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, đặc biệt là kỹ năng nghe. Có nhiều nguyên nhânlàm người học nhận thấy khó khăn khi học nghe, một trong những nguyên nhân cơ bản là kỹnăng nghe thường không được chú trọng trong quá trình học tiếng Anh từ nhỏ cho đến khivào trường cao đẳng hoặc đại học đối với sinh viên chuyên ngữ. Các sinh viên năm thứ haichuyên ngành tiếng Anh ở trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật TP.HCM cũng gặp nhiều khókhăn trong việc học nghe dẫn đến điểm số không cao và kỹ năng nghe không tốt. Qua khảosát cũng như qua thống kê điểm tổng kết học phần, các bài kiểm tra kỹ năng nghe tiếng anhgiữa kì và cuối kì thường thấp hơn điểm của các kỹ năng nói, đọc và viết. Chính vì lẽ đó,nghiên cứu này được thực hiện với mục đích tìm hiểu những khó khăn trong quá trình học kỹnăng nghe của sinh viên năm hai trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật TP.HCM, qua đó đề xuấtmột vài giải pháp nhằm nâng cao kỹ năng của các bạn sinh viên.1.2Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nướcTình hình ngoài nước:Trong những thập niên gần đây, kỹ năng nghe hiểu ngày càng thu hút nhiều sự chú ý của cácnhà nghiên cứu trong dạy, học ngoại ngữ nói chung và học tiếng Anh như một ngoại ngữ(EFL) nói riêng. Rất nhiều học giả cho rằng bước quan trọng nhất để bắt đầu học tập mộtngôn ngữ khác ngoài tiếng mẹ để là cố gắng để nghe được ngôn ngữ đó. Rubin & Thompson(1994) đa khẳng định: “Kỹ năng nghe rất có thể là kỹ năng ngôn ngữ quan trọng nhất, bởi vìcon người giành khoảng 60% thời gian của mình để nghe…Thêm vào đó, kỹ năng nghe manglại cho bạn cơ hội cảm nhận được ngôn ngữ và nâng cao toàn diện khả năng sử dụng ngônngữ.” Rost (1994) cũng nhấn mạnh rằng Nghe có thể được xem như một kỹ năng cần thiếttrong quá trình đào tạo một người học ngoại ngữ và thậm chí còn có thể được coi như mộtcông cụ dự đoán khả năng thành công về ngôn ngữ của người học. Tuy nhiên, thực tế lại chothấy kỹ năng nghe lại là kỹ năng gây nhiều khó khăn nhất cho người học tiếng Anh như ngônngữ thứ hai (ESL) hay tiếng Anh như ngôn ngữ nước ngoài (EFL). Xuất phát từ thực tế trên,một số tác giả đa thực hiện những nghiên cứu nhằm nâng cao kỹ năng nghe hiểu tiếng Anhcủa sinh viên ESL và EFL như nghiên cứu của Kretsai Woottipong (2014) đ ế n t ừtr ườ ng đ ạ i h ọ c Thaksin University, Thailand và nghiên c ứu c ủa NormahYusof (2012) đ ế n t ừ Đ ạ i h ọ c Sultan Zainal Abidin, Malaysia. KretsaiWoottipong đã th ự c hi ệ n nghiên c ứ u trên 41 sinh viên chuyên ng ữ nămNh ấ t trong h ọ c kỳ hai 2012 t ạ i tr ườ ng Đ ạ i h ọ c Thaksin, Thailand nh ằmm ụ c đích tìm hi ể u thái đ ộ c ủ a sinh viên và hi ệ u qu ả c ủa vi ệc áp d ụngcác tài li ệ u video trong gi ả ng d ạ y kỹ năng nghe đ ối v ớ i nhóm 41 sinhviên này. K ế t qu ả cho th ấ y kh ả năng nghe hi ể u c ủ a sinh viên đ ượ c c ảithi ệ n đáng k ể và sinh viên có thái đ ộ tích c ự c đ ố i v ớ i vi ệc s ử d ụng cácbài gi ả ng video trong gi ờ h ọ c kỹ năng nghe. T ạ i Malaysia, Normah Yusof(2012) cũng đã ki ể m tra tính hi ệ u qu ả c ủ a vi ệ c s ử dung các ph ần m ềm trênmáy tính đ ể gi ả ng d ạ y kỹ năng nghe cho 80 sinh viên tham gia vào khóa h ọcti ế ng Anh chuyên sâu t ạ i tr ườ ng đ ạ i h ọ c Sultan Zainal Abidin, Malaysia. K ếtqu ả cũng đ ư a ra nh ữ ng s ố li ệ u r ấ t l ạ c quan khi đi ể m s ố c ủa sinh viên tăngcao khi s ử d ụ ng các ứ ng d ụ ng máy tính vào ph ầ n đ ầ u c ủa bu ổi d ạy h ọc vàvi ệ c áp d ụ ng trên là hoàn toàn hi ệ u qu ả trong vi ệ c gi ả ng d ạy kỹ năng nghecho sinh viên.Tình hình trong nước:Tác giả Kiều Thị Thu Hương (2014) đã thực hiện nghiên cứu “Nâng cao kỹ năng nghehiểu tiếng Anh chuyên ngành quan hệ quốc tế cho cán bộ đối ngoại.” nhằm mục đích tìmhiểu hiện trạng kỹ năng nghe hiểu tiếng Anh chuyên ngành Quan hệ Quốc tế của cán bộđối ngoại, phát hiện những nguyên nhân gây khó khăn cho việc học nghe và đề xuất một sốgiải pháp khắc phục. Qua phân tích số liệu thu được từ bảng khảo sát và câu hỏi phỏng vấnđối với 100 cán bộ đối ngoại đang công tác tại Bộ Ngoại giao, tuổi từ 28 đến 53 và 5 giảngviên, tác giả Thu Hương đa đề xuất một số giải pháp như (i) Người học quyết tâm, (ii) Giảngviên hỗ trợ, (iii) Cải thiện cơ sở vật chất, và (iv) Phát triển tài liệu mới để nâng cao kỹ năngnghe hiểu của nhóm cán bộ này.Tương tự là bài nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Ánh (2016) khi đi sâu vào việc phântích những khó khăn chủ yếu khi học tiếng Anh của đối tượng sinh viên năm hai chuyênngành tiếng Anh sư phạm tại trường Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn và đưa ra một số giảipháp để giúp nâng cao kỹ năng nghe hiểu của sinh viên. Tác giả Ngọc Ánh nhận địnhkhó khăn lớn nhất đối với sinh viên khi học kỹ năng nghe ở nhà nhà là việc thiếuđộng lực học tập và sinh viên cũng không đầu tư nhiều thời gian cho việc h ọcnghe. Chính vì vậy việc nâng cao nhận thức về vai trò quan trọng của kỹ năngNghe trong học tập và trong giao tiếp cần được giáo viên nhấn m ạnh. Ngoài raviệc thay đổi cơ chế, chính sách, ra đề, chấm thi, đa dạng nguồn nghe trong khi ra đề thinghe cũng là một điều cần thiết để sinh viên tích cực, chủ động hơn trong học nghe.Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho thấy để học nghe hiệu quả thì phương pháp tối ưuđó là tăng cường thời gian học tập và duy trì thời gian học một cách đều đặn vàcó khoa học.1.3Mục tiêu nghiên cứuBài nghiên cứu của chúng em nhằm mục đích: khảo sát thực trạng kỹ năng nghe của sinh viênnăm hai chuyên ngữ tại trường, tìm ra những khó khăn phổ biến nhất, đề xuất một số biệnpháp khắc phục khó khăn và nâng cao kỹ năng nghe hiểu của sinh viên.1.4Đối tượng và phạm vi nghiên cứuĐối tượng của nghiên cứu này là thực trạng kỹ năng nghe của sinh viên chuyên ngữ năm haitại Hotec và những khó khăn chủ yếu nhất. Trên cơ sở đó một số phương pháp nhằm nâng caokỹ năng nghe cho sinh viên chuyên ngữ sẽ được đề xuất.Khách thể nghiên cứu bao gồm 30 sinh viên hệ chính quy năm hai chuyên ngành tiếng Anhthương mại tại trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thành phớ Hờ Chí Minh.PHẦN 2: NỢI DUNG ĐỀ TÀIChương 1. Cơ sở lý luận1.1Định nghĩa kỹ năng nghe hiểuTheo Field (1998:38) “ nghe là một quá trình trí tuệ không nhìn thấy được, do đó rất khó môtả. Người nghe phải phân biệt được các âm, hiểu được từ vựng và cấu trúc ngữ pháp, nắmđược trọng âm và ý định của người nói, có thể nhớ và hiểu nó trong ngữ cảnh văn hóa xa hộicủa phát ngôn.”Hay theo Wolvin và Coakley (1985): “ nghe là quá trình cơ quan thính giác tiếp nhận, xử lývà xác định thông điệp của lời nói”.Từ các định nghĩa trên ta thấy nghe là quá trình giải quyết vấn đề khá phức tạp, nhiệm vụ củangười nghe không chỉ là tiếp nhận thơng tin mà cịn phải phân tích thơng điệp lời nói, nó địihỏi phải có sự rèn lụn trong thời gian dài.1.2Những khó khăn phở biến trong việc học kỹ năng ngheTheo Ur, P.(1996) người nghe thường gặp các khó khăn như: không nhận ra các âm mà ngườibản xứ nói, có thói quen phải hiểu hết các từ trong câu mới hiểu được nội dung của bài, cầnphải nghe nhiều lần mới có thể hiểu được, nếu phải nghe kéo dài thì người nghe sẽ rất mệtmỏi và thiếu tập trung, thấy khó có thể nắm bắt tất cả những thông tin và dự đoán điều màngười nói sắp nói. Theo Yagang (1994) những vấn đề liên quan đến kỹ năng nghe bao gồm:thông điệp, người nói, người nghe, môi trường vật lý.Hay theo Underwood (1989) các khó khăn thường gặp khi nghe là: không theo kịp tốc độngười nói, hạn chế vốn từ vựng, không thể nhớ tất cả những thông tin nghe được, không nắmbắt được thông tin chính, không thể tập trung, không thể nhắc lại được thông tin, không hìnhthành được thói quen nghe.Khi đề cập đến các khó khăn khi nghe tiếng Anh hai nhà giáo học pháp ngoại ngữ là NguyễnBàng và Nguyễn Bá Ngọc cũng liệt kê ra các khó khăn: gặp khó khăn với các âm tiếng Anh,phải hiểu hết các từ, không hiểu được rằng người Anh nói một các tự nhiên, thấy khó có thểtheo kịp tốc độ người nói, cần nghe đi nghe lại nhiều lần, mệt mỏi và thất vọng.Theo tác giả Kiều Thị Thu Hương (2014), có 2 nhóm lớn các yếu tố gây cản trở việc học nghetiếng Anh chuyên ngành của cán bộ đối ngoại. Nhóm các nguyên nhân chủ quan bao gồmnăm nhóm nhỏ là (i) Kiến thức ngôn ngữ, (ii) Chiến lược nghe, (iii) Kiến thức nền và kiếnthức văn hóa, (iv) Tâm lý và sức khỏe và (v) Người học. Nhóm các nguyên nhân khách quanbao gồm (i) Chất lượng bản tin, (ii) Cơ sở vật chất, (iii) Giảng viên và (iv) Tài liệu học.Gần gũi hơn là bài nghiên cứu khoa học của nhóm sinh viên chuyên ngữ trường Cao đẳngKinh tế Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, chủ nhiệm đề tài là sinh viên Nguyễn Thị Huyền(2014) với đề tài tương tự là: “Khảo sát những khó khăn trong quá trình học kỹ năng nghe vàđề xuất các biện pháp khắc phục cho sinh viên năm hai chuyên ngữ tại trường cao đẳng kinhtế kỹ thuật tp. hồ chí minh.” Sinh viên Nguyễn Thị Huyền đa xác định 3 khó khăn chính khihọc nghe của sinh viên chuyên ngữ là: khó khăn từ người học; khó khăn từ tài liệu nghe vàkhó khăn từ môi trường vật lý.1.3Các yếu tố ảnh hưởng đến việc học kỹ năng ngheRubin (2001) chỉ ra năm yếu tố có thể ảnh hưởng đến nghe hiểu. Đó là (i) Đặc điểm của bàinghe như tốc độ nói, chỗ dừng, trọng âm và vần điệu, sự khác biệt giữa ngôn ngữ thứ nhất vàngôn ngữ thứ hai v.v… (ii) Đặc điểm người đối thoại như giới tính và độ thành thạo ngônngữ; (iii) Đặc điểm bài tập như loại bài tập; (iv) Đặc điểm người nghe như độ thành thạongôn ngữ, trí nhớ, sự tập trung, tuổi, giới tính, khả năng sử dụng ngôn ngữ thứ nhất, kiến thứcnền và (v) Đặc điểm của xử lý thông tin nghe như việc dùng các quá trình trên xuống, dướilên, xử lý song song, các chiến lược nghe v.v…Theo Hasan (2000), người học đôi khi không ý thức được việc họ sai lầm trong nhận địnhnguyên nhân các vấn đề họ gặp. Họ thường (i) sử dụng các chiến lược nghe kém hiệu quả và(ii) cố gắng nghe và cố hiểu từng từ, từng chi tiết của văn bản. Việc cố gằng nghe và cố hiểutừng từ trong bài nghe là sai lầm, vì ngay cả người bản ngữ cũng không nghe theo cách này.Người nghe tớt thường chỉ nghe từ khóa để hiểu ý chính của thông điệp nghe và luôn cố gắngđoán nghĩa của từ mới trong văn cảnh của bài nghe.Rubin (2001) lại khẳng định rằng mức độ thành thục ngôn ngữ là một nhân tố quan trọng ảnhhưởng đến việc nghe tiếng Anh là ngoại ngữ. Những học viên có trình độ tiếng Anh cao, vớinhiều kiến thức ngôn ngữ hơn thường hiểu bài nghe tốt hơn những sinh viên có mức độ thànhthực ngôn ngữ thấp và ít kiến thức ngôn ngữ.Khi bàn đến các chiến lược mà người nghe sử dụng để hiểu thông điệp trong giao tiếp,Harmer () xác định các kỹ năng vi mô bao gồm (i) kỹ năng dự đốn, (ii) chắt lọc các thơngtin cụ thể, (iii) hình dung bức tranh tồn cảnh (iv) chắt lọc các thông tin chi tiết, (v) nhậndạng các chức năng và diễn ngôn, và (vi) suy luận nghĩa từ văn cảnh. Harmer cũng cho rằngngười nghe có hiệu quả là người có khả năng áp dụng tất các các chiến lược phù hợp cùnglúc. Ông khuyên người học nên khai thác và sử dụng triệt để những chiến lược nghe kể trên,vì thành công của người nghe trong việc hiểu nội dung của những gì họ nghe thấy, phụ thuộcrất nhiều vào sự thành thạo của họ trong sử dụng các kỹ năng vi mô này.Tóm lại, có nhiều yếu tố cũng như nhiều chiến lược trong việc học kỹ năng nghe tiếng Anh.Người dạy và người học cần chủ động tìm hiểu, lựa chọn những phương pháp, chiến lược phùhợp và áp dụng cho từng bài nghe nhằm mục tiêu cuối cùng là hiểu đúng thông điệp củangười nói và có phản hồi phù hợp với thông điệp đó.1.4Phương pháp nghiên cứuDựa trên kết quả điểm số của môn Nghe ở ba nhóm sinh viên: Giỏi, khá, và trung bình,Phương pháp định lượng và định tính được sử dụng để tìm kiếm, thu thập, chọn lọc, phân tíchvà tổng hợp số liệu.Chương 2: Thực trạng kỹ năng nghe tiếng Anh của sinh viên năm hai, chuyên ngữtrường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật TP.Hồ Chí Minh2.1Khái quát về sinh viên khoa ngoại ngữSinh viên khoa Ngoại Ngữ được chia làm 2 lớp trong học kỳ đầu tiên, những học kỳ tiếp theosinh viên được tự do đăng ký theo tín chỉ. Sỉ số mỗi lớp từ 15-20 sinh viên. Sinh viên đến từcác tỉnh khác nhau chủ yếu là miền Tây và miền Trung vì thế giọng đọc của sinh viên có khácnhau, trình độ giữa các sinh viên cũng khác nhau.2.2Chương trình học kỹ năng ngheUnitListening skillPronunciation skillSpeaking skillLife eventsUsing thought groupsExpressing interest inideas you hearIdentityBeyond the ID cardThe invention of ArthurPedrickWeak form of thatGiving examplesDisagreeingGiving reasonsUsing intonation toexpress feeling andattitudesChanging the topic andreturning to itSyllable stress andmeaningInterrupting politelyDesignPatents for livingcreaturesCatching lies in thebrainThoughtAnimal intelligenceThe discovery of fireFireForest fires: friendorfoe?Globalization in historyMovementUrbanization10Peer pressurePressureEarthquakesFear of public speakingFearPhobiasA travel storyStoriesElements of a plotBottled waterWaterAn experiment with dryice10Hard sell/soft sellPersuasionA debate: paperIntonation inconditional sentencesExplaining somethingyou don’t know thewordSentences stressManaging questionsEmphatic stressBeing an effectivepublic speakerStress in word withsuffixesUsing and referring tovisual aidsLinking of sameconsonants soundsRefuting an argumentvs.electronic dictionaries2.3Thực trạng kỹ năng nghe của sinh viên chuyên ngữ năm hai trường Cao đẳngKinh tế Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh11Để khảo sát thực trạng kỹ năng nghe của sinh viên chuyên ngữ năm hai trường Cao đẳngKinh tế Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, nhóm nghiên cứu sử dụng câu hỏi phỏng vấn vàbảng khảo sát được xây dựng dựa trên nghiên cứu của tác giả Kiều Thị Thu Hương (2014) vàsinh viên Nguyễn Thị Huyền (2014).2.3.1Nội dung câu hỏi phỏng