Sơ lược nguồn gốc lịch sử Phật giáo Việt Nam từ thời kỳ du nhập đến nay (I)

Khác với nhiều tư tưởng cho rằng Phật giáo Việt Nam truyền trực tiếp từ Trung Quốc, nhưng nhiều nguồn sử liệu cho thấy Phật giáo Việt Nam truyền trực tiếp từ Ấn Độ vào những năm đầu Công nguyên, rồi sau đó mới truyền qua Trung Quốc chứ không phải Phật giáo từ Trung Quốc truyền qua Việt Nam .Căn cứ theo những di tích lịch sử lịch sử đình chùa xưa và sử liệu để lại đời Hậu Hán, sách Lý Hoặc Luận của Mâu Tử, Đại Tạng Kinh … cho ta thấy Phật giáo Việt Nam được du nhập từ thế kỷ thứ III trước Tây lịch và hình thành từ thế kỷ thứ I, đầu kỷ nguyên Tây lịch. Phật giáo được truyền thẳng từ Ấn Độ sang Giao Chỉ. Lúc này, ngoài hai TT Phật giáo Lạc Dương, Bành Thành ở Nước Trung Hoa, cũng đã hình thành TT Phật giáo Liên Lâu ( Luy Lâu ) tại Giao Chỉ “ một chiếc nôi của Phật giáo ”. Cho đến nay, TT Phật giáo Luy Lâu vẫn là đề tài nóng khá hấp dẫn so với người khám phá Phật giáo Việt Nam. Theo Việt Nam Phật giáo sử luận : “ Đạo Phật được truyền vào Việt Nam khoảng chừng đầu kỷ nguyên Tây lịch. ”

Cốt lõi tinh thần hộ quốc an dân của Phật giáo Việt Nam qua thời đại lịch sử

Sự du nhập của Phật giáo vào nước ta ở những bước căn bản đầu tiên thật ra không phải xuất phát từ Trung Hoa, mà chính là được truyền vào trực tiếp từ Ấn Độ.

Sự du nhập của Phật giáo vào nước ta ở những bước căn bản đầu tiên thật ra không phải xuất phát từ Trung Hoa, mà chính là được truyền vào trực tiếp từ Ấn Độ.

I. Đạo Phật du nhập vào Việt Nam từ thời kỳ đầu công nguyên

1. Địa lý

Theo như nhiều sách sử để lại, năm 273 vua Asoka lên ngôi ở Ấn Độ, ông đã cử nhiều phái đoàn ra quốc tế truyền đạo đến những nước phương Tây, phương Đông cũng như những nước Khu vực Đông Nam Á. Một yếu tố cần được nhắc đến tiên phong là trước khi Phật giáo du nhập nước ta, tại đây đã có một nền văn hóa truyền thống phong phú và đa dạng. Căn bản của nền văn hóa truyền thống này thiết kế xây dựng trên cơ sở của nền văn minh nông nghiệp với những thành tựu rực rỡ tỏa nắng, mà đơn cử là ngoài những chứng tích của những nền văn minh còn lại, như vào thời Hai Bà Trưng, tại nước ta đã có bộ Việt luật, trong đó hơn 10 điều khác với Hán luật ( 3 ), những dấu tích về ngôn từ Việt qua bài Việt ca còn sót lại trong thư tịch cổ Trung Quốc ( 4 ), có mạng lưới hệ thống lịch pháp riêng, trọn vẹn khác với lịch pháp phương Bắc ( 5 ), những tín ngưỡng đặc trưng cổ xưa còn lưu lại trong tín ngưỡng Phật điện đến tận thời nay và đặc biệt quan trọng là nền văn hóa truyền thống này có sức mạnh tiếp thu và đã dữ thế chủ động bản địa hóa Phật giáo, một yếu tố văn hóa truyền thống quốc tế, để tương thích với nó ; và hơn thế nữa, biến nó trở thành một trong những vũ khí sắc bén và uy vũ đối kháng âm mưu đồng nhất và nô dịch về văn hóa truyền thống của phương Bắc ngay từ những ngày đầu. Đạo Phật xuất hiện ở Việt Nam từ xa xưa trong các truyền thuyết và truyện cổ tích.

