Các mối nguy trong lao động ngành y

Cán bộ, nhân viên cấp dưới y tế ( CBNVYT ) là những người làm công tác làm việc bảo vệ sức khoẻ cho mọi người. Thế nhưng, hàng ngày họ phải đương đầu với những mối nguy vừa hữu hình vừa vô hình dung hoàn toàn có thể tác động ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ .
CBNVYT làm việc trong các phòng cấp cứu, hồi sức phải chịu một áp lực khá lớn về mặt tinh thần    Ảnh: Anh ThưCBNVYT làm việc trong những phòng cấp cứu, hồi sức phải chịu một áp lực đè nén khá lớn về mặt niềm tin. Ảnh : Anh Thư

Nguy cơ trong môi trường lao động

Từ vi sinh vật:

Hàng ngày, CBNVYT phải đương đầu với rủi ro tiềm ẩn nhiễm trùng từ người bệnh mà họ trực tiếp Giao hàng. Nguy cơ nhiễm lao do trao đổi trực tiếp mà không dùng khẩu trang là có thật. Nhiễm lao do hít từ không khí là đáng chăm sóc. Nghiên cứu mẫu không khí lấy từ phòng khám, phòng cấp cứu, khoa lây … cho thấy không khí ở những nơi này không ít đều bị ô nhiễm .
Nguy cơ lây nhiễm siêu vi rất hay gặp trong những cơ sở y tế. Theo một thống kê mới gần đây của Bộ Y tế Mỹ thì tỷ suất lây nhiễm virus viêm gan B là 23 %, so với viêm gan C là 1,8 % và HIV là 0,1 %. Các đối tượng người tiêu dùng dễ bị lây nhiễm là CBNVYT công tác làm việc tại những khoa có bệnh nhân bị nhiễm những loại virus kể trên hoặc ở những khoa huyết học, phòng xét nghiệm, giải phẫu bệnh, phòng phẫu thuật .

Từ các thiết bị chẩn đoán và điều trị:

Theo một cuộc tìm hiểu ở Nga, bức xạ ion đứng đầu trong số những yếu tố vật lý ảnh hưởng tác động đến sức khoẻ CBNVYT. Các đối tượng người dùng rủi ro tiềm ẩn cao là bác sỹ, kỹ thuật viên khoa chẩn đoán hình ảnh. Các rối loạn công dụng thường được ghi nhận ở hệ thần kinh và tim mạch. Một số tác giả điều tra và nghiên cứu đã nhận thấy rằng những người tiếp xúc từ 85-95 % thời hạn trong ngày với mức siêu âm tần số cao dễ bị tổn thương ở mạch máu ngoại vi và thần kinh .

Từ các hoá chất:

Nhân viên phòng mổ thường xuyên hít phải chất gây mê, được xem là có ảnh hưởng bất lợi lên chức năng sinh sản của cả nam lẫn nữ. Nhân viên phòng ướp xác phục vụ việc học giải phẫu cho sinh viên, luôn tiếp xúc với chất formol, là chất gây mẫn cảm cao và có khả năng gây ung thư. Nhân viên phòng xét nghiệm thì tiếp xúc với rất nhiều hoá chất dùng trong việc thử các phản ứng sinh hoá và huyết học. Họ còn phải tiếp xúc với các hoá chất công nghiệp dùng cọ rửa và bảo quản dụng cụ.

Các rối loạn do tư thế và stress

Rối loạn hệ thống cơ- xương- khớp:

Các tổn thương này do tư thế làm việc bất lợi và do phải nâng, nhấc, luân chuyển và giữ bệnh nhân. Một tỷ suất khá cao ( 80 % ) CBNVYT than phiền về thực trạng đau mỏi cơ, xương ở sống lưng, thắt lưng, bả vai, đầu gối, cổ .

Tư thế làm việc:

Đứng hoặc ngồi quá lâu cũng là nguyên nhân dẫn đến những bệnh lý như trĩ, giãn tĩnh mạch chân. Ví dụ như các phẫu thuật viên, đặc biệt là vi phẫu, phải đứng mổ có khi hàng nhiều giờ liền.

Stress trong lao động:

CBNVYT làm việc trong những phòng cấp cứu, hồi sức phải chịu một áp lực đè nén khá lớn về mặt ý thức vì phải liên tục lao động để giành giật mạng sống người bệnh khỏi tay tử thần. Trong trường hợp này, họ phải đặt tính mạng con người, sự bảo đảm an toàn của người bệnh lên trên bản thân mình. Yêu cầu cao về trình độ và tính khẩn trương của việc làm gây ra những stress so với họ. Trong trường hợp không cứu được bệnh nhân, sự không thông cảm của thân nhân ( thậm chí còn là thái độ xúc phạm về sức khỏe thể chất và niềm tin ) càng làm tăng thêm stress. Một số thử nghiệm về thần kinh-hành vi cho thấy năng lực nhớ của nhóm CBNVYT ở khối hồi sức-cấp cứu sau ca làm việc giảm rõ ràng .
CBNVYT làm việc trong những khoa có bệnh nhân nhiễm HIV, virus viêm gan, những TT cai nghiện ma tuý luôn phải đương đầu với rủi ro tiềm ẩn lây nhiễm rất cao. CBNVYT ở những bệnh viện tinh thần, TT cai nghiện luôn có rủi ro tiềm ẩn bị hành hung vì sự đổi khác tâm ý ở những đối tượng người tiêu dùng này là khó đoán trước. Tất cả những điều này tạo ra áp lực đè nén không nhỏ so với CBNVYT, cần sự chăm sóc của ngành y tế và của toàn xã hội .