vấnĐây là bảng câu hỏi khảo sát được thực hiện thơng qua c̣c trị chụn thân mật với 3 bạnsinh viên, đại diện cho 3 nhóm sinh viên gồm 5 sinh viên có điểm trung bình môn nghe trên8.0 (giỏi), 10 sinh viên khá và 15 sinh viên trung bình.Nội dungSinh viên 1Sinh viên 2Sinh viên 3Bạn thấy bảnthân gặp khókhăn gì đối vớihọc phần nghe?Các thiết bị âm thanhkém, thường bị rè,một phần do tiếng ồnnên vẫn không thểnghe được 100%Nghe nhưng khônghiểu nhiều, do hạnchế về từ vựng, nêncó thể chỉ nghe được70%.Luôn bị cuốn theo từvựng, khó khăn để nhậnra các âm tiết, đôi khinghe được cách phát âmnhưng không viết rađược.Bạn có thích kỹnăng nghe tiếngAnh không?Rất thích, tuy nhiênvẫn gặp rất nhiều khókhănThích một chút vì kỹnăng nghe tương đốikhóKhông thíchNgoài giờ họcnghe trên lớp,bạn dành baonhiêu thời gianđể luyện nghe?Mỗi ngày đều luyệntập nghe Tiếng Anhqua các chương trìnhthực tếThỉnh thoảng khirảnhChỉ nghe trên lớpBạn thường luyệnnghe từ cácnguồn tài liệunào?Xem phim và cácchương trình thực tếcủa nước ngoài trênYouTubeNghe các clip ngắndạy Tiếng Anh trênYoutubeHiếm khiBạn có bị ảnhhưởng bởi cácyếu tố bên ngoàimôi trường khiCó, hay bị ảnh hưởngtiếng ồn lúc nghe,Có, chất lượng filenghe kémHệ thống âm thanh nghechưa tốt12nghe? ́u tớ gì?Khi được hỏi về những khó khăn mà các bạn gặp phải đối mặt với môn nghe thì đạidiện 3 nhóm đều có những khó khăn riêng, ví dụ: không nghe hết được từ vựng, khôngtheo kịp tốc độ nói, số lần nghe ít nên khơng hiểu được hết nội dung. Đa số các khókhăn này cũng là những khó khăn phở biến đối với nhiều bạn sinh viên khác. Đại diệnnhóm sinh viên giỏi mỗi ngày đều dành thời gian để luyện tập nghe tiếng Anh qua các chươngtrình thực tế trên kênh Youtube trong khi đại diện nhóm khá thì thỉnh thoảng có dành thời gianđể luyện nghe bằng cách xem các clip cũng trên Youtube còn đại diện nhóm trung bình thì chỉnghe trên lớp. Ngoài ra các bạn cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như: tiếng ồn, chất lượngâm thanh kém trong quá trình học nghe.2.3.2Nội dung bảng hỏi.Theo cuộc khảo sát 35 sinh viên năm hai, khóa 19 chuyên ngữ tại trường Cao đẳng Kinh tếKỹ thuật TP.Hồ Chí Minh có 3 khó khăn chính đối với các bạn khi nghe tiếng Anh liên quantới (i) năng lực ngôn ngữ, (ii) kiến thức văn hóa và (iii) chất lượng tài liệu nghe.132.4. Kết quả khảo sát những khó khăn trong việc học kỹ năng nghe ti ếng Anh c ủasinh viên chuyên ngữ năm hai trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thu ật Thành ph ố H ồChí Minh.2.4.1. Khó khăn do năng lực ngôn ngữ:Khó khăn đầu tiên liên quan đến năng lực ngôn ngữ là vốn từ vựng tiếng Anh của các bạnsinh viên còn hạn chế. Vì thiếu vốn từ nên các bạn thường mất thời gian suy luận và đoánnghĩa từ mới để hiểu thông tin vừa nghe được. Do đó, các bạn thường bỏ lỡ các thông tin tiếptheo. Hạn chế về vốn từ khác nhau giữa 3 nhóm đối tượng sinh viên. Cụ thể, 5 bạn thuộcnhóm giỏi cho rằng họ tuy cũng thỉnh thoảng gặp phải những từ chuyên ngành hay từmới chưa từng nghe, nhưng điều này khơng gây nhiều khó khăn cho các bạn vì khi đãxác định đây là từ khóa trong bài, các bạn sẽ lập tức áp dụng các chiến lược nghe để suyluận nhanh ý nghĩa của chúng. Nhóm 10 sinh viên khá cho rằng, họ thường xuyên gặpphải những từ vựng mới, nhất là những từ ngữ chuyên ngành trong khi nhóm sinh viêntrung bình thì rất thường xuyên gặp phải khó khăn này. Tuy nhiên, nhóm 15 sinh viêntrung bình gặp rắc rối với cả từ vựng thông dụng lẫn những từ vựng chuyên ngành.Năng lực ngôn ngữ không chỉ thể hiện qua vốn từ mà còn là kỹ năng phát âm và kiếnthức về ngữ pháp. Với 5 sinh viên giỏi, do có nền tảng khá vững về ngữ âm và ngữ nghĩa,các bạn ít gặp khó khăn trong việc nhận diện âm vị tiếng Anh. Hơi khác với nhóm giỏi làtình hình của 10 sinh viên thuộc nhóm khá. Các bạn thuộc nhóm này mặc dù có vốn từtương đối phong phú nhưng vẫn gặp khó khăn khi nghe vì lỗi phát âm. Nhiều từ đã học,đã biết nhưng khi nghe họ vẫn nghĩ là từ mới. Sự thiếu hụt về kiến thức ngôn ngữ giảithích rõ nhất về sự khó khăn trong nghe hiểu của nhóm trung bình. 15 bạn thuộc nhómtrung bình cho biết, họ thường xun gặp khó khăn khơng nhận diện được âm vị tiếngAnh. Khiếm khuyết về kiến thức ngữ pháp cũng làm cho việc nghe hiểu của nhóm sinhviên trung bình gặp nhiều khó khăn.2.4.2. Khó khăn liên quan đến kiến thức nền:Sự thiếu hụt về kiến thức văn hóa và kiến thức nền cũng là một trong những tháchthức của các bạn sinh viên trong quá trình nghe hiểu. Vì chương trình học môn Nghe nói 3 tậptrung ở những chủ đề đa dạng như Globalization, Patents, Animal Intelligence…nên do khôngđược trang bị sẵn những kiến thức