Đạo Phật xuất hiện ở Việt Nam từ xa xưa trong các truyền thuyết và truyện cổ tích.

2. Quá trình du nhập và phát triển

Sự du nhập của Phật giáo vào nước ta ở những bước cơ bản tiên phong thật ra không phải xuất phát từ Nước Trung Hoa, mà chính là được truyền vào trực tiếp từ Ấn Độ. Dựa trên những chứng liệu lịch sử đáng an toàn và đáng tin cậy, một số ít nhà nghiên cứu nâng cao, có uy tín về Phật giáo đã chứng minh và khẳng định điều này ( 6 ). Những tài liệu và hiện vật mà khảo cổ học Việt Nam phát hiện được đã chứng tỏ rằng, người Văn Lang, Âu Lạc thời xưa có nền văn hóa truyền thống tăng trưởng phong phú và đa dạng, rực rỡ tỏa nắng, “ biểu lộ bằng những món dụng cụ, trang sức đẹp, trống đồng, thạp đồng, mũi tên đồng, thành quách, … mà người Việt Nam lúc bấy giờ rất tự hào ” ( 7 ). Tuy nhiên, năm 179 trước Công nguyên ( TCN ), Âu Lạc rơi vào ách đô hộ của nhà Triệu, khởi đầu một thời kỳ đen tối lê dài hơn một nghìn năm đầy đau thương tủi nhục trong lịch sử nước ta, thường gọi là thời kỳ Bắc thuộc ( 8 ). Sau khi chiếm được nước ta, Triệu Đà chia Âu Lạc thành hai Q. là Giao Chỉ, Cửu Chân và sát nhập vào nước Nam Việt. Đạo Phật Open ở Việt Nam từ thời xưa trong những truyền thuyết thần thoại và truyện cổ tích. Lĩnh Nam Chích Quái ( viết vào thời Trần và hiệu chỉnh thời Lê ) có chép truyện Chử Đồng Tử và Man Nương, trong đó Chử Đồng Tử, sống vào thời Hùng Vương được một vị tăng là Ngưỡng Quang truyền phép. Những vị học Phật được ghi chép tiên phong ở Giao Chỉ phải kể đến Mâu Tử và Khương Tăng Hội. Tại Luy Lâu ( Thành Phố Bắc Ninh ), Mâu Tử gặp được đạo Phật ở đây và chuyên tâm học Phật. Nhiều năm sau, ông viết Lý Hoặc Luận ( lý giải những điều còn nghi vấn về đạo Phật ), dùng tư tưởng của mình để đối đáp với những người cho rằng ông bỏ đạo của thánh hiền ( Khổng giáo, Lão giáo ) để học thứ đạo của man di. Lý Hoặc Luận được xem là trước tác tiên phong bằng chữ Hán về Phật giáo, vậy chính Mâu Tử là người học Phật ở Giao Chỉ. Tại Luy Lâu (Bắc Ninh), Mâu Tử gặp được đạo Phật ở đây và chuyên tâm học Phật.

Tại Luy Lâu (Bắc Ninh), Mâu Tử gặp được đạo Phật ở đây và chuyên tâm học Phật.