nền, việc tiếp thu lĩnh hội kiến thức nghe qua các bài nóigặp rất nhiều trở ngại. Về nội dung này thì kết quả lại khá tương đồng giữa 3 nhóm khi cả 3nhóm đều thừa nhận là những nội dung nghe thời học phổ thông khá đơn giản cộng với bản14thân chưa được trang bị sẵn kiến thức văn hóa, xa hội, tự nhiên khiến cho họ gặp nhiều khókhăn để đưa ra phán đoán chính xác trước, trong và sau khi nghe.2.4.3. Khó khăn liên quan đến tài liệu nghe:Đề cập tới những khó khăn liên quan đến tài liệu nghe, nổi bật có 4 khó khăn chủ yếu nhưsau: đa số các bài nghe trong chương trình Nghe nói đều tương đối dài với thời lượng hơn 5phút mỗi bài; các bài nghe trong các môn học khác bao gồm giọng đọc rất đa dạng không chỉriêng người bản xứ; một số bài nghe có những cấu trúc câu không theo quy tắc văn phạm haychứa đựng những từ thông tục, tiếng lóng và cuối cùng là chất lượng các bài nghe đơi khikhơng được tớt, cịn nhiều tạp âm hay do các thiết bị truyền âm thanh trong lớp học chưa tốt.Kết quả khảo sát liên quan đến nhóm khó khăn này của 3 nhóm cho ra những kết quảnhư sau: về thời lượng nghe dài thì cả 3 nhóm đều gặp khó khăn như nhau. Nếu nhómgiỏi cảm thấy khó khăn trong việc cố tách từ khóa ra khỏi bài nghe dài và dày đặc từ thìnhóm khá lại khơng thể lưu trữ q nhiều thơng tin trong trí nhớ ngắn hạn. Nhómtrung bình thì cảm thấy mệt mỏi và không thể tập trung với thời lượng nghe quá lâu. Sựđa dạng trong giọng nói cũng gây khó khăn khác nhau cho 3 nhóm sinh viên khi nghehiểu. Nhóm giỏi ít gặp khó khăn này khi chỉ có 20% sinh viên trong nhóm gặp phảitrong khi nhóm khá (60%) và nhóm trung bình (80%) thường xuyên phải vất vả để làmquen với cách nói tiếng Anh của người Pháp, Tây Ban Nha, Úc hay Nhật, Hàn. Với cáctài liệu nghe chứa đựng những cấu trúc câu không theo quy tắc văn phạm hay những từthông tục, tiếng lóng thì 10% sinh viên giỏi thỉnh thoảng cảm thấy lạ lẫm cịn nhóm khávà trung bình thì gần như cảm thấy xa lạ với các số liệu lần lượt là 90% và 100%. Cả 3nhóm sinh viên bao gồm 80% nhóm giỏi, 80% nhóm khá và 90% nhóm trung bình đềucho rằng tiếng ồn, chất lượng tài liệu nghe và các thiết bị truyền dẫn âm thanh không tốtsẽ ảnh hưởng không ít đến việc tiếp thu kiến thức trong quá trình học nghe.2.4.4. Khảo sát liên quan đến cách học kỹ năng nghe của sinh viên:Mỗi sinh viên đều có các cách học kỹ năng nghe khác nhau, tùy thuộc vào năng lực ngôn ngữvà chiến lược nghe của mỗi bạn. Nhìn chung, sinh viên thường áp dụng 3 chiến lược nghe sau15(i) chỉ nghe, không ghi gì và cố gắng nhớ; (ii) nghe và ghi lại những từ quan trọng; (iii): nghevà ghi lại những chi tiết chính bao gồm cả từ khóa và từ thể hiện mối liên kết giữa các ý. Kếtquả khảo sát cho thấy hai nhóm sinh viên giỏi và khá (100%) áp dụng cả hai chiến lược(ii) và (iii) trong khi nhóm sinh viên trung bình cho biết họ có ý thức nên áp dụng chiếnlược (ii) nhưng khi thực hành thì chỉ có 30% áp dụng chiến lược (ii) còn chủ yếu là chiếnlược (i) với con số là 70%. Thực tế trên phản ánh một điều đa số sinh viên chưa có các ápdụng chiến lược nghe hiệu quả hay cho dù có chiến lược nghe phù hợp, điều đó chưa đủ đểnói lên được họ thành thục các kỹ năng nghe ý chính, nghe các thông tin cần thiết và ghi tốcký. Ngoài ra, chúng ta cũng có thể nhận thấy là về mặt lý thuyết, đa số sinh viên biết rằngchiến lược nghe thích hợp là nghe từ khóa, nắm bắt ý chính và ghi chép chi tiết có chọn lọc.Nhưng khi thực hành, họ thường không làm được như vậy. Khi xem phần ghi chép của sinhviên, có thể nhận thấy rất ít bạn ghi kịp mà thường là bỏ sót nhiều chi tiết, ít viết tắt, ít dùngký tự hay biểu tượng.Chương 3.3.1Đề xuất các biện pháp khắc phục khó khăn nhằm cải thiện kỹ năng nghe.Liên quan đến năng lực ngôn ngữ:Để nâng cao năng lực ngôn ngữ, cụ thể là kiến thức ngữ âm, ngữ pháp và vốn từ vựng tiếngAnh, sinh viên cần có kế hoạch cụ thể để rèn luyện.Đầu tiên là việc thay đổi phương pháp học từ vựng. Cách học từ vựng hiệu quả bắt đầu từviệc tự tạo hứng thú cho bản thân và bắt đầu học tiếng Anh như một thói quen, dần dần trởthành một niềm đam mê. Bước tiếp theo là sinh viên cần thay đổi phương pháp học từ vựng từthụ động như ghi ra giấy từ mới và ý nghĩa của chúng sang học theo chủ đề và trang bị chomình một cuốn sổ ghi từ vựng riêng. Cuốn sổ tay sẽ chia thành các chủ đề từ gần gũi, hàngngày như: các hoạt động vui chơi, các loại thức uống…đến các chủ để mang tính nângcao như công nghệ, phần mềm…Ngoài ra, sinh viên cần tăng cường thời lượng đọc cácbài viết, tạp chí… bằng tiếng Anh bắt đầu với các chủ đề mà mình đang quan tâm và thíchthú và dần dần mở rộng sang các chủ đề về thời sự, thông tin công nghệ phiên bản tiếng Anh.Một số nhật báo tiếng Anh hữu ích mà sinh viên có thể tham khảo là:- The Sun (English): www.thesun.co.uk cung cấp tin tức về các diễn viên, người nổi tiếng, thểthao, đua xe, tin tức thế giới- New York Times (American): www.nytimes.com cung cấp các bản tin, các bình luận, quanđiểm của Washington về kinh doanh, thể thao, điện ảnh, du lịch, nghề nghiệp, giáo dục, bấtđộng sản…16- Los Angeles Times (American): www.latimes.com cung cấp tin tức về vùng nam California,các địa điểm vui chơi, giải trí, phim ảnh, truyền hình, âm nhạc, chính trị, kinh doanh, y tế,công nghệ, du lịch…Bên cạnh đó, sinh viên cũng nên tận dụng hiệu quả điện thoại di động của mình hay trang bịcho mình từ điển điện tử để có thể vừa học cách viết, cách phát âm và các cụm từ thông dụngđi chung với từ vựng mới. Với kho từ vựng không giới hạn, cùng các cụm từ thông dụng, cáctừ đồng nghĩa/trái nghĩa và các ví dụ đi kèm của các từ điển điện tử thì việc tăng vốn từ vựngtiếng Anh sẽ được hỗ trợ rất nhiều. Để khắc sâu vào trí nhớ, sinh viên cần thường xuyên ôntập, luyện tập đặt câu có sử dụng từ vựng mới học, đặt chúng vào những văn cảnh thật gần gũinhư nhật ký để giúp ghi nhớ thật lâu. Người học nên luôn luôn học từ mới theo cụm, khônghọc các từ đơn lẻ, ví dụ: theo cách học thông thường thì give mang nghĩa cho, tặng. Nhưngnhư thế chỉ là cách học một chiều. Mặc khác, khi học cả câu: He gives David an appleeveryday hoặc I usually give my friend a lot of junk food, sẽ học được ngữ pháp một cách tựnhiên, hình thành được hình ảnh về ngữ cảnh, câu chuyện, học được nhiều từ vựng hơn.Để rèn luyện kiến thức về ngữ âm và ngữ pháp, sinh viên có thể áp dụng nhiều cách khácnhau. Bước đầu tiên là người học cần nhận biết được và phát âm thuần thục những phụ âm vànguyên âm cơ bản vì đây được xem như là nền tảng của việc học phát âm. Sau đó học nhữngcụm từ có cách phát âm gần giống nhau nhưng nghĩa hoàn toàn khác nhau như:Angel /’eindʒəl/ (n) = thiên thầnAngle /’æηgl/ (n) = góc (trong hình học)Dessert /di’zə:t/ (n) = món tráng miệngDesert /di’zə:t/ (v) = bỏ, bỏ mặc, đào ngũDesert /’dezət/ (n) = sa mạcLater /`leitə/ (adv) = sau đó, rồi thì (thường dùng với động từ thời tương lai)Latter/’lætə/ (adj) = cái thứ 2, người thứ 2, cái sau, người sau.Affect /ə’fekt/ (v) = tác động đếnEffect /i’fekt/ (n) = ảnh hưởng, hiệu quả; (v) = thực hiện, đem lạiEmigrant /’emigrənt/ (n) = người di cưImmigrant /’imigrənt/ (n) = người nhập cưElude /i’lu:d/ (v) = tránh khỏi, lảng tránh, vượt ngòai tầm hiểu biết.Allude /ə’lu:d/ (v) = nói đến ai/cái gì một cách rút gọn hoặc gián tiếp; ám chỉ; nói bóng gióComplement /’kɔmpliment/ (n) = bổ ngữCompliment / ‘kɔmplimənt/ (n) = lời khen ngợiTiếng Anh được coi là ngôn ngữ có trọng âm nên khi nói người nói chỉ nhấn mạnh đến từmang trọng âm của câu. Do vậy, sinh viên cần luyện phát âm những từ và cụm từ tiếng Anh17thường xuyên và dành ra khoảng 15- 30 phút mỗi ngày để luyện tập cách đọc một cụm từ, họccách ghi nhớ một câu từ đó học cách nói một đoạn, đặc biệt là phải tăng cường lắng nghengười bản xức đọc từ và câu chứa từ mới trong thực tế.Sinh viên có thể khắc phục việc vấn đề phát âm khi phân biệt được các từ đồng âm dựa vàocách phát âm, cách này có thể áp dụng hiệu quả cho các từ có cách phát âm gần giống nhau vìchúng có trọng âm rơi vào các âm tiết khác nhau, ví dụ: sixteen/sixty hoặc thirteen/thirty và đợdài ngắn của các âm là khác nhau, ví dụ: slip/sleep hoặc fit/feet. Dựa vào nghĩa của cả câu vàchức năng của từ đó trong câu, các từ đồng âm được phát âm giống hệt nhau, việc này rất dễgây nhầm lẫn cho người nghe, ví dụ: some/sum hoặc I/eye. Người nghe cần phải dựa vào chứcnăng của từ đó trong câu, cấu trúc câu được tạo nên bởi từ đó, đặc biệt là ngữ cảnh của câu.Để giảm sự nhầm lẫn giữa khẳng định và phủ định, cần chú ý đến các tiền tớ và hậu tớ của từ,ví dụ: im trong impolite hoặc less trong careless. Cần chú ý các trợ động từ, ngữ cảnh vàgiọng điệu lời nói.Một số ảnh hưởng về phát âm trong chuỗi lời nói trong tiếng Anh như: dạng yếu trong cáchphát âm, hiện tượng ńt âm, nới âm hoặc rút gọn, ví dụ: gonna, wanna, dunno, đây là hìnhthức rút gọn của going to, want to, don’t know. Sinh viên cần tìm học thật nhiều các ví dụ vềcác đặc trưng này. Trên hết, sinh viên cần phải lắng nghe càng nhiều càng tốt, học bằng tai sẽgiúp sinh viên phản xạ tốt với các hiện tượng này hơn.Thay đổi cách học nghe và thực hành chiến lược nghe phù hợp:Để rèn luyện khả năng bắt kịp tốc độ người nói cần nghe hiểu nội dung và nghe lặp đi lặp lạinhiều lần. Nghe hiểu thì chỉ mới đạt 50%, cần nghe lặp đi