3. Phật giáo vào Việt Nam thời kỳ đầu Công nguyên

Trong những năm đầu Công nguyên, Việt Nam đang ở thời kỳ Bắc thuộc ( 9 ), về tôn giáo những tầng lớp trên của xã hội khởi đầu chịu tác động ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, những tầng lớp dưới có ý niệm về ông trời, gây phúc họa cho con người và ý niệm đa thần giáo trong tín ngưỡng dân gian. Trong thời kỳ này còn có những tín ngưỡng địa phương của dân cư nông nghiệp lúa nước, cộng với sự sống sót của Nho giáo, đạo Lão được Trung Quốc truyền vào, tuy nhiên những tín ngưỡng, tôn giáo đó còn có nhiều mặt khiếm khuyết so với đời sống tâm linh hội đồng và đạo Phật đã bổ trợ vào chỗ thiếu vắng ấy. Vì vậy đạo Phật ở Việt Nam được giao thoa bởi những tín ngưỡng địa phương, cũng như tác động ảnh hưởng bởi đạo Lão ở Việt Nam. Năm 111 TCN, nhà Hán thôn tính Nam Việt và biến Âu Lạc thành đất đai của nhà Hán. Âu Lạc bị chia thành ba Q. thuộc bộ Giao Chỉ là : Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Để nô dịch nhân dân ta về tư tưởng, ngay từ thời Tây Hán, Nho giáo đã được chính quyền sở tại đô hộ truyền bá vào nước ta. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, vào thời kỳ đầu Công nguyên, hai viên thái thú Q. Giao Chỉ và Cửu Chân là Tích Quang và Nhâm Diên đã tích cực “ dựng học hiệu ” để dạy lễ nghĩa, tức mở trường dạy Nho học và truyền bá phong tục Hán tộc. Nho giáo vào Việt Nam chính thức từ đây và “ Phong tục văn minh của đất Lĩnh Nam mở màn từ hai thái thú ấy ” ( 10 ). Đến thời Sĩ Nhiếp, một người gốc Hán làm thái thú Giao Chỉ thì việc học Nho ở nước ta đã tương đối phổ cập. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Sĩ Nhiếp là người có tài kinh bang tế thế, năng lực và đức độ của ông vượt xa những thủ lĩnh chính trị của nước Hán đương thời. Hơn nữa, Sĩ Nhiếp còn là người rất thông hiểu kinh sách và tích cực truyền bá Nho giáo và Đạo giáo vào Việt Nam. Vì thế, những nhà Nho Việt Nam đời sau rất kính trọng Sĩ Nhiếp, tôn là “ Sĩ vương ” và xem Sĩ Nhiếp là ông Tổ của nền học vấn phương Nam – “ Nam giao học tổ ”. Miền đất Giao Châu dưới quyền quản lý của ông là một xã hội không thay đổi và thịnh vượng. Vua Hán Hiến Đế thời đó đã phải ngợi khen : “ Giao Châu là đất văn hiến, sông núi hun đúc, trân bảo rất nhiều, văn vật khả quan, nhân tài kiệt xuất ” ( 11 ). Do vậy, ở Trung Quốc từ đời Hán đến đời Đường khi xảy ra loạn lạc nhiều người từ miền Nam Trung Quốc tìm cách di cư sang Giao Châu. Nhiều sĩ phu người Hán đến nương náu nơi đây đều được Sĩ Nhiếp khuyến khích mở trường dạy Nho học. Sử thần Ngô Sĩ Liên nhận xét : “ Nước ta thông thi thư, học lễ nhạc, làm một nước văn hiến, là mở màn từ Sĩ Vương, công đức ấy không những chỉ ở đương thời mà còn truyền mãi đời sau, há chẳng lớn sao ? ( 12 ). Góp sức vào việc truyền bá đạo Nho còn có cả những danh nho Trung Quốc do trái chiều về chính trị mà bị triều đình đày đi biệt xứ ngoài biên ải, như Ngu Phiên bị đày sang Giao Châu mở trường “ dạy học không biết mỏi, môn đệ thường có đến vài trăm ” ( 13 ). Tại những TT châu trị, Q. trị như Luy Lâu, Long Biên, Tư Phố, Cư Phong … đều có những trường để truyền bá Nho giáo và Hán học. Theo học những trường này không chỉ có con em của mình của những người Hán quản lý và những người Hán di cư mà còn có cả con em của mình của những người giàu sang, của 1 số ít hào mục địa phương có hợp tác với chính quyền sở tại đô hộ. Trong số họ, có 1 số ít người Giao Chỉ, Cửu Chân học giỏi, đỗ đạt và được chỉ định làm quan ở Trung Quốc, như Trương Trọng, Lý Tiến, Lý Cầm, Bốc Long … ( 14 ). Thậm chí, nhiều người Giao Châu du học tận kinh đô Trường An của nhà Đường. Hai bạn bè Khương Công Phụ và Khương Công Phục là người Cửu Chân đỗ tiến sỹ ở Trường An và được chỉ định làm quan ở triều đình. Những dấu ấn trên con đường hoạt động thống nhất Phật giáo Việt Nam “Đạo Phật được truyền vào Việt Nam khoảng đầu kỷ nguyên Tây lịch.”