lặp lại thật nhiều lần. Thế bao nhiêulần mới là đủ? Khi nghe một từ, một câu, một đọan hoặc một bài 5 lần, 10 lần, 15 hay 20 lầnvẫn chưa là đủ, người học vẫn sẽ quên nó sau thời gian ngắn, để nhận ra và có thể sử dụng nóngay lập tức cần nghe từ 50 đến 100 lần hoặc nhiều hơn thì càng tốt. Việc nghe nhiều như thếsẽ giúp tạo phản xạ tự nhiên với nội dung đó. Mỗi ngày nên nghe tiếng Anh ít nhất 2 tiếng,chia ra nhiều lần trong ngày không nên nghe một lần, vì nếu nghe thời gian dài sẽ gây nên mệtmòi và giảm hiệu quả. Bước đầu tiên để cải thiện kỹ năng nghe là thực hiện quá trình chỉnghe, quá trình này rất quan trọng vì giúp người học quen dần với những âm thanh, âm tiếttrong tiếng Anh. Đa số các chuyên gia khuyên rằng những người học tiếng Anh nên dành 80%thời gian học để nghe.Để có thể nhớ và lặp lại được nội dung nghe, người nghe cần nghe thật nhiều lần. Thôngthường ở lớp giáo viên cho nghe khoảng 3 lần. Với những sinh viên đa có kỹ năng nghe tốt,họ dễ dàng hiểu bài, nhưng không phải sinh viên nào cũng có khả năng hiểu bài sau 3 lầnnghe, vì vậy đòi hỏi các bạn sinh viên cần siêng năng nghe bài trước ở nhà. Thói quen cố gắngnghe từng từ vựng cũng sẽ khiến người nghe gặp khó khăn, khi nghe một nội dung thì khôngcần phải cố gắng nghe hết tất cả từ vựng, cần phải xác định nội dung cần nghe ngay từ đầu.Thông thường các từ khóa mang ý chính của bài đều được nhấn mạnh hoặc lặp lại bằng các từ18đồng nghĩa. Ví dụ: khi nghe 1 đọan “Her husband of 39 years no longer hugs her or showsher any affection. She have seen him through cancer and diabetes. They have four grownchildren and they have been seeing therapist for a year and a half. He kind, generous andfriendly, but there are no compliments or any of the flirtatious banter”, chỉ cần nghe được cáctừ in đậm sẽ có thể đóan được nội dung của bài. “ Anh ấy đa thay đổi rồi”.3.2Liên quan đến kiến thức nền:Sinh viên nên lắng nghe các chủ đề đa dạng để quen dần với nó, củng cố thêm kiến thức cũngnhư các kỹ năng. Tìm các tài liệu nghe có chứa từ ngữ thơng tục, ví dụ: a bunch of numpties,look blue, go bananas, buzz off, just for fun, để học hỏi thêm. Khi gặp một tài liệu nghe về chủđề mà bản thân không hiểu, sinh viên cần tìm người trao đổi có thể là giảng viên hoặc bạn bè.Đối với các sinh viên đang yếu kỹ năng nghe, hay chọn những tài liệu có nội dung đơn giản,dễ hiểu như các cuộc hội thoại thực tế trong cuộc sống hằng ngày, tập nghe thật nhiều lần,tăng dần cấp độ khó của tài liệu theo thời gian như các bài nghe ở các trang web VOA, BBChay các tài liệu có nguồn gốc uy tín như nền tảng Youtube, đừng bắt đầu với tài liệu khó hiểu.Sinh viên cũng cần tìm các tài liệu nghe với các giọng nói khác nhau để tránh gặp trường hợpnghe nhưng không hiểu được.3.3Liên quan đến tài liệu nghe:Về tài liệu nghe, sinh viên nên học nghe ở môi trường yên tĩnh, hạn chế tiếng ồn, cần thiết kếphòng học để giảm sự ảnh hưởng của các âm thanh từ bên ngoài, có thể treo rèm cửa để giảmtiếng ồn. Nếu nghe cá nhân thì nên đeo tai nghe, nếu nghe tập thể thì cần giữa im lặng và thảlõng tinh thần, tập trung nghe tốt nội dung, tránh trao đổi khi nghe sẽ ảnh hưởng đến bản thânvà người xung quanh. Các thiết bị như: tai nghe, loa, radio, cassette, nên được đầu tư cải tiếnâm thanh. Các loại băng đĩa, tài liệu nghe nên được đảm bảo chất lượng âm thanh.PHẦN 3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHI1.1Kết luậnDựa vào kết quả thu được và trong phạm vi kiến thức, nhóm nghiên cứu đưa ra một số kếtluận sau:Đối với sinh viên khoa ngoại ngữ năm hai trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật TP.Hồ Chí Minhnói riêng, cũng như sinh viên nói chung nhu cầu học ngoại ngữ là rất lớn. Nhưng khó khănkhi học tiếng Anh cũng là vấn đề phải đề cập đến. Trong đó, nghe là một kỹ năng khó nhưnglại quan trọng.19Theo như khảo sát, nhóm nghiên cứu nhận thấy các khó khăn khi nghe tiếng Anh xuất phát từba nguyên nhân cơ bản: khó khăn liên quan đến năng lực ngôn ngữ, khó khăn liên quan đếnkiến thức nền và khó khăn liên quan đến tài liệu nghe. Mỗi khó khăn đều có các vấn đề cầngiải quyết.Khó khăn từ người học gồm: hạn chế vốn từ vựng, hạn chế về kiến thức ngữ âm và ngữ pháp.Khó khăn từ tài liệu nghe gồm: chủ đề nghe không quen thuộc, bài nghe dài, nhiều từ thôngtục, tài liệu nghe chưa đáng tin cậy, giọng đọc khác nhau, những câu không theo quy tắc vănphạm.Khó khăn từ môi trường vật lý gồm: tiếng ồn, băng nghe kém chất lượng, chất lượng thiết bịnghe chưa tốt.