“Đạo Phật được truyền vào Việt Nam khoảng đầu kỷ nguyên Tây lịch.”

Vậy trên chủ quyền lãnh thổ của nhà Hậu Hán, sau đó đã sống sót ba TT Phật giáo là Luy Lâu, Lạc Dương và Bành Thành. Sử liệu cổ của Nước Trung Hoa cũng không ghi nhận được rõ ràng sự hình thành của hai TT Lạc Dương và Bành Thành, chỉ có Luy Lâu thuộc Giao Chỉ là được xác lập rõ ràng và sớm nhất và còn là bàn đạp cho việc hình thành hai TT kia. Từ nửa sau thế kỷ thứ hai, Luy Lâu đã sống sót như một TT Phật giáo quan trọng và phồn thịnh. Điều này cho thấy việc du nhập Phật giáo vào Giao Châu là rất sớm, có lẽ rằng từ đầu Công nguyên.

Theo Thiền Uyển Tập Anh(15), một bộ sách quan trọng về các vấn đề lịch sử, tư tưởng, văn học của Phật giáo Việt Nam nói riêng và của dân tộc nói chung, thì Phật giáo được truyền vào nước ta trực tiếp từ Ấn Độ, trước cả Trung Quốc.

Những vị cao tăng tiên phong ở Giao Chỉ được nhắc đến trong sử sách từ cuối thế kỷ II trở đi, nhưng nhiều vật chứng cho thấy Phật giáo đã được truyền bá sang đây nhiều năm trước từ những nhà sư Ấn Độ. Sự tăng trưởng của Phật giáo ở Giao Chỉ khởi đầu từ sớm và can đảm và mạnh mẽ, tạo nên một sự tác động ảnh hưởng văn hóa truyền thống lớn so với người dân địa phương sau này. Thực tế, vào thời Mâu Tử, Luy Lâu là một trong ba TT Phật giáo lớn nhất Trung Quốc. Hai nơi còn lại là Lạc Dương và Bành Thành. Lạc Dương nổi lên là TT Phật giáo trong thời Hán Minh Đế ( 58-75 ) khi ông cho một đoàn đi Ấn Độ thỉnh kinh Phật đem truyền bá vào Trung Quốc. Nhiều quan điểm cho rằng TT Lạc Dương xuất phát từ TT Bành Thành và TT Bành Thành chịu tác động ảnh hưởng từ Luy Lâu. Trước đó, Phật giáo đã Open ở Trung Quốc từ trước Công nguyên nhưng vẫn còn rời rạc và nhỏ lẻ, đến thời Hán Minh Đế mới được cắm rễ thực sự. Nhiều học giả cho rằng đạo Phật trước thời Hán Minh Đế và cả sau này truyền bá sang Trung Quốc bằng đường thủy, điều đó khiến cho việc Luy Lâu được tiếp xúc với Phật giáo Ấn Độ sớm hơn là điều dễ hiểu. Mâu Tử học Phật ở Luy Lâu càng chứng tỏ Luy Lâu phải có mạng lưới hệ thống Phật giáo tăng trưởng từ trước đó. Trong Lý Hoặc Luận, Mâu Tử đã miêu tả về thói hư tật xấu của tăng đoàn Giao Chỉ, trong thời hạn đó nhà Hán vẫn chưa có tăng đoàn và suốt thời Hán vẫn chưa được cho phép người Trung Quốc chính thức xuất gia Quy y Tam bảo. Mặc dù chưa có ghi chép chính thức về những người tiên phong mang Phật giáo vào Việt Nam, nhưng sự Open của những tăng sĩ Ấn Độ vẫn được đề cập đến, trong đó điển hình nổi bật là Ma Ha Kỳ Vực và Khâu Đà La đến Giao Chỉ trong khoảng chừng 169 – 189 và Chi Cương Lương ở đây dịch kinh vào những năm 255 – 256. Một trong những vị tăng gốc Giao Chỉ nổi tiếng tiên phong là Khương Tăng Hội, người vẫn còn đang tranh cãi liệu có phải là tổ của Thiền tông Việt Nam hay không. Khương Tăng Hội có cha mẹ là người nước Khương Cư ( Uzbekistan ), đến Giao Chỉ kinh doanh và sinh ra ông ở đây. Ông lớn lên và xuất gia ở Giao Chỉ, đến năm 247, thì đến kinh đô Kiến Nghiệp của Ngô và truyền đạo ở đây. Khương Tăng Hội có nhiều trước tác và bản dịch về Phật giáo nổi tiếng và có giá trị đến sau này. Căn cứ vào những tài liệu như Hậu Hán Thư trong đó có câu truyện Sở Vương Anh theo Phật giáo, sách Lý Hoặc Luận của Mâu Tử viết tại Việt Nam vào hạ bán thế kỷ thứ hai, kinh Tứ Thập Nhị Chương và một số ít tài liệu khác, cho ta thấy rằng trong đời Hậu Hán ( thế kỷ thứ nhất và thứ hai ) ngoài hai TT Phật giáo ở Nước Trung Hoa, còn có một TT Phật giáo rất quan trọng khác ở Giao Chỉ ( tức Việt Nam ), lúc bấy giờ đang nội thuộc Trung Quốc. Phật giáo Việt Nam sát cánh cùng dân tộc bản địa trong thời đại mới . Cho đến nay, trung tâm Phật giáo Luy Lâu vẫn là đề tài nóng khá lôi cuốn đối với người tìm hiểu Phật giáo Việt Nam.

. Cho đến nay, trung tâm Phật giáo Luy Lâu vẫn là đề tài nóng khá lôi cuốn đối với người tìm hiểu Phật giáo Việt Nam.

Chú thích:

3. Lê Mạnh Thát. Lịch sử Phật giáo Việt Nam tập 1, Nxb. Thuận Hóa, 1999, trang 36. 4. Lê Mạnh Thát. Lịch sử Phật giáo Việt Nam tập 1, Nxb. Thuận Hóa, 1999, trang 38-45. 5. Lê Mạnh Thát. Lịch sử Phật giáo Việt Nam tập 1, Nxb. Thuận Hóa, 1999, trang 61-70. 6. Theo Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, in lần thứ 3, Nxb Văn hóa, Thành Phố Hà Nội, 1992 7. Trần Văn Giàu. Sự tăng trưởng của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám. Sđd., t. 1, tr. 57. 8. Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh. Đại cương lịch sử Việt Nam, t. 1. Nxb Giáo dục đào tạo, Thành Phố Hà Nội, 1998, tr. 60. 9. Xem : Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh. Đại cương lịch sử Việt Nam, t. 1. Nxb Giáo dục đào tạo, TP.HN, 1998, tr. 60. 9. Đại Việt sử ký toàn thư, t. 1. Nxb Khoa học xã hội, TP.HN, 1998, tr. 155. 10. Trần Văn Giàu. Giá trị ý thức truyền thống lịch sử của dân tộc bản địa Việt Nam. Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1993, tr. 87. 11. Đại Việt sử ký toàn thư. Sđd., t. 1, tr. 164.

12. Trần Văn Giàu. Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám. Sđd., t.1, tr.61.

13. Nguyễn Tài Thư ( chủ biên ). Lịch sử tư tưởng Việt Nam, t. 1. Nxb Khoa học xã hội, TP. Hà Nội, 1998, tr. 81. 14. Tác phẩm bằng chữ Hán, trước đây thường được xem là khuyết danh, nhưng theo học giả Lê Mạnh Thát thì hoàn toàn có thể là do Thiền sư Kim Sơn soạn, niên soạn là năm Đinh Sửu Khai Hựu ( 1337 ). Tham khảo Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh của Lê Mạnh Thát, Nxb. TPHCM, 1999. 15. Hồ Thích Luận Học Cận Trước, Thượng Hải, 1935