Đồng thời nhóm nghiên cứu cũng đa đưa ra một số biện pháp như sau:Để khắc phục khó khăn xuất phát từ hạn chế về năng lực ngôn ngữ, người học nghe cần có ýthức củng cố kiến thức một cách tổng quát, từ việc cải tiến phương pháp học từ vựng để nângcao vốn từ đến việc ôn luyện lại kiến thức ngữ âm và ngữ pháp một cách bài bản.Liên quan đến khó khăn do tài liệu nghe, sinh viên cần rèn luyện nghe tiếng Anh từ nhiềunguồn tài liệu khác nhau, mỗi ngày cần thường xuyên lắng nghe để tạo thành phản xạ. Khinghe, cũng cần lựa chọn các chủ đề đa dạng về nhiều lĩnh vực trong cuộc sống, chọn tài liệunghe chứa các từ thông tục để tránh sự lạ lẫm khi nghe , nghe tài liệu nghe với nhiều giọngđọc khác nhau. Muốn khắc phục các khó khăn từ môi trường vật lý người nghe cần học nghenơi yên tĩnh, đeo tai nghe khi nghe cá nhân, giữ im lặng và không trao đổi khi nghe tập thể,đảm bảo chất lượng thiết bị nghe, giữ tinh thần thoải mái, vui vẻ và tỉnh táo khi nghe.Hi vọng những đóng góp của nhóm nghiên cứu sẽ góp phần cải thiện được kỹ năng nghe củacác bạn sinh viên.1.2Kiến nghịThông qua tìm hiểu và chọn lọc chi tiết từ nhiều nguyên nhân gây khó khăn cho sinh viêntrong quá trình học kỹ năng nghe, bài nghiên cứu đa nêu rõ những khó khăn phổ biến nhất màsinh viên gặp phải và đa đề xuất các biện pháp nhằm khắc phục các khó khăn đó.Mặc dù các phương pháp đưa ra chưa thực sự hoàn hảo và có thể gặp nhiều khó khăn khi rènluyện nhưng đa có đóng góp để góp phần cải thiện tốt kỹ năng gnhe cho các bạn sinh viên.20Nhóm thực hiện đề tài hi vọng ban giám hiệu nhà trường cùng quý thầy cô tiếp tục xem xét,đánh giá và nghiên cứu để có thể áp dụng và triển khai vào chương trình nghe của sinh viêntại trường, tạo thêm điều kiện giúp các bạn sinh viên được cải thiện kỹ năng nghe tiếng Anh.Bài báo cáo chắc chắn không tránh được các sai sót, mong quý thầy cơ vui lịng bỏ qua vàđóng góp ý kiến.Xin chân thành cảm ơn!21DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢOWebsite của trường đại học Văn Hóa Hà NộiWolvin, A.D. and Coakley, C (1985). Listening. Dubuque.Efforless English- A.J.HogeField, J (1988). Skills and Strategies: toward a new methodology for listening. Oxford.OUP.Underwood, M (1989)- Teaching ListeningNguyễn Bàng và Nguyễn Bá Ngọc (2002) –A Course in TEFL Theory and Practice.Flowerdew,J and Miller, L. (1996). Student perceptions, problems and strategies in secondlanguage lecture comprehension RELC Journal 23(2)Higgins,JM.D.(1995) Facilitating listening in second language classrooms through themanipulation of temporal variables. Unpublished doctoral thesis, University of Kent atCanterbury.Rost, M. (1994) Listening. London: LongmanWenden, A. (1986) What do second language learners know their language learning? Asecond look at retrospective account. Applied Linguistics 7 (2).Yagang, F. (1994) Listening: Problems and solutions. In T.Kral(ed.) Teacher Development :Making the Right Moves. Washington, DC: English Language Programs Divisions, USIA.. (theo />(Theo . /> />(Theo />22PHỤ LỤCPhiếu Khảo SátQuá trình khảo sát này là một phần trong đề tài nghiên cứu khoa học của chúng tôi nhằm, “tìm hiểu trực trạng và đề ra giải pháp để nâng cao kỹ năng nghe của sinh viên năm hai chuyênngữ tại Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật TP.Hồ Chí Minh”. Mục đích cuối cùng là giúp cácbạn sinh viên có thể cải thiện được kỹ năng nghe tiếng Anh của mình.Chúng tôi cam kết sẽ giữ bí mật danh tánh cũng như câu trả lời của riêng tất cả các bạn sinhviên tham gia cuộc khảo sát này. Chúng tôi sẽ gửi kết quả tổng hợp cho các bạn nếu các bạncó nhu cầu.Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các bạn vì đa dành thời gian để làm khảo sát.Phần 1: thông tin các nhân người tham gia khảo sát:Họ và tên:………………………………………………………..Lớp :……………………………………………………………….Phần 2: nội dung phỏng vấnCâu 1: Bạn vui lòng cho biết ý kiến với những câu hỏi sau:Nội dungNhóm sinh viên 1Nhóm sinh viên 2Nhóm sinhviên 3Bạn thấy bản thângặp khó khăn gì đốivới học phần nghe?Bạn có thích kỹnăng nghe tiếngAnh không?23Ngoài giờ học nghetrên lớp, bạn dànhbao nhiêu thời gianđể luyện nghe?Bạn thường xuyênnghe từ các nguồntài liệu nào?Bạn có bị ảnhhưởng bởi các yếutố bên ngoài môitrường khi nghe?Yếu tớ gì?Câu2: Bạn vui lịng cho biết mức đợ ảnh hưởng của những khó khăn liên quan đến quá trìnhhọc nghe bằng cách tô đen vào ô lựa chọn.Rất thường xuyên (1)Thường xuyên (2)Thỉnh thoảng (3)Các khó khăn liênquan đếnRất thường xuyênThường xuyênThỉnh thoảng(1)(2)(3)Hạn chế vốn từvựngKỹ năng phát âmchưa chuẩnKiến thức ngữ phápchưa tốt24Thiếu hụt kiếnthức nền và kiếnthức văn hóaThời lượng nghedàiGiọng đọc khácnhauCâu không theoquy tắc văn phạmvà chứa nhiều từthông tụcChất lượng tài liệunghe chưa tốt25